Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng tổ chức và quản lý đào tạo kỹ năng làm việc tại trung tâm đào tạo – ban quản lý khu công nghệ cao TP.HCM dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Tổng quan về kinh tế – xã hội, giáo dục đại học ở HCM

2.1.1 Kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10′ – 10°38′ Bắc và 106°22′ – 106°54′ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Vùng cao nằm ở phía Bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét.

Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2025 thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3.419 người/km². Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp của cả quốc gia. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2021, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc.

Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính… Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.

Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza… Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2023, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng.

Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy… có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp… cũng gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.

2.1.2 Xã hội Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

2.1.2.1 Dân cư

Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2025 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số 7.162.864 người, gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,95 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có 3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03% . Dân số thành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2025 dân số thành phố tăng thêm 2.125.709 người, bình quân tăng hơn 212.000 người/năm, tốc độ tăng 3,54%/năm, chiếm 22,32% số dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm. Quận Bình Tân có dân số lớn nhất với 572.796 người, tương đương với dân số một số tỉnh như: Quảng Trị, Ninh Thuận; huyện Cần Giờ có dân số thấp nhất với 68.213 người. Không chỉ là thành phố đông dân nhất Việt Nam, quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh còn hơn phần lớn các thủ đô ở châu Âu ngoại trừ Moscow và London. Theo số liệu thống kê năm 2025, 83,32% dân cư sống trong khu vực thành thị và Thành phố Hồ Chí Minh cũng có gần một phần năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác. Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer… Những người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố.

Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận nội ô. Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 tới 6.000 người/km². Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 96 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9%..

Mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn do những tác động của nền kinh tế thị trường. Những người hoạt động trong lĩnh vực thương mại cao hơn nhiều so với ngành sản xuất. Sự khác biệt xã hội vẫn còn thể hiện rõ giữa các quận nội ô so với các huyện ở ngoại thành.

2.1.2.2 Y tế

Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng thêm một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe. Các tệ nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường… gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn… hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp… đều xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là 71,19, con số ở nữ giới là 75,00. Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Vào năm 2021, Thành phố Hồ Chí Minh có 21.780 nhân viên y tế, trong đó có 3.399 bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ đạt 5.45 trên 10 nghìn dân, giảm so với con số 7.31 của năm 2018. Toàn thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh. Thế nhưng mạng lưới bệnh viện chưa được phân bổ hợp lý, tập trung chủ yếu trong nội ô. Theo con số năm 1994, chỉ riêng Quận 5 có tới 13 bệnh viện với 5.290 giường, chiếm 37% số giường bệnh toàn thành phố. Bù lại, hệ thống y tế cộng đồng tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã, phường đều có trạm y tế. Bên cạnh hệ thống nhà nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở y tế tư nhân và 1.472 cơ sở dược tư nhân, góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện lớn. Cũng tương tự hệ thống y tế nhà nước, các cơ sở này tập trung chủ yếu trong nội ô và việc đảm bảo các nguyên tắc chuyên môn chưa được chặt chẽ.

Sở Y tế thành phố hiện nay quản lý 8 bệnh viện đa khoa và 20 bệnh viện chuyên khoa. Nhiều bệnh viện của thành phố đã liên doanh với nước ngoài để tăng chất lượng phục vụ.

2.1.2.3 Giáo dục

Về mặt hành chính, Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non tới phổ thông. Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Trong năm học 2024–2025, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục mầm non, 467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III. Ngoài ra, theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục.

Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố. Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Các trường ngoại ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư. Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (đại học Sài Gòn và đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với năm đại học thành viên. Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế… đều là các đại học quan trọng của Việt Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia.

Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Trình độ dân trí chưa cao và chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô. Tỷ lệ trẻ em người Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều, gấp 13 lần trẻ em người Kinh. Giáo dục đào tạo vẫn chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội. Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục thành phố còn kém. Thu nhập của giáo viên chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành.

2.1.2.4 Giao thông vận tải

Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Khác với Hà Nội, vận tải thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng. Tính riêng vận tải hàng hóa, đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng chiếm 20% tổng khối lượng thông qua đầu mối thành phố. Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tại hàng hóa nhưng chiếm tới 85,6% vận tải hành khách. Về giao thông đường không, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt Nam về cả diện tích và công suất nhà ga. Năm 2022, vận tải thành phố đã vận chuyển tổng cộng 73.743 tấn hàng hóa, 239 triệu lượt người và bốc xếp 44.341 tấn hàng.

Giao thông đường sắt của thành phố gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận – do Xí nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc – Nam và một vài đoạn đường chuyên dụng, hiện hầu như đã ngưng khai thác. Trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần và Sài Gòn. Bên cạnh đó còn có một số nhà ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò Vấp. Do mạng lưới đường sắt không được nối trực tiếp với các cảng, cơ sở đã cũ kỹ nên giao thông đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh không phát triển, chỉ chiếm khoảng 6% khối lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách.

Giao thông đường bộ, thành phố có 6 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các cửa ngõ ra vào: Miền Đông, Văn Thánh, Miền Tây, Chợ Lớn, Tân Bình – Tây Ninh, Ký Thủ Ôn. Mạng lưới khả năng tiếp nhận trên 1.200 xe/ngày, vận chuyển gần 41.000 khách/ngày đi các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long.

Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi, Bình Phước… Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò phục vụ giao thông hành khách. Cảng Sài Gòn là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển cả nước. Cảng Bến Nghé nằm phía hạ lưu sông Sài Gòn, rộng 32 ha, tổng chiều dài cầu cảng 528 m, có thể cho tàu có tải trọng từ 15.000 – 20.000 tấn cập bến. Tuy năng lực của các cảng của Thành phố Hồ Chí Minh lớn nhưng việc chuyển tiếp giữa giao thông đường bộ, đường biển và đường sông gặp khó khăn. Tại hầu hết các cảng đường sông, do thiết bị thiếu, vẫn phải bốc dỡ thủ công.

Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống đường xá nhỏ… khiến thành phố luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc. Thành phố có 239 cây cầu nhưng phần lớn chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn cho các phương tiện giao thông. Không những thế, một phần các cây cầu có trọng tải thấp hay đang trọng tình trạng xuống cấp. Tại các huyện ngoại thành, hệ thống đường vẫn phần nhiều là đường đất đá. Trong khi đó, hệ thống đường trải nhựa còn lại cũng trở nên quá tải, cần sửa chữa. Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đang đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng. Hiện nay thành phố có khoảng 3.250 xe buýt và 8.000 xe taxi, mỗi năm chỉ đáp ứng khoảng 6,2% nhu cầu đi lại. Hệ thống xe buýt chưa đem lại hiệu quả cao, 65% tuyến trùng lặp. Cùng mạng lưới xe buýt, dự án tàu điện ngầm Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đang tiến hành.

2.1.3 Giáo dục đại học Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (đại học Sài Gòn và đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với năm đại học thành viên. Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế… đều là các đại học quan trọng của Việt Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia.

Nhiều trường tại Thành phố Hồ Chí Minh đang vướng vấn đề đền bù giải tỏa để xây dựng, mở rộng cơ sở vật chất. Ông Nguyễn Thành Tài, Phó chủ tịch thường trực UBND TP HCM, cho rằng, “Thực tế, việc phân quyền chịu trách nhiệm về vấn đề giáo dục đại học nói riêng và giáo dục nói chung hiện chưa rõ ràng”.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân cho biết, Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, và Bộ Xây dựng quy hoạch lại đất đai trường học. Các văn bản pháp lý đang được hoàn thiện và sẽ có cơ chế về vấn đề này trong thời gian tới.

2.1.4 Tổng quan về quản lý đào tạo tại các cơ sở đào tạo đại học ở TPHCM

Các cơ sở giáo dục đại học đa số do Bộ Giáo dục – Đào tạo quản lý cũng như các trường trực thuộc các Bộ, Ngành đều gặp một số vấn đề giống nhau trong việc quản lý đào tạo: Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Bộ Giáo dục – Đào tạo chịu trách nhiệm cho tất cả các trường. Hiện nay, khối các trường kinh tế thi tuyển đầu vào với 3 môn toán, lý, hoá là một sự bất hợp lý kéo dài không thể chấp nhận được và hoàn toàn có thể thay đổi ngay được. Ba môn thi đầu vào này vô hình chung đã khiến các môn xã hội bị xem nhẹ với những ai định hướng nghề nghiệp khối ngành kinh tế. Kiến thức xã hội bị xem nhẹ sẽ ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến các cử nhân kinh tế khi ra trường mà những năm học đại học không thể bù đắp kịp. Hơn nữa, kiến thức của hai môn lý và hóa lại hoàn toàn không cần đến trong 4 năm đại học cũng như sau khi ra trường dù làm việc ở ngành nào. Các môn thi phù hợp phải là toán, tiếng Việt và ngoại ngữ. Đối với khối ngành kỹ thuật, môn tiếng Việt cũng quan trọng vì trong môn này chứa đựng cả kỹ năng sống, kỹ năng làm người, kỹ năng hợp tác với cộng đồng… là những kỹ năng mà ai cũng cần. Trường ĐH Kinh tế HCM tuyển đầu vào là khối A (thi toán, lý, hóa), từ năm 2019 ban giám hiệu trường đã đề xuất cho nhà trường thay đổi khối thi tuyển đầu vào cho phù hợp với thực tế yêu cầu của ngành đào tạo. Ông Nguyễn Văn Đương, Phó phòng Đào tạo Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, cho rằng: “Thực tế khi vào đào tạo, kiến thức vật lý hầu như không được vận dụng vào ngành học. Trong khi đó, thí sinh phải thi môn vật lý là không phù hợp. Thay vào môn thi vật lý có thể thi môn xã hội như văn học, ngoại ngữ thì sẽ cần thiết cho khối ngành kinh tế hơn”.

Chương trình đào tạo vẫn còn nhiều bất cập. Những môn học thuộc kiến thức ngành và chuyên ngành chỉ được gói gọn trong 55% thời lượng. Chịu trách nhiệm chính về khối kiến thức chuyên ngành là ở cấp bộ môn, nhưng cấp này chỉ được quyền chi phối đến 20% số đơn vị học tập. Chương trình khung do Bộ GDĐT ban hành đều để cho các trường linh động khoảng 20% số môn học tuỳ địa phương. Nhưng trong thực tế các trường không muốn đi quá xa những gì Bộ chỉ đạo. Thực tế số đơn vị học trình của một chương trình khung của Bộ được bố trí khoảng 210 đến 240 tín chỉ cho cả 4 năm, trong khi ở các nước chung quanh, và ở Mỹ chỉ bố trí khoảng 120 đơn vị tín chỉ. Vì vậy số giờ lên lớp của sinh viên đại học Việt Nam chiếm phần lớn thời gian của sinh viên, không cho phép họ thực tập tay nghề thoả đáng. Với khối lượng giờ dạy và học như thế, nếu áp dụng phương pháp lấy người học làm trung tâm thì sẽ không đủ thì giờ cho tất cả các nội dung.

Chúng ta có nhiều sách tham khảo, giáo trình chất lượng chưa cao do khâu quản lý, như khâu cấp giấy phép xuất bản, khâu nghiệm thu… và điều đó cũng không thể không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

Quy mô lớp học đông. Ai cũng rõ rằng phương pháp giảng dạy chất lượng là phương pháp lấy người học làm trung tâm, là đối thoại, là đặt vấn đề, là tình huống, là thảo luận, là sinh viên phải làm việc nhiều ở nhà và đương nhiên giáo viên cũng cần làm việc nhiều hơn trước khối lượng kiến thức ngày càng nhiều và thông tin cũng nhiều, phải nắm bắt đúng kết quả của Để phương pháp giảng dạy mới được áp dụng thì quy mô lớp học phải tối đa là 50 SV, lý tưởng là 30 – 35, trong thực tế rất ít có lớp học như vậy, mà có khi lên đến 100 – 150 SV. Những lớp học quá đông SV, việc áp dụng phương tiện giảng dạy hiện đại như dùng đèn chiếu hoặc projector cũng kém hiệu quả (mà SV đã có nhiều phản ánh). Tất nhiên chúng ta đang đứng trước những mâu thuẫn giữa quy mô lớp học, thu nhập của giáo viên và chất lượng đào tạo…! Những bài toán này cũng cần được giải gấp

Về nguồn tài chính: VN được xem là một trong những quốc gia có chi phí để học đại học, cao học và cả nghiên cứu sinh rẻ nhất thế giới. Nếu so sánh chi phí đó với mức lương công chức, lương tối thiểu thì hợp lý, nhưng nếu với mức học phí hiện tại thì tất yếu sẽ kéo theo hàng loạt sự không đồng bộ: lương giáo viên thấp, nhà trường và cả Nhà nước không có tiền để đầu tư cho phương tiện thiết bị như phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cho thư viện, cho phòng đọc … sẽ lại là vòng luẩn quẩn: chất lượng đào tạo thấp, kém hiệu quả. Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Ngoài ra chúng ta còn có các trường quốc tế và trường liên kết quốc tế. Các trường này cũng có những vấn đề trong việc quản lý đào tạo. Hiện nay, đa số các trường quốc tế và các trường liên kết đào tạo quốc tế tại TP HCM vẫn chưa có sự kiểm soát chặt chẽ về việc quản lý số lượng sinh viên, mức học phí và chương trình giảng dạy, rất nhiều môn học không phù hợp với sở thích và nhu cầu xã hội của sinh viên Việt Nam… Đây là những nguyên nhân khiến chất lượng đào tạo của các trường đại học vẫn đang bị thả nổi.

Dư luận xã hội đang bức xúc về một số sai phạm trong quy chế tuyển sinh, học phí, chương trình đào tạo cũng như việc cấp bằng, chứng chỉ của Trường Quốc tế Mỹ Việt (AVIS), Trường Đại học Dân lập Kỹ thuật Công nghệ TP HCM và Trường Kinh tế Quản trị Slovay (Bỉ)… như báo chí đưa tin, khiến cho cả phụ huynh và học sinh trước thềm năm học mới không khỏi lo lắng.

Không thể phủ nhận rằng việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta hiện nay là vấn đề cần được quan tâm, khuyến khích. Tuy nhiên, với những bất cập trong việc đào tạo của các trường liên kết quốc tế hiện nay, Bộ Giáo Dục và Đào tạo cần phải có những quy định cụ thể hơn về việc quản lý cấp phép, phê duyệt các chương trình nước ngoài trong các trường này, phải chú trọng kiểm soát thường xuyên hoạt động, cơ chế tuyển sinh và chất lượng đào tạo của các trường theo định kỳ…

Bộ Giáo Dục và Đào tạo thừa nhận, việc thành lập trường, triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới trường ĐH, CĐ còn bộc lộ nhiều hạn chế. Khoảng 20% trường được thành lập mới hoặc nâng cấp lên đại học từ năm 2021 chưa thực hiện đầy đủ cam kết trong đề án khả thi thành lập trường và mở ngành, chưa chuẩn bị đồng bộ về đất đai, giảng viên, vốn đầu tư và điều kiện đảm bảo chất lượng khác.

Ngoài ra, hiện chưa có quy định bắt buộc về kiểm tra thực tế điều kiện cần thiết khi cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh; chế tài xử lý các trường không thực hiện đúng cam kết chưa đủ mạnh; chưa có quy định các trường phải xây dựng chuẩn năng lực người tốt nghiệp (chuẩn đầu ra) nên chưa có cơ sở đánh giá đúng chất lượng đào tạo. Dù đã triển khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học nhưng Bộ Giáo Dục và Đào tạo vẫn phải thừa nhận, quản lý chất lượng giáo dục là khâu yếu nhất hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Năm 2025, cả nước tuyển sinh hơn nửa triệu sinh viên, gấp 4 lần năm 1997 và 14 lần năm 1987. Còn về quy mô, tổng số sinh viên cả nước là 1,7 triệu em trong khi năm 1997 là hơn 700.000 và năm 1987 là 130.000. Năm 1987, một giảng viên đào tạo bình quân 6,6 sinh viên, năm 2025 một giảng viên đào tạo tới 28 sinh viên. Sau 22 năm, số sinh viên tăng 13 lần, số trường tăng 3,7 lần, nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần. 20 năm qua, số giảng viên có trình độ tiến sĩ chỉ đạt hơn 10%.

“Thực tế, gần 30 năm chúng ta chưa thực sự quản lý được chất lượng giáo dục đại học vì chưa có chuẩn đầu ra của các trường; chưa giữ được chuẩn của giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất…; chưa có cơ quan chuyên trách quản lý chất lượng; hằng năm chưa có đánh giá thực tế và có báo cáo về chất lượng đào tạo của các trường và cả hệ thống giáo dục đại học”, người đứng đầu ngành giáo dục, Phó Thủ tướng kiệm Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, Nguyễn Thiện Nhân, cho biết.

“… Xét về tổng thể Bộ Giáo Dục và Đào tạo chưa thể trả lời được 3 câu hỏi: Chất lượng đào tạo của các trường thế nào? Các trường tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến đào tạo thế nào? Hiệu quả đầu tư từ ngân sách cho các trường Đại học, Cao đẳng công lập thế nào?”, ông Nguyễn Thiện Nhân cho biết thêm.

Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học không có cải thiện đáng kể. Không những thế ngay cả việc quản lý đào tạo kỹ năng mềm hay kỹ năng sống, một lĩnh vực đang là thời sự, được Nhà nước và đông đảo người dân quan tâm cũng có nhiều vấn đề có thể nói là tương tự như quản lý nhà nước về giáo dục đại học. Đó là vấn đề nội dung đào tạo, quản lý nhà nước về chương trình, chất lượng đào tạo.

Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm – Hội Khoa học tâm lý giáo dục Hà Nội nhận định: Hiện nay, một số cá nhân và tổ chức đang lợi dụng cơn sốt dạy kỹ năng sống nên nhảy vào dịch vụ này rất nhiều. Trong khi đó, chưa hề có một cơ quan chức năng nào chịu trách nhiệm quản lý về mặt chuyên môn.

PGS.TS Phan Trọng Ngọ (trường ĐH Sư phạm Hà Nội) cũng cùng mối lo ngại này khi cho rằng, quy mô hoạt động nhiều nơi dạy kỹ năng còn nhỏ, thiếu sự quản lý và giám sát ở tầm vĩ mô của Nhà nước và của ngành nên đội ngũ hầu hết hoạt động về dịch vụ tâm lý học đường thiếu chuyên nghiệp do chưa được đào tạo chính thức, chưa xác nhận về chuyên môn và pháp lý bởi cơ quan quản lý nhà nước hay hiệp hội nghề nghiệp.

Theo tiến sĩ Tùng Lâm, các bậc phụ huynh và nhà trường cần cẩn trọng trước khi lựa chọn trung tâm dạy kỹ năng sống, không loại trừ hiện tượng “treo đầu dê, bán thịt chó”. Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa – Viện Tâm lý học cũng nhận định: ở những thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM nhu cầu học kỹ năng sống của chính trẻ em và nhu cầu cho con em mình học chương trình này đang “bùng nổ”. Ở Cung thiếu nhi Hà Nội, những kỳ nghỉ hè đều có trên 60 lớp kỹ năng sống dành cho học sinh ở nhiều lứa tuổi khác nhau (từ mẫu giáo đến THCS). Bên cạnh đó, còn có không ít các trung tâm khác cũng tổ chức dạy kỹ năng sống. Song phần lớn các trung tâm do tư nhân tổ chức, địa điểm học hạn chế và học phí tương đối cao, không đáp ứng nhu cầu học tập của rộng rãi trẻ em, học sinh.

Ông Lâm cho rằng: biện pháp quản lý thuận lợi và tin tưởng nhất là đưa môn kỹ năng sống vào nhà trường. Nơi nào có nhu cầu và có điều kiện thì thực hiện thí điểm. Mọi thí điểm của các trường học nhất thiết phải thông qua sự chỉ đạo của các cơ quan thuộc ngành GD-ĐT. Điều kiện tiên quyết là phải có đội ngũ giáo viên được đào tạo bài bản, có chất lượng cao và được thẩm định bởi những chuyên gia về khoa học tâm lý – ông Lâm nói.

Mặc dù vậy, với dịch vụ “nở rộ” trên thị trường như hiện nay thì việc giám sát về chất lượng chuyên môn và có những chứng nhận cần thiết của cơ quan quản lý vẫn là những thông tin vô cùng cần thiết với phụ huynh.

Tất cả những nơi mở lớp kỹ năng mềm, kỹ năng sống mà chúng tôi tiếp xúc đều khẳng định: Tính đến nay, không có ai cấp giấy phép mở khóa huấn luyện cũng như không có kiểm tra, giám sát nội dung, chất lượng lẫn số lượng các lớp học.

Diễn giả – dịch giả Trần Đăng Khoa, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Thế giới mới cho biết: “Khi Thế Giới Mới mở khóa “Tôi tài giỏi!”, chúng tôi cũng đã đi xin sự chấp thuận của bộ này bộ kia. Nhưng Bộ GD-ĐT nói không thuộc lĩnh vực quản lý của họ vì đó không phải chương trình cứng, không phải cấp bằng, không có chứng nhận, thậm chí quá ngắn ngày. Cả Bộ Văn hóa – Thông tin (cũ) cũng bảo rằng không thuộc hướng dẫn của họ”.

Mặc dù cho rằng những khóa đào tạo kỹ năng “không phải cấp bằng, không có chứng nhận” nhưng trên thực tế, không ít nơi những người tổ chức chủ ý gọi học viên đã tham gia là những “cử nhân”!

Trong khi đó, ông Nguyễn Thành Hiệp – Trưởng phòng Dạy nghề, Sở Lao động -Thương binh và Xã hội TP.HCM khẳng định với PV Thanh Niên: “Một khi mở lớp đào tạo thì phải xin giấy phép vì liên quan đến giáo dục. Lúc đó, phải nghĩ tới Sở GD-ĐT, nếu không được thì qua chỗ chúng tôi là Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, bởi chỉ có một trong hai đơn vị này có thẩm quyền cấp phép”.

Ông Hiệp cho biết thêm: Thời gian qua, đã có một số đơn vị xin phép Sở Lao động -Thương binh và Xã hội TP.HCM khi họ lồng ghép vào trong khóa đào tạo nghề những kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, chống xâm hại tình dục, an toàn lao động… Lúc đó, đơn vị cấp phép sẽ xem qua nội dung. Nếu nội dung phức tạp thì sẽ tham khảo thêm từ những đơn vị chuyên môn. “Tất cả hoạt động kinh doanh đều phải đóng thuế, phải đăng ký đàng hoàng. Nếu dạy mà không xin phép tức là dạy không phép; dạy thu phí mà không đóng thuế là trốn thuế! Nếu phát hiện những nơi nào tổ chức các khóa huấn luyện kỹ năng mà không có giấy phép thì những cơ quan chức năng sẽ tiến hành xử phạt” – ông Hiệp nhấn mạnh.

Tuy nhiên, trong thực tế thì liệu điều đó có đúng không? Đơn cử đối với một trường hợp là Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM đã có rất nhiều lần hỏi thăm các đơn vị chức năng là Sở Giáo dục Đào tạo TP.HCM cũng như là Sở Lao động Thương binh Xã hội TP.HCM về việc quản lý đều nhận được câu trả lời là đơn vị không trực thuộc quyền quản lý của họ !? Một đơn vị tự chủ động hỏi thăm về việc quản lý Nhà nước của mình mà còn không được bất kỳ một sở nào quản lý thì thử hỏi liệu Sở Lao động Thương binh Xã hội TP.HCM có quản lý được các đơn vị khác không tự giác khai báo không?

2.2 Thực trạng đào tạo tại Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao HCM Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

2.2.1 Mục tiêu

Trung tâm đào tạo trực thuộc Khu Công nghệ cao TP.HCM là đơn vị sự nghiệp có thu, đào tạo cung ứng nguồn nhân lực cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất và dịch vụ công nghệ cao trong Khu Công nghệ cao TP HCM và Khu vực, góp phần nâng cao năng lực Khoa học – Công nghệ nội sinh Việt Nam.

2.2.2 Chương trình

Với mục tiêu là nhịp cầu nối liền khoảng cách giữa nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và kiến thức, kỹ năng của người lao động, Trung tâm đào tạo đã tổ chức nhiều chương trình đào tạo thiết thực trên những mảng khác nhau như:

Kỹ năng mềm:

  • Kỹ năng tìm việc
  • Kỹ năng xây dựng thương hiệu cá nhân
  • Kỹ năng giao tiếp
  • Kỹ năng phát triển cá nhân
  • Kỹ năng giải quyết vấn đề
  • Kỹ năng chăm sóc khách hàng
  • Kỹ năng giao tiếp và chăm sóc khách qua điện thoại
  • Kỹ năng đàm phán hiệu quả
  • Kỹ năng quản lý
  • Kỹ năng làm việc nhóm
  • Kỹ năng thuyết trình
  • Kỹ năng quản trị dự án
  • Họp hiệu quả

Tiếng Anh chuyên ngành:

  • Giao tiếp trong công việc
  • Giao tiếp trong môi trường kỹ thuật
  • Tăng cường phản xạ

An toàn lao động:

  • Vệ sinh công nghiệp
  • Điều tra sự cố tai nạn lao động
  • An toàn xây dựng
  • An toàn khi làm việc trên cao
  • An toàn hóa chất
  • Làm việc trong không gian hạn chế
  • Kiểm soát các nguồn năng lượng nguy hiểm
  • An toàn điện cơ bản
  • An toàn điện nâng cao

2.2.3 Phương pháp – tổ chức Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Trung tâm đào tạo tổ chức các lớp học trên cơ sở chú trọng phần thực hành (chiếm 70% thời lượng khóa học) với mong muốn tạo hành vi, thay đổi nhận thức của người học trong việc tiếp nhận và rèn luyện những kỹ năng của mình nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường lao động.

2.2.4 Đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên

Đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên của Trung tâm được tuyển chọn với những tiêu chí khắt khe với mục đích đáp ứng một cách tốt nhất mong đợi của doanh nghiệp và học viên khi tìm đến vói Trung tâm.

Về phía đội ngũ giảng viên, đó là những chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm công tác trong doanh nghiệp lớn, công ty, nhà máy (Fujitsu, Philip, Metro, Unilever,…) hoặc là những nhà khoa học trong các viện nghiên cứu (Viện cơ học ứng dụng, viện vật lý,…) với lượng kiến thức chuyên môn to lớn, kinh nghiệm thực tiễn phong phú có thể giúp đỡ, chia sẽ những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, đòi hỏi thực tế mà người học có thể sẽ gặp phải khi làm việc.

Đội ngũ cán bộ công nhân viên cũng là một trong những niềm tự hào của Trung tâm khi tiếp xúc với đối tác: độ tuổi trẻ trung (hầu hết cán bộ công nhân viên của Trung tâm đều dưới 35 tuổi), được đào tạo bài bản, chính quy từ các trường Đại học danh tiến trong Thành phố, nhận được sự quan tâm của lãnh đạo thành phố (có 2 cán bộ là thành viên của chương trình đào tạo 300 thạc sỹ, tiến sỹ được đào tạo ở nước ngoài, 1 cán bộ được cử đi học thạc sỹ trong chương trình đào tạo 500 thạc sỹ, tiến sỹ), được thành phố cấp biên chế.

2.2.5 Chất lượng đầu vào Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Học viên tham gia các chương trình đào tạo tại Trung tâm đa phần là người đã đi làm (cá nhân đến tham gia hoặc là doanh nghiệp, công ty gửi đến đào tạo) và một số ít là các bạn sinh viên đang học các năm cuối tại các trường Đại học. Do đó chất lượng đầu vào tại Trung tâm có thể xem là rất cao với trình độ chung là từ cao đẳng trở lên.

2.2.6 Chất lượng đầu ra

Do Trung tâm chỉ đào tạo bổ sung kỹ năng làm việc nên chất lượng đầu ra của Trung tâm sau quá trình đào tạo chính là những phản hồi tích cực từ phía học viên, từ doanh nghiệp, công ty sau khi kết thúc khóa học thông qua những phiếu khảo sát ý kiến. Ngoài ra có thể đánh giá chất lượng đào tạo của đơn vị thông qua sự tồn tại và phát triển lớn mạnh của đơn vị cùng với thời gian trong một môi trường kinh tế năng động đầy cạnh tranh như là Thành phố Hồ Chí Minh hoặc là số lượng và quy mô các doanh nghiệp, công ty tin tưởng, lựa chọn Trung tâm làm đơn vị đào tạo cho mình. Với những tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra như trên thì trong chừng mực nào đó có thể nói Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vị đào tạo có uy tín trong lĩnh vực đào tạo kỹ năng khi chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026 đã có trên 1.400 lượt học viên tham gia các khóa đào tạo tại Trung tâm.

2.3 Thực trạng tổ chức và quản lý đào tạo Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

2.3.1 Quản lý việc xây dựng chương trình đào tạo

Việc xây dựng chương trình đào tạo của Trung tâm nhìn chung có sự quan tâm sâu sát của ban lãnh đạo ngay từ khi bắt đầu chọn môn học và giảng viên lập đề cương bài giảng. Để xác định môn học nào sẽ được giảng dạy tại Trung tâm, ban giám đốc tham khảo ý kiến của các bộ phận chuyên môn như tư vấn, tiếp thị, giáo vụ đào tạo và đặc biệt thông qua ý kiến góp ý và khảo sát đối với các học viên cũng như ngoài thị trường. Khi xác định được môn học sẽ giảng dạy thì các bộ phận có liên quan như giáo vụ đào tạo, kế toán sẽ cùng tham mưu với ban giám đốc về việc mời giảng viên nào soạn giáo án cho môn học đó, cũng như các chi phí có liên quan đến môn học. Giáo án môn học này chỉ là phần tài liệu cốt lõi để các giảng viên khác khi giảng dạy sẽ dựa vào đó, bổ sung thêm những tài liệu tham khảo khác có liên quan để bài giảng thêm phong phú và hấp dẫn người học vì đặc thù của Trung tâm là đào tạo kỹ năng là chính. Do đó nội dung chương trình đào tạo của Trung tâm là sản phẩm độc nhất, không trùng lắp với nội dung chương trình của các đơn vị đào tạo khác trong cùng lĩnh vực. Luôn có trên 75% số lượng học viên khi kết thúc khóa học nhận xét mục tiêu đào tạo và nội dung đào tạo kỹ năng tại Trung tâm rõ ràng, đem lại lợi ích cho công việc của họ. Tuy nhiên việc nội dung chương trình đào tạo sẵn có chỉ là phần lõi cũng có một khuyết điểm là nội dung chương trình đào tạo lại phụ thuộc nhiều vào giảng viên được mời soạn giáo án lúc ban đầu và kinh nghiệm thực tiễn của các giảng viên khi giảng dạy. Điều đó khiến cho Trung tâm không thể bảo đảm chất lượng, nội dung trong tất cả các lớp học là giống nhau. Đây là điểm mà Trung tâm cần phải cải thiện nhiều.

  • Bảng 2.3.1 (Tổng hợp ý kiến đóng góp của học viên về nội dung các chương trình đào tạo)

Qua bảng khảo sát 2.3.1 ta có thể thấy hầu hết tất cả học viên nhận xét tốt về chương trình đào tạo của Trung tâm ở các mặt quan trọng như nội dung chương trình đào tạo hữu ích, mục tiêu đào tạo rõ ràng cũng như giảng viên diễn đạt nội dung chương trình dễ hiểu. Đây là niềm khích lệ to lớn đối với Trung tâm. Tuy vậy vẫn còn có ý kiến cho là nội dung chương trình đào tạo chưa hữu ích lắm cũng như cách giảng viên diễn đạt chương trình cần được cải thiện hơn. Đây cũng là ý kiến mà Trung tâm cần phải quan tâm để đổi mới, cải tiến chương trình nhằm khẳng định vị trí của mình trong lĩnh vực đào tạo kỹ năng tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như tại Khu Công nghệ cao TP.HCM Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

  • Bảng 2.3.2 (So sánh ý kiến học viên trong môn Giao tiếp hiệu quả – Giảng viên Bùi Quang Vĩnh)
  • Bảng 2.3.3 (So sánh ý kiến học viên trong môn Giao tiếp hiệu quả – Giảng viên Nguyễn Quốc Uy)

Qua hai bảng so sánh ý kiến học viên ở cùng một chương trình đào tạo điển hình tại Trung tâm nhưng do hai giảng viên khác nhau thực hiện ta thấy rất rõ một điều: với tổng số lượng học viên khảo sát gần như là bằng nhau (19-20 người), nhưng với kinh nghiệm trong quá trình đào tạo, kiến thức thực tiễn khác nhau của từng người thì kết quả thu được đối với học viên là khác nhau. Đối với giảng viên Bùi Quang Vĩnh (bảng 2.3.2) – một giảng viên lâu năm đã từng và đang là một chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo kỹ năng “train the trainer” của các tập đoàn lớn như Metro Cash, Unilever…., hầu hết cho là phong cách diễn đạt nội dung đào tạo dễ hiểu là từ rất tốt đến xuất sắc nhưng nhận xét nội dung đào tạo có ích cho công việc của họ lại có đến 7/19 ý kiến cho là chỉ đạt với 6/19 ý kiến cho là mục tiêu khóa đào tạo rõ ràng. Nhưng đối với giảng viên Nguyễn Quốc Uy (bảng 2.3.3) ít kinh nghiệm giảng dạy hơn và kinh nghiệm là nghiên về lĩnh vực quản lý với nhiều năm làm sứ quán thương mại, ta lại thấy tuy có đến 5/20 ý kiến cho là việc diễn đạt nội dung đào tạo dễ hiểu là chỉ đạt yêu cầu nhưng chỉ số nhận xét nội dung khóa đào tạo hữu ích cho công việc của họ chỉ có 3/20 ý kiến cho là chỉ đạt yêu cầu với cùng số lượng ý kiến cho là mục tiêu khóa đào tạo rõ ràng với giảng viên Bùi Quang Vĩnh (6 ý kiến). Điều này cho thấy rất rõ một điều là chất lượng đào tạo kỹ năng phụ thuộc rất nhiều vào giảng viên, vào kinh nghiệm thực tiễn của giảng viên cũng như phong cách giảng dạy của từng người.

Đây cũng là một trong những điểm đánh giá chất lượng các đơn vị đào tạo bên ngoài của các doanh nghiệp khi được khảo sát.

2.3.2 Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo sau khi được ban giám đốc thông qua sẽ được bộ phận tư vấn, tiếp thị phối hợp cùng với bộ phận giáo vụ đào tạo tổ chức chiêu sinh, mở lớp và mời giảng viên. Thông thường để bảo đảm chất lượng đào tạo một lớp học chỉ khoảng 15-18 học viên là tối đa và địa điểm tổ chức lớp học sẽ là trong nhà, trừ một vài môn học có yêu cầu khác, ví dụ như môn làm việc theo nhóm thì càng nhiều học viên càng tốt, lớp học ngoài trời. Vào ngày đầu tiên của lớp học, bộ phận giáo vụ của Trung tâm sẽ phổ biến những thông tin cần thiết, những nội qui của lớp học cho các học viên. Vào ngày kết thúc môn học, Trung tâm tổ chức khảo sát ý kiến góp ý của học viên về nội dung chương trình đào tạo và những vấn đề có liên quan như giảng viên (tác phong, kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp truyền đạt,…), hỗ trợ của Trung tâm (tài liệu, thái độ nhân viên, cơ sở vật chất, ….), gợi ý đề xuất những môn học khác, giới thiệu những người có quan tâm đến chương trình,…. Hiện tại việc quảng bá các chương trình đào tạo của Trung tâm đến với các bạn học viên là sinh viên vẫn chưa được tốt, vẫn còn nhiều ý kiến góp ý từ phía học viên là cần phải đẩy mạnh công tác tiếp thị hơn nữa các chương trình đào tạo của Trung tâm. Ngoài ra Trung tâm còn phải nâng cao hơn nữa chất lượng tài liệu học tập khi vẫn còn ý kiến phản hồi từ học viên về việc tài liệu được trình bày không tốt.

  • Bảng 2.3.4 (Tổng hợp ý kiến khảo sát học viên về phương pháp đào tạo và tài liệu các chương trình đào tạo của Trung tâm) Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Qua bảng khảo sát 2.3.4 ta thấy rõ các phương pháp đào tạo kỹ năng tại Trung tâm (phương pháp thảo luận nhóm, đóng vai) được học viên chấp nhận, chỉ có khoảng 1% số học viên được hỏi ý kiến cho rằng cần phải cải thiện hơn nữa. Tuy nhiên thời gian đào tạo kỹ năng cần phải xem lại khi có nhiều ý kiến học viên cho là cần phải hoàn thiện hơn và mới ở mức đạt yêu cầu (37%). Đa số ý kiến góp ý cho phần này đều mong muốn Trung tâm nên xem xét kéo dài thời gian đào tạo kỹ năng hơn nữa để học viên có thể thấm nhuần và rèn luyện được kỹ năng của mình cũng như thời gian đào tạo cần linh hoạt hơn. Đây là một vấn đề khá nan giải cho Trung tâm trong việc phải giải quyết bài toán thời gian đào tạo và chi phí đào tạo. Hiện tại chi phí tham gia các khóa đào tạo của Trung tâm tuy không cao so với mặt bằng chi phí của các đơn vị tương tự khác, tuy nhiên so với khả năng của sinh viên thì đây cũng là một khoảng chi phí tương đối lớn (trung bình vào khoảng 850.000đ cho một khóa đào tạo kỹ năng kéo dài trong 4 buổi). Vấn đề thời gian đào tạo cũng là một vấn đề cần phải quan tâm đối với Trung tâm. Hiện tại Trung tâm chỉ mở được các lớp đào tạo kỹ năng vào buổi tối cũng như là cuối tuần, nhưng như vậy không phù hợp lắm. Buổi tối lớp học thường bắt đầu lúc 6h và kết thúc vào 9h. Trong tình hình giao thông hiện nay của Thành phố thì thời gian học như vậy là hơi sớm vì học viên rất dễ gặp kẹt xe nên không thể vào học đúng giờ được. Lớp học vào cuối tuần diễn ra trong 1 tháng nên học viên theo học được cũng phải khá nỗ lực.

Một ý kiến từ phía người dân đáng để các nhà quản lý của Trung tâm, những người làm công tác đào tạo suy nghĩ đến.

“Tiếng là khắp nơi đua nhau mở những lớp dạy kỹ năng sống, kỹ năng mềm nhưng thử hỏi có bao nhiêu lớp chất lượng hướng đến giới bình dân hoặc nghèo như chúng tôi? Nhiều phụ huynh khi nghe nói đến những chương trình đó đều rất thích nhưng tất cả đều rút lui vì không đủ tiền. Mong sao những người tổ chức dang rộng tay đến con em chúng tôi!” Bà Tôn Nữ Thu An (Đường Nguyễn Văn Đậu, P.2, Q.Phú Nhuận, TP.HCM)

2.3.3 Quản lý đội ngũ giảng viên với hoạt động giảng dạy Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Đội ngũ giảng viên là tài sản quí báu nhất của Trung tâm, đó là nội dung đã được khẳng định ngay từ khi Trung tâm mới được thành lập. Do vậy, Trung tâm rất trân trọng và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các giảng viên của mình trong công tác giảng dạy cũng như nâng cao nghiệp vụ. Hàng tháng bộ phận giáo vụ tổ chức buổi họp chuyên môn với các giảng viên để trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, tiếp thu những đề xuất của giảng viên trong việc điều chỉnh nội dung đào tạo, trang bị thêm phương tiện đào tạo,… Hàng năm Trung tâm đều tiếp xúc, phối hợp tổ chức hoặc cử giảng viên ngoại ngữ tham gia những buổi Hội thảo chuyên đề về phương pháp giảng dạy,… do các nhà xuất bản giáo trình nổi tiếng chủ trì như nhà xuất bản Pearson Longman, Cambridge ,… Tuy có rất nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm chất lượng đội ngũ giảng viên của Trung tâm nhưng đội ngũ giảng viên của Trung tâm vẫn có sự biến động theo thời gian vì nhiều lý do khác nhau. Một lý do chung nhất là do cơ chế về tiền thù lao giảng dạy của Trung tâm vẫn không thể theo kịp so với sự biến động ngoài xã hội vì Trung tâm vẫn là một đơn vị sự nghiệp Nhà nước do đó vẫn còn nhiều hạn chế trong vấn đề kinh phí. Mặc khác đó là chính sách của các công ty, xí nghiệp nơi giảng viên đang công tác đôi lúc làm giảng viên gặp nhiều khó khăn khi chia sẽ kinh nghiệm thực tế hoặc thậm chí là ngăn cản giảng viên tham gia truyền thụ kinh nghiệm.

Trong quá trình giảng dạy thì Trung tâm chỉ theo dõi và yêu cầu giảng viên ít nhất truyền đạt những nội dung được yêu cầu trong giáo án đặt ra. Phần đặt ra đó nhìn chung chỉ chiếm một phần nhỏ thời lượng, còn phần lớn thời gian thì phụ thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn của giảng viên, sự yêu cầu của các học viên trong lớp, thời gian để học viên thực hành. Trung tâm không thể nắm bắt, theo dõi sát sao và thay đổi kịp thời trong quá trình giảng dạy.

  • Bảng 2.3.5 (Tổng hợp ý kiến đánh giá của học viên về chất lượng giảng viên tại Trung tâm)

Qua bảng khảo sát 2.3.5 ta nhận thấy đa số học viên đều hài lòng với chất lượng của giảng viên tại Trung tâm, chỉ có dưới 10% học viên cho là giảng viên đạt yêu cầu về kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng trình bày. Còn lại trên 85% học viên đánh giá ở mức từ rất tốt đến xuất sắc. Điều này cũng tương thích với việc trên 80% học viên được hỏi ý kiến cho rằng các chương trình đào tạo tại Trung tâm diễn đạt nội dung dễ hiểu trong bảng khảo sát về nội dung đào tạo, cũng như là trên 80% học viên đánh giá cao các phương pháp đào tạo kỹ năng đang triển khai tại Trung tâm ở các bảng khảo sát 2.3.1 và 2.3.4..

2.3.4 Quản lý việc kiểm tra đánh giá

Việc kiểm tra đánh giá sau quá trình đào tạo là một khâu quan trọng và hết sức khó khăn, nhất là đối với các chương trình đào tạo kỹ năng làm việc. Kỹ năng làm việc đó là sự thành thạo, khả năng ứng dụng của học viên trong công việc. Vì vậy việc đánh giá ngay sau quá trình đào tạo thường không chính xác. Do đó Trung tâm sau quá trình đào tạo chỉ cung cấp chứng chỉ xác nhận học viên đã tham gia quá trình đào tạo kỹ năng nếu học viên đó đạt những yêu cầu đặt ra ngay từ lúc đầu, chẳng hạn như thời gian tham gia khóa đào tạo, sự tích cực tham gia các hoạt động đào tạo trong quá trình đào tạo,… Ngoài ra trong quá trình tham gia các hoạt động diễn ra trong lớp, học viên sẽ nhận được những góp ý chia sẽ từ phía giảng viên, các bạn học của mình. Công tác kiểm tra đánh giá gần như được khoán trắng cho giảng viên, việc quản lý của Trung tâm còn hời hợt, chỉ thông qua ý kiến góp ý của học viên giữa khóa hay lúc kết thúc khóa học. Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

2.3.5 Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc tại khu CNC TPHCM

Với nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng, nhất là kỹ năng làm việc, trong quá trình thu hút đầu tư vào Khu Công nghệ cao TP.HCM, Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM đã tiếp xúc và thu hút nhiều đơn vị giáo dục đào tạo trong và ngoài nước cũng như xúc tiến thành lập Trung tâm đào tạo đảm nhận công tác đào tạo bổ sung đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Kết quả đạt được cũng rất khả quan khi đã có 03 đơn vị đào tạo chính thức có mặt, trong đó có 02 đơn vị đào tạo kỹ năng làm việc (1 của chuyên gia Việt kiều tại Mỹ thành lập – Miad). Ngoài ra trong nội bộ các doanh nghiệp trong Khu Công nghệ cao TP.HCM cũng có các bộ phận đào tạo cho riêng họ, nhất là đối với các công ty đa quốc gia.

Và cũng như tình hình chung trong việc quản lý các cơ sở giáo dục đào tạo – nhất là đối với bậc giáo dục đại học thì việc quản lý đào tạo kỹ năng tại Khu Công nghệ cao TP.HCM còn và gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, gần như là một khoảng trắng.

Trước hết Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM là đơn vị quản lý nhà nước, cấp phép đầu tư vào Khu Công nghệ cao nhưng lại không được thường xuyên báo cáo, kiểm tra nội dung hoạt động đào tạo của các cơ sở đào tạo. Hiện tại Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM chỉ yêu cầu và nhận được các báo cáo định kỳ theo yêu cầu đúng với các quy định chế độ báo cáo của doanh nghiệp.

Kế tiếp là việc chưa có bộ phận chuyên trách trong Ban quản lý Khu Công nghệ cao đảm nhận việc quản lý các hoạt động đào tạo nói chung và quản lý hoạt động đào tạo kỹ năng làm việc nói riêng. Lúc ban đầu Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao khi chỉ là một bộ phận của Ban quản lý Khu Công nghệ cao là đơn vị được ủy nhiệm của Ban quản lý Khu Công nghệ cao trong việc thu hút đầu tư về đào tạo cũng như quản lý các hoạt động đào tạo tại Khu Công nghệ cao. Nhưng sau khi Trung tâm đào tạo được thành lập chính thức theo quyết định 5669/QĐ-UB ngày 31/05/2021, là một đơn vị sự nghiệp được hỗ trợ một phần kinh phí thì công tác quản lý các đơn vị đào tạo không còn đảm nhiệm. Hiện tại việc quản lý các cơ sở hoạt động đào tạo là được xem như là nhiệm vụ của phòng chức năng là phòng quản lý doanh nghiệp. Do đó họ chỉ quản lý các đơn vị đào tạo như là một doanh nghiệp kinh tế thuần túy.

2.3.6 Nguyên nhân của thực trạng trên Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

Đầu tiên là thẩm quyền quản lý. Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM là đơn vị quản lý nhà nước, được ủy quyền cấp phép đầu tư, quản lý mọi mặt các hoạt động từ thẩm định dự án, phê duyệt quy hoạch, hải quan…. trong Khu Công nghệ cao nhưng lại không được ủy quyền trong việc quản lý các hoạt động đào tạo. Điều này dẫn đến những khó khăn, trở ngại rất lớn trong việc cấp phép đầu tư, quản lý các hoạt động đào tạo trong Khu Công nghệ cao. Khi nhà đầu tư đến xin cấp phép vào hoạt động trong Khu Công nghệ cao về lĩnh vực đào tạo thì Ban quản lý Khu Công nghệ cao phải trình hồ sơ của doanh nghiệp cho Hội đồng khoa học xem xét, thẩm định dự án. Nếu hồ sơ được phê duyệt thì Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM chỉ có thể lập biên bản ghi nhớ, ký thỏa thuận địa điểm, diện tích thuê đất cho doanh nghiệp đào tạo chứ chưa thể ký hợp đồng đầu tư, cho thuê đất liền mà phải hướng dẫn doanh nghiệp quay lại các cơ quan chức năng khác để xin phép thành lập. Đó là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh xã hội hoặc Sở Kế hoạch đầu tư. Do đó Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM chỉ được các đơn vị đào tạo báo cáo định kỳ hàng quý, năm như là các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh khác. Còn việc quản lý về chuyên môn thì không thể can thiệp, quản lý được hay tác động tới được.

Nguyên nhân thứ hai là trong sơ đồ tổ chức của Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM không có bộ phận chuyên trách quản lý đào tạo. Từ đó dẫn đến không có biên chế cho hoạt động quản lý đào tạo mặc dù ngay từ khâu quy hoạch lúc ban đầu đã đề cập đến việc thu hút các trường, viện, cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học với tổng diện tích đất cho hoạt động đào tạo lên đến hơn 93 ha (trên tổng diện tích Khu Công nghệ cao TP.HCM là 963 ha – chiếm gần 10% diện tích).

Thứ ba là thiếu tiêu chí quản lý và sự phối hợp quản lý hoạt động đào tạo. Hiện tại thì trong nội bộ Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM có đến 5 đơn vị, bộ phận chức năng có liên quan đến các hoạt động đào tạo, đó là các phòng ban, đơn vị: trung tâm đào tạo, trung tâm nghiên cứu triển khai, vườn ươm (3 đơn vị sự nghiệp thành lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố), phòng quản lý doanh nghiệp và phòng khoa học công nghệ. Mỗi bộ phận, đơn vị có những tiêu chí quản lý của riêng mình và hoạt động theo những thông tư, hướng dẫn khác nhau (3 đơn vị sự nghiệp) cũng như có nhiệm vụ khác nhau (2 phòng chức năng). Tuy nhiên giữa các đơn vị này vẫn chưa có sự chia sẽ, trao đổi thông tin vì những lợi ích riêng của đơn vị mình. Hai phòng chức năng được coi là nơi đảm nhận công tác quản lý trong Khu Công nghệ cao trong tất cả các hoạt động là phòng quản lý khoa học và phòng quản lý doanh nghiệp thì cả hai bộ phận đều không có tiêu chí riêng của bộ phận để quản lý mảng đào tạo. Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN

One thought on “Luận văn: Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của DN

  1. Pingback: Luận văn: Quản lý đào tạo kỹ năng làm việc của doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *