Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Từ xưa đến nay, dù sống trong bất kỳ thời đại nào thì con người cũng tìm kiếm cho mình một sự hoàn thiện về mọi mặt từ năng lực đến phẩm chất. Sự hình thành và hoàn thiện về năng lực, phẩm chất, nhân cách, phẩm giá của một con người trong thế giới hiện đại, luôn chuyển động ngày nay đều được bồi dưỡng qua quá trình học tập cũng như giáo dục.

Giáo dục giúp con người hoàn thiện bản thân về mọi mặt để trở thành con người hữu ích cho xã hội. Giáo dục giúp bồi dưỡng và rèn luyện năng lực, phẩm chất của học sinh để đảm bảo sự phát triển toàn diện là một quá trình liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau trong thời gian dài với những mối quan hệ phức tạp. Do đó, giáo dục luôn đòi hỏi về sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2019 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT tiếp tục khẳng định quan điểm: “Phát triển GD&ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Khoản 1 điều 8 chương II thông tư 55 điều lệ ban đại diện cha mẹ học sinh cũng đã quy định trách nhiệm của cha mẹ học sinh.

Điều 89 đến điều 93 Chương VI Luật giáo dục đã quy định cụ thể trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục một lần nữa khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa 3 môi trường giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội. Quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh có diễn ra tốt hay không phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường đó. Thực tế cho thấy vai trò của người hiệu trưởng là rất quan trọng trong vấn đề quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong nhà trường. Quản lý như thế nào để hoạt động phối hợp ở trường đạt hiệu quả? Quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, phát huy vai trò tích cực của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục học sinh.

Mục tiêu của nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao “Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương” dựa trên cơ sở lý thuyết và thực trạng trong công tác quản lý hoạt động này. Những biện pháp mà tác giả đề xuất được trưng cầu ý kiến của tất cả các phiếu hỏi. Cụ thể như sau: Tổng số phiếu phát ra 400 phiếu, thu về 400 phiếu gồm: Cán bộ quản lý: 22 phiếu; GV: 178 phiếu; Phụ huynh học sinh: 200 phiếu ở 15 trường Tiểu học trên địa bàn Thị xã Bến Cát. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Với những phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã chỉ ra một số hạn chế thiếu sót của việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá trong công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất một số biện pháp hữu hiệu, bao gồm:

  • Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình;
  • Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường
  • gia đình;
  • Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học;
  • Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp;
  • Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong giáo dục học sinh;

Các biện pháp đề xuất trên đã được đánh giá tính khả thi và cần thiết khi thực hiện thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường -gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2019 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT tiếp tục khẳng định quan điểm: “Phát triển GD&ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.

Điều 3 chương I Luật giáo dục số 43/2025/QH14 quy định cụ thể: “Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.” Điều 89 đến điều 93 Chương VI Luật giáo dục đã quy định cụ thể trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục một lần nữa khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa 3 môi trường giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội. Việc phối hợp giữa 3 môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội sẽ tạo ra sự thống nhất trong thực hiện các mục tiêu giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và ngược lại nếu 3 môi trường này có mối quan hệ lõng lẽo, không phối hợp cùng nhau thì sẽ gây khó khăn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách học sinh. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Xã hội, kinh tế, khoa học kĩ thuật,… luôn luôn thay đổi chính vì thế giáo dục cũng từ đó chịu nhiều tác động. Giáo dục chịu tác động dẫn đến người được giáo dục cũng chịu nhiều sự tác động tương ứng. Ví dụ trong gia đình thì học sinh chịu sự tác động, ảnh hưởng của cha mẹ,…Trong nhà trường thì học sinh chịu sự tác động từ thầy cô, bạn bè, các quy định từ nhà trường,… Các tác động đó có thể chịu ảnh hưởng lẫn nhau nhưng cũng có thể tách rời nhau tuy nhiên nó vẫn có tác động 2 chiều: tích cực – tiêu cực đến người được giáo dục.

Khi nhà trường bắt đầu xuất hiện và học sinh được tiếp nhận sự giáo dục từ phía nhà trường nhưng chức năng giáo dục của gia đình cũng không vì thế mà thay đổi. Tuy nhiên, giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường không đồng bộ mà có sự khác nhau về một số phương diện như: mục tiêu, nội dung, phương pháp,…Chính vì sự khác nhau đó, vấn đề được đặt ra là là cần phải có sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh để tạo thành một thể thống nhất theo hướng tích cực cũng như ngăn chặn, hạn chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra khi tách rời.

Trên thực tế, để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện cả đức -trí – thể – mỹ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường thì không chỉ có vai trò của nhà trường, mà còn rất cần sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ của gia đình. Đó là môi trường giáo dục quan trọng tạo nền tảng vững chắc để cùng giáo dục, hình thành nhân cách và vun đắp sự trưởng thành của một con người. Thực tiễn giáo dục cho thấy sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình còn lỏng lẻo. Một số phụ huynh khi đưa con đến trường đều gửi gấm con em mình cho giáo viên và câu nói: “Trăm sự nhờ thầy/cô” và sau đó là như tháo gỡ mọi trách nhiệm về giáo dục kiến thức, giáo dục đạo đức cho chính con em của mình để khi con em mình hư thì lại đổ lỗi lên giáo viên. Một bộ phận giáo viên chỉ chú trọng dạy kiến thức đối phó bài vở mà xem nhẹ dạy kỹ năng sống, đạo đức hay có những trường hợp do học sinh là “con cưng” được nuông chiều rồi giáo viên đỗ lỗi “không dám” răn dạy. Sự phối hợp không chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình đã dẫn đến sự đổ lỗi qua lại giữa các môi trường giáo dục. Như vậy muốn nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường thì một trong các giải pháp hết sức quan trọng là phải có sự phối hợp giữa môi trường giáo dục nhà trường và gia đình, góp phần tạo nên môi trường giáo dục toàn diện, thống nhất về mục đích, huy động được sức mạnh tổng hợp nhằm phát triển học sinh một cách toàn diện nhất. Trường tiểu học có vai trò rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh là một trong những vấn đề quan trọng được ngành giáo dục quan tâm, đặc biệt là đối với giáo dục tiểu học nói chung và và giáo dục tiểu học tại Thị xã Bến Cát nói riêng. Thị xã Bến Cát là một trong những địa bàn có số lượng dân nhập cư chiếm tỉ lệ cao, người dân chủ yếu là dân lao động, công nhân nên ít có thời gian quan tâm đến việc học tập của con em, lứa tuổi tiểu học là nền tảng để giáo dục đức – trí –thể – mỹ và vì thế hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một bộ phận của quản lý nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục được thống nhất với nhau và giúp giáo dục của nhà trường, gia đình được tốt hơn. Xuất phát từ thực tiễn cho thấy quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh còn chưa hoàn thiện và chưa tìm ra được giải pháp tối ưu, công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh vẫn còn một số bất cập như: nhận thức về tầm quan trọng của công tác phối hợp, nhận thức về quản lý hoạt động phối hợp còn hạn chế; các nội dung, hình thức phối hợp còn hạn chế, chưa phong phú; hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện; kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch.

Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương”

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, xác định thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục tại trường Tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại trường tiểu học.
  • Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

5. Giả thuyết khoa học

Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh có vai trò quan trọng góp phần trong việc giáo dục toàn diện học sinh. Công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học TX Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định uy tín thương hiệu nhà trường. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương vẫn còn một số bất cập trong việc chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá hoạt động phối hợp. Nếu khảo sát, đánh giá đúng được thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì sẽ đề xuất được biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có tính cần thiết và khả thi cao, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Về nội dung

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học công lập thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo các chức năng quản lý của Hiệu trưởng.

6.2. Về chủ thể quản lý

  • Hiệu trưởng các trường tiểu học công lập TX Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

6.3. Về khách thể khảo sát

  • Cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh ở một số trường tiểu học trên địa bàn Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

6.4. Về thời gian

  • Đề tài nghiên cứu trong năm học 2024-2025 và năm học 2025-2026.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

7.1. Phương pháp luận

  • Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh và công tác xã hội hóa ở trường học hiện nay. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát Tỉnh Bình Dương.

  • Quan điểm lịch sử – logic

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình nói chung, quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại trường tiểu học nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.

  • Quan điểm thực tiễn Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tiểu học trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và thị xã Bến Cát nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các cơ sở giáo dục này. Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh phù hợp với thực tiễn.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm nghiên cứu lý luận

Phương pháp này dùng để phân tích và tổng hợp sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại trường tiểu học.

  • Nhóm nghiên cứu thực tiễn
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích điều tra: người nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thập số liệu, dữ liệu về thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh và công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh dưới sự điều hành lãnh đạo của hiệu trưởng các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Nội dung điều tra: Thu thập thông tin về thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Chúng tôi cũng dùng bảng hỏi để khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

  • Cách thức điều tra: Xây dựng 3 mẫu phiếu hỏi dành cho các đối tượng:

Mẫu 1: Phiếu khảo sát dành cho cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên tại các trường tiểu học thuộc địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Mẫu 2: Phiếu khảo sát dành cho cha mẹ học sinh tại các trường tiểu học thuộc địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Mẫu 3: Phiếu khảo sát tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất dành cho cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên tại các trường tiểu học thuộc địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp phỏng vấn

Mục đích phỏng vấn: nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong phiếu điều tra và thu thập thêm thông tin cho những vấn đề còn chưa được trả lời rõ ràng trong số liệu điều tra viết. Đây là phương pháp bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.

Nội dung phỏng vấn: Thuận lợi và khó khăn cũng như thực trạng hoạt động của việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục HS và công tác quản lý hoạt động việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục HS của Hiệu trưởng tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Cách thức phỏng vấn: chúng tôi chọn mẫu và phỏng vấn một số Cán bộ quản lý và một số GV tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Số liệu phỏng vấn sẽ dùng vào việc đối chiếu, so sánh để làm rõ kết quả điều tra về thực trạng quản lý hoạt động việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát Tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động (các hồ sơ quản lý, các nội quy, quy định, các kế hoạch, các báo cáo…)

Thu thập thông tin về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục HS tại các trường tiểu học TX Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp thống kê toán học

Người nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS statitis 22.0, excel 2019 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát Tỉnh Bình Dương.

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong giáo dục học sinh tại trường tiểu học.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các trường tiểu học trên địa bàn.

9. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, Bình Dương.

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại trường tiểu học

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại trường tiểu học

1.1.1. Trên thế giới

Một trong những hoạt động quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giáo dục học sinh đó là sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Để thực hiện tốt hoạt động này, nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện phối hợp với gia đình. Nhiều nhà giáo dục trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh

Nhà giáo dục người Tiệp Khắc J.A. Komenxki đã viết trong cuốn sách Lý luận dạy học của ông: “Bổn phận của cha mẹ là cùng nhau chăm lo việc dạy bảo con cái. Mục đích đặt ra là làm sao cho con cái trưởng thành để lo lắng cho bản thân và cả cho những người khác”. Ông cũng đã chỉ ra được tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình: “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất, làm thức tỉnh và duy trì khát vọng trong học sinh”. (Thái Duy Tuyên, 2001b) Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Petxtalogi (1746 – 1827) đánh giá rất cao giáo dục gia đình và vai trò của người mẹ. Theo ông, mục tiêu cao nhất của giáo dục đạo đức là giáo dục lòng nhân ái, lòng yêu thương con người. Tình cảm đó bắt đầu từ gia đình, trước hết là tình yêu thương đối với cha mẹ, anh em và đó là cơ sở cho lòng yêu thương nhân loại.

Arixtốt (384 – 322 TCN) đánh giá cao giáo dục gia đình, Ông cho rằng gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và người mẹ là nhà giáo dục đầu tiên của đứa trẻ. ( Bùi Minh Hiền, Nguyễn Quốc Trị, 2019)

Cơrúpxcaia từ những luận điểm của mình, ông cho rằng “nhà trường xã hội chủ nghĩa cần không ngừng liên hệ với cuộc sống xung quanh, phải tổ chức tham gia tích cực vào cuộc sống đó, mở rộng điều kiện cho thầy trò thử sức với khả năng. Nhà trường phải là người tổ chức các mối quan hệ tác động của xã hội và gia đình, nhà trường phải là mắt xích chính trong toàn bộ hệ thống giáo dục cộng sản chủ nghĩa”, “Nhà trường phải có ảnh hưởng tích cực đến giáo dục ngoài nhà trường và giáo dục gia đình”.

Theo như nhà giáo dục Xô Viết A.S. Makarenkô thì “Cha mẹ, gia đình phải có trách nhiệm cùng với nhà trường và xã hội và ngược lại, nhà trường và xã hội phải kết hợp, giúp đỡ gia đình thống nhất trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ”. ( Hà Nhật Thăng , Đào Thanh Âm, 1998)

1.1.2. Trong nước

Lịch sử giáo dục nước ta rất coi trọng việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quá trình giáo dục học sinh. Hai câu ca dao: “Con ơi muốn nên thân người, lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha” và “Muốn sang thì bắt cầu Kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” đã nêu bật lên mối quan hệ này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của dân tộc, Bác luôn coi trọng việc kết hợp các hình thức giáo dục lại với nhau, không tuyệt đối hóa bất kì một hình thức giáo dục nào và điều đó chính là nội dung huấn thị của Bác trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục, họp tháng 6 năm 1957 “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. (Hồ Chí Minh (tập 10), 2026)

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và đã xem công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một trong những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo kết quả giáo dục.

Xã hội đã xác định được giáo dục con cái là trách nhiệm của gia đình. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có viết: “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” (Điều 64) (Thái Duy Tuyên, 2001b)

Điều 3 Luật giáo dục 2011 đã khẳng định: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. (Luật giáo dục , 2011) Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Điều 93 Luật giáo dục 2011 cũng nêu rõ: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”. (Luật giáo dục , 2011)

Điều 94 Luật giáo dục 2011 quy định trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục của gia đình: “Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người giám hộ được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động học tập của nhà trường. Mọi người trong gia đình có trách nhiện xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”. (Luật giáo dục , 2011)

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2019 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT tiếp tục khẳng định quan điểm: “Phát triển GD&ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. (Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa XI, 2019)

Một số công trình nghiên cứu về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình của một số tác giả đã chỉ ra vai trò của nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh như:

Tạp chí Giáo dục số đặc biệt tháng 7/2025 của tác giả Lại Ngọc Phường về “Công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh” nhận định: Phối hợp giữa nhà trường và gia đình có vai trò và tác động rất quan trọng trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, nhất là trẻ mầm non, giúp trẻ phát triển thể lực và hình thành nhân cách của mình. (Lại Ngọc Phường, 2025)

Tạp chí Giáo dục số đặc biệt tháng 5/2023 của tác giả Phạm Hùng về vấn đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc giáo dục: Kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong thực hành giáo dục và yêu cầu đặt ra hiện nay” nhận định: Kết hợp giáo dục gia đình – Nhà trường – Xã hội là sợi dây cốt lỗi mang tính chất chỉ đạo, định hướng cho quá trình giáo dục, nguyên tắc này càng thể hiện tính đúng đắn nhất trong giai đoạn hiện nay. Ở đâu, sự phối hợp này thực hiện tốt thì kết quả sẽ cao; còn ngược lại ở đâu có sự phối hợp kém thì kết quả giáo dục sẽ không cao. (Phạm Hùng, 2023)

“Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, năm 2001 của tác giả Phạm Thị Thu Hương. Những vấn đề lý luận chung về xã hội hóa giáo dục trình bày mục tiêu của xã hội hóa giáo dục là phát triển toàn diện con người về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng nghề nghiệp…nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ khoa học, công nghệ. Mục tiêu không thể đạt được nếu môi trường gia đình, nhà trường, xã hội không lành mạnh. Vì vậy, cần sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của gia đình và các lượng lượng xã hội và việc tạo ra môi trường thuận lợi cho giáo dục, hoàn thiện nội dung và phương pháp giáo dục, cải tiến công tác quản lý giáo dục. ( Phạm Thị Thu Hương, 2001) Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Trong những năm gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình như:

  • “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp” (Nguyễn Minh Tâm, 2013).
  • “Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Cần Đước, tỉnh Long An”, (Hồ Văn Thơm, 2015)
  • “Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường trung học cơ sở vùng nông thôn thị xã Bà Rịa”, (Dương Văn Thanh, 2015)
  • “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” (Trần Thị Mai Hanh, 2016)
  • “Quản lý phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ”, (Vũ Thanh Quyên, 2021)

Các công trình nghiên cứu bằng những lý luận cơ bản, những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa đều khẳng định công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với kết quả giáo dục học sinh. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh ở cấp Tiểu học tại Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lắp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học Thị xã Bến Cát, Bình Dương nói riêng và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học nói chung.

1.2. Các khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

1.2.1. Hoạt động giáo dục

Theo quan điểm lý thuyết về hoạt động, A.N.Leontiev cho rằng hoạt động “là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể”. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam năm 1998, Hoạt động là tiến hành những việc làm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội. Hoạt động giữa nhà trường và gia đình là tiến hành những việc làm có sự thống nhất chung và mối quan hệ liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau nhằm mục đích thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh

Mọi hoạt động của con người đều có tính mục đích. Con người hiểu được mục đích hoạt động của mình, từ đó mới định rõ chức năng, nhiệm vụ của hoạt động để đạt hiệu quả trong công việc. Tính mục đích trong hoạt động và tầm nhìn về lợi ích của hoạt động con người thể hiện rõ trong nền giáo dục của các dân tộc và quốc gia từ xưa đến nay. Hoạt động của con người dành cho việc dạy và học luôn được chú trọng và đề cao. Hồ Chủ tịch từng nhắc lại một bài học của người xưa: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Dạy học là dạy người.

Như vậy, nói đến hoạt động bao giờ cũng có sự gắn kết giữa chủ thể, đối tượng và mục đích hoạt động và mục đích của quản lý nhà trường là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đưa nhà trường từ trạng thái hiện có tiến lên một trạng thái mới có chất lượng hơn. Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo một thế hệ những con người thông minh, sáng tạo, năng động, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và vì xã hội.

Giáo dục (theo nghĩa rộng) được hiểu là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách của họ. Ngoài ra, (theo nghĩa hẹp) thì giáo dục được cho là quá trình hình thành cho con người giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu. (Bộ môn Tâm Lý Học -GD, 2019) Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) được hiểu là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, do nhà giáo dục định hướng, thiết kế, tổ chức trong và ngoài giờ học, trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục theo nghĩa hẹp, hình thành ý thức, phẩm chất, giá trị sống, hay các năng lực tâm lý xã hội,… (Cục nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, 2023)

Theo Đặng Thành Hưng, hoạt động giáo dục là một hoạt động do người lớn tổ chức theo kế hoạch, chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành chúng và chịu trách nhiệm về chúng chính là nhà trường, các GV và các nhà giáo dục có liên quan như cha mẹ học sinh, các tổ chức giáo dục xã hội và các cơ sở giáo dục nhà nước. (Đặng Thành Hưng, 2002)

Theo Võ Tấn Quang, hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) là hoạt động của nhà giáo dục (tập thể và cá nhân) nhằm hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đạo đức, đồng thời bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ và phát triển thể chất của học sinh thông qua hệ thống các biện pháp tác động sư phạm đến tư tưởng, tình cảm, lối sống của học sinh, cùng kết hợp với các biện pháp giáo dục gia đình và xã hội để chủ yếu là phát huy những mặt tốt, đồng thời khắc phục những mặt hạn chế, tiêu cực trong suy nghĩ và hành động của các em. (Từ điển Bách khoa tâm lý học – giáo dục học Việt Nam, 2018)

Theo tác giả Trần Thị Hương (2020): Hoạt động giáo dục là hoạt động trong đó, dưới sự tác động chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu xã hội. (Trịnh Văn Biểu, Lê Thị Kim Dung, 2015)

Hoạt động giáo dục là dưới tác động chủ đạo của thầy giáo, người học chủ động thực hiện hoạt động nhằm lĩnh hội tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học và phẩm chất, nhân cách.

Từ định nghĩa của các tác giả trên, có thể cho rằng hoạt động giáo dục là một hoạt động có tính mục đích, có kế hoạch; là sự tác động của chủ thể đến đối tượng giáo dục để cho đối tượng ấy phát triển các kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm hình thành và phát triển năng lực tâm lý – xã hội giúp đối tượng được giáo dục đáp ứng và đối phó một cách tích cực với những nhu cầu và thách thức của cuộc sống. Chính vì thế, hoạt động giáo dục là hoạt động cơ bản thiết yếu của trường học, trong đó có các trường tiểu học.

1.2.2. Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

  • Phối hợp

Phối hợp là cùng nhau làm theo một kế hoạch chung để đạt một mục đích chung. (Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, 1998). Ngoài ra, phối hợp còn là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung.

  • Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình

Quan hệ giữa nhà trường và gia đình là mối quan hệ mang tính mật thiết cao. Nhà trường phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh nhằm thống nhất quy mô, kế hoạch phát triển nhà trường, các biện pháp giáo dục học sinh và quan tâm giúp đỡ học sinh. Giáo viên chủ nhiệm liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh của lớp để thông báo kết quả học tập của từng học sinh, thống nhất kế hoạch phối hợp giúp đỡ học sinh yếu kém, giáo dục học sinh cá biệt, biểu dương kịp thời học sinh nỗ lực học tập và rèn luyện tốt. Hoạt động giữa nhà trường và gia đình là những việc làm có sự thống nhất và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau giữa nhà trường và gia đình nhằm thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh.

Như vậy, hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình được hiểu là giáo viên và cha mẹ học sinh cùng nhau hỗ trợ, hợp tác, thống nhất trong mọi hoạt động giáo dục học sinh nhằm đạt được mục đích chung phát triển toàn diện học sinh từ năng lực đến phẩm chất.

1.2.3. Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

  • Quản lý Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và được tiếp cận từ các góc độ nghiên cứu với các đặc trưng khác nhau bởi nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Do vậy mà lý luận về quản lý ngày càng đa dạng và phát triển. Sau đây là định nghĩa về quản lý:

  • Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977, quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động. (Trần Kiểm, 2010)
  • Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội. (Trần Kiểm, 2010)
  • Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. (Trần Kiểm, 2010)
  • Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. (Trần Kiểm, 2018)

Các khái niệm trên tuy khác nhau những lại có chung đặc điểm như: hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, có tính định hướng, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.

Như vậy, quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm lực, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường thông qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.

  • Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Quản lý nhà trường là quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, cán bộ nhân viên, người học, các bên liên quan…) và huy động, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn luôn biến động. (Bùi Minh Hiền, Nguyễn Vũ Bích Hiền, 2021)

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ và từng học sinh”. (Phạm Minh Hạc, 1986)

Theo tác giả Thái Văn Thành: “Quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến” (Thái Văn Thành, 2013)

Các khái niệm tuy khác nhau nhưng chúng đều phản ánh những điểm chung, đó là:

  • Những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm vận hành nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng.
  • Quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến.

Từ những đặc điểm chúng ta có thể hiểu, quản lý nhà trường là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm vận hành nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng và đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến.

  • Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình

Một trong những nội dung quản lý nhà trường của nhà quản lý đó là quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường gia đình. Nhà quản lý có vai trò cốt lỗi trong việc xây dựng, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh đúng với nguyên lý và phương pháp giáo dục nhằm mục đích nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục.

Như vậy, có thể hiểu quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là những tác động có ý thức của chủ thể quản lý nhà trường đến hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quá trình giáo dục học sinh. Đó là việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

1.3. Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

1.3.1. Ý nghĩa của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học

Gia đình và nhà trường là hai môi trường có chức năng xã hội hóa cá nhân cho học sinh về các mặt của năng lực cũng như phẩm chất để học sinh trở thành những công dân có ích cho xã hội mới, môi trường gia đình chính là nơi bộc lộ rõ rệt khả năng giáo dục to lớn, mạnh mẽ mà giáo dục nhà trường cũng khó đảm đang, thay thế được.

Với sự phát triển và đổi mới của nước ta hiện nay thì yêu cầu cấp bách chính là nâng cao chất lượng người lao động, đào tạo nhân tài, đào tạo con người có nhân cách phù hợp với xã hội mới. Để hình thành những con người có các phẩm chất cơ bản đó thì cần có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau giữa môi trường giáo dục gia đình – nhà trường thành một quá trình thống nhất, liên tục, tác động mạnh mẽ vào sự phát triển toàn diện của học sinh. Trong quá trình giáo dục, học sinh phải được phát triển về thể chất, trí tuệ và đạo đức để trở thành con người có đạo đức, có năng lực để đảm nhận cái vai trò sẽ được xã hội giáo phó trong tương lai.

Mục đích, nội dung giáo dục của nhà trường và gia đình phải thống nhất với nhau nhằm giáo dục, phát triển những đặc tính tốt đẹp tự nhiên của thế hệ trẻ, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và những đức tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập cho học sinh. Chính vì xuất phát từ tinh thần trách nhiệm đối với tương lai đất nước nước chung và tương lai học sinh nói riêng mà nhà trường và gia đình phải phối hợp, liên kết chặt chẽ với nhau để giáo dục học sinh một cách toàn diện, giúp học sinh trở thành con người có ích cho đất nước trong tương lai.

Quá trình giáo dục học sinh là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp. Chính vì thế nó đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình diễn ra một cách liên tục và thường xuyên. Điều đó giúp đảm bảo được sự thống nhất chung giữa hai môi trường giáo dục trong quá trình giáo dục học sinh. Nhà trường và gia đình cũng chính là hai môi trường mà học sinh sống, học tập, sinh hoạt nhiều nhất nên nhà trường và gia đình phải phối hợp với nhau để tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh được giáo dục mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời, việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm của phía gia đình và phía nhà trường.

Thực tế cho thấy, kết hợp chặt chẽ các môi trường giáo dục sẽ làm cho kết quả giáo dục của nhà trường, của gia đình được thống nhất và tốt hơn. Chính vì vậy, chủ tích Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt hơn. Giáo dục dù trong nhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. (Hồ Chí Minh, 2002) Như vậy, ở đâu có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trương và gia đình thì ở đó kết quả giáo dục sẽ tốt hơn, chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng cao hơn.

1.3.2. Mục tiêu hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh là những tiêu chí được định hướng từ ban đầu mà hoạt động phối hợp này phải đạt được trong quá trình giáo dục học sinh như:

  • Tạo ra sự thống nhất giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh một cách liên tục, toàn vẹn.
  • Tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học giáo dục tiểu học đến gia đình học sinh.
  • Tạo điều kiện cho GV và Phụ huynh học sinh trong việc trao đổi phương pháp giáo dục HS.
  • Tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh ở trường cũng như ở nhà.
  • Hạn chế những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển nhân cách học sinh.
  • Phát huy được ưu thế của giáo dục gia đình.
  • Nâng cao trách nhiệm của gia đình trong giáo dục con cái.

Mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình phải có sự thống nhất về quan điểm giáo dục, nội dung và các biện pháp giáo dục học sinh tiểu học của nhà trường và gia đình để góp phần giáo dục đạt kết quả tốt nhất, tránh các hiện tượng đổ lỗi cho nhau trong giáo dục mà phải giúp đỡ các em học sinh tiểu học trở thành người công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Việc xác định đúng mục tiêu phối hợp giữa nhà trường và gia đình sẽ tạo điều kiện giúp cho quá trình giáo dục học sinh giữa nhà trường và gia đình diễn ra nhịp nhàng, mang lại kết quả tích cực như mong đợi.

1.3.3. Nội dung hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học

Việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần đảm bảo sự thống nhất về quan điểm giáo dục, nội dung và các biện pháp giáo dục học sinh giúp do quá trình giáo dục đạt kết quả cao nhất. Việc phối hợp này tuyệt đối trách những tiêu cực như: sự tách rời, mâu thuẫn và vô hiệu hóa giữa hai môi trường giáo dục…dẫn đến việc gây cho học sinh tâm trạng hoang mang trong lựa chọn, xác định cũng như định hướng các giá trị mà bản thân cần đạt tới.

Nhà trường và gia đình cần nhận phải rõ vai trò và vị trí của nhau, cùng nhau phối hợp để làm tốt công tác giáo dục học sinh. Nội dung của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là những công việc cần phải thực hiện của nhà trường và giai đình trong quá trình phối hợp. Đó là: Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Phối hợp xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh của nhà trường và lớp học. Gia đình tham gia cùng nhà trường trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, của lớp;

Phối hợp tổ chức thực hiện chương trình giáo dục học sinh của nhà trường và lớp học. Tham gia hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục học sinh phù hợp với chương trình giáo dục; Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức các ngày lễ, ngày hội cho học sinh;

Phối hợp theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục học sinh.

Theo đó, gia đình tham gia cùng nhà trường đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của con em; Tham gia đóng góp ý kiến với nhà trường về chương trình và phương pháp giáo dục học sinh;

Phối hợp quản lý học sinh học tập và rèn luyện ở gia đình. Theo đó, nhà trường tư vấn cho cha mẹ học sinh về các kiến thức về tâm lý học, giáo dục học và phương pháp giáo dục gia đình để tạo điều kiện giúp cha mẹ học sinh nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cũng như tầm quan trọng của giáo dục gia đình. Song song đó, gia đình cũng cần trao đổi với giáo viên chủ nhiệm về kết quả rèn luyện, học tập, lao động, vui chơi ở nhà nhất là những hiện tương đặc biệt, những biến đổi tâm lí ở con em ngoài nhà trường;

Phối hợp trong việc xây dựng môi trường giáo dục, văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ với học sinh và phụ huynh. GV quan tâm, đối xử công bằng, tôn trọng nhân cách của học sinh và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; GV chủ động chia sẻ kinh nghiệm, tình hình học tập của HS để cùng gia đình đưa ra hướng giáo dục tốt nhất với từng cá nhân học sinh một cách phù hợp;

Phối hợp trong việc xây dựng cảnh quan trường học, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học. Nhà trường đề nghị sự hỗ trợ từ phía cha mẹ học sinh cho các hoạt động như tạo cảnh quan trường học, trang bị thêm về cơ sở vật chất hay trang thiết bị, đồ dùng dạy học phù hợp nhằm phục vụ cho việc giáo dục học sinh được thuận lợi, hiệu quả hơn;

Phối hợp chăm lo đời sống tinh thần cho giáo viên. Động viên GV nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn, yên tâm công tác, giữ vững phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, tích cực tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo;

1.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

  • Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình diễn ra dưới các hình thức như:

Tuyên truyền, phổ biến các điều luật, văn bản, thông tư, quy định, kế hoạch… về phối hợp nhà trường và cha mẹ học sinh. Triển khai các văn bản chỉ đạo như Luật giáo dục, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh, thông tư quy định về đánh giá học sinh, kế hoạch năm học,…;

Thông qua bảng thông báo của trường, lớp để thông tin, tuyên truyền đến phụ huynh. Nhà trường thông qua bảng thông báo để thông tin tuyên truyền tới phụ huynh học sinh các ý kiến về giáo dục học sinh hoặc thông báo về nội dung các hoạt động, các yêu cầu của nhà trường đối với gia đình hoặc những nội dung mà gia đình cần phối hợp với GV trong việc thực hiện chương trình giáo dục học sinh;

Trao đổi trực tiếp thường xuyên với gia đình học sinh sau giờ học. Nhà trường nói chung và GV chủ nhiệm nói riêng sẽ chủ động liên hệ với Phụ huynh học sinh nhằm thông báo đến gia đình học sinh những vấn đề có liên quan trong quá trình giáo dục học sinh tại trường để giúp cha mẹ học sinh nắm vững mục tiêu, nội dung giáo dục của nhà trường cũng như kịp thời nắm được tình hình học tập của con em mình;

Tổ chức họp phụ huynh định kì. Họp phụ huynh định kì giúp cha mẹ học sinh nắm bắt kịp thời kết quả học tập, sự tiến bộ hoặc khó khăn của con cái trong quá trình học. Thông qua các kì họp, nhà trường cũng trang bị cho phụ huynh một số kiến thức về phương pháp giáo dục gia đình;

Tổ chức những buổi sinh hoạt, trao đổi phổ biến kiến thức giáo dục theo chuyên đề cho cha mẹ học sinh. Thông qua đó nhà trường sẽ tuyên truyền, phổ biến các phương pháp giáo dục tiến bộ trong gia đình giúp tạo điều kiện cho gia đình học sinh dễ dàng và chủ động tìm hiểu về các thông tin học tập và sinh hoạt ở trường của con em mình;

Thông qua hội thi, hoạt động văn hóa văn nghệ, tham quan các hoạt động của nhà trường. Khuyến khích phụ huynh cùng với nhà trường tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khoá cho học sinh nếu các bậc cha mẹ có điều kiện và khả năng; Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường, lớp và phối hợp thông qua ban đại diện cha mẹ học sinh. Thông qua ý kiến từ phía Ban đại diện cha mẹ học sinh mà nhà trường sẽ tiếp thu các ý kiến đã được ban đại diện đóng góp trong các hoạt động nhằm xem xét và điều chỉnh một cách phù hợp;

Phối hợp giáo dục thông qua các ứng dụng công nghệ: thư điện tử, web, mail, zalo; Sổ liên lạc, thư mời. Theo đó, sổ liên lạc là phương tiện trao đổi thông tin 2 chiều giữa gia đình và nhà trường. Đó là phương tiện mà GV ghi lại kết quả học tập, rèn luyện của học sinh cùng với nhận xét, đánh giá toàn diện, phản ánh những tiến bộ, những điểm cơ bản của từng học sinh và những kiến nghị cần thiết với gia đình của học sinh trong quá trình học. Gia đình sau khi xem xét sổ liên lạc thì ghi rõ ý kiến của mình về những kết quả phấn đấu của học sinh cũng như về nhận xét đánh giá của giáo viên chủ nhiệm về học sinh;

1.4. Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học

1.4.1. Xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

Lập kế hoạch là thiết kế các bước đi sao cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu dã xác định thông qua việc sử dung tối ưu những nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực và nguồn lực thông tin ) đã có và sẽ khai thác. Lập kế hoạch trong quản lý giáo dục có tầm quan trọng rất lớn, nó có khả năng ứng phó với sự bất định và sự thay đổi. Chính vì thế, trong quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thì việc xây dựng kế hoạch là điều tất yếu. (Trần Kiểm, 2018)

Xây dựng kế hoạch là một chức năng của quản lý. Xây dựng kế hoạch là quá trình xác định được các mục tiêu cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu này. Chức năng xây dựng kế hoạch không chỉ dừng ở việc xác định mục tiêu, xây dựng các loại kế hoạch mà phải bao gồm cả quá trình triển khai thực hiện và điều chỉnh kế hoạch. Kế hoạch ở đây là những công việc cụ thể mà nhà trường thực hiện để tìm kiếm sự hợp tác của cha mẹ học sinh nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Ngoài ra, kế hoạch cần phải có những hoạt động nhằm nâng cao nhận thức giáo dục cho các bậc cha mẹ học sinh, giúp họ làm tốt trách nhiệm giáo dục con em.

Xác định, hình thành mục tiêu, phương hướng đối với nhà trường về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Hiệu trưởng và GV trong trường cần xác định rõ cái gì cần thực hiện, ai là người thực hiện, thời gian thực hiện và đảm bảo rằng mọi thành viên trong trường biết và hiểu được những gì được kì vọng vào mỗi cá nhân trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Các mục tiêu này cần đảm bảo phổ biến rộng rãi, có văn bản để GV và phải để GV nhận thấy là có thể đạt được, cho họ thấy cần phải nỗ lực để đạt mục tiêu đó.

Điều tra tình hình thực tế hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình của trường. Thông qua các văn bản, báo cáo về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các năm học để tìm và khắc phục những hạn chế còn tồn tại cũng như phát huy và tìm ra những giải pháp nhằm giúp cho quá trình quản lý phối hợp được hiệu quả hơn.

Xác định mục tiêu phối hợp cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường. Mục tiêu ở đây là nhà trường và gia đình cùng thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh để tạo ra một môi trường giáo dục thống nhất.

Xây dựng nội dung kế hoạch phối hợp cụ thể theo từng năm học, từng học kỳ, từng quý và từng tháng.

Lựa chọn các biện pháp phù hợp để quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình được thực hiện dễ dàng. Sử dụng đồng bộ các biện pháp phối hợp, các phương pháp phải phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương châm của nhà trường và đặc biệt còn phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các lực lượng để thực hiện kế hoạch. Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch phân công cụ thể cho từng đối tượng trong nhà trường tham gia vào hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh. Đặc biệt cần chú trong đến vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động phối hợp.

Trình kế hoạch, chương trình hoạt động phối hợp lên các cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt và chính thức ban hành để nâng cao hiệu lực của công tác quản lý.

Tổ chức các hoạt động phối hợp: họp phụ huynh học sinh; trao đổi trực tiếp giữa GV và Phụ huynh học sinh,…

Kế hoạch phải đảm bảo chất lượng và tính khả thi, đồng thời tạo ra sự cam kết của các bên liên quan trong việc tổ chức thực hiện khi kế hoạch được phê duyệt.

Kế hoạch phải thể hiện rõ các điều kiện về nguồn lực (tài lực, vật lực, nhân lực và nguồn lực thông tin), xác định rõ ràng của các tổ chức có liên quan trong công tác quản lý cũng như triển khai thực hiện kế hoạch.

Kế hoạch cần phải bám sát hướng dẫn chỉ đạo của Phòng, Sở, Bộ GD&ĐT; xác định thực trang công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình; đưa ra những dự báo diễn biến về hoạt động phối hợp;kế hoạch phải phù hợp với điều kiện nhà trường; xác định mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu cần đạt được; có những biện pháp cụ thể; cần đề ra những yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm; có kiểm tra, đánh giá về sự chủ động của giáo viên chủ nhiệm, sự kết hợp của cha mẹ học sinh và hoạt động phối hợp của Ban đại diện hội cha mẹ học sinh. Việc xây dựng kế hoạch được thực hiện nghiêm túc sẽ tạo cơ sở vững chắc cho giai đoạn tổ chức và kiểm tra sau này.

1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh là quá trình hoạt động dưới sự chỉ đạo của hiệu trưởng một cách thường xuyên, liên tục, đáp ứng công tác giáo dục học sinh. Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh cần chú ý đến các những nội dung như:

Hiệu trưởng phổ biến kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình. Phải tăng cường công tác tuyên truyền vận động để cả phụ huynh và GV nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân trong quá trình giáo dục học sinh.

Xây dựng cơ chế phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh toàn trường.

Tổ chức các buổi chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động phối hợp. Hiệu trưởng thông qua tổ chức các tình hướng sư phạm để giúp GV học tập rút kinh nghiệm cũng như hướng dẫn GV học tập qua đồng nghiệp về các vấn đề liên quan đến hoạt đọng phối hợp như: kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, chia sẻ và đồng cảm với những trao đổi của phụ huynh học sinh.

Lựa chọn phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhà trường thực hiện hoạt động phối hợp. Để mang lại hiệu quả công việc thì cần tập trung vào việc kiểm tra cũng như xác định rõ ràng nhu cầu tham gia hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh về số lượng cũng như chất lượng nhằm phân công phù hợp với từng đối tượng giáo dục và xác định ai làm việc gì, cách thức thực hiện như thế nào? Chính vì vậy, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các bộ phận trong nhà trường phải bàn bạc cách thức thực hiện kế hoạch cũng như thống nhất sự phân công trách nhiệm.

1.4.3. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

Theo quan niệm của Trần Kiểm (2010) “Chỉ đạo là một quá trình truyền cảm hứng cho người khác để họ làm việc chăm chỉ nhằm đạt được các nhiệm vụ quan trọng. Một nhà lãnh đạo hiệu quả sẽ khiến cấp dưới làm việc nhiệt tình hơn để đạt được những mục tiêu công việc”. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Từ đó, sau khi tổ chức cơ cấu bộ máy đã được hình thành thì cần phải có sự chỉ đạo, định hướng, điều phối. Người quản lý tác động đến người được quản lý nhằm khích lệ họ tự nguyện, hoạt động tích cực để đạt mục tiêu đề ra. Trong đó, người quản lý phải theo dõi, giám sát các hoạt động của từng bộ phận, từng cá nhân tham gia phối hợp giữa nhà trường và gia đình cũng như tình hình diễn biến hoạt động học tập của học sinh. Có như vậy, nhà quản lý mới kịp thời động viên, khuyến khích các bộ phận, các cá nhân thực hiện đúng kế hoạch đã xây dựng.

Người hiệu trưởng cần phát huy tốt vai trò của Ban đại diện trong việc kết hợp giáo dục học sinh và phát triển nhà trường. Một số công việc hiệu trưởng cần thực hiện như:

Hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho giáo viên chủ nhiệm. Hiệu trưởng hướng dẫn cách thức phối hợp, chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm phối hợp với Ban đại diện Phụ huynh học sinh lớp nói chung và gia đình cá nhân HS nói riêng để tìm ra biện pháp giáo dục phù hợp với tình hình HS lớp mình.

Phân bổ kinh phí cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

Chỉ đạo tổ chức họp Phụ huynh học sinh, bầu ban đại diện cha mẹ học sinh ở các lớp và toàn trường.

Chỉ đạo, hướng dẫn cho giáo viên chủ nhiệm cách thức phối hợp với Ban đại diện Phụ huynh học sinh của lớp. Hiệu trưởng hướng dẫn cách thức phối hợp, chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp nói chung và gia đình cá nhân HS nói riêng để tìm ra biện pháp giáo dục phù hợp với tình hình học sinh lớp mình.

Tổ chức, vận động cha mẹ học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường. Tạo điều kiện giúp Phụ huynh học sinh tìm hiểu, thực hiện các phương pháp giáo dục và theo dõi quá trình học tập của học sinh ở nhà, giúp Phụ huynh học sinh nắm bắt được công tác giảng dạy, giáo dục của nhà trường và việc học tập, rèn luyện của HS tại trường để gia đình tổ chức tốt việc giáo dục HS tại nhà cũng như tạo điều kiện để học sinh tham gia các hoạt động ngoài giờ do trường tổ chức.

Theo dõi, giám sát hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình. Ở các trường tiểu học thì bộ phận giám sát hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là Ban giám hiệu.

Sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về hoạt động phối hợp.

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Bất cứ hoạt động nào cũng cần kiểm tra, đánh giá vì kiểm tra để kịp thời thay đổi phương pháp và để điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp. Kiểm tra là chức năng cố hữu của quản lý. Không có kiểm tra sẽ không có quản lý. Do đó, trong quá trình thực hiện quyết định, kiểm tra là bước không thể thiếu đối với người quản lý. Mục đích của kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh là để gắn kết mối quan hệ Nhà trường – Gia đình và kịp thời thống nhất về quan điểm, phương pháp, cách thức giáo dục học sinh một cách toàn diện nhất. Kiểm tra – đánh giá là nội dung quan trọng trong quản lý, nhằm xem xét thực trạng, đánh giá thực trạng và khuyến khích cái tốt hoạt động hiệu quả. Vì vậy, công tác kiểm tra – đánh giá là việc làm thường xuyên của Ban giám hiệu trong quá trình quản lý nhà trường cũng như hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

Theo đó, nội dung quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học bao gồm: Xác định mục tiêu, tiêu chí kiểm tra đánh giá; Tổ chức lực lượng tham gia kiểm tra đánh giá ;Về phương pháp kiểm tra, cần kiểm tra qua nhiều nguồn thông tin như: hồ sơ sổ sách, trao đổi tìm hiểu hoạt động….

Quản lý hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình cần phải có sự kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm theo tháng, từng học kỳ và từng năm học để tạo được hiệu quả cao trong công tác giáo dục sau này. Một số hoạt động nhằm kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở nhà trường:

Hiệu trưởng nắm được kế hoạch phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với cha mẹ học sinh từng lớp. Nắm được kế hoạch phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với cha mẹ học sinh từng lớp đầy đủ, sát với thực tế giúp cho hoạt động kiểm tra đánh giá được dễ dàng, khách quan và công bằng hơn.

Sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện kế hoạch học kì, tháng, tuần.

Kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị hỗ trợ hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình. (điện thoại, mail,…)

Đánh giá hoạt động phối hợp với gia đình lớp chủ nhiệm qua kế hoạch cá nhân từng giai đoạn, từng hoạt động trong việc phối hợp với gia đình của giáo viên. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình qua nhiều nguồn thông tin được thể hiện qua các việc như: theo dõi kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch hay hoạt động của giáo viên trong việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình một cách hợp lý, quy định các tiêu chuẩn đánh giá, kiểm tra ở từng giai đoạn.

Kiểm tra, giám sát, đánh giá, thảo luận rút kinh nghiệm từng giai đoạn kịp thời để điều chỉnh hoạt động động phối hợp giữa nhà trường và gia đình có hiệu quả.

Tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Nhắc nhở, kiểm điểm những cá nhân chưa thực hiện tốt hoạt động này.

1.4.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

Các điều kiện hỗ trợ cho việc quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình phải phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội của địa phương, nhà trường, gia đình, mức độ nhận thức của phụ huynh, tâm sinh lý của học sinh, khoảng thời gian thích hợp để các thành viên trong nhà trường và gia đình gắn kết được với nhau. Ngoài ra còn cần những quy định cụ thể để tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện tốt hoạt động phối hợp. Các điều kiện như:

  • Điều kiện về nguồn kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động phối hợp.
  • Các văn bản và phương tiện phục vụ cho hoạt động phối hợp.
  • Vai trò của hiệu trưởng trong quá trình xây dựng, tổ chức, chỉ đạo mọi hoạt động phối hợp giữa các bên liên quan.

Trách nhiệm của của các bộ phận khác trong nhà trường. Đặc biệt là vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc thực hiện thực hiện các chỉ đạo nhằm kết hợp với cha mẹ học sinh để thống nhất chung về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh.

Sự chủ động của gia đình trong thực hiện hoạt động phối hợp như: Thống nhất với nhà trường về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh; Phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh; Tham gia các hoạt động do trường tổ chức và phối kết hợp, gặp gỡ trao đổi với giáo viên chủ nhiệm về tình hình của học sinh.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

1.5.1 Các yếu tố khách quan

Chủ trương chính sách, cơ chế quản lý của nhà nước với giáo dục tiểu học: Tất cả các văn bản quy chế, thông tư đều mang tính pháp lý để các trường tiểu học tổ chức và thực hiện. Các văn bản pháp lý của nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo có tác động và ảnh hưởng đến công tác thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Chính vì vậy, hệ thống các văn bản phải rõ ràng không bị chồng chéo, phù hợp với thực tiễn sẽ tạo sự thuận lợi trong quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại trường tiểu học và đạt mục tiêu đề ra.

Kinh tế-xã hội của địa phương trong giai đoạn hiện nay: Với nền kinh tế văn hóa – xã hội hiện nay cũng như trình độ dân trí ngày càng nâng cao đã đạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường phụ huynh góp phần ảnh hướng đến hoạt động giáo dục của nhà trường trong nhiều mặt. Từ đó, công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay có vai trò quan trọng nhằm kiểm soát quá trình hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Điều kiện kinh tế của địa phương và gia đình có ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp tới việc quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Cụ thể:

  • Điều kiện kinh tế của địa phương cung cấp nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất cho các học sinh của trường.
  • Điều kiện kinh tế địa phương tạo cơ sở xây dựng chính sách địa phương cho người tham gia công tác giáo dục.

Môi trường xã hội ổn định, nền tảng xã hội lành mạnh là điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Đây là môi trường mà ở đó học sinh gián tiếp tiếp thu những giá trị nhân văn của xã hội.

Gia đình cũng ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình: Nhận thức của gia đình về mục đích, nhiệm vụ giáo dục và vai trò cũng như sự cần thiết phải phối hợp giữa nhà trường và gia đình. Từ đó, gia đình chủ động phối hợp, liên hệ với nhà trường để có những định hướng đúng đắn về cho việc giáo dục học sinh tại nhà.

1.5.2 Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Những yếu tố từ phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi hay hạn chế hiệu quả của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh:

Năng lực quản lý sự thay đổi của hiệu trưởng: Lãnh đạo và quản lý sự thay đổi là một tiến trình xây dựng cầu nối giữa hành động và tầm nhìn. Chúng ta đang sống trong một xã hội không ngừng phát triển để tiến tới xã hội thông tin tri thức, nền kinh tế toàn cầu nên đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được lực lượng lao động tư duy. Đối với trường tiểu học hiện nay, việc thay đổi về cách dạy và cách học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực, có sự quyết tâm lớn và yêu cầu cao của cộng đồng tham gia, các nhà trường phải cho ra những học sinh có hiểu biết về kiến thức – kỹ năng – thái độ để phát triển phẩm chất và năng lực người học, nghĩa là đòi hỏi có một sự thay đổi quan trọng trong tư duy và trong thực tiễn điều hành nhà trường. Vì vậy, bối cảnh trách nhiệm lớn đòi hỏi có sự tổ chức lại hoạt động của các trường học, thể hiện sự thay đổi trong cơ cấu điều hành, ở những thay đổi trong công tác giảng dạy, phối hợp giáo dục. Quản lý sự thay đổi ở các trường tiểu học cần phải nhận thức rõ thay đổi là tất yếu, thay đổi phải liên tục, phải thường xuyên bao gồm thay đổi bên trong nhà trường (sỉ số học sinh tăng hay giảm; chất lượng giáo dục cao hay thấp so với yêu cầu hay mong muốn; cơ sở vật chất thiếu hay đủ, phương tiện dạy học thay đổi do cũ kỹ, xuống cấp hay đầu tư mới; năm học mới khác năm học trước; đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có sự biến động) và sự thay đổi bên ngoài (công tác tuyển sinh thay đổi; đầu ra học sinh thay đổi; tình hình kinh tế – xã hội biến đổi; yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện giáo dục; môi trường địa phương có sự thay đổi). Qua đó, các trường tiểu học luôn diễn ra sự thay đổi thì đòi hỏi người hiệu trưởng phải có tầm nhìn và nhận thức đầy đủ, phải có năng lực thực sự. Điều quan trọng hơn nếu người hiệu trưởng nắm bắt được thực trạng sự thay đổi, biết được quản lý sự thay đổi thì người quản lý sẽ thành công.

Hiệu trưởng là người sáng tạo và năng động, nhiệt tình, biết nhìn nhận mọi tình huống xã hội, nắm bắt cơ hội để đưa ra những quyết định chính xác thúc đẩy quá trình phối hợp giữa các lực lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu thực tế nhà trường.

Vai trò của nhà trường và chức năng của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh trường tiểu học: Nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động phối hợp, dung hòa lợi ích chung của nhà trường với nguyện vọng riêng của cha mẹ học sinh.. Hiệu trưởng ngoài sự quan tâm sâu sắc và tạo điều kiện trong hoạt động phối hợp thì với vai trò là nhà lãnh đạo, tác động lên đối tượng quản lý là giáo viên bằng các công cụ, với những phương pháp quản lý thích hợp. Hiệu trưởng có trách nhiệm phân bổ giáo viên và các nguồn lực khác trong nhà trường, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức của nhà trường để thực hiện việc phối hợp với gia đình trong giáo dục học sinh có hiệu quả nhằm phát triển học sinh toàn diện về năng lực cũng như phẩm chất.

Người hiệu trưởng tổ chức thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung và của ngành giáo dục nói riêng thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp,thực hiện chức năng tổ chức mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường làm cho các chủ trương, đường lối, nội dung, phương pháp giáo dục được thực hiện một cách có hiệu quả. Đồng thời phải phối hợp tốt các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường như gia đình học sinh và chính quyền địa phương trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Do vậy, năng lực thực tiễn tổ chức của người hiệu trưởng quyết định hiệu quả của công tác giáo dục. Trong công tác quản lý của mình, người hiệu trưởng phải có tri thức cần thiết về khoa học tổ chức, đặc biệt phải biết quản lý con người, có những kỹ năng cần thiết làm việc với con người,kỹ năng giao tiếp với xã hội. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

Nhận thức của đội ngũ giáo viên: Người giáo viên của nhiệm đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phối hợp, là chiếc cầu nối giữa nhà trường và gia đình. Vì thế, đội ngũ giáo viên trong nhà trường phải nhận thức một cách rõ ràng mục đích của việc phối hợp với gia đình học sinh là nhằm đạt đến sự thống nhất chung trong giáo dục giữa hai bên để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh.

Hình thức và phương pháp phối hợp: phải phù hợp, được ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm chuẩn bị chu đáo về nội dung lẫn hình thức để góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trường tiểu học: Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh cũng phần nào ảnh hưởng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Vì muốn hoạt động phối hợp đạt được mục tiêu thì chủ thể quản lý là nhà trường và gia đình đều phải hiểu cũng như nắm được tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh.

Tiểu kết chương 1

Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh cũng như công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh trường tiểu học rất quan trọng trong quá trình giáo dục toàn diện học sinh được sự quan tâm từ nhiều tác giả chuyên môn. Đồng thời, người nghiên cứu đã làm rõ các khái niệm liên quan như: hoạt động giáo dục, hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh, quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh, những mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh, các chức năng trong quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Bên cạnh đó, việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh, tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh cho thấy sự cần thiết quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh. Từ đó, tạo cơ sở lý luận khoa học giúp người nghiên cứu thực hiện hiệu quả trong quá trình khảo sát đúng thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học và việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay ở các chương tiếp theo của luận văn. Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục

One thought on “Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *