Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ÐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ðể hội nhập với thế giới, việc trao đổi thông tin và tiếp cận với nền văn hóa của các nước trên thế giới là một vấn đề rất quan trọng. Ngoại ngũ đã được khẳng định đóng vai trò là cầu nối, là công cụ để thực hiện các hoạt động này. Trong các ngoại ngũ, tiếng Anh là ngôn ngũ phổ biến nhất với thực tế là hầu hết các giao dịch quốc tế trên thế giới đều sử dụng ngôn ngũ tiếng Anh. Trong xu thế hội nhập, rất nhiều quốc gia đã đưa tiếng Anh vào giảng dạy như ngôn ngũ thứ hai trong chương trình giáo dục đào tạo của mình, ví dụ như: Singapore, Malaysia, … . Kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới cũng như trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã chỉ rõ: Ngoại ngũ là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong tiến trình hội nhập và phát triển. Ðiều đó làm cho nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong cuộc sống ở mọi phương diện: giao tiếp, học tập, đối tác chiến lược, tìm kiếm việc làm đều tăng mạnh. Ðể đáp ứng nhu cầu học tập và nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngũ, cụ thể là Anh ngũ của người dân và xã hội, hơn bao giờ hết, yêu cầu về chất lượng của việc dạy học tiếng Anh càng trở nên quan trọng.
Thực hiện các nghị quyết của Ðảng, Nghị quyết 40 của Quốc hội, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo bằng cuộc cải cách giáo dục từ năm 2000 về đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK) phổ thông cho tất cả các môn học, trong đó có môn ngoại ngũ mà tiếng Anh là chủ yếu. Nhận thức được điều đó, từ rất sớm tiếng Anh đã được đưa vào giảng dạy ở các bậc học từ giáo dục phổ thông đến đại học, sau đại học. Giảng dạy Tiếng Anh cũng được cụ thể hóa với các mục tiêu cụ thể thông qua đề án “Dạy và học ngoại ngũ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2018 –2030”, còn gọi tắt là Ðề án 2030 khẳng định vai trò của việc đưa tiếng Anh vào giảng dạy sớm tại nhà trường. hiện nay việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường ở các cấp học, đặc biệt là ở bậc Tiểu học đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc phu huynh cũng như các nhà quản lý và hoạch định chiến lược giáo dục. Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ qua hội nghị gần nhất ngày 8/8 tại Bộ Giáo dục và Ðào tạo về triển khai các nhiệm vụ của Ðề án Ngoại ngũ quốc gia 2030, cũng đã nêu rõ về việc dạy và học ngoại ngũ, đặc biệt là tiếng Anh cần phải được đặt trong bối cảnh nước ta đang hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, nhất là khi chúng ta tham gia Hiệp định TPP và Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Trong thực tế, hầu hết các giáo viên ngoại ngũ được đào tạo bài bản trong trường Ðại học cũng mới chỉ được dành một thời lượng khiêm tốn trong chương trình giảng dạy để được cung cấp kiến thức về phương pháp giảng dạy với tổng thời lượng vào khoảng 2 học kỳ của những năm cuối trong chương trình đào tạo giáo viên. Trong chương trình này, các giáo viên được đào tạo về kỹ năng giảng dạy dựa theo các bình diện ngôn ngũ (Ngữ pháp, ngũ âm, từ vựng), các kỹ năng ngôn ngũ (Nghe, Nói, Ðọc, Viết) và cách soạn giáo án, bài giảng, mà chưa có các kỹ năng giảng dạy dựa trên sự khác biệt về tâm sinh lý lứa tuổi.
Huyện Ðông Anh là một huyện ngoại thành phía bắc Hà Nội đang trên đà phát triển. Do điều kiện địa lý, kinh tế nên việc dạy học ngoại ngũ chưa được đầu tư và chú trọng như các quận nội thành. Trong khi các quận có các chương trình tiếng Anh tăng cường trong các trường tiểu học hay có nhiều các trung tâm ngoại ngũ để học sinh có thể tăng cường khả năng giao tiếp theo nhu cầu học tập thì ở huyện Ðông Anh, số lượng các trung tâm dạy tiếng Anh uy tín này là chưa có. Sự phối hợp giảng dạy tiếng Anh của các trung tâm ngoại ngũ với mục đích tăng cường khả năng giao tiếp của học sinh trong các trường học cũng đang còn hạn chế, với thời lượng mỗi tuần 1 tiết. Học sinh học tập tiếng Anh tại nhà trường với các thầy cô dạy tiếng Anh trong các trường tiểu học là chủ yếu. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Năng lực dạy học tiếng Anh của các thầy cô giáo trong nhà trường nói chung và trong các trường tiểu học nói riêng chính là nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng của việc học tiếng Anh trong nhà trường. Ðể bắt kịp với xu thế của thế giới, nhu cầu của xã hội và của người học, đòi hỏi năng lực dạy học cần phải được nâng cao đáp ứng với các nhu cầu đổi mới
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiếng Anh tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học, góp phần nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường tiểu học của huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học
3.2 Ðối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội
4. Giả thuyết khoa học
Trình độ năng lực dạy học tiếng Anh của giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh đang còn những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngũ. Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Ðông Anh cũng đã rất quan tâm đến hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho đội ngũ giáo viên này. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động này còn nhiều hạn chế. Một trong các nguyên nhân là do công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh chưa thật hiệu quả. Nếu đề xuất và thực hiện được một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng phù hợp với đặc điểm đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh ở các trường tiểu học thì chất lượng hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học tại đây sẽ được cải thiện.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Xác lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiếng Anh tại các trường tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội.
Ðề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiếng Anh các trường tiểu học huyện Ðông Anh, Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
6. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát và xác định các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội
Do hạn chế về thời gian và điều kiện tiếp cận, đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý Phòng Giáo dục huyện Ðông Anh, hiệu trưởng và giáo viên một số chuyên gia triển khai hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh và tiến hành khảo sát trên nhóm 20 giáo viên tiếng Anh tiểu học trên tổng số 37 giáo viên ở 28 trường tiểu học trên địa bàn huyện Ðông Anh.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Thế nào là quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học?
Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiếng Anh tại các trường tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội ra sao?
Có những giải pháp nào nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên Tiếng Anh các trường tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội?
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa và tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội
8.2. Ý nghĩa thực tiến Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Phòng Giáo dục và Ðào tạo huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội thực hiện công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học tại huyện Ðông Anh đạt hiệu quả.
9. Phương pháp nghiên cứu
- Ðề tài sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
9.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản
Từ những văn bản được nghiên cứu sử dụng các phương pháp so sánh, tổng hợp, khái quát hoá lí luận để xây dựng hệ thống lý luận và căn cứ lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực tiễn.
9.2 Phương pháp điều tra bang bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu nhằm mục đích tìm hiểu ý kiến của các cán bộ quản lý và giáo viên về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học tiếng Anh ở các trường tiểu học trên địa bàn được khảo sát. việc khảo sát này được thực hiện thông qua việc xây dựng các mẫu phiếu điều tra.
9.3. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được thực hiện với các cán bộ quản lý, giáo viên tiếng Anh các trường tiểu học của huyện để tìm hiểu nguyện vọng về việc bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên tiếng Anh. Ðồng thời cũng nhằm mục đích khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết để việc quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh có hiệu quả hơn.
9.4. Phương pháp quan sát
Quan sát để tìm hiểu những gì đã và đang tồn tại để có các luận cứ thực tế. Mặt khác, qua phương pháp này, người nghiên cứu có thể khẳng định kết quả định tính của việc kiểm chứng các biện pháp quản lý được đề xuất.
9.5. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng với mục đích tìm hiểu mức độ tán thành của các chuyên gia về các biện pháp dự kiến đề xuất và mức độ vận dụng các biện pháp đó vào giảng dạy tiếng Anh. Mặt khác, phương pháp này cũng được dùng để xem xét tính hợp lý và tính khả thi của các giải pháp quản lý được bổ sung sau khi hoàn chỉnh các biện pháp dự kiến đề xuất.
9.6 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng thống kê toán học, lập các bảng số liệu, biểu đồ…
10. Cấu trúc của luận văn Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học
- Chương 2 : Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội
- Chương 3: biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ÐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CẤP TIỂU HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi nguồn nhân lực cần phải có chuyên môn cao, tay nghề vững vàng và có khả năng sử dụng ngoại ngũ tốt. Ðể đáp ứng được nhu cầu này của xã hội, giáo dục nói chung và giáo dục ngoại ngũ nói riêng ngày càng có vai trò quan trọng và cấp thiết , là mối quan tâm không chỉ của ngành giáo dục mà đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Trong Luật Giáo dục năm 2015 – Ðiều 7 đã đề cập về vấn đề dạy ngoại ngũ: “Ngoại ngũ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngũ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. việc tổ chúc dạy ngoại ngũ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả”. [20, điều 7.3]. Giảng dạy Tiếng Anh cũng được cụ thể hóa với các mục tiêu cụ thể thông qua đề án “Dạy và học ngoại ngũ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2018 –2030”[24].
Trong thời gian qua để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngũ đã có một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục trong nhiều lĩnh vực như: quản lý hoạt động dạy học với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như ví dụ dưới đây; hay một số đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, quản lý chất lượng dạy học, quản lý các hoạt động hỗ trợ dạy học: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Lâm Hữu Tài – viện Chiến lược và chương trình giáo dục – Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014 với đề tài” “Quản lý dạy học ngoại ngũ tại Khoa Ngoại ngũ – trường Ðại học dân lập Văn Lang”[23]. Ðề tài này đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng công tác quản lý dạy học ngoại ngũ tại khoa Ngoại ngũ Ðại học dân lập Văn Lang và đưa ra một số giải pháp cải tiến quản lý dạy học ngoại ngũ của khoa ngoại ngữ trường Ðại học dân lập Văn Lang. Ðề tài đã nghiên cứu tương đối đầy đủ một số giải pháp cải tiến chương trình đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt động học của sinh viên, phát triển đội ngũ giảng viên đại học dân lập.
Biện pháp quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở quận Hoàn Kiếm – Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Mai Anh, trường Ðại học Sư phạm Hà Nội năm 2017 [1]. Ðể tài này đã đi sâu vào nghiên cứu việc quản lý dạy học môn tiếng Anh của hiệu trưởng- nhà quản lý các trường Trung học cơ sở, cụ thể trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thuộc thủ đô Hà Nội.
- “Quản lý hoạt động dạy học ở trường Tiểu học huyện Ðông Anh -thành phố Hà Nội đáp úng yêu cầu đổi mới giáo dục” của tác giả Lê Thị Hạnh, Trường Ðại học Giáo dục – năm 2024 , đi sâu vào nghiên cứu việc quản lý hoạt động dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của các trường tiểu học huyện Ðông Anh [15].
- “ Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo hướng phát triển năng lực của học sinh các trường tiểu học huyện Hoài Ðúc, Hà Nội” của tác giả Doãn Thị thuật hủy, Học viện Quản lý Giáo dục – năm 2025 [27] Ðề tài này đi sâu vào việc quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tiểu học.
Qua một số công trình nghiên cứu nêu trên có thể Nhận thấy các đề tài này chủ yếu nghiên cứu về tổ chức quản lý quá trình giáo dục- đào tạo, về thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học ngoại ngũ tại các trung tâm ngoại ngũ, đại học dân lập, ở các trung tâm giáo dục thường xuyên, trường tiểu học hay nghiên cứa về các hoạt động dạy học nói chung trong nhà trường mà chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học; một hoạt động được khẳng định đóng vai trò rất quan trọng nhằm đáp ứng mục tiêu về dạy và học ngoại ngũ theo đề án 2030 “đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt”[11]. Vì thế, việc nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học càng trở nên cấp thiết.
Huyện Ðông Anh nằm ở phía Bắc nội thành Thành phố Hà Nội, gồm có 1 thị trấn và 23 xã . Với số lượng trường tiểu học trên địa bàn huyện là 28 trường và 1 trường chuyên biệt. Trong xu thế chung của xã hội và toàn ngành Giáo dục, một trong những vấn đề được huyện quan tâm hàng đầu là việc bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên tiểu học. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Trên thực tế, các giáo viên đang dạy học tiếng Anh ở cấp tiểu học trong huyện đều được đào tạo từ các trường Cao đẳng và Ðại học để dạy cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, nên cần thiết phải được bồi dưỡng phương pháp và kỹ năng dạy tiếng Anh ở cấp tiểu học nhằm nâng cao chất lượng dạy môn tiếng Anh ở cấp học này. Hơn thế nữa, theo nhu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngũ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn đến năm 2030 còn quy định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh sẽ có những nét đặc thù riêng. Trong khi đó tính đến thời điểm tác giả nghiên cứu đề tài này thì chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học các trường Tiểu học huyện Ðông Anh, Hà Nội, trong khi yêu cầu thực tiễn đang đặt ra những vấn đề cần giải quyết. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội” không trùng lặp với các công trình khoa học đã nghiên cứu.
1.2 Bồi dưỡng và quản lý hoạt động bối dưỡng
1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng
Bồi dưỡng là một trong những khái niệm được hình thành nhờ vào sự nối kết các nghĩa vị không thuần Việt (từ vay mượn), là khái niệm cho đến nay vẫn chưa được hiểu nhất quán về nội hàm nghĩa. Bồi dưỡng nghĩa là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [18], hay Bồi dưỡng có nghĩa là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm và tốt hơn, giỏi hơn [29].
Ðể hiểu rõ nghĩa của bồi dưỡng trong giáo dục, ta cần phân định sự khác biệt giữa hai khái niệm: Ðào tạo và Bồi dưỡng. Theo các ghi Nhận trong các từ điển giải thích có uy tín của Việt Nam nói trên cho thấy, đây là hai khái niệm, mặc dù có những nét nghĩa tương đồng nhất định (như đều có nét nghĩa chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể), song đây là hai khái niệm không đồng nghĩa, khu biệt nhau bằng những nội hàm nghĩa rất cụ thể. Trước hết, đó là sự khu biệt cơ bản về chất của cả một quá trình giáo dục: nếu như đối với Ðào tạo là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất mà trước đó khách thể đó không có thì đối với Bồi dưỡng chỉ là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sắn của khách thể.
Phân tích và khảo sát các hiện tượng ngôn ngũ tiếng Việt hiện đại (trong các văn bản pháp Luật, pháp quy, các văn bản giáo dục, hành chính-sự vụ) có sử dụng hai khái niệm Ðào tạo và Bồi dưỡng đã cho thấy các nét nghĩa khu biệt của hai thuật ngũ ngày cũng được thể hiện khá rõ ràng trên cả hai bình diện cấu tạo từ và cú pháp-ngữ nghĩa; không có các trường hợp đồng nghĩa hay trùng nghĩa nào của hai khái niệm Ðào tạo và Bồi dưỡng này, ví dụ như:
Tổ chúc rà soát, quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tuyển dụng đội ngũ giáo viên, giảng viên trong các cơ sở giáo dục và cả nước, bảo đảm đáp úng nhu cầu về số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo”.[21]
Tiến hành việc rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngũ trong các cấp học, nhất là ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hàng năm và các giai đoạn đến năm 2020, năm 2030, phù hợp với các quy định, tiêu chí hiện hành”. [22]
Ðẩy mạnh việc đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng. Khuyến khích bồi dưỡng giáo viên qua các khoá tập huấn quốc tế trong nước và nước ngoài, được cấp chúng chỉ quốc tế”. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng, đại học đào tạo chuyên ngoại ngũ hiện có; mở rộng việc thành lập các khoa đào tạo ngoại ngũ ở một số trường đại học, cao đẳng có điều kiện bảo đảm, chú trọng xây dựng, phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo giáo viên ngoại ngũ trình độ cao đẳng, đại học ở các vùng Tây Bắc, Ðông Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Củu Long”. [22]
Căn cứ vào cách giải thích nghĩa từ của Từ điển, dựa trên cách phân tích nghĩa vị tình huống và việc khảo sát nguồn gốc xuất xứ nghĩa từ nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một sơ đồ quy nạp nghĩa vị của hai khái niệm Ðào tạo và Bồi dưỡng như sau: Ðào tạo: là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất định cho một Ðối tượng học tập (ÐTHT) cụ thể; quá trình truyền đạt này phải là một quy trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy và học cụ thể, trong một khoảng thời gian nhất định; với xuất phát điểm của năng lực, kiến thức đầu vào của Ðối tượng học tập là yêu cầu không nhất thiết làm rõ, nhưng năng lực và kiến thức đầu ra (sau quá trình truyền đạt, dạy và học) phải được quy chuẩn và xác định rõ các tiêu chuẩn đã đạt được; chú trọng đến sự nhất thiết phải biến chuyển về chất lượng năng lực và kiến thức của Ðối tượng học tập sau khi trải qua một quy trình dạy và học để có thể đảm Nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành đã được học.
Bồi dưỡng: là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho một Ðối tượng học tập (ÐTHT) cụ thể với các đặc tính:
- tính không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và hệ phương pháp truyền đạt thêm;
- tính không nhất thiết phải biến chuyển cơ bản chất lượng năng lực và kiến thức của Ðối tượng học tập mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho Ðối tượng học tập;
- xuất phát điểm của năng lực, kiến thức đầu vào của Ðối tượng học tập là yêu cầu nhất thiết phải làm rõ để có thể xác định được một “lượng thêm” về năng lực và kiến thức cho Ðối tượng học tập.
Như vậy bồi dưỡng thực chất là bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, phát triển cái mới trên cơ sở nuôi dưỡng những cái đã có để mở mang, làm phát triển thêm, có giá trị làm tăng tri thức, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, tăng năng suất hiệu quả công việc.
1.2.2 Quản lý Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
1.2.2.1. Khái niệm quản lý
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí, khái niệm quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của một tổ chúc nhằm làm cho tổ chúc vận hành và đạt được mục đích của tổ chúc”[12]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [14]
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều giống nhau ở nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các điều kiện sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp Nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể liên tục nhiều lần.
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
- Tác động của chủ thể phải có kế hoạch và có tính mục đích.
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).
Như vậy, quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề ra. Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đặt ra.
Ðối với giáo dục, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, giáo dục cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ; vậy nên quản lý giáo dục được hiểu là sự quản lý, điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy Luật khách quan của các cấp Quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó[17].
Ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp Luật) quản lý giáo dục. Sự đúc kết thực tiễn điều hành công tác giáo dục và đào tạo tại nhà trường và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân trên cơ sở giáo dục học, điều khiển học, lý luận quản lý kinh tế –xã hội và một số khoa học khác hình thành nên lý luận quản lý giáo dục.
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khác nhau song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: chủ thể quản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục và mục tiêu quản lý giáo dục. Có thể nói tóm lại, quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
1.2.2.2 Quản lý hoạt động bồi dưỡng
Hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên là một trong 3 nhóm nội dung bồi dưỡng giáo viên được Bộ Giáo dục và Ðào tạo xác định rõ trong quá trình đổi mới giáo dục bao gồm: Bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng nền tảng nâng cao năng lực theo Chuẩn nghề nghiệp; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, nghiệp vụ và bồi dưỡng theo nhiệm vụ yêu cầu mới của giáo dục phổ thông và của việc đổi mới chương trình sách giáo khoa. Quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên bao gồm theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giá được kết quả việc thực hiện học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và sư phạm của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên, trong đó, đặc biệt quan trọng quản lý là quá trình tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ về mọi Mặt, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giảng dạy, giáo dục của từng giáo viên.
Có các loại hình bồi dưỡng sau:
- Bồi dưỡng chuẩn hóa;
- Bồi dưỡng theo chu kỳ, nhằm làm cho giáo viên dạy được chương trình mới;
- Bồi dưỡng theo chu kỳ nhằm cập nhật những kiến thức, kỹ năng chuyên môn và phương pháp sư phạm;
Trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên vừa là đối tượng quản lý nhưng cũng là chủ thể quản lý của quá trình đó.
1.3 Năng lực dạy học của giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
1.3.1 Dạy học và năng lực dạy học
1.3.1.1 Dạy học
Dạy học là hoạt động đặc thù của loài người trong đó thế hệ đi trước truyền cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm lịch sử xã hội nhằm tái tạo lại ở thế hệ sau những năng lực thích ứng và năng lực tái tạo trước sự phát triển của xã hội
Dạy học bao hàm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, hai hoạt động này có sự gắn bó một thiết, thống nhất biện chứng và tác động đến nhau. Hoạt động dạy với chủ thể là người dạy- giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học. Giáo viên xây dựng và thực thi kế hoạch dạy học, tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập theo các hình thức, thời gian và không gian khác nhau. Còn hoạt động học với chủ thể là người học- học sinh giữ vai trò chủ động, tự giác, tích cực nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân để hình thành, phát triển nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Theo quan điểm đổi mới giáo dục hiện nay, hoạt động dạy không tập trung vào truyền đạt kiến thức mà chú trọng đến việc thúc đẩy sự phát triển trí, tư duy sáng tạo của học sinh.
Dạy học cho mỗi đối tượng lại có những yêu cầu khác nhau, nhưng dù dạy học ở cấp nào, trình độ nào thì nghề dạy học cũng có những đặc điểm chung. Một số nhà khoa học ở nước ta đã đề cập đến đặc trưng của nghề dạy học với nhiều yếu tố đặc biệt thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản như sau:
Một là, đặc biệt ở vị trí và tính chất hoạt động của nhà giáo. Nghề giáo theo truyền thống được xem là một nghề cao quý vì thế cũng mang lại những sức ép về Mặt xã hội đối với người giáo viên; đòi hỏi nhà giáo, giáo viên phải là người mô phạm, chuẩn mực, phải giữ gìn đạo đức, phải làm gương cho học trò.
Hai là, đối tượng lao động của nhà giáo là con người với sự đa dạng và phức tạp vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội. Cùng một lứa tuổi, người học cũng có nhiều sự khác biệt cả về điều kiện sống, cả về khả năng Nhận thức, cả về tình cảm. Ở vùng thuận lợi thì nhu cầu học lớn hơn hẳn so với nhu cầu ở những vùng khó khăn . Người học một Mặt chịu tác động của nhà giáo nhưng cũng lại có tác động ngược trở lại đối với nhà giáo.
Ba là, nội dung, cách thức dạy học rất đa dạng xuất phát từ yêu cầu của xã hội. Giáo dục cần theo hướng dạy theo nhu cầu xã hội và người học chứ không chỉ dạy những gì mà nhà trường và người thầy có với các hình thức dạy học ngày càng đa dạng: học trực tiếp với giáo viên hay học trực tuyến, hoặc kết hợp đồng thời cả hai hình thức.
Bốn là, hoạt động dạy học vừa mang tính tập thể vừa mang dấu ấn cá nhân của người dạy. Hoạt động dạy học mang tính tập thể vì quá trình hình thành nhân cách của người học chịu sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố; và mang dấu ấn cá nhân bởi hoạt động của người dạy mang tính độc lập rất cao. Các hoạt động cụ thể từ việc soạn bài, lên lớp, chấm bài đến đánh giá người học…của người dạy đều là các hoạt động độc lập. Các hoạt động này vừa tác động đến Nhận thức, vừa tác động vào tình cảm, tâm hồn của người học để giúp hình thành nhân sinh quan, thế giới quan trong người học; với mục tiêu giáo dục người học trở thành những công dân có phẩm chất tốt, những người lao động tốt.
Năm là, kết quả dạy học có một độ trễ nhất định. Không giống như các hoạt động khác, kết quả dạy học khó đo, đếm được bởi nó thể hiện trong quá trình hình thành, phát triển ở người học các kiến thức, kỹ năng và thái độ đáp ứng nhu cầu cuả cuộc sống và lao động. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Từ những đặc trưng cơ bản như trên của nghề dạy học dẫn đến yêu cầu đối với nhà giáo là rất cao. Trong khuyến nghị của UNESCO về vị thế của nhà giáo có đoạn viết “Dạy học phải được tôn trọng như là một nghề nghiệp. Ðây là một dạng dịch vụ công đòi hỏi người thầy phải chuyên về một kiến thúc và kỹ năng chuyên môn, đạt được và tính luỹ qua nghiên cúu không ngùng và nghiêm túc; nó cũng đòi hỏi một năng khiếu cá nhân và trách nhiệm tập thể đối với giáo dục và bổn phận của học sinh”.
1.3.1.2 Năng lực dạy học
Năng lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụ thể nào đó. Năng lực là một yếu tố của nhân cách, thể hiện tính chủ quan trong hành động. Năng lực được hình thành theo quy Luật hình thành và phát triển nhân cách.
Năng lực được chia làm 2 loại: năng lực chung và năng lực chuyên Biệt.
- Năng lực chung: là năng lực có ở mọi người bình thường, đó chính là trí lực. Ðây là cơ sở cho sự phát triển của năng lực chuyên biệt.
- Năng lực chuyên biệt: là năng lực thể hiện sự riêng biệt có tính chuyên môn nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động chuyên môn.
Năng lực sư phạm thuộc về năng lực chuyên biệt, đặc trưng cho nghề dạy học. Theo quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc thì “năng lực sư phạm là tổ hợp những đặc tính tâm lý của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công của hoạt động ấy” [14].
Năng lực dạy học là một trong ba thành tố cấu thành năng lực sư phạm; đó là: năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực tổ chức. Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả xin chỉ đề cập đến năng lực dạy học như là thành tố chính.
Năng lực dạy học gồm có các năng lực thành phần: năng lực chuẩn bị, năng lực thực hiện và năng lực đánh giá, cụ thể như sau:
Năng lực chuẩn bị: bao gồm các thao tác xác định mục tiêu bài dạy, các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng; lựa chọn tài liệu tham khảo để giảng dạy, chọn các phương pháp, hình thức giảng dạy và kỹ thuật dạy.
Năng lực thực hiện: được thể hiện trong quá trình thực hành giảng dạy và giáo dục, gồm có các kỹ năng như: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, định hướng nội dung mới, luyện tập kỹ năng, phát triển kiến thức, kiểm tra đánh giá học sinh… Trong quá trình thể hiện năng lực thực hiện, giáo viên cần quan tâm tới các yếu tố như: năng lực sử dụng ngôn ngũ, năng lực sử dụng các thiết bị và phương tiên giảng dạy, năng lực hoạt động xã hội trong và ngoài trường.
Năng lực đánh giá: giúp cho giáo viên nắm bắt được trình độ và khả năng tiếp thu bài của học sinh để xác Nhận một kết quả của hoạt động và có kể hoạch bổ sung, điều chỉnh trong quá trình dạy học.
1.3.2 Giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
1.3.2.1 Giáo viên tiểu học
Theo quan niệm thông thường: các cụm từ khác nhau như: nhà giáo, giáo viên, thầy/cô giáo đều được sử dụng để chỉ những người dạy văn hoá, truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho một người khác.
Nhà giáo được định nghĩa là: “Nhà giáo là người làm nghề dạy học”[28]. Trong từ “Nhà giáo” thì từ “giáo” có nghĩa là dạy, chỉ bảo; từ “nhà” được hiểu là người chuyên làm một nghề, một lĩnh vực hoạt động nào đó đạt được trình độ nhất định. Như vậy, người dạy học mà không chuyên, không thành nghề thì không phải là nhà giáo.
Theo Luật Giáo dục thì “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên” [20, Ðiều 70]. Như vậy, nội hàm của khái niệm nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục gồm hai yếu tố cơ bản phản ánh nội dung công việc và địa chỉ làm việc. Có thể hiểu người dạy ít, dạy nhiều đều được gọi là nhà giáo nếu người đó làm nhiệm vụ giảng dạy trong các cơ sở giáo dục, còn người có trình độ cao, chuyên đi dạy nhưng không gắn với cơ sở giáo dục nào thì về Mặt pháp lý không phải là nhà giáo.
Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động càng sâu sắc theo hướng chuyên môn hoá ngày càng cao. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”[28].. Như vậy, nói đến nghề là nói đến công việc chuyên môn và làm theo sự phân công của xã hội trong đó người làm nghề cần có các yêu cầu nhất định về phẩm chất, năng lực và được xã hội đáp ứng các điều kiện để hành nghề. Cũng như các loại hình lao động khác, nói đến nghề dạy học là nói đến mục đích, chủ thể (người dạy), đối tượng (người học) và cách thức tác động. Nghề dạy học là một nghề có vị trí quan trọng trong xã hội với nhiều đặc thù.
Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục, bậc học đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những đường nét cơ bản của nhân cách. Do vậy giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, với tính sư phạm đặc trưng.
Phương pháp giáo dục tiểu học phải thực hiện theo yêu cầu sau:
- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học
- Phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học.
- Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng , vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học
Giáo viên tiểu học trước hết phải là nhà giáo dục, có tác động tích cực đến học sinh thông qua bản thân nhân cách của mình.
Kỹ năng thể hiện sự mẫu mực của người giáo viên tiểu học: Do đặc trưng bậc học, người giáo viên tiểu học ngay từ những tiếp xúc ban đầu với học sinh và trong suốt thời gian làm việc, luôn cần có kỹ năng thể hiện sự mẫu mực trong phong thái, hành vi, cư xử…; các kỹ năng vốn được xem như một trong các điều kiện để thực hiện công việc dạy học.
- Kỹ năng ngôn ngũ sư phạm: Sử dụng ngôn ngũ bảo đảm tính sư phạm, giản dị, trong sáng phù hợp đối tượng.
- Kỹ năng viết chữ, trình bầy bảng: Ðiểm nổi bật của giáo viên tiểu học so với giáo viên các bậc học khác, phải có kỹ năng viết đúng, viết đẹp, trình bày bảng khoa học, thẩm mỹ trong giờ học.
- Kỹ năng giao tiếp sư phạm: nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ thày trò, quan hệ với phụ huynh học sinh, quan hệ với cộng đồng xã hội và giải quyết tốt quan hệ giữa các học sinh trong lớp.
- Kỹ năng giáo dục: Các kỹ năng tiến hành các hoạt động giáo dục học sinh trong và ngoài giờ lên lớp
Các kỹ năng và phẩm chất này đều được quy định rất cụ thể trong Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học do Bộ Giáo dục và Ðào tạo ban hành theo Quyết định số 4/2017/QÐ-BGDÐT ngày 04/5/2017 [9]với các quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học bao gồm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm và tiêu chuẩn xếp loại; quy trình đánh giá, xếp loại giáo viên tiểu học, áp dụng cho mọi loại hình giáo viên tiểu học tại các cơ sở giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà giáo viên tiểu học cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu của giáo dục tiểu học.
Chuẩn này cũng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và mục tiêu của giáo dục tiểu học ở từng giai đoạn
Bản thân nhân cách của người giáo viên có vai trò như một năng lực tổng hợp. Bên cạnh đó người giáo viên cần có những năng lực nghề nghiệp mới kết hợp với những năng lực truyền thống. Có thể kể ra những năng lực cần được hình thành cho người giáo viên như: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
- Năng lực chẩn đoán: Tức là năng lực phát hiện và Nhận biết đầy đủ, chính xác và kịp thời sự phát triển của học sinh, những nhu cầu được giáo dục của từng học sinh. Ðối với giáo viên tiểu học đây là năng lực đặc biệt quan trọng vì sự phát triển về các Mặt của học sinh ở lứa tuổi tiểu học diễn ra rất nhanh, nhưng lại không đồng đều.
- Năng lực đáp ứng: Ðó là năng lực đưa ra được những nội dung và biện pháp giáo dục đúng đắn, kịp thời, phù hợp với nhu cầu của người học và yêu cầu của mục tiêu giáo dục.
- Năng lực đánh giá: Ðó là năng lực nhìn Nhận sự thay đổi trong Nhận thức, kỹ năng thái độ và tình cảm của học sinh.Năng lực đánh giá giúp nhìn Nhận tính đúng đắn của chẩn đoán và đáp ứng.
- Năng lực thiết lập mối quan hệ thuận lợi với người khác: Như quan hệ đồng nghiệp, quan hệ với phụ huynh học sinh và nhất là quan hệ với học sinh.
- Năng lực triển khai chương trình dạy học: Ðó là năng lực tiến hành dạy học và giáo dục. Căn cứ vào mục đích và nội dung giáo dục và dạy học đã được quy định, nhưng lại phù hợp với đặc điểm của đối tượng.
- Năng lực đáp ứng với trách nhiệm xã hội: Ðó là năng lực tạo nên những điều kiện thuận lợi cho giáo dục trong nhà trường và từ cuộc sống bên ngoài nhà trường.
1.3.2.2 Giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học
Ðề án Ngoại ngũ 2030 nêu rõ về mục tiêu của hoạt động dạy học Tiếng Anh cần đạt mục tiêu chung là thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngũ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm 2025 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngũ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy và học ngoại ngũ mới đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm 2030 tăng đáng kể tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngũ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngũ, đa văn hoá, biến ngoại ngũ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam.
Giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học là những người chịu trách nhiệm dạy học trực tiếp môn học tiếng Anh tại các nhà trường tiểu học nhằm đáp ứng mục tiêu dạy và học môn học tiếng Anh tiểu học, cụ thể như sau:
Với mục tiêu cụ thể đối với giáo dục tiểu học là Triển khai Chương trình ngoại ngũ 10 năm đối với 20% học sinh lớp 3 bắt đầu vào năm học 2020-2021, 70% học sinh lớp 3 vào năm học 2025-2026, 100% học sinh lớp 3 vào năm 2018-2019.
Không chỉ quy định về quy mô số lượng học sinh, đề án còn nêu cụ thể về mục tiêu hình thành năng lực ngoại ngũ của học sinh tiểu học: sau khi tốt nghiệp tiểu học sẽ đạt trình độ ngoại ngũ bậc 1, thể hiện trong thang bậc khung năng lực ngoại ngũ nội dung chi tiết như sau: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
- Yêu cầu về năng lực dạy học của giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học
Theo đề án Ngoại ngũ Quốc gia 2030, các giáo viên tiếng Anh tiểu học cần được bồi dưỡng giáo viên dạy ngoại ngũ cấp tiểu học có năng lực ngoại ngũ bậc 3 với các kỹ năng dạy học ngoại ngũ hiện đại cũng như các kĩ năng phụ trợ khác như: kĩ năng sử dụng thiết bị đa phương tiện, khả năng khai thác Internet và các phần mềm chuyên dụng.
Trong tham luận thuộc đề án Ngoại ngũ 2030, có quan điểm của Tiến Sĩ Hà Văn Sinh về năng lực dạy học ngoại ngũ của giáo viên được thể hiện như sau:
“Thú nhất, khả năng sử dụng ngoại ngũ tốt kết hợp với sự hiểu biết đầy đủ về ngôn ngũ và văn hóa của ngoại ngũ đang dạy. Ðây là khả năng sử dụng các kỹ năng giao tiếp (nghe – nói – đọc – viết) bằng ngoại ngũ đang dạy một cách lưu loát, chính xác, kết hợp với kiến thúc đầy đủ về hệ thống ngôn ngũ cùng mối quan hệ gắn bó giũa ngôn ngũ và văn hóa của các nước sử dụng ngoại ngũ đó.
Thú hai, khả năng giảng dạy ngoại ngũ hiệu quả bao gồm sự hiểu biết đầy đủ về người học, tạo được môi trường ngoại ngũ tích cực trên lớp (positive language environment/ language-rich environment).
Theo đó, để hình thành được khả năng giảng dạy ngoại ngũ, mỗi giáo viên cần trang bị cho mình một số kỹ năng như: Mô tả và giải thích được hệ thống ngôn ngũ của ngoại ngũ đang dạy; có hiểu biết sâu rộng về các nguyên tắc, quan điểm giảng dạy và học ngoại ngũ, về quá trình tiếp thu và phát triển ngôn ngũ/ngoại ngũ của người học; thêm vào đó còn có sự hiểu biết đầy đủ về Quan điểm Giao tiếp trong giảng dạy tiếng Anh (Communicative Language Teaching – CLT) để có thể sử dụng hiệu quả các sách giáo khoa hiện đại và thực hiện chiến lược phát triển năng lực sử dụng ngoại ngũ cho người học. Giáo viên cũng cần hiểu và sử dụng được nhiều kỹ thuật giảng dạy khác nhau, kể cả kỹ thuật áp dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng và trình bày – tổ chúc hoạt động trong lớp học; hiểu rõ nhu cầu, điều kiện học tập của người học để thiết kế, thực hiện bài giảng và đánh giá được hiệu quả bài giảng; liên kết với các điều kiện học tập nâng cao năng lực ngoại ngũ ngoài lớp học
Giáo viên có khả năng trình bày tốt; Kích thích được động cơ học tập và sự tương tác bằng ngoại ngũ giũa GV – HS hoặc HS – HS trên lớp; sử dụng tốt và phù hợp các kỹ thuật quản lý lớp; Hiểu rõ khung đánh giá năng lực CEFR, biết cách đánh giá năng lực ngôn ngũ của người học và có các biện pháp đánh giá chính xác năng lực này của người học
Thú ba, khả năng tự điều chỉnh để phát triển (tự đánh giá hiệu quả giảng dạy và thủ cải tiến) bao gồm khả năng hợp tác và ý thúc chia sẻ”.
Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả tập trung vào đặc điểm năng lực thứ hai và thứ ba trong việc quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng dạy học của giáo viên tiếng Anh cấp tiểu học ở huyện Ðông Anh, Hà Nội.
1.4 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
1.4.1 Xác định nhu cầu bồi dưỡng
- Xuất phát từ nhu cầu của chương trình tiếng Anh tiểu học
Ðể đáp ứng chương trình giáo dục tiểu học mới và yêu cầu đổi mới dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học theo mục tiêu của Ðề án Ngoại ngũ Quốc gia 2030 và triển khai đại trà Chương trình tiếng Anh 10 năm từ năm 2018, đối với cấp tiểu học, tất cả học sinh từ lớp 3 đến lớp 5 đều học tiếng Anh 4 tiết/tuần (kể cả trường dạy học 1 buổi trong ngày). việc đảm bảo đủ số lượng giáo viên tiếng Anh dạy tiểu học và đảm bảo chất lượng (trình độ, năng lực tiếng Anh) của đội ngũ giáo viên theo quy định là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Do đó các sở giáo dục và đào tạo, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh cần chuẩn bị thật tốt đội ngũ ngay từ năm 2026.
Mục tiêu dạy và học tiếng Anh tiểu học được nêu cụ thể trong Ðề án 2030 như sau:
- Mục tiêu chung
Dạy và học tiếng Anh ở tiểu học có mục tiêu tạo ra một thế h học sinh có lòng ham mê học hỏi về ngôn ngũ và nền văn hóa của các dân tộc khác, bước đầu có khả năng giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh một cách tự tin, tạo cơ sở ban đầu để có thể sử dụng tiếng Anh trong học tập, có sự ham mê học tập suốt đời và có khả năng trở thành những công dân có trách nhiệm với xã hội.
- Mục tiêu cụ thể
Chương trình tiếng Anh tiểu học giúp học sinh:
- Hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh thông qua 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó chủ yếu là 2 kĩ năng nghe và nói.
- Có kiến thức cơ bản và tối thiểu về ngôn ngũ tiếng Anh bao gồm từ vựng, ngũ âm, ngũ pháp, và thông qua tiếng Anh có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hóa của các nước nói tiếng Anh.
- Xây dựng thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh, từ đó tăng thêm sự hiểu biết và tình cảm trân trọng đối với ngôn ngũ và văn hóa của dân tộc mình. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
- Hình thành các chiến lược học tiếng Anh một cách có hiệu quả, tạo cơ sở cho việc học các ngoại ngũ khác trong tương lai.
Về tổng thể, sau khi học xong Chương trình tiếng Anh tiểu học, học sinh có thể đạt được trình độ tiếng Anh tương đương Cấp độ A1 của Khung Tham chiếu Chung Châu Âu về Ngôn ngũ. Cụ thể là:
Có thể hiểu và sử dụng các kiểu diễn đạt quen thuộc hàng ngày và những cụm từ đơn giản nhằm thỏa mãn nhu cầu giao tiếp.
Có thể tự giới thiệu bản thân hoặc người khác, có thể hỏi và trả lời các câu hỏi về thông tin cá nhân như người đó sống ở đâu, những người mà người đó biết và những thứ người đó có.
Có thể giao tiếp một cách đơn giản với điều kiện người khác nói chậm, rõ ràng và sắn sàng trợ giúp [32 ].
- Kết quả học tập cần đạt:
Trên cơ sở Cấp độ A1, trình độ tiếng Anh tiểu học của học sinh được chi tiết hóa thành 3 cấp độ tương ứng với từng lớp: Cấp độ A1.1 (lớp 3), Cấp độ A1.2 (lớp 4) và Cấp độ A1.3 (lớp 5). Ðây là kết quả học tập cần đạt (Learning outcomes) về 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết [32 ].
Theo Ðề án 2030 về thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy và học Ngoại ngũ đáp ứng mục tiêu của giáo dục tiếng Anh tiểu học đã nêu rõ: “Phương pháp chủ đạo trong giảng dạy tiếng Anh tiểu học là phương pháp dạy ngôn ngũ giao tiếp (communicative language teaching– CLT), xem học sinh là chủ thể của quá trình dạy học và giáo viên là người tổ chúc, hướng dẩn, điều chỉnh hoạt động học của học sinh. phương pháp dạy ngôn ngũ giao tiếp tuân theo 3 nguyên tắc: (i) nguyên tắc giao tiếp (communication principle), (ii) nguyên tắc dựa vào nhiệm vụ (task principle), (iii) nguyên tắc sử dụng ngôn ngũ có ý nghĩa (meaningfulness principle).
Hoạt động dạy học cần được tổ chúc thông qua môi trường giao tiếp đa dạng, phong phú với các hoạt động tương tác (trò chơi, bài hát, đóng vai, kể chuyện, câu đố, vẽ tranh, …) và dưới các hình thúc hoạt động cá nhân, theo cặp và theo nhóm. Các hoạt động giao tiếp cần được tiến hành thông qua các chủ điểm và chủ đề, tình huống giao tiếp hấp dẩn cả về Nội dung và hình thúc. Học sinh cần được tham gia hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và có ý thúc dưới sự hướng dẩn của giáo viên.
Học sinh cần được luyện tập kết hợp các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó tập trung vào 2 kĩ năng nghe và nói. Kiến thúc ngôn ngũ như từ vựng, ngũ âm, ngũ pháp là phương tiện để hình thành các kĩ năng ngôn ngũ”.[26]
Việc dạy học cần giúp học sinh bước đầu hình thành và củng cố phương pháp học ngoại ngũ (ví dụ: kĩ thuật ghi nhớ từ, cụm từ và cách đánh vần; suy đoán nghĩa của từ hoặc cụm từ dựa vào ngũ cảnh giao tiếp; sử dụng những tài liệu đơn giản như từ điển tranh một cách phù hợp và hiệu quả; …)
Giáo viên cần tạo cơ hội tối đa cho học sinh sử dụng tiếng Anh trong lớp học. Tiếng Việt cần được sử dụng hợp lí để học sinh có thể nắm vững kiến thức tiếng Anh nhanh hơn và phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh có hiệu quả hơn.
1.4.2 Xây dựng Nội dung bồi dưỡng Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Chất lượng và năng lực dạy học của giáo viên tiếng Anh tiểu học là điều kiện cần thiết và quan trọng nhất để có thể thực hiện các phương pháp và đạt được mục tiêu theo yêu cầu. Chính vì thế, Ðề án Ngoại ngũ 2030 cũng đã có những quy định về bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học cụ thể như sau:
Có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo giáo viên tiếng Anh đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu dạy học tiếng Anh theo mục tiêu đề ra.
- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên theo chu kỳ về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm thông qua các hình thức: bồi dưỡng thay sách giáo khoa, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa… để đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình và SGK tiếng Anh mới cũng như những đòi hỏi của việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh trong trường tiểu học.
- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học và các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu, bảng tương tác thông minh…
- Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá kết quả về trình độ chuyên môn, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên tiếng Anh trong các trường tiểu học.
Giáo viên tiếng Anh cũng phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, tự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm nhằm không ngừng nâng cao năng lực của bản thân về mọi Mặt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học tiếng Anh nói riêng.
- Lập kế hoạch bồi dưỡng
Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Các thành tố chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa đó là: xác định, hình thành mục tiêu; xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt mục tiêu đó.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
Tổ chức là quá trình thực hiện các hoạt động bồi dưỡng theo kế hoạch bao gồm các hình thức tổ chức bồi dưỡng đa dạng: bồi dưỡng trực tiếp, bồi dưỡng trực tuyến; bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng định kỳ, bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng dài hạn… nhằm được mục tiêu tổng thể của hoạt động bồi dưỡng.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, đánh giá các kết quả hoạt động và tiến hành những hoạt động điều chỉnh nếu cần thiết.
Ðánh giá là một bộ phận không thể tách rời của quá trình bồi dưỡng. Ðánh giá không chỉ nhằm mục đích Nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của giáo viên tham gia bồi dưỡng mà còn đồng thời tạo điều kiện Nhận định ra thực trạng và điều chỉnh nội dung và cách thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng. việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” giúp giáo viên tham gia bồi dưỡng tối đa hóa kết quả học tập theo mục tiêu đề ra. Ðánh giá kết quả bồi dưỡng chính là Việc theo dõi và xác định hoạt động bồi dưỡng đi theo đúng kế hoạch và đáp ứng mục tiêu hoạt động bồi dưỡng.
- Quản lý các yếu tố điều kiện phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động bồi dưỡng
Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất và tinh thần được sử dụng để điều khiển các hoạt động học tập, bồi dưỡng. Ðây là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động bồi dưỡng bao gồm:trụ sở nơi bồi dưỡng (phòng học, phòng hoặc bãi tập, máy móc và trang thiết bị dạy học, điện nước, tổ chức nơi ở, chỗ ăn, phương tiện giao thông, …) cũng như các nguồn kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng như: soạn thảo chương trình; in ấn tài liệu, giáo trình; phụ cấp giảng cho giảng viên, giáo viên tham gia bồi dưỡng; văn phòng phẩm, phí thuê các thiết bị (nếu cần)… và các khoản chi phí khác để phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng.
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
1.5.1 Bối cảnh xã hội và thế giới
Bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đòi hỏi vai trò quan trọng của ngôn ngũ tiếng Anh. Nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực đã đưa môn học tiếng Anh vào chương trình tiểu học bắt buộc; để làm tiền đề cơ bản cho các cấp học sau. Ðể tận dụng và phát huy tốt mục tiêu của việc học ngoại ngũ trong học sinh thuộc nhóm được coi là “độ tuổi vàng để học ngoại ngũ này” đòi hỏi các giáo viên tiếng Anh tiểu học cần được chuẩn hóa và trang bị thêm những kỹ năng dạy học phù hợp với mục tiêu giáo dục trong thời kỳ mới, được nêu cụ thể thành các mục tiêu bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Anh trong Ðề án Ngoại ngũ Quốc gia 2030 và Nghị quyết 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục [11,2]
Ðổi mới giáo dục không còn là vấn đề của quốc gia mà đã cũng đã Nhận được sự quan tâm của các nước trong khu vực và trên thế giới. Rất nhiều hội thảo khoa học về giáo dục nói chung và về dạy và học ngoại ngũ nói riêng đã được tổ chức với mong muốn tận dụng được những kinh nghiệm và thành tựu của các nước trong việc đổi mới.
Singapore là một ví dụ điển hình về dạy và học ngoại ngũ thành công-với tiếng Anh được coi là ngôn ngũ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Ðối với giáo dục Singapore, bài học kinh nghiệm về cải cách giáo dục xuất phát từ niềm tin về sự cải thiện qua việc xây dựng năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường và đảm bảo thực hành chất lượng cao trên toàn hệ thống; từ đó hình thành các chiến lược trong công tác tuyển dụng, đãi ngộ và bồi dưỡng dành cho giáo viên và cán bộ quản lý.Singapore đã thực hiện cải cách giáo dục nhấn mạnh vào các chiến lược cải cách cụ thể ở các nhà trường như:
- cho phép tự chủ trường học ở mức độ hợp lý,
- thu hút người có khả năng giảng dạy,
- xây dựng năng lực cho giáo viên và lãnh đạo trường học
- xây dựng hẹ thống các phương pháp nhằm nâng cao địa vị và sự chuyên nghiệp của giáo viên
Hay như bài học kinh nghiệm từ Thượng Hải, Trung Quốc-nơi hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên được coi như một trong các nguyên nhân chính giải thích cho “Bí một thành công của giáo dục Thượng Hải” (Tan,C (2023), Learning from ShangHai, lessons on achieving education success. Dordretcht: Spinger). Ở đó, “việc thiết kế và thực hiện chương trình phát triển nghề nghiệp giáo viên ở cấp quận và thành phố đảm bảo rằng giáo viên Thượng Hải sẽ nhìn Nhận việc phát triển nghề nghiệp một cách nghiêm túc. Ba từ phù hợp để miêu tả các giáo viên Thượng Hải trong việc phát triển nghề nghiệp của họ là: khát vọng, siêng năng và sự cải thiện”[36] . Giáo dục Thượng Hải nhấn mạnh vào tri thức nội dung và kỹ năng sư phạm của các giáo viên, truyền bá việc coi trọng chuyên môn và năng lực giảng dạy thông qua các ví dụ như: các khóa đào tạo lấy tên các giáo viên, hiệu trưởng nổi tiếng hay phong chức danh cho các giáo viên nòng cốt; khuyến khích và tổ chức bồi dưỡng giáo viên thường xuyên dưới nhiều hình thức như: lập ra các nhóm nghiên cứu sư phạm uy tín; xây dựng các hệ thống mà ở đó giáo viên có kinh nghiệm hướng dẫn giáo viên mới…
Ðây là những lợi thế cho chúng ta trong việc học hỏi những kinh nghiệm thực tiễn thành công từ những vùng miền, quốc gia khác; nơi có điều kiện địa lý, bối cảnh xã hội khá tương đồng với Việt Nam để phát triển và định hướng cho việc thực hiện các chủ trương về đổi mới giáo dục; đổi mới dạy và học ngoại ngũ…
1.5.2 Quản lý nhà nước về giáo dục và ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Ðông Anh: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Có thể nói, chưa bao giờ việc đổi mới một môn học cụ thể lại Nhận được sự quan tâm sát sao của xã hội và các cấp quản lý nhà nước như trong giai đoạn hiện nay. Với việc thực hiện các mục tiêu cụ thể được liệt kê trong Ðề án 2030, các cơ quan quản lý giáo dục các cấp đã liên tục cập nhật những văn bản quản lý (thông tư, công văn….) nhằm theo sát thực tế nhu cầu và khả năng thực hiện của việc quản lý hoạt động bồi dưỡng, tạo điều kiện cho hoạt động bồi dưỡng đạt được hiệu quả tối ưu.
Với những quy định cụ thể từ Ðề án 2030 và các thông tư hướng dẫn về chuẩn năng lực giáo viên ngoại ngũ, các thông tư về hướng dẫn hoạt động bồi dưỡng giáo viên đã và đang được cập nhật nhằm phát huy hiệu quả tối đa của quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên thích ứng với những thay đổi trong xã hội và theo kịp xu thế của thế giới; trong đó có nhấn mạnh đến hoạt động bồi dưỡng chuyển từ bồi dưỡng năng về kiến thức sang việc bồi dưỡng nâng cao năng lực; đồng thời có sự tiến hành trao quyền cho các tổ chức, nhà trường, cơ sở giáo dục trong việc tiến hành các hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên của cơ sở mình theo hướng hợp đồng, chịu trách nhiệm giữa các bên. việc trao quyền này là một bước tiến tích cực, giúp cho các nhà trường và tổ chức giáo dục xác định nhu cầu và nội dung cụ thể phù hợp với bối cảnh thực tế của nhà trường để cụ thể hóa kế hoạch bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh trong nhà trường và thực hiện đánh giá theo các tiêu chí phù hợp với mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học sau bồi dưỡng giáo viên.
1.5.3 Ðội ngũ quản lý nhà trường tiểu học:
Ðây là những nhà quản lý trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở cấp cơ sở. Chính thái độ và hoạch định tổ chức của những nhà quản lý trực tiếp này là tiền đề của hiệu quả sau cùng của quá trình bồi dưỡng. Nhà quản lý trường học cần có các năng lực“ năng lực phân tích và dự báo; năng lực sáng tạo và chia sẻ tầm nhìn; năng lực hoạch định chiến lược; năng lực thu hút và tập hợp lực lượng; năng lực đổi mới và sáng tạo; năng lực tuyên truyền vận động; năng lực định hướng, dẫn dắt, tạo động lực làm việc cho các thành viên…. để lãnh đạo nhà trường hướng tới mục tiêu chất lượng giáo dục. Do đó, ngoài việc tạo điều kiện, khích lệ giáo viên tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng, nhà quản lý trường học còn chính là nhân tố đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra và phát huy môi trường dạy học khuyến khích áp dụng các phương pháp mới mà giáo viên lĩnh hội được trong bồi dưỡng vào giảng dạy thực tế.
1.5.4 Ðội ngũ chuyên gia đào tạo bồi dưỡng giáo viên:
Ðây là những người có vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng hoạt động bồi dưỡng, là những người thầy trong các hoạt động bồi dưỡng giáo viên nói chung và các giáo viên tiếng Anh nói riêng. Ngoài việc cung cấp những kiến thức chuyên môn, đội ngũ chuyên gia đào tạo bồi dưỡng đồng thời có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình Nhận thức và động lực học tập, sự tình tham gia của đội ngũ giáo viên tiếng Anh trong hoạt động bồi dưỡng.
1.5.5 Giáo viên tiếng Anh tiểu học: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
Giáo viên tiếng Anh tiểu học được coi là nhân tố chính của quá trình đổi mới giáo dục thành công. Giáo viên tiếng Anh tiểu học là đối tượng của hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học với vai trò người học, song đồng thời là chủ thể của việc đánh giá kết quả mong muốn của hoạt động bồi dưỡng giáo viên, thông qua việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng mới được trang bị trong hoạt động bồi dưỡng vào môi trường dạy học thực tế của cá nhân mình.
Tiểu kết chương 1
Giáo viên là nguồn lực quan trọng, trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ cao. Chất lượng giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và chất lượng giáo viên thuộc chủ yếu vào công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Hai Mặt này gắn bó chặt chẽ trong một thể thống nhất.
Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên chính là cung cấp cho giáo viên những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm, các phương pháp dạy học hiện đại để vận dụng vào dạy học, tạo tiềm lực cho việc thích ứng tốt với những thay đổi theo yêu cầu về đào tạo nhân lực cho xã hội và định hướng chiến lược của ngành Giáo dục và đào tạo.
Các nghiên cứu cho thấy để đạt đến mục tiêu bồi dưỡng dự kiến, hoạt động bồi dưỡng năng lực giảng dạy tiếng Anh cho giáo viên ngoại ngũ nói chung và giáo viên tiểu học nói riêng trải qua bốn giai đoạn bao gồm: Nhận thức, Hiểu, Tham gia và Áp dụng, được sơ đồ hóa như sau:
Ðể quản lý tốt hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học này đòi hỏi phải thực hiện tốt các khâu trong quy trình quản lý: từ khâu lên kế hoạch, tổ chức, đến thực hiện, kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng này; nhằm nâng cao năng lực dạy học, đáp ứng nhu cầu của đổi mới dạy và học ngoại ngũ theo đề án 2030 Luận văn: Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học tiếng Anh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy tiếng Anh

Pingback: Luận văn: Biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy tiếng Anh