Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp phát triển trường TH dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Biện pháp phát triển trường TH dạy học 2 buổi/ ngày ở vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình phải phù hợp và góp phần thực hiện chiến lược phát triển Giáo dục quốc gia và của địa phương
3.1.1.1. Phù hợp với chiến lược phát triển Giáo dục giai đoạn 2021-2030 của chính phủ
Tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển Giáo dục 2021-2030 có xác định rõ mục tiêu đối với Giáo dục phổ thông:
Chất lượng Giáo dục toàn diện được nâng cao, đặc biệt chất lượng Giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật, ngoại ngữ, tin học.
Đến năm 2030, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở tiểu học là 99%, trung học cơ sở là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học.
Trên cơ sở đánh giá chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành và tham khảo chương trình tiên tiến của các nước, thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2025 theo định hướng phát triển năng lực HS, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương. Chú trọng nội dung Giáo dục đạo đức, pháp luật, thể chất, quốc phòng – an ninh và các giá trị văn hóa truyền thống; Giáo dục kỹ năng sống, Giáo dục lao động và hướng nghiệp HS phổ thông.
3.1.1.2 Gắn kết với chiến lược phát triển Giáo dục&ĐT tỉnh Hòa Bình.
Tại Quyết định số 798/QĐ-UBND ngày 27/5/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về phê duyệt Quy hoạch phát triển sự nghiệp Giáo dục&ĐT giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2030 đã nêu rõ mục tiêu quy hoạch phát triển Giáo dục&ĐT tỉnh Hòa Bình, trong đó nhấn mạnh vấn đề phát triển Giáo dục vùng khó khăn như:
- Nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện, gắn Giáo dục&ĐT với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong khu vực và cả nước.
- Giảm sự bất bình đẳng trong tiếp cận Giáo dục giữa các nhóm dân cư có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng dân tộc ít người. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Tăng cường khả năng tiếp cận cho trẻ khuyết tật.
- Tăng cường cơ sở vật chất, phát triển Giáo dục cho vùng có nhiều khó khăn.
- Nâng cao chất lượng dạy và học, thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy….
3.1.1.3 Thực hiện mục tiêu phát triển Giáo dục Tiểu học tỉnh Hòa Bình.
Quyết định số 1399/QĐ-UBND ngày 05/8/2025 về việc ban hành kế hoạch thực hiện phát triển Giáo dục&ĐT, dạy nghề và nâng cao chất lượng Giáo dục tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2025-2030, trong đó có xác định mục tiêu cụ thể đối với Giáo dục tiểu học: “Duy trì kết quả huy động HS trong độ tuổi ở tiểu học hàng năm đạt trên 99,8%, 100% HS học hết lớp 1 biết đọc, biết viết tiếng Việt và thành thạo về hai phép tính; 62 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 30% trường vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Như vậy, để đảm bảo thêm 62 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia phải đảm bảo tỷ lệ các trường có 50% số HS được học 2 buổi/ngày (đối với trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 và 80% HS được học 2 buổi/ngày đối với trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2).
3.1.1.4 Đảm bảo thực hiện hướng dẫn tổ chức dạy học hai buổi/ ngày ở tiểu học của Bộ Giáo dục&ĐT
Theo công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm, Bộ Giáo dục&ĐT chỉ đạo, định hướng việc triển khai dạy học 2 buổi/ngày cụ thể như sau:
- Thời lượng tối đa 7 tiết/ngày. Hiệu trưởng chủ động xây dựng kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu:
- HS được tự học có sự hướng dẫn của GV để hoàn thành nội dung học tập tại lớp, nghiêm cấm giao bài tập về nhà cho Dạy học các môn học bắt buộc, các môn học tự chọn; tổ chức cho HS tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa…
- Đối với những vùng khó khăn, vùng có đông HS dân tộc thiểu số, việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày cần lưu ý tạo điều kiện thuận lợi cho HS tăng cường tiếng Việt bằng nhiều hình thức, đa dạng và phong phú.
- Khuyến khích tổ chức bán trú cho HS một cách linh hoạt, đa dạng hoạt động bán trú, có thể tổ chức các hoạt động như xem phim, xem tivi, đọc sách, tham gia các trò chơi dân gian,… trong thời gian nghỉ trưa giữa hai buổi học.
Động viên phụ huynh, cộng đồng, đầu tư, đóng góp nhân lực, trí lực, tài lực để thực hiện Giáo dục toàn diện cho HS trong hoạt động tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Với những lớp học có sĩ số đông, tham mưu với chính quyền để có thêm GV hỗ trợ, trợ giảng hoặc tham mưu quy hoạch xây dựng các trường tiểu học tại địa phương, từng bước khắc phục tình trạng số lượng HS trên lớp cao hơn so với quy định.
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích: Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn phải đảm bảo tăng số lượng trường lớp HS vùng khó khăn được học 2 buổi/ngày; các biện pháp phải góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục tiểu học.
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống:
Các biện pháp đề ra phải đảm bảo tính hệ thống. Khi triển khai thực hiện biện pháp này không làm ảnh hưởng đến quy trình thực hiện các biện pháp kia. Các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình không thực hiện một cách đơn lẻ mà phải tiến hành đồng bộ các biện pháp đề xuất. Phải khai thác được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng Giáo dục, phải có sự thống nhất cao trong chỉ đạo và triển khai thực hiện, phải giải quyết được đồng bộ các mối quan hệ trong việc thực hiện Giáo dục.Từ đó, tạo động lực, điều kiện để thực hiện các biện pháp.
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa:
Các biện pháp đề ra phải trên quan điểm kế thừa và phát triển. Các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn kế thừa và phát huy được những kinh nghiệm đã có của Việt Nam và thế giới trong việc thực hiện dạy học 2 buổi/ngày ở tiểu học. Những nội dung thực hiện phải dựa trên kết quả đã đạt được, những biện pháp đã thực hiện của ngành Giáo dục&ĐT và những quy định của tỉnh Hòa Bình trong những năm vừa qua. Vì vậy, các biện pháp đề xuất không phủ định, không mâu thuẫn với những quy định, những biện pháp đã thực hiện mà phải kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các biện pháp đã tiến hành trước đó; đồng thời, có sự cải tiến để phù hợp, đáp ứng các yêu cầu để phát triển.
3.2. Một số biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
3.2.1 Tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy học 2 buổi/ngày cho các bên liên
3.2.1.1 Mục tiêu của biện pháp
Nâng cao nhận thức cho các cấp ủy chính quyền địa phương, cán bộ quản lý, GV và cha mẹ học sinh về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy học 2 buổi/ngày ở tiểu học.
3.2.1.2 Nội dung của biện pháp
- Phổ biến chủ chương về dạy hoc 2 buổi/ngày
Dạy hoc 2 buổi/ngày cần phải được cán bộ quản lý, GV, cha mẹ HS và cộng đồng nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, mục đích và sự cần thiết. Do đó phải tổ chức tuyên truyền để tất cả mọi người biết được sự cần thiết của dạy học 2 buổi/ngày.
- Vận động tuyên truyền đối với cha mẹ HS
Gia đình có vai trò quan trọng đối với việc phát triển nhân cách của đứa trẻ. Về phương diện Giáo dục gia đình là lực lượng Giáo dục, tạo môi trường đảm bảo cho việc thực hiện Giáo dục. Làm cho cha mẹ, đặc biệt đồng bào dân tộc hiểu được sự cần thiết của dạy học 2 buổi/ngày. Tuyên truyền vận động để cha mẹ quan tâm tạo điều kiện cho con em mình đến trường và cùng tham gia xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường, động viên GV và HS trong trường dạy và học tốt.
- Vận động tuyên truyền đối HS
HS góp phần quan trọng vào việc thực hiện dạy học 2 buổi/ngày. Tuyên truyền vận động để các em thấy được sự cần thiết phải học 2 buổi/ngày, từ đó các em có ý thức trong việc học tập, thích đi học, không bỏ học. Biến các em thành những tuyền truyền viên nhỏ để tuyên truyền trong gia đình và cộng đồng.
3.2.1.3 Cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Sở Giáo dục&ĐT cùng với các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ quản lý, GV tuyên truyền rộng rãi chủ trương của dạy học 2 buổi/ngày cho người dân trên các phương tiện thông tin đại chúng, tại các buổi họp xã sinh hoạt trong thôn xóm, bản làng.
Xây dựng kế hoạch phổ biến, vận động, tuyên truyền về việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.
Xây dựng nội dung, phương pháp Giáo dục, phương pháp vận động, tổ chức tập huấn cho các cán bộ tuyên truyền, đặc biệt các cán bộ người dân tộc để họ hướng dẫn các già làng, trưởng bản trong việc vận động cha mẹ HS cho con đến trường học 2 buổi/ngày.
Cán bộ làm công tác Giáo dục (chuyên viên phụ trách Giáo dục tiểu học của Sở, phòng Giáo dục&ĐT, cán bộ quản lý, GV) phối hợp với UBND xã, phường tổ chức tuyên truyền các chủ trương, lợi ích, sự cần thiết phải thực hiện học hai buổi/ ngày ở tiểu học trong giai đoạn hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuyên truyền, vận động cha mẹ HS thông qua các biện pháp để kêu gọi ý thức của cha mẹ trong việc nâng cao dân trí.
Tham mưu UBND huyện, xã đã tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác Giáo dục trong toàn xã và thông báo việc triển khai chương trình tới nhân dân.
Củng cố và phát triển diễn đàn Đại hội Giáo dục các cấp để liên kết các lực lượng xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của các bên liên quan tạo thành những hành động thiết thực, thống nhất cùng chăm lo Giáo dục, thì một trong những vấn đề cần quan tâm trong công tác quản lý hoạt động này thì phải đại hội các cấp. Thông qua đó để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các bên liên quan về các vấn đề Giáo dục nói chung và dạy học 2 buổi/ngày nói riêng.
Tổ chức gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương cùng cam kết động viên HS đi học, tránh tình trạng bỏ học, đảm bảo các điều kiện để HS tham gia học 2 buổi/ngày tại các nhà trường.
Tham mưu với UBND các cấp xây dựng, hệ thống hóa các văn bản pháp qui về mọi lĩnh vực liên quan đến Giáo dục&Đào tạo, bao gồm các Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Điều lệ, Qui chế, Quyết định của Đảng và Nhà nước, của địa phương. Hệ thống văn bản này chính là hành lang pháp lí, là những trụ cột để Giáo dục&ĐT phát triển. Hệ thống chính sách phải mang tính đồng bộ, khoa học, tránh chồng chéo giữa văn bản trước với văn bản sau, giữa chính sách của Nhà nước với chính sách của địa phương.
3.2.1.4 Điều kiện thực hiện Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ quản lý, GV phải nắm rõ các chủ trương, về dạy học 2 buổi/ngày.
Các cơ quan ban ngành đóng trên địa bàn phải có trách nhiệm tham gia các hoạt động Giáo dục theo chức năng nhiệm vụ của mình. Nếu mỗi ban ngành đều nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia các hoạt động giáo dục thì Giáo dục có một cơ hội phát triển mạnh.
Chính quyền địa phương cần thể chế hoá trách nhiệm đó thành cơ chế phối kết hợp, một mặt tạo điều kiện cho ngành Giáo dục có thể phát huy sự tham gia của các ban ngành, mặt khác để lãnh đạo địa phương kiểm tra giám sát trách nhiệm của các ban ngành đối với sự nghiệp Giáo dục của địa phương.
Đội ngũ làm công tác Giáo dục phải được tập huấn về nội dung, phương pháp và các kỹ năng tuyên truyền vận động.
Đảng uỷ, UBND các xã có Nghị quyết về nội dung công tác Giáo dục trong việc tổ chức chương trình dạy học 2 buổi/ngày đối với tiểu học. Có chính sách hỗ trợ HS nghèo tiềm mua sách vở đồ dùng học tập để giảm bớt phần nào khó khăn cho các em có hoàn cảnh khó khăn, các gia đình đồng bào dân tộc, gia đình chính sách, đặc biệt hỗ trợ cho các em được ăn bữa trưa khi học 2 buổi/ngày.
3.2.2. Hoàn thiện quy hoạch phát triển các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của Tỉnh Hòa Bình.
3.2.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu của việc hoàn thiện quy hoạch các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày nhằm phát triển qui mô trường lớp, HS học 2 buổi/ngày đảm bảo về số lượng, mạnh về chất lượng, góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục tiểu học đáp ứng nhu cầu kinh tế – xã hội của địa phương, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau năm 2028.
Tham mưu đề xuất được với UBND các cấp quyết định hoặc phê duyệt Kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, bán trú tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện, tỉnh theo giai đoạn. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Xây dựng được cơ chế, chính sách riêng của địa phương hỗ trợ các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày đảm bảo phát triển số lượng và chất lượng theo lộ trình đề án.
3.2.2.2. Nội dung biện pháp
Dự báo nhu cầu chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học và xác định nguồn bổ Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng ở các trường tiểu học để xác định nhu cầu ưu tiên.
Đánh giá thực trạng, điểm mạnh, yếu, những cơ hội và thách thức của các địa phương khi chuyển đổi các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày sau năm 2028. Hoàn thiện danh sách các trường thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo từng năm, từng giai đoạn.
Tham mưu và trình UBND các cấp phê duyệt Đề án dạy học 2 buổi/ngày, bán trú tại các trường tiểu học vùng khó khăn trên địa bàn huyện, tỉnh. Trong đó có việc thực hiện chế độ chính sách và các ưu đãi đối với việc dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Phát huy những chính sách, xây dựng thêm cơ chế và chế độ đãi ngộ, khuyến khích phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Thực hiện đầy đủ, công bằng chế độ, chính sách và các quy định về khen thưởng, kỷ luật, tôn vinh đối với cán bộ quản lý, GV, HS vùng khó.
Tham mưu các ngành chức năng liên quan ở địa phương cùng tham gia hỗ trợ việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày trên địa bàn về cơ sở vật chất, bố trí đội ngũ GV, tiền lương và phụ cấp cho GV.
Tổng kết, kiểm tra, điều chỉnh và đưa ra khuyến nghị (nếu có) đối với các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
3.2.2.3 Cách thức thực hiện
Để biện pháp này có đầy đủ các nội dung và kết quả cho một quy hoạch hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của ngành, thì cơ quan quản lý thực thi phải là phòng Giáo dục&ĐT, theo đúng thảm quyền của cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Giáo dục&ĐT. Vì vậy, Sở Giáo dục&ĐT cần chỉ đạo các phòng Giáo dục&ĐT thực hiện các công việc sau:
Xác định số lượng trường chuyển đổi dạy học 2 buổi/ngày theo từng năm học và từng giai đoạn: Một là xây dựng kế hoạch phát triển trường dạy học 2 buổi/ngày theo quy mô phát triển về HS, lớp học, số trường, hạng trường để xác định số lượng. Hai là hàng năm phòng Giáo dục&ĐT thực hiện rà soát và đánh giá thực trạng các trường để xác định số lượng trường bổ sung.
Hàng năm rà soát và lập kế hoạch, quy hoạch định biên định kỳ trình cấp trên xem xét và phê duyệt số lượng, danh sách các trường. Qua việc rà soát nắm bắt nhu cầu thực tế của từng đơn vị để kịp thời bổ sung các điều kiện đảm bảo tiến độ đề án.
Lập danh sách các trường, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo từng năm với phương châm trường nào đảm bảo các tiêu chuẩn và tiểu chí, địa phương sẵn sàng, quyết tâm triển khai thực hiện trước.
Chỉ đạo Phòng Giáo dục&ĐT căn cứ vào báo cáo và danh sách các trường, các huyện báo cáo kết quả thực hiện quy trình quy hoạch và trình UBND các cấp phê duyệt Kế hoạch hoặc đề án làm cơ sở để chỉ đạo thực hiện công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày hàng năm.
Chỉ đạo các trường có đủ điều kiện thực hiện dạy 2 buổi/ngày; duyệt kế hoạch Giáo dục, phân phối chương trình, nội dung dạy học, các hoạt động giáo dục và chỉ đạo thực hiện; báo cáo định kỳ về cơ quan quản lý cấp trên theo quy định.
Tham mưu với UBND tỉnh về việc xây dựng chế độ chính sách hỗ trợ của địa phương cho các trường vùng khó khi chuyển đổi từ dạy học nửa ngày sang dạy học 2 buổi/ngày.
Tham mưu UBND các cấp xây dựng cơ chế, chính sách riêng hỗ trợ, đãi ngộ, khuyến khích các trường vùng khó khăn chuyển đổi từ dạy học nửa ngày sang dạy học 2 buổi/ngày tạo động lực cũng như các điều kiện tối thiểu để vùng khó khăn thực hiện đảm bảo mục tiêu đổi mới.
Sau mỗi đợt thực hiện quy hoạch, Sở Giáo dục&ĐT cần có đánh giá, nhận xét về công tác qui hoạch và thực hiện qui hoạch của các địa phương. Chỉ đạo Phòng Giáo dục&ĐT tự tổng kết, kiểm tra các bước thực hiện quy hoạch, tự điều chỉnh hoặc có khuyến nghị. Trên cơ sở danh sách đã chuẩn y, phòng Giáo dục&ĐT có kế hoạch thực hiện.
3.2.2.4 Điều kiện thực hiện Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Giáo dục&ĐT với các cơ quan chức năng khác có liên quan. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của UBND tỉnh về công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Có văn bản hướng dẫn và yêu cầu các phòng Giáo dục&ĐT thực hiện rà soát qui hoạch các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày. Đưa yêu cầu phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn thành nhiệm vụ đối với cấp học, gắn việc qui hoạch với tiêu chí thi đua.
Quy hoạch phải tiến hành thật sự dân chủ, công khai, không khép kín trong phạm vi nhà trường mà phải kết hợp với cơ quan quản lý cấp trên, đồng thời mở rộng phạm vi ngành, địa phương.
Sở Giáo dục&ĐT, Phòng Giáo dục&ĐT, UBND huyện cần theo dõi chặt chẽ số lượng các trường tham gia dạy học 2 buổi/ngày, nắm chắc công tác quản lí đảm bảo chất lượng tại các nhà trường và có phương án thay thế, bổ sung đối với các trường triển khai nhưng hiệu quả và chất lượng chưa tốt, các trường đến thời gian thực hiện nhưng chưa đảm bảo các điều kiện.
Việc xây dựng quy hoạch trường lớp dạy học 2 buổi/ngày phải xuất phát từ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đó, kế hoạch phát triển Giáo dục giai đoạn 2025 – 2030 của UBND cấp huyện.
3.2.3 Xây dựng qui trình, các bước lập đề án và các tiêu chí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn phù hợp với nhiệm vụ phát triển sự nghiệp Giáo dục của tỉnh Hòa Bình.
3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp
Xây dựng được qui trình, các bước hướng dẫn phòng Giáo dục&ĐT, trường tiểu học xây dựng đề án, kế hoạch phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày theo từng giai đoạn.
3.2.3.2 Nội dung biện pháp
Qui trình, các bước và tiêu chí xây dựng đề án là cơ sở quan trọng nhất để đánh giá, lựa chọn, quy hoạch hệ thống trường lớp dạy học 2 buổi/ngày, đồng thời cũng là mục tiêu để mỗi phòng Giáo dục&ĐT, trường Tiểu học hướng tới việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Sở Giáo dục&ĐT hướng dẫn qui trình, các bước, tiêu chí lập đề án dựa trên nguyên tắc phù hợp với tình hình thực tế, mục tiêu, yêu cầu phát triển của ngành thống nhất từ tỉnh đến các nhà trường. Từ đó các cấp quản lí lựa chọn trường đảm bảo các yêu cầu, tiêu chí tham gia triển khai dạy học 2 buổi/ngày theo từng năm.
Xây dựng đề án phải đảm bảo chỉ rõ sự cần thiết xây dựng đề án các căn cứ xây dựng đề án và đảm bảo cấu trúc, nội dung:
- Phần thứ nhất. Thực trạng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày Phần thứ hai. Các yếu tố tác động, bối cảnh và dự báo nhu cầu phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày
- Phần thứ Ba. Quan điểm, mục tiêu, biện pháp và lộ trình phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày
- Phần thứ tư. Tổ chức thực hiện Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
b) Khi lập kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, các trường cần thực hiện theo quy trình gồm các bước sau:
- Nguyên tắc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày
- HS có nhu cầu, cha mẹ tự nguyện; tiến tới học cả ngày là bắt buộc thực hiên với chương trình tiểu học sau năm 2028;
- Nhà trường đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tối thiểu;
- Đảm bảo đội ngũ GV (đủ theo biên chế);
- Công khai, minh bạch thu chi (phục vụ bữa ăn, phát triển năng khiếu, điều kiện cơ sở vật chất như quạt, nước uống, phương tiện, tổ chức câu lạc bộ…)
- Đảm bảo cho sự phát triển hài hòa phẩm chất, năng lực HS.
Các tiêu chí đảm bảo chuyển đổi từ dạy học nửa ngày sang dạy học 2 buổi/ngày.
Đội ngũ: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhiệm vụ tổ chức, thực hiện chương trình Giáo dục hiện tại ở trường tiểu học; GV có Trình độ đào tạo chuẩn; Đạt Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học; có đủ số lượng GV theo quy định tại Thông tư số 35/2016/TTLT-BGDĐT-BNV (đảm bảo 1,50 người/lớp).
CSVC: Mỗi lớp có một phòng học riêng theo đúng quy cách đảm bảo tỉ lệ 1 phòng/ lớp; Phòng phục vụ học tập: Giáo dục thể chất, Giáo dục nghệ thuật, thư viện, thiết bị dạy học, phòng truyền thống, phòng hỗ trợ HS khuyết tật; Sân chơi, sân tập đảm bảo qui định; Khu vệ sinh giáo viên, học sinh, đặc biệt cần quan tâm các điểm trường lẻ.
3.2.3.3 Cách thức thực hiện
Giao cho cán bộ, chuyên viên Phòng Giáo dục tiểu học của Sở Giáo dục&ĐT căn cứ các qui định của ngành để xây dựng qui trình xây dựng đề án phát triển trưởng tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày.
- Tham mưu và trình lãnh đạo Sở phê duyệt văn bản gửi các Phòng Giáo dục&ĐT hướng dẫn các trường tiểu học vùng khó khăn của tỉnh lập đề án theo qui trình đó
- Yêu cầu các phòng Giáo dục&ĐT tập hợp các đề án, tổ chức khảo sát thực trạng các trường để có căn cứ xác đáng cho phê duyệt đề án đối với các trường tiểu học có đủ điều kiện theo qui định; tham mưu UBND huyện phê duyệt đề án phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày trên địa bàn, báo cáo, đăng kí với Sở Giáo dục&ĐT.
- Sở Giáo dục&ĐT tổng hợp báo cáo UBND tỉnh chỉ đạo, triển khai thực hiện. Tham mưu UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch thực hiện dạy học 2 buổi/ngày và tổ chức bán trú cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh
3.2.3.4 Điều kiện thực hiện Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Sở Giáo dục&ĐT phải có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn đầy đủ các qui trình, các bước, qui định rõ các tiểu chuẩn, tiêu chí đối với trường dạy học 2 buổi/ngày.
Đội ngũ tham gia xây dựng đề án phải được tập huấn kỹ thuật triển khai các tiêu chuẩn, tiêu chí và viết đề án.
Phòng Giáo dục&ĐT chủ động tham mưu với UBND các huyện về việc lập đề án trên địa bàn tập trung chỉ đạo có trọng điểm 1 đến 2 trường nhân rộng toàn huyện.
CBQL các trường nắm vững qui trình, tiêu chí chủ động triển khai thực hiện, rà soát đánh giá đúng, chính xác thực trạng để xây dựng lộ trình phù hợp.
3.2.4 Đảm bảo số lượng, chất lượng đội ngũ GV tiểu học trong triển khai dạy học 2 buổi/ ngày ở các trường vùng khó khăn
3.2.4.1 Mục tiêu của biện pháp
- Đảm bảo số lượng, cơ cấu, chất lượng và ổn định đội ngũ GV tiểu học dạy học 2 buổi/ngày .
3.2.4.2 Nội dung biện pháp
Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng Giáo dục&ĐT của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý Giáo dục.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo đội ngũ GV đủ về số lượng, chất lượng đồng bộ ở các môn học. Xây dựng đội ngũ GV bằng nhiều hình thức như: tuyển công chức hàng năm, chuyển GV từ nơi thừa đến nơi thiếu, thực hiện các chế độ chính sách rõ ràng, cụ thể, kịp thời nhằm động viên, GV hòan thành nhiệm vụ, có cơ chế riêng để khuyến khích gắn bó lâu dài với vùng khó khăn. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Xây dựng kế hoạch và thực hiện bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, phương pháp dạy học cho GV. Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho GV tập trung vào các nội dung như: nâng cao nhận thức, tư tưởng, nội dung liên quan đến môn học và nghiệp vụ sư phạm về phương pháp giảng dạy, các nội dung tăng cường kỹ năng học tập cho người học; Chú trọng đến việc cập nhật kiến thức, phương pháp dạy học tích cực. Thiết kế tổ chức hoạt động phát triển năng lực người học, sử dụng quĩ thời gian tăng thêm so với trường học 1 buổi/ngày.
Đổi mới công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ quản lý, GV. Thúc đẩy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng đối với cán bộ quản lý, GV. Đây là khâu then chốt, bởi chỉ có GV tích cực, chủ động mới thực hiện giờ học hiệu quả, chất lượng.
Tăng cường công tác kiểm tra của Sở, phòng, trường thông qua dự giờ thăm lớp và nghiêm túc rút kinh nghiệm, đánh giá việc áp dụng các nội dung trong thực tế dạy học và quản lí.
3.2.4.3 Cách thức thực hiện
Tuyên truyền để thay đổi và nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng Giáo dục&ĐT của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý Giáo dục.
Ngành Giáo dục có quy hoạch phát triển Giáo dục&ĐT của tỉnh các giai đoạn. Sở Giáo dục&ĐT tham mưu với Ủy ban nhân dân tỉnh những chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài trên bình diện vĩ mô, đó là các chính sách ưu đãi về tiền lương, nhà ở và phương tiện làm việc cho GV, hỗ trợ gạo, chi phí học tập cho HS. Tham mưu UBND các cấp thực hiện chi trả chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, GV kịp thời, đặc biệt GV đi làm công tác nghĩa vụ tăng cường vùng khó khăn.
Tham mưu UBND cấp huyên bố trí đủ định mức GV theo Thông tư liên tịch số 35/2016/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2016 về hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở Giáo dục phổ thông công lập. Thực hiện điều động luân chuyển giáo kịp thời, trước khi bước vào năm học (trước tháng 8) để đảm bảo ổn định đội ngũ phân công nhiệm vụ, không làm xáo trộn các hoạt động của các trường. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Tập huấn công tác lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV. Triển khai xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ GV từ cấp cơ sở.
Tổ chức tốt phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học xem đây là một biện pháp hữu hiệu nhất, thiết thực nhất để phát triển chuyên môn tại chỗ cho GV.
Triển khai đầy đủ, kịp thời chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV. Trong thời gian thực hiện bồi dưỡng thường xuyên, GV cần lập kế hoạch cá nhân, báo cáo với hiệu trưởng và hiệu trưởng có số theo dõi học tập bồi dưỡng thường xuyên của từng GV để thường xuyên nhắc nhở, động viện GV tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn.
Tổ chức tôn vinh cán bộ quản lý, GV nhiều đóng góp Giáo dục vùng khó khăn, tạo điều kiện và cơ hội cho GV vùng khó tham gia các Hội thi GVDG, các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
- Đổi mới công tác tập huấn bồi dưỡng GV đảm bảo theo qui trình:
Xác định nhu cầu bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, GV: Trước khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV cần tập hợp nhu cầu hoặc lấy ý kiến về nhu cầu từ các đơn vị; Sắp xếp các nhu cầu theo thứ tự ưu tiên (nhu cầu nào nhiều GV cần tập trung bồi dưỡng giải quyết trước). Chia nhóm, phân tích các nhu cầu (nhóm cần bồi dưỡng phương pháp, nhóm cần bồi dưỡng kỹ năng, nhóm cần bổ sung hỗ trợ các kỹ thuật dạy học, tổ chức hoạt động…); xác định rõ nội dung bồi dưỡng nào GV có thể tự học tự nghiên cứu có hướng dẫn, nội dung nào nhà trường bồi dưỡng, nội dung nào phòng Giáo dục&ĐT bồi dưỡng và nội dung Sở Bồi dưỡng. Lấy ý kiến các đơn vị trước khi triển khai kế hoạch bồi dưỡng chính thức trong năm học; lập kế hoạch thực hiện công tác bồi dưỡng theo năm học. Trong kế hoạch gắn các nội dung bồi dưỡng với nhiệm vụ và trách nhiệm của các cấp quản lí (Sở làm gì? phòng làm gì? trường làm gì? trách nhiệm như thế nào). Xác định mục tiêu cụ thể cho từng nội dung bồi dưỡng, mục tiêu phải được mô tả bằng hành động và việc làm, không định hướng chung chung.
Đổi mới hình thức, phương pháp bồi dưỡng: Trước khi đến các lớp bồi dưỡng cần dành thời gian cho GV tự nghiên cứu lí thuyết. Cung cấp tài liệu, hệ thống các câu hỏi, yêu cầu, mục tiêu nghiên cứu tài liệu cho GV xác định rõ nhiệm vụ nghiên cứu. Cách làm này rèn cho GV kỹ năng nghiên cứu, đọc và ghi chép nhiều tài liệu tham khảo; có thói quen ham đọc các sách báo, tạp chí khác để thu thập các thông tin hữu ích.
Không trình bầy lí thuyết tại lớp tập huấn tập trung mà tổ chức học viên thăm quan các mô hình theo hình thức quan sát, trải nghiệm, so sánh đối chiếu, nêu thắc mắc. Trên cơ sở các lý thuyết mà GV tự nghiên cứu tổ chức cho GV dự giờ tại chỗ (trên nền HS) tại một lớp cụ thể, đối tượng cụ thể để GV đối chiếu các vần đề nghiên cứu lý thuyết với ứng dụng trong thực tế, từ đó đưa ra các câu hỏi, thắc mắc nảy sinh cần giải quyết. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Tổ chức giải đáp thắc mắc, trao đổi, đáp ứng mọi nhu cầu từ phía học viên về tất cả những vấn đề nảy sinh trong quá trình quan sát mô hình và trong thực tiễn. Trên cơ sở những trải nghiệm của học viên tổ chức cho học viên tập trung trao đổi, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình nghiên cứu tài liệu, trải nghiệm tại các nhà trường.
Chia nhóm thảo luân để các học viên tự trao đổi, tháo gỡ, giải quyết những câu hỏi mà chính GV đã đưa ra. Cách làm này giảm thời lượng cung cấp lý thuyết, phát huy kinh nghiệm đã có ở mỗi cá nhân để tự giải quyết những vấn đề nảy sinh đồng thời tạo điều kiện để học viên được trao đổi, chia sẻ, thực hành trong lớp tập huấn. Áp dụng triển để các kĩ thuật dạy học tích cực trong các lớp tập huấn.
Cuối mỗi đợt tập huấn học viên tham gia vào xây dựng nội dung, kế hoạch tổ chức tập huấn ở địa phương (kế hoạch hành động sau tập huấn). Việc làm này gắn với thực tế, giúp từng người tham gia hình dung cụ thể công việc phải thực hiện khi về tập huấn lại cho địa phương; đồng thời, dự kiến những khó khăn cùng các giảng viên tháo gỡ.
Đổi mới hình thức đánh giá kết quả các lớp bồi dưỡng: Đổi mới cách đánh giá bồi dưỡng thường xuyên theo hướng giúp cho người học biết tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm học tập. Hiệu trưởng đánh giá thành tích học tập bồi dưỡng thường xuyên của GV thông qua việc vận dụng kết quả bồi dưỡng vào giảng dạy.
Kết thúc mỗi nội dung hoặc đợt bồi dưỡng, thay bằng việc bắt học viên viết thu hoạch cần lắng nghe các ý kiến đánh giá, nhận xét của GV về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng, những điều học viên cảm thấy hứng thú, bổ ích nhất trong đợt tập huấn đồng thời học viên đề xuất các nội dung tập huấn lần sau.
Những nội dung đã triển khai thì có thể tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm và tổ chức thực hành mang tính chuyên sâu hơn.
Sau mỗi chuyên đề hoặc nội dung tập huấn cần để GV có thời gian trải nghiệm, tự đăng kí áp dụng với Ban giám hiệu. Điều này tránh tạo áp lực cho GV, tạo tính chủ động và trách nhiệm trong việc thực hành áp dụng các nội dung tập huấn và thực tế.
Gắn việc đánh giá kết quả bồi dưỡng với việc thực hiện nhiệm vụ dạy học, với sản phẩm và kết quả học tập của HS.
3.2.4.4. Điều kiện thực hiện
CBQL các cấp được tập huấn và có kiến thức về xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ GV. Xây dựng quy hoạch đội ngũ GV tại địa phương để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng Giáo dục phổ cập.
Sở Giáo dục&ĐT phải có công văn hướng dẫn, triển khai công tác bồi dưỡng thường xuyên đối với cán bộ quản lý, GV theo từng năm đảm bảo các yêu cầu theo Chương trình bồi dưỡng thường xuyên GV, cán bộ quản lý tiểu học của Bộ Giáo dục&ĐT;
Nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ GV để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho họ. Chủ động trong việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức tốt các buổi sinh hoạt chuyên môn.
Chi trả chế độ chính sách hỗ trợ GV kịp thời.
3.2.5 Tăng cường đầu tư, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày ở vùng khó khăn. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
3.2.5.1. Mục tiêu của biện pháp
Tăng cường đầu tư, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường tiểu học đảm bảo các điều kiện dạy học 2 buổi/ngày và nâng cao chất lượng.
3.2.5.2 Nội dung biện pháp
Tăng cường đầu tư phát triển Giáo dục, đặc biệt đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cụ thể như: đầu tư xây dựng thêm các phòng học, phòng chức năng, công trình vệ sinh, bếp bán trú …đồng thời tổ chức quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực đầu tư.
Một là: đảm bảo đủ tỷ lệ 1 phòng học/lớp. Lớp học 2 buổi/ngày cần phải có 1 phòng học riêng để bố trí đồ dùng học tập, sách giáo khoa, trang thiết bị học tập, bố trí các công cụ lớp học và tổ chức các hoạt động của lớp.
Hai là: Đảm bảo đủ nhà vệ sinh cho HS, đặc biệt những điểm trường lẻ. Đây là điều kiện tối thiểu vì HS và GV ở trường cả ngày.
Ba là: Thư viện tại nhà trường và thư viện tại lớp học. Đây là một vấn đề nổi cộm mà hầu hết các trường được khảo sát đều đề cập đến. Thư viện cần được trang bị nguồn sách và tài liệu phong phú, đa dạng, phù hợp với HS thuộc khối lớp khác nhau và được sử dụng như một công cụ cần thiết cho việc phát triển kĩ năng đọc, viết, mở rộng hiểu biết của HS…
Bốn là: Bàn ghế HS phải phù hợp. Cần phải hoàn thiện chuẩn quốc gia về kích cỡ và chất lượng các đồ dùng và bàn ghế trong lớp học để đảm bảo HS ở các khối lớp khác nhau được trang bị các bàn ghế có kích thước phù hợp với các em, phù hợp cho các phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm hay các hoạt động nhóm…Đồng thời có thể tận dụng bàn ghế HS tại các lớp để sử dụng làm chỗ ngủ cho HS đối với trường có tổ chức bán trú.
Năm là: thiết bị dạy học và tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cần được trang bị thêm, đầy đủ, phong phú hơn để các trường học có thể tổ chức tốt hơn các hoạt động dạy học và hoạt động ngoài giờ (giờ nghỉ buổi trưa, HS không chỉ ngủ, mà nhà trường nên tổ chức cho các em xem phim, đọc sách báo, tìm hiểu thêm các thông tin bổ ích mà các em yêu thích).
Sáu là: Bếp ăn (đối với các trường tổ chức bán trú). Các trường tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày cần được xây dựng nhà bếp và phòng ăn theo đúng qui chuẩn, đảm bảo các điều kiện vệ sinh và an toàn thực phẩm…
3.2.5.3 Cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Hàng năm, Sở Giáo dục&ĐT giao phòng Giáo dục Tiểu học phối hợp phòng Kế hoạch tài chính hướng dẫn các phòng Giáo dục&ĐT, các trường căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất nhà trường, nguồn kinh phí, Hiệu trưởng lập kế hoạch nhu cầu mua sắm, bổ sung CSVC trình phòng Giáo dục&ĐT phê duyệt. Phòng Giáo dục&ĐT tổng hợp báo cáo Sở Giáo dục&ĐT.
Để thực hiện tổng hợp báo cáo tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị và khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị hiện có, Sở Giáo dục&ĐT hướng dẫn phòng Giáo dục&ĐT triển khai đảm bảo theo các bước sau:
Một là: Các trường tiểu học tự rà soát và đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị nhà trường với các điểu kiện, tiêu chí chuyển đổi dạy học 2 buổi/ngày lập kế hoạch, tờ trình với phòng Giáo dục&ĐT, UBND cấp huyện.
Hai là: Tích cực tham mưu với Phòng Giáo dục, Ủy Ban nhân dân huyện, xã và các lực lượng xã hội để tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các lớp học 2 buổi/ngày (trước hết là phòng học) đáp ứng nhu cầu tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Hướng dẫn các nhà trường ưu tiên phòng học để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, thu gọn các phòng hành chính, một số phòng chức năng không cần thiết nếu còn thiếu phòng học.
Ba là: Phòng Giáo dục&ĐT tổng hợp các nhu cầu về cơ sở vật chất theo thứ tự ưu tiên, căn cứ vào các quy định phân cấp quản lý các nguồn vốn xây dựng cơ bản trong lĩnh vực Giáo dục&ĐT để tham mưu xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất các trường tiểu học đáp ứng việc dạy học 2 buổi/ngày. Trình UBND cấp huyện phê duyệt đầu tư xây dựng hoặc mua sắm bổ sung theo năm học. Đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng trường lớp theo hướng kiên cố hoá, các trường mới được sáp nhập, dành sự ưu tiên hợp lý đối với các trường này theo mức độ có thể trong từng giai đoạn cụ thể.
Bốn là: Đảm bảo ngân sách cho việc mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học theo quy định của Bộ Giáo dục&ĐT. Động viên khuyến khích và có cơ chế thoả đáng để các trường và đội ngũ GV tăng cường mua sắm, làm thêm đồ dùng dạy học, công cụ lớp học bằng vật liệu rẻ tiền, phế liệu tái sử dụng sẵn có của địa phương, sử dụng và bảo quản trang thiết bị đồ dùng dạy học góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình Giáo dục và hiệu quả của các hoạt động giáo phát triển năng lực người học. Tổ chức quản lý và sử dụng, khai thác cơ sở vật chất, thiết bị dạy học có hiệu quả.
Năm là: Hướng dẫn các trường đã ổn định, đủ điều kiện về cơ sở vật chất phòng học, phải chú ý đến việc khai thác các nguồn lực tài chính để từng bước mua sắm các thiết bị dạy học hiện đại, thiết thực theo quy định và theo nhu cầu, mở rộng và nâng cao quy mô phát triển, hướng tới xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia.
Sáu là: Đẩy mạnh các hoạt động XHH Giáo dục làm cho toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển Giáo dục & ĐT. Vận động sự tham gia của mặt trận, cơ quan, đoàn thể và nhân dân vào việc phát triển Giáo dục. Công khai minh bạch các nguồn thu chi, mua sắm, sửa chữa… Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
3.2.5.4. Điều kiện thực hiện
Có văn bản hướng dẫn về việc rà soát, mua sắm bổ sung, sửa chữa cơ sở vật chất, thiết bị hàng năm đảm bảo các điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.
Có kế hoạch xây mới, cải tạo cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận lợi để có đủ lớp học, và các điều kiện khác cho HS học 2 buổi/ngày.
Có chính sách của Đảng, nhà nước và địa phương tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các lớp dạy học 2 buổi/ngày, cho vùng khó khăn.
Có sự đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, đặc biệt là chính sách đãi ngộ, các điều kiện đáp ứng được yêu cầu để mỗi nhà trường, mỗi GV thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Chính quyền, nhân dân địa phương tích cực tham gia công tác XHH Giáo dục để huy động được nguồn lực của nhân dân trong việc phát triển Giáo dục.
Thực hiện việc phân cấp quản lý Giáo dục cho cơ sở. Trao quyền tự chủ, tự chịu trách cho các trường Tiểu học về tài chính, nhân sự và về chất lượng Giáo dục.
Tiến tới thực hiện việc hiệu trưởng quyết định mức lương, thưởng cho từng GV, nhân viên trong nhà trường dựa trên kết quả công tác của cá nhân.
3.2.6 Huy động sự tham gia của các lực lượng xã hội trong việc thực hiện dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học vùng khó khăn.
3.2.6.1 Mục tiêu của biện pháp Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Tăng cường sự tập trung chỉ đạo, quản lý thống nhất, huy động sức mạnh tổng hợp của Ngành Giáo dục&Đào tạo; cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương và của các tổ chức xã hội trong cộng đồng đối với Giáo dục. Phát huy vai trò chỉ đạo, tính năng động sáng tạo của các cấp lãnh đạo, của Sở Giáo dục&ĐT, Ủy ban nhân dân huyện, phòng Giáo dục&ĐT huyện phối hợp chặt chẽ với các lực lượng xã hội nhằm tận dụng mọi cơ hội và điều kiện thuận lợi trong việc “toàn xã hội chăm lo cho Giáo dục” nhằm đáp ứng yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày, yêu cầu đổi mới Giáo dục hiện nay.
Tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội đặc biệt là cha mẹ HS để từng bước mở rộng và nâng cao chất lượng dạy học 2 buổi/ngày.
3.2.6.2 Nội dung biện pháp
Huy động cha mẹ HS cho con tham gia học 2 buổi/ngày. Huy động các tổ chức xã hội và từng người dân sống trong địa bàn xã tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho việc Giáo dục trẻ em. Huy động toàn cộng đồng, các tổ chức kinh tế xã hội, các mạnh thường quân và gia đình HS tham gia đóng góp nguồn lực và vật lực sức lực để nhanh chóng thực hiện dạy học 2 buổi/ngày cho tiểu học và nâng cao chất lượng Giáo dục.
3.2.6.3 Cách thức thực hiện
Sở Giáo dục&ĐT tổ chức Hội thảo, tập huấn hoặc qua quá trình kiểm tra hỗ trợ tại các nhà trường hướng dẫn tại chỗ, trực tiếp nhằm trang bị cho cán bộ quản lý kiến thức và hiểu biết về việc huy động cộng đồng tập trung một số vấn đề cụ thể như sau:
- Nhân thức rõ mục đích, ý nghĩa của huy động cộng đồng
Huy động cộng đồng để phát triển Giáo dục là chủ trương mang tính chiến lược nhằm huy động nguồn lực của xã hội để phát triển sự nghiệp. Trong điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, đầu tư của nhà nước chưa thể đáp ứng yêu cầu của việc tổ chức chuyển đổi và thực hiện dạy học 2 buổi/ngày (thiếu phòng học, không có bếp bán trú, chỗ nghỉ của HS, việc phối hợp và hỗ trợ các hoạt động giáo dục…). mọi người, mọi nhà, mọi ngành đều phải có trách nhiệm quan tâm chăm lo cho Giáo dục, chứ không hoàn toàn trông chờ, dựa vào Nhà nước hoặc khoán trắng cho ngành Giáo dục.
Mặt khác, Giáo dục liên quan đến từng gia đình và nó gắn chặt với cộng đồng địa phương vì vậy nhà trường không thể giải quyết theo kiểu tập trung hoá mà phải theo phương châm xã hội hoá và huy động cộng đồng, thực hiện chủ trương: “Nhà nước và nhân dân, Trung ương và địa phương cùng làm”. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Do vây, để phát triển sự nghiệp Giáo dục&Đào tạo, chúng ta cần tiến hành huy động cộng đồng để thu hút các nguồn lực vật chất và phi vật chất, để thúc đẩy quá trình Giáo dục nhằm xây dựng các điều kiện thiết yếu phục vụ Giáo dục ở nhà trường nói chung và chuyển đổi mô hình dạy học 2 buổi/ngày nói riêng.
- Xác định rõ nội dung huy động cộng đồng
- Sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương vào công tác Giáo dục. Đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công việc huy động cộng đồng.
- Sự tham gia, phối hợp các LLXH vào công tác Giáo dục trên địa bàn.
- Huy động các nguồn đầu tư, hỗ trợ, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong cộng đồng, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho Giáo dục phát triển.
- Xác định rõ đối tượng huy động
- Lãnh đạo Đảng, Chính quyền ở xã (phường), thôn, xóm, đường phố;
- Gia đình, cha mẹ HS, Hội cha mẹ HS;
- Các cơ quan, ban ngành trước hết là các ngành có chức năng, có trách nhiệm đối với trường: như y tế, an ninh trật tự, Ban bảo vệ chăm sóc trẻ em. . . Các tổ chức đoàn thể như Mặt trận tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân… và các tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện.
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đơn vị quân đội, công an;
- Các tổ chức quốc tế, các cá nhân, đặc biệt cá nhân có uy tín, các mạnh thường quân ….
- Hình thức và biện pháp huy động cộng đồng
Chủ thể huy động cộng đồng là cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, và ngành Giáo dục. Cụ thể là: Bí thư Đảng uỷ xã, Bí thư chi bộ Đảng thôn, xóm, chủ tịch UBND xã, Trưởng, Phó phòng Giáo dục&ĐT huyện, Hiệu trưởng nhà trường; trong đó hiệu trưởng nhà trường phải giữ vai trò chủ động, nòng cốt trong quá trình huy động cộng đồng.
Hình thức huy động sư phạm tham gia đóng góp các nguồn lực cho nhà trường được huy động dưới 2 hình thức chủ yếu:
Đầu tư cơ bản bằng vật chất: Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Đất, nhà làm trường học, lớp học, nhà ở cho GV
- Tiền mặt hoặc vật liệu cho xây dựng
- Tiền mặt hoặc trang thiết bị, tài liệu, sách vở, phương tiện đồ dùng dạy…
- Đóng góp tiền để chi lương cho GV, công nhân viên trong nhà trường khi trường chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày.
- Góp tiền để tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, như tổ chức các hoạt động chuyên đề, tổ chức hoạt động giao lưu các câu lạc bộ, tổ chức các ngày lễ hội,…
- Góp tiền xây dựng các quĩ hỗ trợ Giáo dục, chăm lo đời sống GV …
Đóng góp bằng sức lao động dịch vụ và chuyên môn:
- Góp sức lao động trực tiếp trong xây dựng, bảo quản tu sửa trường lớp.
- Góp sức lao động trực tiếp về y tế, chăm sóc sức khoẻ cho HS.
- Tham gia trực tiếp vào việc đóng góp ý kiến xây dựng nhà trường như: xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp Giáo dục, quản lý, đánh giá kết quả Giáo dục của nhà trường.
- Giúp đỡ nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục nội và ngoại khóa, bán trú, quản lí trẻ buổi trưa, hỗ trợ nấu ăn,…
- Tham gia xây dựng môi trường Giáo dục toàn diện: Gia đình- Nhà trường- Xã hội.
Hướng dẫn, chỉ đạo bằng văn bản cụ thể hóa các biện pháp và yêu cầu huy động cộng đồng tham gia công tác Giáo dục trên địa bàn:
Chỉ đạo phòng Giáo dục&ĐT tham mưu UBND các cấp tổ chức hoặc hướng dẫn các địa phương thực hiện một số biện pháp huy động cộng đồng tham gia các hoạt động trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn thông qua các công việc:
Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hoá Giáo dục, tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách về xã hội hoá để các cấp uỷ Đảng, Chính quyền và nhân dân có nhận thức đúng đắn, đầy đủ, thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hoá trong lĩnh vực Giáo dục&Đào tạo. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Huy động cộng đồng tham gia công tác xây dựng kế hoạch chuyển đổi mô hình dạy học 2 buổi/ngày của nhà trường: Huy động Lãnh đạo, chính quyền địa phương, cha mẹ HS, các ban ngành đoàn thể cùng tham gia các khâu lập kế hoạch của nhà trường. Tranh thủ trong các cuộc họp Hội đồng nhân dân, họp Ban chấp hành Đảng ủy xin ý kiến về kế hoạch, đồng thời bày tỏ khó khăn vướng mắc của nhà trường khi chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày…
Khích lệ cộng đồng hăng hái đóng góp, giám sát các hoạt động giáo dục. Xây dựng bầu không khí dân chủ, năng động và hiệu quả trong việc phối hợp, tổ chức các hoạt động của Giáo dục. Mời địa phương, cha mẹ HS…tham gia hầu hết các hoạt động của nhà trường. Cầu thị, lắng nghe hoặc chủ động xin các ý kiến đóng góp về các hoạt động cũng như tư vấn về các hoạt động khác và tham gia giám sát các hoạt đông của nhà trường (giám sát bữa ăn trưa, lựa chọn đối tượng HS được hướng chế đô ., tham gia nấu ăn, trông HS buổi trưa,mang cơm từ điểm trường chính đến điểm lẻ, làm công cụ lớp học, tham gia các hoạt động của nhà trường…)
Thực hiện huy động đúng chính sách, chế độ, kịp thời và sử dụng các nguồn huy động đúng mục đích đạt hiệu quả cao. Những cách làm tuỳ tiện, lợi dụng, dẫn đến những vi phạm, nhất là trong việc huy động nguồn lực vật chất và tài chính. Việc sử dụng các nguồn lực đã huy động được phải đúng mục đích, tiết kiệm, tránh lãng phí mà đạt kết quả cao. Công khai minh bạch các nguồn hỗ trợ, có đánh giá hiệu quả việc đầu tư, hỗ trợ hoặc tham gia của cộng đồng. Mời các thành phần hỗ trợ đầu tư kiểm tra, giám sát các hoạt động của nhà trường…
- Tổng kết biểu dương khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân tham gia tích cực.
Từng đợt phát động, hay định kì hàng năm Sở Giáo dục&ĐT tổ chức hội nghị để sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện công tác huy động cộng đồng trong thời gian qua và đề ra các phương hướng hoạt động về công tác xã hội hoá Giáo dục cho thời gian tiếp theo. Trên cơ sở kết quả thực hiện, phải biểu dương khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân điển hình đã tham gia tích cực hơn và động viên những tổ chức, cá nhân khác cùng hăng hái tham gia. Đồng thời tổ chức hội thảo đánh giá lại công tác huy động cộng đồng, điểm gì chưa được thì khắc phục, điểm gì đã được thì phát huy…
3.2.6.4 Điều kiện thực hiện
Sở Giáo dục&ĐT chỉ đạo, hướng dẫn phòng Giáo dục&ĐT là cấp quản lí nhà nước về Giáo dục ở cơ sở, cần tổ chức thực hiện các văn bản, chỉ thị về huy động cộng đồng của cấp trên, đồng thời tích cực tham mưu để cụ thể hoá các văn bản đó trên địa bàn cụ thể của mình. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Ngành Giáo dục và nhà trường xuất phát từ yêu cầu của mình cần chủ động tham mưu, đề xuất với lãnh đạo và quản lí địa phương nội dung cần thiết của huy động cộng đồng, đồng thời tổ chức thực hiện huy động cộng đồng do địa phương đề ra.
Hội đồng nhân dân các cấp phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân về Giáo dục và có những Nghị quyết về huy động cộng đồng tham gia xây dựng Giáo dục. Hội đồng phải có những Nghị quyết từng nhiệm kỳ, từng năm về Giáo dục, biến những kiến nghị của nhân dân, của đại hội Giáo dục các cấp thành nghị quyết của Hội đồng.
Uỷ ban nhân dân các cấp phải quản lí trực tiếp việc hiện thực hoá mọi Chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị về huy động cộng đồng.
Việc huy động này cần lưu ý đến đối tượng vận động, phương pháp vận động và vận động trên tinh thần dân chủ, tự nguyện. Sử dụng các nguồn lực huy động này phải đúng mục đích, công khai, đảm bảo hiệu quả đảm bảo theo TT 55/2021/TT-BGDĐT, ngày 22/11/2021 Ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ HS cụ thể là:
Các nguồn huy động được từ xã hội cần phải sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả. Cần công khai kết quả huy động. Việc sử dụng, hiệu quả của nguồn lực để có sự tin tưởng và khích lệ các đóng góp, công trạng của các địa phương, tổ chức kinh tế xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các dòng họ gia đình và cá nhân vào sự nghiệp Giáo dục của huyện.
Ngành Giáo dục và Tài chính từ tỉnh đến huyện phải kiểm tra giám sát việc thu chi nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nguồn lực tài chính từ huy động cộng đồng vào việc nâng cao chất lượng và xây dựng ở mỗi trường.
3.2.7. Điều chỉnh kế hoạch, nội dung, chương trình dạy học 2 buổi/ngày theo đặc điểm vùng khó khăn và hướng dẫn các trường thực hiện đúng.
3.2.7.1 Mục tiêu của biện pháp
Điều chỉnh kế hoạch dạy học, nội dung, chương trình dạy học cho phù hợp với đối tượng HS và đặc điểm vùng khó khăn.
3.2.7.2 Nội dung đề xuất Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Thực hiện dạy – học hai buổi trên ngày luôn là một thách thức đối với Giáo dục tiểu học nói chung và Giáo dục vùng khó nói riêng. Do đặc điểm kinh tế – xã hội và văn hoá các vùng, miền có sự khác biệt, do vậy ngay một lúc không thể thực hiện được dạy – học hai buổi trên ngày trên tất cả các vùng miền mà phải tiến hành từng bước, vừa thực hiện vừa rút kinh nghiệm với các phương án khác nhau. Chính vì vậy công tác chỉ đạo thực hiện của Sở, phòng cũng cần hướng dẫn theo hướng mở, linh hoạt cụ thể như sau:
- Phương án tổ chức dạy – học 2 buổi/ngày
Có 3 phương án tổ chức dạy học hai buổi /ngày: Phương án 30 tiết /tuần (có 2 ngày học 2 buổi/ngày, 3 ngày học 1 buổi/ngày); phương án 33 tiết /tuần (có 3 ngày học 2 buổi/ngày, 2 ngày học 1 buổi/ngày); phương án 35 tiết/ tuần (có 4-5 ngày học 2 buổi/ngày, 0- 1 ngày học một buổi /ngày).
Đối với các vùng khó khăn chưa thể triển khai học 2 buổi/ngày được ở tất cả các ngày trong tuần căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của mình, các trường có thể lựa chọn một trong ba phương án để tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày.
Phương án 1: Tổ chức một đến hai khối lớp hoặc cả trường dạy học từ 7-10 buổi/tuần, không tổ chức bán trú.
Phương án 2: Tổ chức một khối lớp dạy học từ 7 đến 10 buổi/tuần có tổ chức bán trú. Các năm học tiếp theo sẽ chuyển dần các khối lớp khác.
Phương án 3: Tổ chức 100% các lớp dạy học 2 buổi/ ngày học từ 7-10 buổi/tuần có tổ chức bán trú.
- Kế hoạch dạy học:
Phương án mô hình T 30
- Nội dung: Thời lượng 30 tiết/tuần, trong đó có 2 ngày học cả ngày ở trường mỗi tuần.
- Thời lượng:Lớp 1: Tăng thêm 8 tiết/ tuần; Lớp 2, 3: Tăng thêm 7 tiết/ tuần; Lớp 4, 5: Tăng thêm 5 tiết/ tuần
- Phù hợp với vùng khó khăn:
- Có thể tổ chức ăn, nghỉ trưa 2 buổi/tuần
- Phòng học: 0,8 phòng học/lớp, có khu vệ
- GV: đạt tỷ lệ 1,3 GV/ lớp
Thời khóa biểu đề xuất cho một lớp:
Thời gian tăng thêm dùng để củng cố kiến thức môn Tiếng Việt, Toán hoặc Tiếng dân tộc. Các trường theo mô hình T 30 sẽ thực hiện dạy học 2 buổi/ngày vào 2 ngày trong tuần và tiếp tục thực hiện mô hình nửa ngày như thường lệ vào 3 ngày còn lại trong tuần. Mỗi trường tự sắp xếp thời khóa biểu, bố trí ngày học trong tuần cho các khối lớp và lựa chọn 2 ngày bổ sung cho ca học buổi chiều phù hợp với điều kiện thực tế. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Phương án mô hình FDS T 33
- Nội dung: Thời lượng 33 tiết/tuần, trong đó có 3 ngày học cả ngày ở trường mỗi tuần.
- Thời lượng:Lớp 1: Tăng thêm 11 tiết/ tuần; Lớp 2, 3: Tăng thêm 10 tiết/tuần; Lớp 4, 5: Tăng thêm 8 tiết/tuần
- Chuyển tiếp để thực hiện T35:
- Có thể tổ chức ăn, nghỉ trưa 3 buổi/tuần
- Phòng học: 0,8 phòng học/lớp
- GV: 1,3 GV/ lớp
- Phòng học năng, phòng chức năng, nhà vệ
- Thời khóa biểu đề xuất:
Phương án mô hình T 35 (mô hình các trường tực hiện sau năm 2028)
- Nội dung: Thời lượng 35 tiết/tuần, trong đó có 5 ngày học cả ngày ở trường mỗi tuần.
- Thời lượng:Lớp 1: Tăng thêm 13 tiết/ tuần; Lớp 2, 3: Tăng thêm 12 tiết / tuần; Lớp 4, 5: Tăng thêm 10 tiết / tuần.
- Có thể tổ chức ăn, nghỉ trưa 5 buổi/ tuần
- Phòng học: 1,0 phòng học / lớp
- GV: 1, 5 GV/ lớp
- Phòng học đa năng, phòng chức năng, nhà vệ
Mô hình T35 mở rộng số tiết mỗi tuần lên 35 tiết (các môn tự chọn là Ngoại ngữ, Tin học và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp). Theo mô hình T35, nhà trường thực hiện dạy học 2 buổi/cho cả 5 ngày trong tuần. Nhà trường tự chọn thời khóa biểu và tự điều chỉnh. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Đa dạng hóa nội dung dạy học.
Đối với các trường vùng khó khăn nhân thức của học sinh còn nhiều hạn chế, mỗi đơn vị có những khó khăn đăc thù do vây nội dung dạy học 2 buổi/ngày cần mở, linh hoạt như: Thực hiện chương trình, kế hoạch Giáo dục chung (tối thiểu): Dạy học đáp ứng yêu cầu về thái độ, kiến thức, kĩ năng theo quy định của chương trình (gọi tắt là nội dung 1). Tổ chức các hoạt động nhằm củng cố kiến thức, bồi dưỡng năng khiếu cá nhân, học môn tự chọn theo sở thích và năng lực của HS (gọi tắt là nội dung 2).
Căn cứ vào định hướng trên, giao quyền chủ động cho Hiêu trưởng có thể lựa chọn các nô .i dung dạy học thoải mái, không bị gò bó nhưng đáp ứng nhu cầu và năng lực nhân thức của HS. Đối với vùng khó khăn tập trung củng cố kiến thức, kỹ năng môn Tiếng Việt, môn Toán để HS đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học bằng việc tăng thời lượng học tập cho môn Tiếng Việt và Toán.
Tổ chức các hoạt động trải nghiêm sáng tạo nhằm góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện, đồng thời hỗ trợ củng cố kiến thức, kỹ năng môn Tiếng Việt và môn Toán cho HS, đồng thời hình thành phẩm chất và phát triển năng lực, tạo đô .ng lực HS thích đi học, thích lớp học thầy cô, bạn bè…
- Nâng cao khả năng nghe nói Tiếng Việt cho HS dân tộc thông qua các hoạt động giáo dục.
Nội dung dạy học các tiết tăng cường tập trung vào việc thực hành các kiến thức đã học và tổ chức cho HS tham gia các hoạt động thực tế ở địa phương; giúp HS yếu kém vươn lên hoàn thành yêu cầu học tập, bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Toán, Tiếng Việt, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục; dạy học các môn và nội dung tự chọn được quy định trong chương trình, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và Giáo dục kĩ năng sống.
- Đổi mới hình thức tổ chức dạy học
Định hướng chung là phân phối nội dung học tập phù hợp với mỗi đối tượng trong cả ngày. Trước mắt ở hầu hết các lớp, nội dung 1 được dạy chủ yếu trong 1 buổi, nội dung 2 được bố trí trong buổi còn lại, nhưng cũng có thể bố trí linh hoạt thời gian cho 2 nội dung này tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế về GV, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trình độ HS.
Tổ chức dạy học 2 buổi/ngày không phải là học thêm, làm thêm bài tập Toán, tiếng Việt mà là tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện, đảm bảo cho HS đạt được các yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng, phát triển năng khiếu phù hợp với nhu cầu và khả năng. Việc phụ đao hay bồi dưỡng về Toán, tiếng Việt chỉ dành cho những đối tượng cần thiết hoặc có khả năng và nhu cầu.
Tổ chức theo hướng các hoạt động giáo dục phù hợp đối tượng, có thể chia HS theo các nhóm hoạt động trên cơ sở phù hợp khả năng và nhu cầu, có thể là: Nhóm củng cố kiến thức; Nhóm bồi dưỡng năng khiếu, sở thích với các hoạt động như: Hứng dụng kiến thức toán vào thực tế, bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp, đọc diễn cảm, đọc thơ, thi kể chuyện, thi hùng biện, viết chữ đẹp, câu lạc bộ..; Nhóm phát triển thể chất với các hoạt động như: võ, cờ vua, cầu lông, thể dục nhịp điệu…; Nhóm phát triển nghệ thuật với các hoạt động về nhạc dân tộc, đàn oocgan, múa, khiêu vũ, vẽ, nặn, trang trí…; Nhóm hoạt động xã hội với các hoạt động về tìm hiểu tự nhiên, xã hội, lịch sử, địa lí, văn hoá truyền thống…
Việc tăng thời lượng dạy học cần được thực hiện theo tinh thần tổ chức các hoạt động giáo dục nhẹ nhàng, vui vẻ, phát huy tính tích cực chủ động của HS, bồi dưỡng kĩ năng hợp tác trong công việc và hướng tới phát triển năng lực cá nhân.
- Chủ đông điều chỉnh kế hoạch thời gian Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Căn cứ vào yêu cầu Giáo dục và điều kiện thực tiễn của nhà trường, điều kiện văn hóa xã hội và tập quán sinh hoạt của địa phương xây dựng kế hoạch thời gian, nội dung Giáo dục là một chỉnh thể cho từng ngày, tuần, tháng và năm học. Các nội dung dạy – học, hoạt động giáo dục được thiết kế và phân phối hợp lý nhằm đạt mục tiêu Giáo dục, tránh quan niệm buổi 1 dành cho chương trình chính, buổi 2 chỉ dành cho ôn tập, rèn luyện.
Thực hiện phân phối hợp lý, linh hoạt thời lượng dạy và học các môn Tiếng Việt, Toán và các hoạt động giáo dục khác. Đối với những trường vùng núi, khó khăn, chất lượng 2 môn Toán và Tiếng Việt còn thấp thì tăng thêm thời gian hướng dẫn tự học các môn này cho HS.
- g) Đổi mới hình thức tổ chức bán trú
Tổ chức bán trú là điều kiện để tổ chức học cả ngày có chất lượng, hiệu quả. Tuy nhiên đây là nhiệm vụ khó khăn vì nhà nước chưa đủ nguồn lực để lo bữa ăn trưa cho HS, trong khi đa số phụ huynh HS khả năng kinh tế có hạn, nhà nước chưa có cơ chế chính sách thu chi rõ ràng. Hiện tại Bộ Giáo dục&ĐT khuyến khích tổ chức bán trú cho HS.
Ở những vùng dân tộc, miền núi cần nhân rộng mô hình trường bán trú, với sự đầu tư từ ngân sách, sự đóng góp của gia đình và sự hỗ trợ từ các nguồn lực khác. Đối với đối tượng HS khó khăn ở miền núi, HS dân tộc thiểu số, nhà nước chưa hỗ trợ miễn phí bữa ăn trưa cho HS, cha mẹ HS có thể đóng góp công sức, hỗ trợ công tác chăm sóc, quản lí. Hoặc có thể vận dụng các chế độ chính sách của HS như hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ gạo để tổ chức bán trú cho HS.
Tổ chức ăn trưa với các hình thức linh hoạt, phong phú: HS đem thức ăn từ nhà đến trường; Nhà trường tổ chức nấu ăn tại trường hoặc huy động sự tham gia của các gia đình phụ huynh HS ở gần trường nấu ăn cho HS; Hợp đồng với các cơ sở cung cấp xuất ăn cho HS. Đặc biệt quan tâm đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm vì sức khoẻ HS.
Quản lí HS buổi trưa có thể chọn 1 trong 2 phương án: Cho HS ngủ trưa, tại phòng ngủ hoặc lớp học. Cho HS hoạt động nhẹ nhàng vào buổi trưa: đọc sách, xem phim, làm thủ công, vẽ, nặn…tại thư viện, phòng đa chức năng, phòng Giáo dục nghệ thuật… Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
3.2.7.3 Cách thức thực hiện
Sở Giáo dục&ĐT hướng dẫn cụ thể hóa bằng văn bản cách thức tổ chức thực hiện đối với các trường. Giao quyền chủ động cho Hiệu trưởng thực hiện các công việc cụ thể như sau:
Căn cứ vào điều kiện thực tế các trường lựa chọn các phương án triển khai phù hợp. Xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và HS. Thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường, xây dựng đội ngũ GV có đủ về số lượng, năng lực và phẩm chất đạo đức để tổ chức tốt các hoạt động giáo dục góp phần nâng cao chất lượng dạy học giảm tỉ lệ HS lưu ban, bỏ học.
Hiệu trưởng căn cứ vào kế hoạch Giáo dục và chương trình các môn học xây dựng thời khóa biểu phù hợp với đặc điểm của nhà trường và địa phương. Khi bố trí thời khóa biểu phải đảm bảo công bằng về định mức lao động được quy định tại Thông tư số 28/2019/TT-BGDĐT ngày 21/10/2019 của Bộ Giáo dục&ĐT về việc Ban hành Quy định về chế độ làm việc đối với GV phổ thông.
Xây dựng chương trình học tập phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương. Lựa chọn nội dung học tập phù hợp với yêu cầu của người học; Xây dựng thời khóa biểu mở, linh hoạt.
Phối hợp chỉ đạo giữa Hiệu trưởng với Phó hiệu trưởng trong quá trình chỉ đạo thực hiện các biện pháp quản lý. Gắn trách nhiệm cá nhân với mức độ hoàn thành nhiệm vụ và các công việc được giao phụ trách.
Giao quyền chủ động cho GV trong việc thực hiện chương trình, nội dung và kế hoạch dạy học. GV căn cứ vào thời khóa biểu của nhà trường, chủ động xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với lớp mình phụ trách. Sau khi xây dựng xong kế hoạch của lớp, GV cần phải trình kế hoạch với tổ chuyên môn và Ban giám hiệu xem xét, phê duyệt. Sau khi được phê duyệt GV thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch này.
Chỉ đạo các trường chủ động xây dựng các điều kiện và bố trí thời gian, nội dung dạy học hợp lý phù hợp với điều kiện và đặc điểm của trường mình. Tổ chức thực hiện nội dung chương trình theo kế hoạch;
Huy động các nguồn kinh phí khác nhau để hỗ trợ HS có hoàn cảnh khó khăn tham gia học tập 2 buổi/ngày, đặc biệt quan tâm hỗ trợ bữa ăn trưa cho HS.
Phòng Giáo dục&ĐT tổ chức kiểm tra, giám chặt chẽ các điều kiện và kế hoạch dạy học của các nhà trường nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Tổng hợp báo cáo định kỳ nửa năm, hàng năm; đề xuất kiến nghị cho Sở Giáo dục&ĐT để tổng hợp báo cáo gửi Sở Giáo dục&ĐT theo quy định. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
3.2.7.4 Điều kiện thực hiện
Sở Giáo dục&ĐT cần có hướng dẫn việc lựa chọn các chương trình, nội dung dạy học 2 buổi/ngày đối với vùng khó khăn thống nhất chỉ đạo từ Sở đến các nhà trường.
Phòng Giáo dục&ĐT phải tổ chức thẩm định, phê duyệt kế hoạch, chương trình của các trường, tư vấn hỗ trợ và giúp đỡ các trường trong quá trình thực hiện.
Hiệu trưởng phải hiểu chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động để quyết định lựa chọn chương trình cho phù hợp. Đồng thời phải có tâm huyết, nhiệt tình và đặc biệt phải có năng lực để tổ chức và quản lý việc dạy học 2 buổi/ngày. Được tập huấn bồi dưỡng về quản lí các hoạt động trong trường tiểu học, quản lí nhà nước về Giáo dục&ĐT.
CBQL, GV có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện dạy học 2 buổi/ngày. GV nhà trường phải có ý thức, chủ động trong việc xây dựng kế hoạch giảng dạy và đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Để thực hiện biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình cần phải tiến hành đồng thời nhiều biện pháp. Trong khuôn khổ của luận văn này chỉ nêu 7 biện pháp cơ bản nhất. Các biện pháp đã đề xuất ở trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Muốn trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình phát triển tốt cần thực hiện đồng bộ các biện pháp trên. Các biện pháp có mỗi quan hệ hữu cơ theo hướng thúc đẩy lẫn nhau, làm tiền đề, điệu kiện cho nhau trong quá trình xây dựng phát triển. Ví dụ: muốn “Huy động sự tham gia của các lực lượng xã hội trong việc thực hiện dạy học 2 buổi/ngày” (BP 6) cần phải “tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy học 2 buổi/ngày cho hệ thống chính trị – xã hội” (BP1). Nếu không thực hiện tốt biện pháp “Hoàn thiện quy hoạch phát triển các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của Tỉnh Hòa Bình.” (BP2), khó có thể thực hiện được biện pháp “ Xây dựng qui trình, các bước lập đề án và các tiêu chí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn phù hợp với nhiệm vụ phát triển sự nghiệp Giáo dục của tỉnh Hòa Bình.” (BP3).
Trong thực tế thực hiện các biện pháp trên, việc lựa chọn các biện pháp để ưu tiên thực hiện có tính lịch sử và thực tiễn của nó. Điều này chỉ đúng khi có những diễn biến bất thường xảy ra. Khi sự phát triển đã đi vào ổn định thì thứ tự ưu tiên và trình tự thực thi các biện pháp cũng sẽ ổn định theo. Do đó về lâu dài để các biện pháp thực hiện có hiệu quả, phát huy tốt nhất mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau cần có một chiến lược chung, ổn định được sử dụng hợp lý với những điều kiện cân đối cụ thể cho việc thực hiện. Mối quan hệ thống nhất này phải được quán triệt một cách rõ nét để khi áp dụng các biện pháp cần cân nhắc tính toán sao cho phù hợp với các đối tượng được áp dụng, nhằm phát huy được hết mặt tốt, hạn chế những mặt yếu kém và tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau làm nên sức mạnh tổng hợp của các biện pháp.
Các biện pháp trong chừng mực nào đó, cũng tạo sự kìm hãm, hạn chế lẫn nhau. Chẳng hạn: huy động tốt sự tham gia hỗ trợ của cộng đồng đầu tư bổ sung cơ sở vật chất thiết bị dạy học đảm bảo các điều kiện cho trường dạy học 2 buổi/ngày sẽ giảm sự đầu tư từ ngân sách nhà nước,…Nhận thức được mối quan hệ tiêu cực đó, khi thực hiện các biện pháp chúng ta cần lưu ý đến thời điểm, mức độ nhấn mạnh của từng biện pháp để phát huy tính cộng hưởng, hỗ trợ lẫn nhau và giảm thiểu các tác động tiêu cực.
Các nội dung của các biện pháp có quan hệ biện chứng, đan xen nhau. Vì vậy, khi tổ chức thực hiện cần triển khai, tiến hành một cách đồng bộ và nhất quán thì mới có thể đem lại hiệu quả cao. Bởi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nên khi thay đổi các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình để tạo ra hướng phát triển mới cần thay đổi đồng bộ các biện pháp trên.
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Hệ thống các biện pháp liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau. Do tính chất của các biện pháp khác nhau, có biện pháp liên quan đến các cán bộ quản lý, GV, cộng đồng, HS. Để kiểm chứng mức độ cần thiết và tính khả thi của hệ thống các biện pháp, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến với cán bộ quản lý và GV. Các số liệu sau khi thu được đều được xử lý và phân tích tổng hợp kết quả đánh giá của mỗi biện pháp về mức độ cần thiết và tính khả thi của mỗi biện pháp cho phép đánh giá biện pháp nào cần thiết và có thể áp dụng vào thực tiễn.
3.4.1 Mục đích của khảo nghiệm
Tuy chưa được triển khai sâu rộng trong thực tiễn nhưng thông qua ý kiến đánh giá của các chuyên gia, chúng ta cũng có thể khẳng định về mặt nhận thức mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.
3.4.2 Điều kiện thực hiện
- Khảo nghiệm phải đảm bảo tính khách quan
- Khảo nghiệm phải đảm bảo tính phù hợp: giữa biện pháp với đặc điểm của trường tiểu học.
3.4.3 Quy trình khảo nghiệm
- Bước 1: Xây dựng phiếu xin ý kiến chuyên gia (thể hiện trong phụ lục)
- Bước 2: Lựa chọn chuyên gia
Chúng tôi tiến hành xin ý kiến bằng phiếu hỏi với 75 chuyên gia, cốt cán của ngành Giáo dục&ĐT gồm các cán bộ quản lý Giáo dục&ĐT các cấp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, cụ thể: Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Thành phần: Lãnh đạo Sở Giáo dục&ĐT (05 người); Cán bộ, Chuyên viên Sở Giáo dục&ĐT (10 người); Cán bộ, Chuyên viên phòng Giáo dục&ĐT (30 người); cán bộ quản lý (30 người).
- Trình độ đào tạo: Thạc sỹ (6 người) Đại học Quản lý Giáo dục (4 người); Đại học Sư phạm tiểu học (65 người).
- Thời gian công tác trong ngành trung bình là 12 năm: Thời gian công tác nhiều nhất là 33 năm; Thời gian công tác ít nhất là 14 năm.
Đây là đội ngũ có nhiều năm gắn bó, quản lý, chỉ đạo tại các cơ quan quản lý Giáo dục, trực tiếp quản lý nhà trường, quản lý đội ngũ GV tại các cơ sở Giáo dục tiểu học, do đó các ý kiến đánh giá về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn nêu ra trong luận văn có tính tuyết phục và tham khảo khá cao.
Bước 3: Lấy ý kiến chuyên gia và xử lý kết quả nghiên cứu một cách độc lập theo mẫu phiếu đánh giá gồm 2 khía cạnh:
- Đánh giá về tính cần thiết của các biện pháp đề xuất ở 4 mức độ: Rất cần thiết; Cần thiết; ít cần thiết, Không cần thiết.
- Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp đề xuất ở 4 mức độ: Rất khả thi; Khả thi; Ít khả thi, Không khả thi.
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm.
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình
- Kết quả thu được ở bảng 3.1 cho thấy:
Tất cả các biện pháp đề xuất đều được đa số đánh giá là rất cần thiết ở mức độ cao. Biện pháp được đánh giá ở mức độ cần thiết thấp nhất là 78,7%, cao nhất là 97,36%. Điều đó cho thấy, về mặt nhận thức những người được hỏi ý kiến đều thấy cần thực hiện tốt các biện pháp này để phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn. Đồng thời nếu thực hiện tốt các biện pháp này thì chắc chắn công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình sẽ đạt hiệu quả tốt. Đặc biệt là biện pháp 5 “Tăng cường đầu tư, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường tiểu học” chiếm 97,3% ý kiến cho rằng “rất cần thiết”. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đầu tư bổ sung cơ sở vật chất các trường vùng khó khăn đảm bảo các điều kiện và tiêu chí tối thiểu để các trường tiểu học vùng khó khăn chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày rất quan trọng, cần sự chỉ đạo thống nhất và tham gia quyết liệt của các lực lượng xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng các biện pháp trên chỉ ở mức độ ít cần thiết như: “Huy động sự tham gia của các lực lượng xã hội trong việc thực hiện dạy học 2 buổi/ngày” đạt 10,7%. Theo lí giải của các cán bộ quản lý, GV này thì đây là những biện pháp mang tính phối hợp với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường, có nhiều cấp, ngành và nhiều đối tượng có liên quan khi thực hiện cần có thời gian, nội dung và cách thực hiện ….Thực tế cho thấy, các vùng khó khăn điều kiện kinh tế – xã hội còn kém phát triển, phần lớn là người dân tộc: trình độ dân trí còn thấp, thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống người dân nghèo. Vì vậy, công tác huy động sự tham gia của người dân vào việc phát triển Giáo dục nói chung và thực hiện dạy học 2 buổi/ngày còn hạn chế nhất định.
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Kết quả thu được ở bảng 3.2 cho thấy:
Các biện pháp đều được cán bộ quản lý tán thành với tỉ lệ rất cao nhưng mức độ tính khả thi giữa các biện pháp có khác nhau., trong đó các biện pháp thứ 1,2 và 7 có tỉ lệ là 100% đánh giá mức độ rất khả thi và khả thi, các biện pháp còn lại cũng chiếm tỉ lệ từ 80% trở lên.
Bốn biện pháp được đánh giá có tính khả thi cao hơn là: Tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy học 2 buổi/ngày cho hệ thống chính trị – xã hội; Hoàn thiện quy hoạch phát triển các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của Tỉnh Hòa Bình; Xây dựng qui trình, các bước lập đề án và các tiêu chí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn phù hợp với nhiệm vụ phát triển sự nghiệp Giáo dục của tỉnh Hòa Bình; Điều chỉnh kế hoạch, nội dung, chương trình dạy học 2 buổi/ngày theo đặc điểm vùng miền. đây là những biện pháp cần thiết và khả thi hàng đầu vì nó nằm trong tầm quản lí trong ngành Giáo dục. Bên cạnh đó các biện pháp này nhằm ổn định về số lượng, đi sâu vào việc nâng cao chất lượng, xây dựng cơ chế, chính sách tác động để đảm bảo phát triển số lượng, chất lượng trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn được bền vững.
Ba biện pháp còn lại được đánh giá có tính khả thi ở mức thấp hơn. Điều này cũng hợp lý vì các biện pháp đòi hỏi có sự tham gia vào cuộc của các cấp ủy, chính quyền và đông đảo các lực lượng trong xã hội, sự phối hợp hiệu quả giữa các ngành và vai trò của cá nhân trong các trường tiểu học.
Bảng kết quả trên cũng cho thấy vẫn còn có ý kiến cho rằng các biện pháp trên là ít khả thi và không khả thi đó là biện pháp: Đảm bảo số lượng, chất lượng đội ngũ GV tiểu học; Tăng cường đầu tư, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường tiểu học. Tuy nhiên, điều đó cũng hợp lý với bởi các đối tượng tham gia đánh giá làm việc ở các lĩnh vực và cấp bậc khác nhau (lãnh đạo Sở, cán bộ phòng Giáo dục&ĐT, cán bộ quản lý nhà trường,…), không phải ai cũng hiểu các biện pháp trên phải thực hiện đồng bộ và theo quy trình trong một thời gian nhất định mới đem lại hiệu quả. Mặt khác thực tế hiện nay việc giao cơ chế tự chủ tài chính và con người đối với ngành Giáo dục&ĐT và các nhà trường vẫn còn những bất cập nhất định; Hoạt động quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của Sở Giáo dục&ĐT bên cạnh những yếu tố chủ quan thì cũng có nhiều yếu tố khách quan tác động vào trong quá trình nhận thức, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá các hoạt động của nhà trường, điều này không phải chỉ tồn tại ở các trường TH vùng khó khăn mà đó là điểm chung của các trường hiện nay.
Tuy có sự chênh lệch nhưng đa số đánh giá các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình đã đề xuất đều có tính khả thi vì đều trên 80% ý kiến cho rằng “rất khả thi và khả thi”.
Kết quả trên phù hợp với thực tế phát triển của ngành Giáo dục&ĐT tỉnh Hoà Bình cũng như thực tế về công tác quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn hiện nay.
Qua phiếu hỏi ý kiến kiểm chứng tính cần thiết và khả thi về các biện pháp của 75 chuyên gia, cốt cán của ngành gồm cán bộ quản lý Giáo dục trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cho chúng ta thấy dù đang đứng ở các vị trí khác nhau trong công tác quản lý, chỉ đạo của ngành Giáo dục&ĐT Hoà Bình song các cán bộ quản lý của ngành đều nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình, cũng như tính cần thiết và tính khả thi của của một số biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình. Kết quả khảo nghiệm trên chứng minh tính cần thiết và khả năng thực hiện của một số biện pháp mà chúng tôi đã nghiên cứu, đề xuất trong thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Kết luận chương 3
Trên cơ sở lí luận đã được phân tích và qua khảo sát thực trạng các trường tiểu học vùng khó khăn, tác giả đã đề xuất 7 biện pháp để quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục của các nhà trường và đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Qua kết quả khảo nghiệm, chúng ta thấy các biện pháp đề xuất đều nhận được sự đồng thuận cao của đội ngũ cán bộ quản lý (đa số các biện pháp đều nhận được 100% ý kiến đánh giá là cần thiết và khả thi, nội dung trả lời “không cần thiết và không khả thi” vẫn còn nhưng số lượng không nhiều). Việc áp dụng và triển khai các biện pháp quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình như đã nêu trên có ý nghĩa quan trọng và cần thiết trong việc mở rộng qui mô trường lớp dạy học 2 buổi/ngày từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ nghiên cứu về lý luận cũng như phân tích thực trạng, đề xuất các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình, luận văn cơ bản đã hoàn thành được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Xây dựng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình là nhiệm vụ trọng tâm trong sự tồn tại, phát triển và nâng cao chất lượng Giáo dục&ĐT của cấp tiểu học nói chung các và nhà trường vùng khó khăn trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn đã khái quát các vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến việc quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình, khảo sát và đánh giá thực trạng về công tác quản lí của Sở Giáo dục&ĐT, đồng thời nêu lên những thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu của công tác quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình. Những biện pháp mà các cấp quản lí, các nhà trường đã thực hiện trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả nhất định góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng Giáo dục của các nhà trường. Tuy nhiên, so với yêu cầu trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng Giáo dục của các trường TH cũng như công cuộc đổi mới Giáo dục hiện nay thì công tác quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình còn bất cập cần khắc phục như công tác qui hoạch, lập đề án phát triển trường dạy học 2 buổi/ngày, xây dựng chế độ chính sách riêng của địa phương để tác động hỗ trợ vùng khó chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày; công tác tuyên truyền và huy động cộng đồng tham gia các hoạt động giáo dục trên địa bàn.
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất 7 biện pháp cụ thể để quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hoà Bình. Các biện pháp đề xuất tác động vào tất cả các chủ thể và các khâu của quá trình quản lí từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo đến kiểm tra đánh giá; tác động vào tất cả các thành tố của quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn như qui hoạch, lập đề án, đảm bảo điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, chế độ chính sách tạo môi trường thuận lợi cho công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày…
Mỗi biện pháp đề xuất đều có mục tiêu, nhiệm vụ và cách thực hiện khác nhau nhưng nhìn chung chúng có mối liên hệ gắn bó, tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau. Vì vậy, các biện pháp đó phải được thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất thì mới đạt kết quả cao, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng Giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, để các biện pháp nêu trên có hiệu quả cần có sự quan tâm, chỉ đạo đồng bộ, thống nhất của các cấp và sự phối kết hợp của các ban ngành, nhưng quan trọng nhất là sự đoàn kết, nhất trí và sự nỗ lực phấn đấu nhất CBQL, GV trong ngành Giáo dục.
Qua kiểm chứng, cả 7 biện pháp đề xuất đều được cán bộ quản lý có kinh nghiệm đánh giá là rất cần thiết và có tính khả thi. Nếu tổ chức thực hiện tốt và đồng bộ các biện pháp này thì sẽ giúp nâng cao chất lượng Giáo dục của các nhà trường nói chung và đội ngũ GV nói riêng. Kết quả khảo nghiệm của luận văn một lần nữa cho thấy tính ưu việt cũng như sự cần thiết của việc quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn trong bối cảnh Giáo dục tiểu học nước ta hiện nay và kết quả khảo nghiệm đã khẳng định sự đúng đắn trong việc đề xuất các biện pháp của luận văn.
2. Khuyến nghị
2.1 Đối với Bộ Giáo dục&ĐT
Cần sớm tham mưu với chính phủ để có một chính sách tổng thể nhằm đảm bảo các nguồn lực cho việc tổ chức dạy học hai buổi/ ngày ở tiểu học. Chỉ với một kế hoạch có tầm chiến lược của Chính phủ mới có khả năng đáp ứng hàng loạt các yếu tố mà việc tổ chức dạy học hai buổi/ ngày đặt ra: cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; đào tạo, bồi dưỡng GV, cán bộ quản lý…
Cần triển khai xây dựng chương trình dành cho dạy học hai buổi/ ngày: thể hiện đầy đủ các chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ (chuẩn năng lực) nhằm thực hiện mục tiêu Giáo dục toàn diện ở tiểu học. Cấu trúc thời lượng của chương trình bảo đảm đủ thời gian thực hiện các yêu cầu của chương trình, không gây tình trạng dồn ép về nội dung, dẫn đến tình trạng quá tải. Trên cơ sở chương trình Giáo dục, cần tổ chức biên soạn bộ sách giáo khoa, tài liệu dạy học phù hợp với sự đa dạng vùng miền, điều kiện học tập và trình độ HS.
Ra soát các chế độ, chính sách, thay thế các qui định không còn phù hợp với tình hình phát triển của xã hội hiện nay. Ban hành các chính sách mới phù hợp với thực tế hoạt động của các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày: tỷ lệ GV/lớp đối với trường dạy học 2 buổi/ngày cần 1.6 đến 1.7 GV/lớp mới hợp lý, và mới có thể đủ điều kiện cho các nhà trường hoạt động; định biên, luân chuyển công tác, thi đua khen thưởng…Khi ban hành các chính sách hỗ trợ cho các trường vùng khó cần đảm bảo đồng bộ, theo kịp sự phát triển của đất nước.
2.2 Đối với Sở Giáo dục&ĐT tỉnh Hòa Bình
Cần đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền trong ngành Giáo dục, các cấp chính quyền và phụ huynh HS về tầm quan trọng của việc tổ chức dạy học hai buổi/ ngày đối với chất lượng Giáo dục tiểu học. Từ đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của xã hội nhằm tăng nhanh số lượng trường lớp, HS được học hai buổi/ ngày, đặc biệt là ở vùng khó khăn.
Hoàn thiện và trình UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, bán trú tại các trường tiểu học trên địa bàn. Đồng thời triển khai áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu chí trong công tác qui hoạch và lập đề án phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Chỉ đạo các phòng Giáo dục&ĐT huyện, thành phố làm tốt công tác quy hoạch, phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn gắn liền với quy hoạch, quy mô Giáo dục – ĐT toàn ngành.
Cần phối kết hợp với các sở, ban ngành địa phương, xây dựng cơ chế, chính sách riêng của địa phương, tạo điệu kiện tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt hơn để nâng cao chất lượng Giáo dục.
Sở Giáo dục&ĐT cần tổng kết, đánh giá các hoạt động trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày nói chung và vùng khó khăn nói riêng để ghi nhận và nhân rộng các cách làm hay, hiệu quả sáng tạo của các địa phương, đồng thời điều chỉnh những vấn đề tồn tại trong công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày .
Chỉ đạo các phòng chuyên môn Sở Giáo dục&ĐT, phòng Giáo dục&ĐT cùng các trường rà soát, đánh giá phân loại công tác quản lí qui hoạch phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày. Trong công tác qui hoạch cần tính toán kĩ lượng các yếu tố về đội ngũ, cơ sở vật chất tránh hình thức chay theo số lượng mà quên các điều kiện cần và đủ cho các trường tiểu học vùng khó khăn chuyển đổi dạy học 2 buổi/ngày. Xem xét để triển khai các kết quả nghiên cứu của luận văn vào thực tiễn
2.3 Đối với các phòng Giáo dục&ĐT
Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở trong việc xây dựng và phát triển sự nghiệp Giáo dục; quy hoạch xây dựng và phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày trong toàn huyện, đặc biệt quan tâm phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn, phấn đấu đến 2028 tất cả các trường học trong huyện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.
Nghiên cứu, triển khai và phổ biến cụ thể hóa các văn bản có liên quan đến các hoạt động của ngành, của trường đúng đủ và kịp thời.
Xây dựng quy hoạch trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày trình UBND huyện phê duyệt và tham mưu cho UBND huyện xây dựng đề án phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn..
Hướng dẫn, tổ chức các hội nghị tập huấn cho cán bộ quản lý nhà trường về việc quy hoạch phát triển Giáo dục và quy hoạch phát triển trường. Kiểm tra đánh giá hiệu quả công tác qui hoạch, lập đề án.
Hàng năm tổ chức tham quan, học tập các mô hình, điển hình tiên tiến trong và ngoài tỉnh để giúp cán bộ quản lý có thêm nhiều kinh nghiệm thực tiễn.
Chú trọng đầu tư nguồn tài chính và cơ sở vật chất cho các nhà trường chuyển đổi từ dạy học 1 buổi/ngày sang dạy học 2 buổi/ngày. Tạo môi trường thuận lợi về vật chất và tinh thần giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, an tâm công tác lâu dài tại trường vùng khó.
Nghiên cứu, vận dụng các biện pháp đã đề xuất trong đề tài nhằm quản lí phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày đảm bảo số lượng, đáp ứng được nhiệm vụ nâng cao chất lượng Giáo dục các nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
2.4 Đối với các trường tiểu học vùng khó khăn:
Đối với các trường chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ ngày cần chủ động đánh giá điều kiện của nhà trường, phối hợp tuyên truyền với cha mẹ Học sinh, huy động cộng đồng để xây dựng đề án chuyển sang dạy học 2 buổi/ ngày.
Đối với các trường đã thực hiện cần tiếp tục hoàn thiện mô hình, động viên giáo viên trong học tập bồi dưỡng nâng cao năng lực để thực hiện có chất lượng việc dạy học 2 buổi/ ngày, tạo lòng tin trong nhân dân, làm cơ sở để nhân rộng mô hình ra các trường có điều kiện tương tự trong tỉnh. Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Phát triển trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

