Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Tình hình giáo dục Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

2.1.1. Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế – xã hội huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

  • BẢN ĐỒ HUYỆN TRẢNG BOM

Vị trí: Trảng Bom là một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, nằm về phía đông của Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km và cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 30 km. Đây là một huyện trung du, phía nam giáp huyện Long Thành, phía đông giáp huyện Thống Nhất, phía tây giáp thành phố Biên Hòa, phía bắc giáp huyện Vĩnh Cửu và hồ Trị An.

  • Tổng diện tích tự nhiên: là 14 km2, chiếm 5,54% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
  • Dân số năm 2022: 510 người, mật độ dân số 0,610 người/km2.
  • Huyện có 17 đơn vị hành chính: gồm 1 thị trấn là Trảng Bom và 16 xã: Hố Nai 3, Bắc Sơn, Bình Minh, Quảng Tiến, Sông Trầu, Cây Gáo, Thanh Bình, Bàu Hàm 1, Sông Thao, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Trung Hòa, Đông Hòa, Đồi 61, An Viễn và xã Giang Điền.

Các cơ quan chuyên môn: Phòng Nội Vụ – Lao động – Thương Binh – Xã hội; Phòng Tài chính – Kế hoạch; Phòng Giáo dục; Phòng Văn hoá – Thông tin – Thể thao; Phòng Y tế; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Tư pháp; Phòng Kinh tế; Phòng Hạ tầng kinh tế; Thanh tra huyện; Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; Phòng Tôn giáo, Dân tộc; Văn phòng HĐND và UBND.

  • Những lợi thế của Huyện Trảng Bom: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Về đất nông nghiệp là 26.445ha, chiếm 81,08% đất tự nhiên của huyện. Nông nghiệp vẫn là ngành chủ yếu, diện tích sản xuất nông nghiệp không ngừng tăng lên nhờ chú trọng mở rộng diện tích, khai hoang, phục hóa.

Ưu thế về đặc thù tự nhiên là nhân tố quan trọng trong định hướng phát triển các loại cây lâu năm, cây ngắn ngày và cây lương thực như: cao su, cà phê, tiêu; cây ăn quả, điều, chôm chôm, sầu riêng, ngô, mía, bông, các loại đổ và lúa nước.

Tài nguyên khoáng sản có Puzlan làm nguyên liệu phụ gia xi măng, trữ lượng 20 triệu tấn, một số mỏ đá quí, mỏ đá Bazan, than bùn, cuội sỏi làm nguyên liệu chế biến phân bón và vật liệu xây dựng.

Tiềm năng du lịch: thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, có lợi thế về điều kiện tự nhiên, môi trường, sự kết hợp hài hòa giữa rừng trồng và mặt nước ao hồ, thác ghềnh tự nhiên.

Trảng Bom có quốc lộ 1A chạy qua, nổi tiếng với khu du lịch sinh thái thác Giang Điền. Trảng Bom có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng Nai, với các khu công nghiệp như Hố Nai, Sông Mây, Bầu Xéo. Gần đây nhất, Chính phủ đã chấp thuận phê duyệt thành lập khu công nghiệp Giang Điền, cụm công nghiệp Thanh Bình,… Trảng Bom là một huyện phát triển của Đồng Nai kết hợp với các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, và thành phố Biên Hòa tạo thành khu trung tâm công nghiệp của tỉnh. Đây cũng là một huyện có nhiều người dân Công giáo của tỉnh Đồng Nai Hiện nay, hầu hết mọi vùng nông thôn của huyện đều có cơ sở vật chất: điện, đường, trường, trạm phát triển khá tốt và trình độ dân trí ngày một nâng cao. Giao thông đã được nhựa hóa các con đường nội bộ trong vùng. Trảng Bom là một trong những huyện có thu nhập bình quân đầu người vào loại cao nhất tỉnh khoảng 980 USD/năm.

Với vị trí kế cận thành phố Biên Hòa, cửa ngõ đi vào thành phố Hồ Chí Minh, Trảng Bom có nhiều dự án lớn đi qua địa bàn như đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, đường sắt cao tốc Bắc – Nam, đường Quốc lộ 1A tránh thành phố Biên Hòa.

Thị trấn Trảng Bom đang ngày cành trở nên xinh đẹp với các khu nhà phố, các khu quy hoạch đô thị lớn. Theo Đại hội đảng bộ huyện khẳng định đưa Trảng Bom trở thành Thị xã vào năm 2030. Theo đó từ nay đến năm 2030, Trảng Bom còn nhiều việc phải làm để đạt được mục tiêu trên. Vì hiện nay, cơ sở hạ tầng và nền tảng xã hội của huyện chưa phát triển đều và đồng bộ.

Trong tương lai xa Trảng Bom sẽ là một quận chuyên về công nghiệp khi thành phố Biên Hòa trở thành thành phố trực thuộc trung ương.

2.1.2. Tình hình giáo dục Trung học phổ thông tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Trảng Bom với vị trí địa lý, kinh tế, xã hội như trình bày ở trên đã làm giáo dục Trung học phổ thông tại huyện nhà phát triển, bên cạnh các trường Trung học phổ thông do nhà nước đầu tư, còn có sự tham gia xã hội hóa giáo dục của nguòi dân, nên mật độ trường Trung học phổ thông ở huyện Trảng Bom nhiều hơn so với các trường Trung học phổ thông ở các huyện khác. Cụ thể có trường THPT Thống Nhất A là trường điểm của huyện, Trung học phổ thông Ngô Sỹ Liên, Trung học phổ thông Bầu Hàm, Trung học phổ thông Dân Tộc Nội Trú Tỉnh, ngoài ra còn có các trường Trung học phổ thông tư thục khác như: THPT Trần Đại Nghĩa, Trung học phổ thông Trịnh Hoài Đức, THPT Trần Quốc Tuấn, THPT Văn Lang. Tất cả các trường này đều có cơ sở vật chất khá đầy đủ, xây dựng khá qui mô, kinh phí đầu tư lên tới nhiều tỉ đồng.

2.1.2.1. Quy mô trường, lớp, Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học

  • Quy mô trường, lớp.

Cấp Trung học phổ thông ở huyện Trảng Bom có 8 trường: Trung học phổ thông Thống Nhất A, Trung học phổ thông Nội Trú Dân Tộc Tỉnh, Trung học phổ thông Bàu Hàm, Trung học phổ thông Ngô sỹ Liên, Trung học phổ thông TT Trịnh Hoài Đức, Trung học phổ thông TT Trần Quốc Tuấn, Trung học phổ thông TT Trần Đại Nghĩa, Trung học phổ thông TT Văn Lang.

  • Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp và học sinh Trung học phổ thông huyện Trảng Bom từ năm học 2023 – 2024 đến năm học 2025 – 2026

Qua bảng số liệu ta nhận thấy, trong các năm học qua số lượng học sinh ra lớp ở các trường công lập tương đối ổn định, có một số trường tư thục số lượng học sinh ra lớp không được ổn định, tăng ở những năm đầu, giảm dần ở những năm sau. Lượng học sinh giảm dần ở các trường tư thục do chủ trương phân luồng của Bộ giáo dục, nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp lớp 9 đi vào học nghề do Đại học Lâm nghiệp 2, Cao đẳng nghề Vinatex, Trung cấp nghề cơ giới 3, Trung tâm giáo dục thường xuyên, đóng trên địa bàng huyện Trảng Bom mở ra; một số em khác đi làm ở các khu công nghiệp trong Huyện.

  • Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy

Hiện nay, các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trảng Bom đều xây dựng với nhiều tầng lầu có phòng học kiên cố, hầu hết các trường có phòng thí nghiệm thực hành, nhưng chỉ có 4 trường có phòng học bộ môn. Phòng thiết bị của các trường tư thục từ trước đến nay chưa được quan tâm đúng mức, phòng Thiết bị dạy học này gần giống như một nhà kho chứa tất cả các thiết bị, đồ dùng dạy học, tranh ảnh, …Các trường công lập sắp đặt bài bản khoa học hơn, nổi trội hơn có trường điểm của huyện Trung học phổ thông Thống Nhất A. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Nhìn chung cơ sở vật chất phục vụ dạy và học chưa đáp ứng được trước yêu cầu dạy và học hiện nay. Thậm chí trường Trung học phổ thông Bàu Hàm trước đây 2 năm dù chính thức thành lập trường nhưng phòng học còn chưa được trang bị đầy đủ để học sinh học tập, phải mượn phòng học của điểm trường THCS cách đó khoảng 2 km để thực hiện việc dạy và học cho học sinh. Điều này, gây không ít trở ngại cho việc quản lý giáo dục và giảng dạy cho học sinh trên lý thuyết chưa kể giảng dạy có sử dụng Thiết bị dạy học, tất yếu kéo theo công tác quản lý Thiết bị dạy học là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn.

2.1.2.2 Chất lượng giáo dục Trung học phổ thông

  • Bảng 2.2: Thống kê 2 mặt giáo dục của học sinh 8 trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Từ các số liệu trong bảng chúng ta thấy kết quả 2 mặt giáo dục học sinh các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom trong những năm thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới có chiều hướng tăng lên.

  • 2.1.2.3. Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý Thiết bị dạy học

Đội ngũ cán bộ quản lý công tác Thiết bị dạy học gồm có: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, cán bộ quản lý Thiết bị dạy học, giáo viên.

Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Thiết bị dạy học các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai được thống kê như sau:

  • Bảng 2.3: Thống kê đội ngũ quản lý công tác thiết bị dạy học của 8 trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, Đồng Nai có tư tưởng chính trị vững vàng, thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề, có trình độ chuyên môn vững vàng và có năng lực quản lý khá tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Tuy nhiên, phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý Thiết bị dạy học chưa qua trường lớp đào tạo nghiệp vụ quản lý Thiết bị dạy học, chỉ được tập huấn thông qua các đợt bồi dưỡng hàng năm của SGD&ĐT, thông tin về quản lý Thiết bị dạy học ít được cập nhật thường xuyên nên việc quản lý công tác Thiết bị dạy học chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới hiện nay trong công tác dạy và học có sử dụng Thiết bị dạy học. Đa số cán bộ quản lý giáo dục vẫn xem quản lý Thiết bị dạy học là nhiệm vụ quan trọng trên lý thuyết, chưa thấy được việc quản lý tốt Thiết bị dạy học sẽ góp phần quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải đi đôi với thực tế, không còn phương pháp học tập chỉ theo hướng tiếp thu lý thuyết kinh điển. Trong quản lý Thiết bị dạy học các trường hầu như chủ yếu dựa vào thông tư văn bản chỉ đạo của cấp trên, thiếu chủ động sáng tạo trong công việc quản lý thiết bị dạy học; việc quản lý không dựa vào tình hình đặc điểm của trường, đặc điểm đối tượng học sinh.

Tất cả những điều vừa kể trên, một phần nào đó là nguyên nhân làm cho công tác quản lý Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom còn hạn chế.

2.2. Thực trạng công tác Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Để tìm hiểu thực trạng công tác Thiết bị dạy học và quản lý Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, chúng tôi đã tiến hành khảo ý kiến của 306 CB-GV thuộc 8 trường Trung học phổ thông trong toàn huyện gồm:

  • Trường Trung học phổ thông TT Trần Đại Nghĩa, xã Bắc Sơn.
  • Trường Trung học phổ thông TT Trịnh Hoài Đức, xã Quảng Tiến.
  • Trường Trung học phổ thông Thống Nhất A, xã Quảng Tiến.
  • Trường Trung học phổ thông Ngô Sỹ Liên, xã Quảng Tiến.
  • Trường Trung học phổ thông Dân tộc Nội trú Tỉnh, xã Trung Hòa.
  • Trường Trung học phổ thông TT Trần Quốc Tuấn, xã Trung Hòa
  • Trường Trung học phổ thông TT Văn Lang, xã Đông Hòa.
  • Trường Trung học phổ thông Bầu Hàm, xã Bầu Hàm.

Nội dung khảo sát tập trung vào các vấn đề sau: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

  • Tìm hiểu thực tế việc đánh giá của CB- GV về công tác quản lý Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom qua các nội dung như: trang bị mua sắm, sử dụng, bảo quản.
  • Tìm hiểu thực tế việc đánh giá của CB- GV về các biện pháp trong việc thực hiện các chức năng quản lý Thiết bị dạy học (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom qua các nội dung như: trang bị mua sắm, sử dụng, bảo quản.

Quy định cách tính điểm:

  • Mức thường xuyên: Không thực hiện (KTH) = 1; không thường xuyên (KTX) = 2; thường xuyên (TX) = 3; Rất thường xuyên (RTX) = 4.
  • Mức hiệu quả: Yếu (Y) = 1; Trung bình (TB) = 2; khá (K) = 3; Tốt (T) = 4
  • Nếu điểm trung bình (ĐTB):
  • 3 ≤ ĐTB < 3.5: mức độ thực hiện thường xuyên và hiệu quả KHÁ
  • 3.5 ≤ ĐTB ≤ 4: mức độ thực hiện thường xuyên và hiệu quả TỐT

2.2.1. Thực trạng số lượng, chất lượng thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Kết quả thống kê về tình hình trang bị Thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom được thể hiện ở các bảng 2.4.a (số lượng), 2.4.b (chất lượng), 2.4.c (đồng bộ), 2.4.d (hiện đại).

  • Bảng 2.4.a: Số lượng Thiết bị dạy học được trang bị ở các trường Trung học phổ thông Trảng Bom
  • Bảng 2.4.b: Chất lượng Thiết bị dạy học được trang bị ở các trường Trung học phổ thông Trảng Bom
  • Bảng 2.4.c: Tính đồng bộ của Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom
  • Bảng 2.4.d: Tính hiện đại của Thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Các bảng số liệu trên cho thấy tính hình trang bị Thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom hiện nay như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

  • TBDH: đủ (chiếm tỉ lệ 5%)
  • TBDH: tốt (chiếm tỉ lệ 1%)
  • TBDH: đồng bộ (chiếm tỉ lệ 6%)
  • TBDH: tương đối hiện đại (chiếm tỉ lệ 2%)
  • TBDH chưa đáp ứng yêu cầu đủ ở các bộ môn

Kết quả trên cho thấy vẫn còn có một số bộ môn thiếu Thiết bị dạy học nhiều so với yêu cầu trang bị để phục vụ cho đổi mới nội dung và Phương pháp dạy học hiện nay; chất lượng của Thiết bị dạy học không đồng đều, một số có chất lượng thấp, ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm của giáo viên và học sinh. Trong những năm qua và hiện nay các trường Trung học phổ thông công lập huyện Trảng Bom được Sở Giáo Dục và Đào Tạo Đồng Nai trang bị, cung cấp hàng loạt thiết bị dạy học ở các bộ môn, trong đó nhiều nhất ở bộ môn: Vật lý, Hóa học, Sinh học và môn Công nghệ, Tin học, Giáo dục quốc phòng theo từng năm phù hợp với từng năm thay sách giáo khoa. Riêng các trường Trung học phổ thông tư thục phải tự mua sắm với nguồn kinh phí do chủ trường chi ra. Tất cả các Thiết bị dạy học các trường công lập, tư thục trang bị- mua sắm bước đầu dựa trên các danh mục các Thiết bị dạy học tối thiểu mà Bộ Giáo dục đề ra và việc trang bị không kịp thời phục vụ cho năm học, vả lại một số Thiết bị dạy học được trang bị theo từng bộ thí nghiệm, nếu vì lý do nào đó thiếu một vài dụng cụ thì bộ thí nghiệm đó không sử dụng được. Bên cạnh đó, giá thành các Thiết bị dạy học hiện đại cao, làm cho các trường Trung học phổ thông tư thục cũng không đồng loạt đầu tư mua ngay cho đầy đủ các thiết bị này. Nhìn chung, chưa đủ Thiết bị dạy học cho tất cả các bộ môn là: do chưa cung cấp kịp thời Thiết bị dạy học ngay cùng lúc, do cơ cấu trong cấp phát, do kinh phí, do bảo quản, do sử dụng…

  • Một số Thiết bị dạy học trang bị chưa tốt

Nhiều Thiết bị dạy học được làm bằng chất liệu kém, độ tinh xảo của thiết bị chưa đạt, tính thẩm mỹ thô, độ bền thấp, độ chính xác chưa cao, việc bổ sung Thiết bị dạy học mới chưa kịp thời từ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng Thiết bị dạy học cần thiết cho một tiết thí nghiệm thực hành.

  • Một số Thiết bị dạy học trang bị chưa đồng bộ

Do có nhiều nhà sản xuất cung cấp và các trường công lập không chủ động mua sắm mà tiếp nhận Thiết bị dạy học từ các nhà sản xuất trúng thầu do Sở Giáo dục tổ chức, hoặc do trong quá trình sử dụng một vài dụng cụ hư hỏng được chắp vá để sử dụng, nên các dụng cụ này có thông số kỹ thật khác nhau khi ráp thành bộ thí nghiệm không đồng bộ dẫn đến kết quả thí nghiệm không đúng với lý thuyết.

  • Một số Thiết bị dạy học của các trường chưa hiện đại

Do trong các đợt thay sách đổi mới nội dung chương trình, nguồn kinh phí Nhà nước tập trung đầu tư để mua sắm các Thiết bị dạy học tối thiểu, một số dụng cụ hiện đại bước đầu dành cho các trường trọng điểm, trường chất lượng cao.

2.2.2. Thực trạng nguồn trang bị, mua sắm Thiết bị dạy học Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Bảng 2.4.e: Nguồn trang bị Thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

  • Thiết bị dạy học trang bị từ nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước

Để đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới nội dung chương trình, trong những năm qua và hiện nay các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom được Sở Giáo Dục và Đào Tạo Đồng Nai trang bị, cung cấp hàng loạt thiết bị dạy học ở các bộ môn, trong đó nhiều nhất ở bộ môn: Vật lý, Hóa học, Sinh học và môn Công nghệ, Tin học, Giáo dục quốc phòng theo từng năm phù hợp với từng năm thay sách giáo khoa. Từ bảng 2.4e cho thấy thiết bị dạy học trang bị từ nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước chiếm tỉ lệ 67.6%. Điều này đã tạo ra một bộ mặt mới về Thiết bị dạy học trong các trường Trung học phổ thông.

  • Ưu điểm:

TBDH trang bị cho các trường Trung học phổ thông phục vụ cho việc đổi mới nội dung chương trình, đảm bảo sự đồng bộ theo bộ môn, các môn học: Vật lý, Hóa học, Sinh, Công nghệ đều có các bộ thí nghiệm cho 6 nhóm học sinh thực hiện các thí nghiệm thực hành và một bộ thí nghiệm thực hành biểu diễn cho giáo viên, bộ này có kích thước lớn hơn và chất lượng tốt hơn. Việc trang bị đồng bộ của các bộ thí nghiệm theo môn học giúp cho công tác quản lý theo môn học thuận lợi. Tính năng và chất lượng có hiệu quả hơn so với bộ thiết bị dạy học cũ.

Việc trang bị Thiết bị dạy học theo khối lớp, hình thức, mẫu mã tương đối đa dạng, phong phú, dễ lắp rắp sử dụng, một số thiết bị đã thể hiện tính hiện đại, áp dụng công nghệ mới trong chế tạo như Thiết bị dạy học của môn Vật lý và môn Sinh học đã tạo nên sự hứng thú trong lúc sử dụng và học tập của giáo viên và học sinh.

  • Hạn chế:

Việc cung cấp không kịp thời, do phải trải qua nhiều khâu: từ việc chọn mẫu, công bố danh mục thiết bị, đấu thầu đến việc phân phối cho các trường công lập. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Chất lượng của Thiết bị dạy học không đồng đều, một số có chất lượng thấp, ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm của giáo viên và học sinh.

Độ tinh xảo của thiết bị kém, thô, tính thẩm mỹ chưa cao, độ bền thấp, việc bổ sung Thiết bị dạy học mới chưa kịp thời làm ảnh hưởng đến số lượng Thiết bị dạy học cần thiết cho một tiết thí nghiệm thực hành.

Đây là những hạn chế làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc sử dụng, khai thác và bảo quản Thiết bị dạy học.

  • TBDH có được từ các phong trào tự làm đồ dùng dạy học

Hiện nay lượng Thiết bị dạy học tối thiểu ở các trường Công lập đã được Sở Giáo dục và Đào tạo trang bị cung cấp qua đấu thầu, còn với các trường tư thục thì tự mua sắm Thiết bị dạy học dựa theo các công văn hướng dẫn của SGD&ĐT. Nói chung Thiết bị dạy học được trang bị cho các trường rất nhiều, đa dạng, phong phú, nhưng cũng không đủ đáp ứng nhu cầu phục vụ giảng dạy cho giáo viên theo từng tiết dạy. Bảng 2.4e cũng cho thấy ngoài Thiết bị dạy học được trang bị từ nguồn ngân sách nhà nước, thì số lượng Thiết bị dạy học còn có thêm được từ các phong trào tự làm đồ dung dạy học của giáo viên và học sinh; số lượng Thiết bị dạy học tự làm chiếm tỉ lệ 22.2%. Với sự phát động của nhà trường, một số giáo viên tự làm đồ dùng dạy học riêng cho bản thân dựa vào vật liệu, các thiết bị dễ tìm có sẵn trong đời sống.

  • Ưu điểm

Trong các đợt hội thi về tự làm đồ dùng dạy học ở trường Trung học phổ thông, được hầu hết các tổ bộ môn, giáo viên tham gia, làm cho lượng thiết bị dạy học của các trường tăng thêm.

Phần lớn các Thiết bị dạy học tự làm đảm bảo tính sư phạm, tính khoa học, tính kinh tế và có thể phục vụ cho nhiều bài học. Đồ dùng dạy học tự làm đã khắc phục được một số hạn chế của các Thiết bị dạy học được trang bị đại trà như: gọn nhẹ, trực quan, dễ di chuyển, phù hợp môn học phù hợp với nội dung tiết dạy mà giáo viên soạn giáo án, truyền thụ được kiến thức cơ bản và tạo được sự hứng thú trong học tập cho học sinh.

Qua việc tự làm đồ dùng dạy học, bản thân giáo viên tìm được những ví dụ cụ thể trong đời sống thực tiễn, qua việc tự làm đồ dùng dạy học đã giúp giáo viên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm kiến thức, kỹ năng về Thiết bị dạy học lẫn nhau giữa các giáo viên cùng bộ môn, khác bộ môn trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

  • Hạn chế

Cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom chưa thật sự quan tâm đến phong trào tự làm đồ dùng dạy học để hỗ trợ cho công tác giảng dạy của giáo viên bộ môn, thể hiện qua việc chưa có kế hoạch cụ thể cho công tác tự làm đồ dùng dạy học, chưa đầu tư kinh phí cho giáo viên khi tham gia công tác này và chưa nhận thức việc phát động tự làm đồ dùng dạy học là nhiệm vụ của nhà trường để giáo viên tích cực tự tìm tòi, chế tạo làm đồ dùng dạy học.

Đồ dùng dạy học xuất hiện trong các đợt hội thi đồ dùng dạy học, thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp tỉnh, nhưng sau đó những đồ dùng dạy học có giá trị, có giải thưởng được lưu trong phòng thiết bị, không có sự quan tâm khai thác sử dụng những thiết bị này trong nhà trường.

Hằng ngày trong các tiết dạy, một bộ phận giáo viên có tự làm đồ dùng dạy học minh họa, nhưng có một số đồ dùng dạy học do thiếu sự hợp tác của nhóm, tổ bộ môn, của đồng nghiệp trong việc tự làm đồ dùng dạy học nên thiết bị thiếu tính sư phạm, không cân đối về màu sắc, kích cỡ, chưa đảm bảo tính khoa học và tính chính xác khi thí nghiệm, dễ gây nhàm chán, chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh trong việc tìm hiểu để chiếm lĩnh kiến thức.

  • Đầu tư mua sắm thiết bị dạy học từ nguồn xã hội hóa

Ngay từ đầu năm học, việc tự đầu tư mua sắm thêm Thiết bị dạy học cho nhà trường từ nguồn xã hội hóa Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông công lập trong huyện ít được chú ý đến, các trường ngại sợ cho sự vận động quyên góp ủng hộ này, chỉ có một trường có uy tín làm tốt công tác này (THPT Thống nhất A, ), số trường còn lại chỉ chờ vào sự phân bổ hoặc mua sắm theo sự đấu thầu từ Sở. Với các trường dân lập, tư thục việc trang bị thêm thiết bị dạy học lại càng ít đề cập hơn, kinh phí thường được sử dụng cho các hoạt động khác của nhà trường, chỉ mua các bộ Thiết bị dạy học tối thiểu mà Bộ Giáo Dục quy định. Bảng 2.4e cũng cho thấy Thiết bị dạy học mua sắm từ nguồn xã hội hóa chiếm tỉ lệ 10.1%. Như vậy, ngoài kinh phí ngân sách Nhà nước cấp để mua sắm Thiết bị dạy học theo quy định, các trường chưa huy động được Cha mẹ học sinh, các đoàn thể xã hội, công ty, các Mạnh thường quân và ngân sách địa phương tham gia xã hội hóa công tác Thiết bị dạy học, nên một phần nào hạn chế việc mua sắm thêm trang thiết bị cho nhà trường.

Tóm lại: Nhìn chung các trường có đầu tư mua sắm thêm Thiết bị dạy học để phục vụ giảng dạy, tuy nhiên việc mua sắm đó chưa dựa vào sự đề nghị mua sắm của giáo viên bộ môn, của tổ trưởng bộ môn, của cán bộ thiết bị; chưa dựa vào sự thống kê, kiểm kê thừa, thiếu của nhà trường. giá cả thị trường, chất lượng của các thiết bị. Vì vậy, việc mua sắm Thiết bị dạy học chưa mang lại hiệu quả. Thực trạng này đòi hỏi nhà trường cần phải có kế hoạch trong trang bị mua sắm, trong các phong trào tự làm đồ dụng dạy học cũng như trong việc tranh thủ vận động cộng đồng tham gia xã hội hoá Thiết bị dạy học để trang bị cho các bộ môn có ngay từ đầu năm học, sao cho đảm bảo cả về số lượng cũng như chất lượng hầu phục vụ tốt cho yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

2.2.3. Thực trạng sử dụng thiết bị dạy học Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

2.2.3.1 Thực trạng việc sử dụng Thiết bị dạy học của giáo viên

Để tìm hiểu thực trạng sử dụng Thiết bị dạy học chúng tôi đã tiến hành khảo sát, trao đổi với Cán bộ quản lý các trường, tham khảo sổ mượn – trả Thiết bị dạy học… Xử lý các thông tin điều tra chúng tôi lập được các bảng sử dụng Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom như sau:

  • Bảng 2.5.a: Nơi sử dụng Thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom
  • Bảng 2.5.b: Tần suất sử dụng Thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom
  • Bảng 2.5.c: Mức độ sử dụng Thiết bị dạy học của GV tại các trường Trung học phổ thông Trảng Bom

Giáo viên là đối tượng trực tiếp sử dụng và bảo quản Thiết bị dạy học với thời gian và số lượng lớn nhất, là những người am hiểu nhất về số lượng, chất lượng của từng chi tiết Thiết bị dạy học của môn học. Do đó, giáo viên là người giữ vai trò quan trọng trong việc sử dụng và bảo quản Thiết bị dạy học của nhà trường.

Qua các bảng xử lý số liệu 2.5a, 2.5b, 2.5c chúng tôi nhận thấy giáo viên thường xuyên sử dụng Thiết bị dạy học chiếm tỉ lệ 75.2%, có một số giáo viên tích cực, rất thường xuyên sử dụng có tỉ lệ 7,8% và việc sử dụng thường tại phòng thực hành chiếm tỉ lệ 79,7%, tại lớp học chiếm tỉ lệ 13,4%, bên cạnh đó kỹ năng sử dụng của giáo viên đánh giá loại tốt 70.6%, loại khá tỉ lệ 21.2%, điều này kéo theo hiệu quả sử dụng Thiết bị dạy học của giáo viên trong các tiết dạy đạt loại tốt có tỉ lệ 23,2%, đạt loại khá 74.8%. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

  • Ưu điểm

Giáo viên bộ môn được tập huấn sử dụng Thiết bị dạy học trong các đợt: thay sách giáo khoa, trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên hàng năm, bên cạnh đó khi tiếp nhận Thiết bị dạy học hiện đại, nhiều giáo viên tự học, tự tìm kiếm kiến thức về Thiết bị dạy học trên mạng internet, nên sử dụng rất thành thạo Thiết bị dạy học phục vụ tốt cho bài giảng, tạo được sự hứng thú học tập cho học

Có nhiều tiết học ở các bộ môn có sử dụng Thiết bị dạy học như: Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Địa lý, Anh Văn, Thể dục, Tin học, Giáo dục quốc phòng. Nhìn chung giáo viên bộ môn biết khai thác, sử dụng triệt để các giá trị nội dung của Thiết bị dạy học trong công tác dạy và học.

Một số giáo viên tích cực nghiên cứu các phần mềm dạy toán (hình học không gian, đại số, giải tích), vật lý, hóa học (trong các thí nghiệm ảo), một số giáo viên khác biết cải tiến , chế tạo đồ dùng dạy học phù hợp với điều kiện nhà trường.

  • Hạn chế

Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, sử dụng Thiết bị dạy học trong các trường Trung học phổ thông ở huyện Trảng Bom hiện nay còn phụ thuộc vào sự tự giác của giáo viên, nhà trường chưa có biện pháp để thúc đẩy toàn bộ giáo viên phải sử dụng Thiết bị dạy học trong tiết học một cách tích cực. Cụ thể đó là:

Quy trình quản lý việc sử dụng Thiết bị dạy học còn mang tính hình thức, việc kiểm tra –đánh giá việc sử dụng chưa thật sự quan tâm, một vài trường chỉ dựa vào sổ đăng ký mượn Thiết bị dạy học;

Có những hạn chế như trình độ của cán bộ thiết bị, thói quen sử dụng Thiết bị dạy học, kỹ năng thực hành của giáo viên trong quá trình sử dụng và bảo quản Thiết bị dạy học, một số trường Trung học phổ thông trong huyện chưa có đầy đủ phòng học bộ môn, phòng thực hành dẫn đến giáo viên chưa phát huy được hiệu quả của Thiết bị dạy học;

Vẫn còn một số giáo viên còn ngại sử dụng Thiết bị dạy học trong quá trình dạy học do: trong một thời gian dài quen với lối dạy thuyết trình, dạy chay, chưa chủ động đổi mới phương pháp dạy học, do chưa có kỹ năng sử dụng tốt Thiết bị dạy học (trong đó có thiết bị vi tính và các phần mền ứng dụng), do ngại mượn thiết bị, do tốn nhiều thời gian cho việc chuẩn bị;

Dụng cụ thiết bị trong thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu như: độ bền, độ chính xác, sai số dẫn đến không thành công khi làm thí nghiệm minh họa, chứng minh… Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Một số trường Trung học phổ thông cán bộ phụ trách thiết bị vừa là giáo viên đứng lớp vừa kiêm nhiệm công tác thiết bị nên việc chuẩn bị sẵn dụng cụ thí nghiệm thực hành của cán bộ thiết bị hầu như không có, vì: cán bộ thiết bị không có thời gian; cơ sở vật chất nhà trường không có phòng bộ môn, không có phòng thực hành và không có đủ thiết bị nhất là khi việc sắp xếp thời khóa biểu các lớp trong cùng môn học trùng tiết thực hành sử dụng Thiết bị dạy học chung với nhau.

Giáo viên được đào tạo từ nhiều trường đại học khác nhau, trong quá trình đào tạo, giáo viên ít có điều kiện thực hành làm quen Thiết bị dạy học, nên kiến thức và trình độ sử dụng Thiết bị dạy học của số đông giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đồng đều, nên với một tiết dạy sử dụng tốt Thiết bị dạy học giáo viên phải đầu tư nhiều công sức, trí tuệ, nhiều thời Và với các loại thiết bị tiên tiến, công nghệ cao, cách sử dụng mới lạ, giáo viên ngại sử dụng.

Qua phỏng vấn việc sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên trong các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, chúng tôi nhận thấy có một số giáo viên bộ môn chưa sử dụng Thiết bị dạy học, không hướng dẫn học sinh làm các bài thí nghiệm thực hành tại phòng thí nghiệm, không thực hiện thí nghiệm minh họa tại lớp học cho học sinh. Chỉ có Tin học, Toán, Thể dục, Giáo dục quốc phòng sử dụng tương đối nhiều. Bộ môn Toán, Thiết bị dạy học qua các bộ dụng cụ trực quan giáo viên tự làm phục vụ cho việc dạy môn hình học không gian, công thêm hiện nay có máy vi tính với các phần mền hổ trợ dạy toán như phần mền Powerpoint, phần mền Sketchpath, bộ môn Thể dục và Giáo dục quốc phòng do có đầy đủ dụng cụ, các tiết học ở sân trường nên các bộ môn này thực hiện nghiêm túc, triệt để.

Một số giáo viên sử dụng Thiết bị dạy học chưa đúng mục đích, chưa đúng quy trình kỹ thuật, chưa đúng phương pháp, chưa an toàn khi sử dụng các thí nghiệm liên quan đến hóa chất, dòng điện và xếp loại trung bình trong bảng 2.5.c chiếm tỉ lệ 8.2%. Chính vì ít sử dụng, không sử dụng Thiết bị dạy học, và sử dụng Thiết bị dạy học chưa đúng mục đích, chưa đúng quy trình kỹ thuật, chưa đúng phương pháp, chưa có biện pháp an toàn khi sử dụng Thiết bị dạy học, dẫn đến Thiết bị dạy học dễ bị hư hỏng, chất lượng các tiết dạy không cao, từ bảng điều tra đánh giá 2.5.c cho thấy hiệu quả trung bình chiếm tỉ lệ 1.6%, thậm chí còn yếu chiếm tỉ lệ 0.3%. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

2.2.3.2. Thực trạng việc sử dụng Thiết bị dạy học của học sinh

Dự giờ các tiết có sử dụng Thiết bị dạy học và trao đổi trò chuyện với học sinh, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng Thiết bị dạy học của học sinh còn nhiều hạn chế như sau:

Quen với cách học truyền thống, quen với việc giáo viên đúng lớp ít sử dụng Thiết bị dạy học để minh họa, để chứng minh và đặc biệt việc thi cử gần như không đề cập đến kỹ năng thực hành nên học sinh các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, về nhận thức, về kỹ năng sử dụng Thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế.

Trong các tiết thực hành thí nghiệm, ý thức chấp hành nội quy phòng thực hành của học sinh chưa tốt; mức độ sử dụng Thiết bị dạy học chưa đạt yêu cầu, mặc dù khi sử dụng thiết bị, giáo viên đã hướng dẫn rõ từng quy trình, các bước thực hành, cách sử dụng thiết bị, cách viết bài báo cáo, nhưng vẫn còn một số học sinh làm hư hỏng thiết bị, một số không hoàn thành bài báo cáo thu hoạch sau thí nghiệm.

Học sinh chưa hình thành thói quen về việc học các tiết thực hành thí nghiệm, nên việc học sinh di chuyển từ phòng học đến phòng thí nghiệm thực hành, việc chia nhóm, việc hướng dẫn mất nhiều thời gian trong việc ổn định lớp.

Những vấn đề trên, phần nào đã làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học nhất là trong các tiết thực hành để học sinh tự mình chiếm lĩnh, khám phá, tìm kiếm kiến thức.

2.2.4. Thực trạng bảo quản thiết bị dạy học

Bảo quản Thiết bị dạy học là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý Thiết bị dạy học. Bảo quản tốt sẽ phần nào đảm bảo đủ số lượng lẫn chất lượng của Thiết bị dạy học và làm cho việc sử dụng đạt hiệu quả, nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Điều tra việc bảo quản Thiết bị dạy học chúng tôi có được bảng sau:

  • Bảng 2.6: Đánh giá thực trạng bảo quản Thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Từ bảng 2.6 cho thấy, việc bảo quản Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông tại huyện Trảng Bom được đánh giá như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

  • Đánh giá rất tốt chiếm tỉ lệ 55.2%, đánh giá tốt chiếm tỉ lệ 30.7% với những ưu điểm sau:
  • Phần lớn Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom có phân công cán bộ phụ trách thiết bị, có xây dựng phòng kho thiết bị, phòng bộ môn, có chú ý quan tâm đến việc bảo quản, sử dụng Thiết bị dạy học.
  • Để tránh mất mát, thất lạc và để dễ tìm, trong việc nhận bàn giao thiết bị; Hiệu trưởng có chỉ đạo các tổ trưởng bộ môn, cán bộ thiết bị kiểm tra, sắp xếp, phân loại Thiết bị dạy học, ghi vào hồ sơ sổ sách, thông báo và tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên mượn – trả.
  • Hàng năm Hiệu trưởng có chỉ đạo thống kê, kiểm kê, kiểm tra Thiết bị dạy học đang quản lý; bổ sung, mua sắm thêm trang thiết bị cho nhà trường.

Cán bộ thiết bị có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo quản thiết bị, thường xuyên bố trí, sắp xếp khoa học các dụng cụ thiết bị của từng bộ môn trong kệ, các loại hóa chất có dán nhản, ghi ngày nhập và để riêng trong các tủ kính tránh bụi, tránh tiếp xúc ánh sáng mặt trời; sắp xếp các tranh ảnh theo khối ở môt nơi riêng, định kỳ quét dọn và xịt thuốc trừ mối, gián, chuột, các loại côn trùng khác để bảo quản các tranh ảnh.

Cán bộ thiết bị lập đầy đủ các loại sổ hồ sơ quản lý Thiết bị dạy học như:

  • Sổ ghi từng loại Thiết bị dạy học có trong nhà trường.
  • Sổ ghi mượn trả đồ dùng thí nghiệm.
  • Sổ ghi ký hiệu tranh ảnh.
  • Sổ thống kê các tiết thí nghiệm thực hành.
  • Sổ thống kê các tiết có sử dụng Thiết bị dạy học.

Hàng tháng báo cáo tình hình Thiết bị dạy học cho Ban giám hiệu nhà trường để từ đó có hướng khắc phục sữa chữa, bảo trì.

Giáo viên thường xuyên vệ sinh sạch sẽ các dụng cụ sau khi làm thí nghiệm xong, xếp lại các thiết bị vào đúng các nơi quy định, có biện pháp xử lý các hóa chất thừa, các hóa chất quá hạn sử dụng.

Một số em học sinh có ý thức rất tốt trong việc bảo quản trang thiết bị, cũng như bảo quản cơ sở vật chất của nhà trường, thể hiện qua việc sắp xếp, vệ sinh thiết bị ở các phòng thí nghiệm thực hành, chấp hành nội quy phòng thí nghiệm, phòng thực hành.

  • Đánh giá bình thường chiếm tỉ lệ 13.4% và đánh giá chưa tốt chiếm tỉ lệ 0.7% do những hạn chế sau:

Vẫn có một số trường, trong đó Hiệu trưởng chưa thật sự quan tâm và chưa thực hiện tốt việc bảo quản Thiết bị dạy học, thậm chí chưa xây dưng kế hoạch bảo quản, bảo dưỡng, bảo trì, xem nhẹ công tác quản lý Thiết bị dạy học. Có tư tưởng ỷ lại trong việc trang bị bổ sung thiết bị mới, không tận dụng các Thiết bị dạy học hiện có, cải tiến cho phù hợp với điều kiện của nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Phân công giáo viên chưa có kiến thức chuyên môn về thiết bị; dẫn đến việc bảo quản thiết bị còn lúng túng, chắp vá, thực hiện bảo quản thiết bị không đúng quy trình, thiết bị dễ hỏng.

Một vài trường chưa thường xuyên kiểm tra hồ sơ sổ sách quản lý thiết bị để xem thiết bị thừa, thiếu, hư hỏng, việc sử dụng Thiết bị dạy học, việc bảo quản thiết bị; mà các công việc này hầu như giao phó cho cán bộ thiết bị.

Còn một vài trường sắp xếp thiết bị chưa đạt yêu cầu, dụng cụ thiết bị và hóa chất để tập trung trong một kho, chung kệ, giá đỡ.

Do được đào tạo từ nhiều trường đại học khác nhau, nên trình độ, kỹ năng thực hành thí nghiệm của giáo viên có khác nhau, và lúng túng khi sử dụng các thiết bị công nghệ mới, có trường hợp sử dụng sai quy trình dẫn đến hư hỏng Thiết bị dạy học.

Không đủ phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn để sắp xếp, bảo quản Thiết bị dạy học, do đó Thiết bị dạy học được xếp chung vào một nơi, được gọi là phòng thiết bị mà thực chất là cái kho chứa đựng mọi thứ. Điều này gây khó khăn trong việc mượn – trả, sử dụng và bảo quản cho giáo viên và cán bộ thiết bị.

Một số em học sinh chưa có ý thức trong việc bảo quản thiết bị khi làm thí nghiệm thực hành (vỡ, hư hỏng thiết bị do đùa giỡn khi làm thí nghiệm, không chú ý nghe theo hướng dẫn của giáo viên dẫn đến sai quy trình gây hỏng thiết bị…).

Tóm lại: Trong quá trình bảo quản sử dụng Thiết bị dạy học tất nhiên sẽ có những hư hỏng, giảm sút về chất lượng do tác động của việc sử dụng và môi trường xung quanh, tuy nhiên nếu các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom quan tâm có chế độ bảo quản tốt, sửa chữa thường xuyên, kịp thời thì số lượng Thiết bị dạy học sẽ không giảm đi và được sử dụng lâu dài hơn, phục vụ tốt cho yêu cầu đổi mới của quá trình dạy học.

2.3. Thực trạng công tác quản lý Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Theo Luật Giáo dục 2020 và quy chế hoạt động của các trường Trung học phổ thông năm 2022 thì Hiệu trưởng là người đứng đầu nhà trường có đầy đủ tư cách pháp nhân quản lý toàn bộ cơ sở vật chất – Thiết bị dạy học của nhà trường, chịu trách nhiệm trước nhà nước và pháp luật về mọi mặt hoạt động của nhà trường nói chung, trong đó có hoạt động quản lý công tác Thiết bị dạy học nói riêng. Quản lý công tác Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông là một trong những công tác quản lý quan trọng của người Hiệu trưởng bao gồm các nội dung như: xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch.

2.3.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch công tác Thiết bị dạy học

Xây dựng kế hoạch là một trong những chức năng quản lý, vì thế để quản lý tốt công tác Thiết bị dạy học, nhà trường cần phải quan tâm đến việc lập kế hoạch quản lý Thiết bị dạy học. Việc tìm hiểu thực trạng xây dựng kế hoạch công tác quản lý Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom thông qua việc đánh giá của CB –GV về mức thường xuyên và mức hiệu quả trong các nội dung quản lý Thiết bị dạy học.

Kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng kế hoạch công tác thiết bị được trình bày trong bảng 2.7.

  • Bảng 2.7: Xây dựng kế hoạch công tác Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Kết quả thống kê 2.7 cho thấy, đánh giá chung trong việc xây dựng kế hoạch công tác Thiết bị dạy học là Khá, thể hiện qua điểm trung bình chung của việc đánh giá xây dựng kế hoạch ở mức thường xuyên là 3.39 và ở mức hiệu quả là 3.29. Tuy nhiên tìm hiểu từng trường THPT, các nội dung của kế hoạch công tác thiết bị còn vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các trường tư thục, kế tới là các trường công lập mới hình thành. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay thì việc xây dựng kế hoạch công tác Thiết bị dạy học là một công việc khó khăn đòi hỏi năng lực và kỹ năng của người quản lý. Vì kế hoạch này cần phải sáng tạo, phải có kỹ năng phân tích phán đoán về tình hình trang bị, mua sắm, sử dụng, bảo quản, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đòi hỏi phải có nguồn kinh phí cho công tác Thiết bị dạy học.

Qua tham khảo hồ sơ quản lý của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, nhận thấy Thiết bị dạy học của một số trường trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom hiện nay có cái thiếu, có cái thừa, có cái vẫn còn dưới dạng hình thức không ứng dụng khả thi vào quá trình dạy học của giáo viên. Nhà trường chưa tổ chức thống kê, thanh lý, mua sắm thêm, việc xác định các mục tiêu, phân loại mục tiêu ưu tiên về Thiết bị dạy học; lập kế hoạch tổng thể còn hạn chế. Phần lớn chỉ quan tâm đến kế hoạch mua sắm, kế hoạch sử dụng, bảo quản chưa chi tiết; việc hướng dẫn các bộ phận lên kế hoạch, chương trình hành động; duyệt các loại kế hoạch về Thiết bị dạy học theo yêu cầu của giáo viên, của tổ chuyên môn gần như không đề cập hoặc làm lấy lệ cho có để báo cáo dẫn đến các nội dung hoạt động quản lý Thiết bị dạy học đơn giản, biện pháp buông lỏng. Thiết bị dạy học được trang bị gần như nằm trong kho thiết bị, hư dần theo tháng ngày; từ đó hiệu quả tiết dạy chưa cao. Các trường chưa có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng công tác thiết bị, chưa gắn trách nhiệm của tổ trưởng trong việc quản lý Thiết bị dạy học, nên các tổ chuyên môn ít quan tâm đến công tác quản lý này, dẫn đến việc lập kế hoạch của tổ ít đề cập đến công tác Thiết bị dạy học. Ví dụ nội dung 1 của bảng 2.7 (trong phần phụ lục) có 1.0% CB-GV đánh giá các trường Trung học phổ thông không thực hiện và 6.9% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông không thường xuyên thực hiện; mức hiệu quả có 14.1% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông đạt mức trung bình và 1.0% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông yếu thường rơi vào các trường này. Tương tự cho các nội dung khác có trong bảng 2.7.

Tìm hiểu thêm chúng tôi thấy số trường này có:

  • Kế hoạch đầu tư, mua sắm chưa sát với tình hình thực tế.
  • Kế hoạch sử dụng, khai thác Thiết bị dạy học chưa cụ thể, chưa chi tiết.
  • Kế hoạch bảo quản, sửa chữa Thiết bị dạy học chưa theo kế họach.

Riêng đối với các trường Trung học phổ thông làm tốt các nội dung từ 1 đến 6 của công tác xây dựng kế hoạch Thiết bị dạy học thì mức hiệu quả từ khá đến tốt rất cao.

Tóm lại: qua khảo sát và xử lý số liệu ở bảng trên của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, có thể rút ra một số nhận xét chung: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Đối với công tác lập kế hoạch của các trường được đánh giá ở mức độ khá (ĐTB chung 3.39), điều này thể hiện sự quan tâm của nhà trường trong công tác lập kế hoạch hàng năm. Tuy nhiên qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi thấy rằng:

Việc lập kế hoạch của các trường Trung học phổ thông chưa được chủ động, hầu hết đều dựa vào văn bản chỉ đạo của cấp trên (Bộ, Sở), nguồn lực để thực hiện kế hoạch còn nhiều hạn chế: phụ thuộc vào nguồn kinh phí Nhà nước, công tác xã hội hóa cho Thiết bị dạy học còn thấp.

Mặc dầu kế hoạch được chủ động xây dựng ngay từ đầu năm học, nhưng khi triển khai thực hiện thường chậm so với kế hoạch do qui định cơ chế mua sắm, trang bị …còn nhiều bất cập.

Đối với hiệu trưởng kỹ năng lập kế hoạch còn nhiều hạn chế, phần lớn các hiệu trưởng chỉ quan tâm đến việc lập kế hoạch mua sắm, còn công tác lập kế hoạch sử dụng, bảo quản … chưa được quan tâm đến yêu cầu sử dụng Thiết bị dạy học của giáo viên bộ môn, tổ chuyên môn.

2.3.2. Thực trạng tổ chức – chỉ đạo thực hiện công tác Thiết bị dạy học

2.3.2.1 Thực trạng tổ chức – chỉ đạo việc trang bị Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

  • Bảng 2.8a: Tổ chức – chỉ đạo việc trang bị Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông Trảng Bom

Kết quả thống kê bảng 2.8a cho thấy thực trạng tổ chức – chỉ đạo việc trang bị Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom ở mức Khá có điểm trung bình chung là 3.21. Nhiều trường thể hiện các nội dung trong công tác tổ chức – chỉ đạo này thường xuyên, rất thường xuyên nên hiệu quả của công tác này tốt, rất tốt, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có trường công tác này chưa đạt. Cụ thể:

Triển khai quán triệt các văn bản của Bộ Giáo Dục đến với toàn thể CB-GV về danh mục Thiết bị dạy học cũng như các yêu cầu trang bị Thiết bị dạy học trong nhà trường, để thấy rằng đây là một trong những yêu cầu bắt buộc Nhà trường cần phải trang bị – mua sắm và phải tìm mọi cách trang bị đủ các loại thiết bị này; phần giáo viên phải sử dụng triệt để các thiết bị đó. Tuy nhiên với nội dung này bảng đánh giá 2.8a (phần phụ lục) ghi nhận có 4.2% CB-GV đánh giá nhà trường không thường xuyên thực hiện việc tổ chức chỉ đạo trang bị mua sắm đủ Thiết bị dạy học, đánh giá hiệu quả nội dung này trong công tác chỉ đạo vẫn có 9.2% CB-GV đánh giá mức trung bình, 1,6% CB-GV đánh giá mức yếu.

Đánh giá phân công các bộ phận cá nhân thực hiện việc trang bị mua sắm Thiết bị dạy học theo kế hoạch cho thấy: nhà trường chưa phân công, phân nhiệm rõ ràng công tác thiết bị, chưa gắn trách nhiệm của tổ trưởng trong việc quản lý Thiết bị dạy học, nên các tổ chuyên môn ít quan tâm đến công tác quản lý này, dẫn đến việc lập kế hoạch của tổ ít đề cập đến công tác Thiết bị dạy học. Vì thế có 9.5% CB-GV đánh giá nhà trường không thực hiện nội dung này, mức hiệu quả có 7.2% CB-GV đánh giá mức trung bình và 2.0% CB-GV đánh giá mức yếu. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Tương tự các nội dung 3 đến nội dung 6 trong bảng đánh giá 2.8a về việc tổ chức –chỉ đạo trang bị mua sắm Thiết bị dạy học vẫn có số phần trăm CB-GV đánh giá mức trung bình, yếu ở các nội dung này.

Tóm lại: trong công tác tổ chức – chỉ đạo trang bị mua sắm một số trường làm rất tốt nhưng một số trường vẫn còn bị CB-GV đánh giá nhà trường trung bình hoặc yếu. Tìm hiểu ở một số trường chúng tôi nhận thấy:

Chưa tổ chức chỉ đạo thường xuyên việc quán triệt cho cán bộ giáo viên các văn bản và danh mục và yêu cầu trang bị cũng như việc phân công các bộ phận cá nhân trong việc trang bị mua sắm Thiết bị dạy học.

Chưa chủ động tổ chức huy động nguồn kinh phí xã hội hóa giáo dục để trang bị bổ sung Thiết bị dạy học, còn tư tưởng trông chờ từ nguồn kinh phí được cấp của Sở Giáo Dục, chưa mạnh dạn lập kế hoạch thanh lý Thiết bị dạy học xuống cấp hay hết hạn sử dụng, kế hoạch mua sắm bổ sung đầy đủ hóa chất, dụng cụ,…

Chưa tổ chức được giáo viên tham gia làm đồ dùng dạy học, để làm tăng lượng Thiết bị dạy học trong nhà trường.

TBDH của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom hiện nay có cái thiếu, có cái thừa, có cái vẫn còn dưới dạng hình thức không ứng dụng khả thi vào quá trình dạy học của giáo viên nhưng nhà trường chưa tổ chức thống kê, thanh lý, mua sắm thêm số Thiết bị dạy học theo đề nghị của tổ chuyên môn, của giáo viên.

Chưa quy định hoặc chưa thường xuyên cụ thể các loại hồ sổ sách về Thiết bị dạy học và quản lý các loại hồ sơ sổ sách này cho chặt chẽ cũng như việc tổ chức việc sắp xếp, ghi chép các loại Thiết bị dạy học nhập – xuất

Chưa tổ chức để lấy ý kiến phản hồi từ giáo viên bộ môn trực tiếp sử dụng các Thiết bị dạy học của Sở Giáo Dục cấp về hoặc các dụng cụ dạy học mà giáo viên tự làm ra, hiệu quả hay không hiệu quả, có nên chăng sử dụng nữa hay không vẫn chưa có buổi tọa đàm nào nào để tháo gỡ những vấn đề này. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

2.3.2.2 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo sử dụng Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Chỉ thị số 14/2016/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định: thiết bị dạy học là một trong những thành tố quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Thiết bị dạy học phải là những thiết bị cần thiết, đáp ứng yêu cầu của nội dung chương trình và sách giáo khoa mới; phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, trình độ đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên thiết bị thí nghiệm; từng bước ứng dụng Công nghệ thông tin vào giảng dạy ở các trường phổ thông. Như thế ngày nay, việc trang bị trang thiết bị dạy học cho các trường học và quản lý việc thực hiện sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trong các trường phổ thông là một việc làm cần thiết để đáp ứng cho việc đổi mới phương pháp dạy học.

Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức, chỉ đạo sử dụng Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom thể hiện ở bảng 2.8b.

  • Bảng 2.8b: Thực trạng tổ chức, chỉ đạo sử dụng Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Qua bảng 2.8b, thực trạng tổ chức, chỉ đạo sử dụng Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom được đánh giá chung là khá với điểm trung bình chung 3.28 và hiệu quả của công tác này 3.28. Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, phần lớn các trường tổ chức chỉ đạo thực hiện một số vấn đề sau:

Nhà trường tổ chức, chỉ đạo cho các thành viên nghiên cứu theo các hướng dẫn của SGD&ĐT: về đổi mới Phương pháp dạy học, đổi mới kiểm CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 55.6% (TX) và 30.7% (RTX); 54.6% (K) và 40.5% (T).

Giới thiệu danh mục hiện có trong nhà trường để giáo viên biết để khai thác, sử dụng thiết bị dạy học đặc biệt ở các bộ môn thực nghiệm như: Vật lý, Hóa học, Sinh học và môn Công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 44.4% (TX) và 39.2% (RTX); 46.7% (K) và 40.5% (T).

Xây dựng kế hoạch thí nghiệm thực hành cho tổ bộ môn, hướng dẫn xây dựng và quản lý việc thực hiện kế hoạch cá nhân, trong đó có cả việc sử dụng Thiết bị dạy học như: thời điểm, bài dạy, mức độ kiến thức, những thiết bị nào được sử dụng… Theo dõi sâu sát công tác sử dụng thiết bị dạy học, phát hiện được các trường hợp giáo viên không sử dụng thiết bị, sử dụng không đúng quy trình, sử dụng có tính chất đối phó, chiếu lệ, không hiệu quả, tạo điều kiện cho giáo viên khai thác, sử dụng có hiệu quả. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 42.8% (TX) và 50.7% (RTX); 27.5% (K) và 65.4% (T).

Tham gia dự giờ, đánh giá được mức độ sử dụng và kỹ năng sử dụng Thiết bị dạy học của GV, xếp loại GV, đề xuất khen thưởng. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 30.4% (TX) và 58.5% (RTX); 35.6% (K) và 52.3% (T).

Thực hiện sắp xếp, phân loại Thiết bị dạy học theo môn học, khối lớp, một cách hợp lý, khoa học trong phòng thiết bị, phòng thực hành, phòng bộ môn để tạo điều kiện cho giáo viên khai thác, sử dụng Thiết bị dạy học có hiệu quả. Theo dõi được công tác sử dụng Thiết bị dạy học, phát hiện được các trường hợp giáo viên không sử dụng thiết bị, sử dụng không đúng quy trình, không đúng mục đích, không đúng phương pháp sử dụng có tính chất đối phó, không hiệu quả, kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh, khiển trách. Tham gia thống kê, kiểm kê, đánh giá Thiết bị dạy học, đánh giá kỹ năng thí nghiệm thực hành của học sinh; hỗ trợ tích cực cho nhà trường trong việc nâng cao chất lượng quản lý Thiết bị dạy học. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 51.3% (TX) và 43.1% (RTX); 50.7% (K) và 41.8% (T). Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Tổ chức, chỉ đạo thống kê được mức độ sử dụng Thiết bị dạy học của giáo viên; có đầy đủ các loại hồ sơ quản lý Thiết bị dạy học như: sổ thiết bị giáo dục, sổ sử dụng thiết bị giáo dục, sổ mượn – trả thiết bị, sổ ghi ký hiệu tranh ảnh, đồ dùng, sổ thống kê các tiết thí nghiệm thực hành, sổ thống kê các tiết có sử dụng thiết bị dạy học. Ghi chép, cập nhật hồ sơ sổ sách quản lý thiết bị đúng qui định; quản lý được kế hoạch mượn, trả Thiết bị dạy học, đăng ký thực hành, quản lý tốt các giờ thực hành tại phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn,… để mỗi học kỳ căn cứ các kết quả báo cáo về mức độ sử dụng Thiết bị dạy học của từng giáo viên mà đánh giá chất lượng của giáo viên theo tiêu chí thi đua trong nhà trường. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 37.9 (TX) và 55.2% (RTX); 53.6% (K) và 39.5% (T).

Trao đổi kinh nghiệm, viết sáng kiến kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm cao, hỗ trợ rất tích cực cho giáo viên bộ môn có đầy đủ Thiết bị dạy học mang lên lớp cũng như thí nghiệm thực hành tại phòng thí nghiệm. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 1% (TX) và 33% (RTX); 54.2% (K) và 32.7% (T).

Tổ chức các lớp bồi dưỡng học tập chuyên đề về phương pháp, kỹ năng sử dụng Thiết bị dạy học. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 37.6% (TX) và 48% (RTX); 37.6% (K) và 51.6% (T).

Tổ chức hội giảng có sử dụng Thiết bị dạy học, tổ chức phong trào tự làm đồ dùng dạy học và cấp kinh phí làm đồ dung dạy học. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 61.8% (TX) và 24.5% (RTX); 51/6% (K) và 35.9% (T).

Bên cạnh đó có một số trường mà CB-GV tham đánh giá công tác tổ chức, chỉ đạo sử dụng Thiết bị dạy học cho kết quả từ yếu đến trung bình, nguyên nhân cho là không thường xuyên, không thực hiện các nội dung trong bảng 2.8a. Chẳng hạn:

Hồ sơ sổ sách quản lý về Thiết bị dạy học còn sơ sài, công tác tổ chức, chỉ đạo thống kê-kiểm kê các Thiết bị dạy học hiện có ít được quan tâm thường xuyên, không thực hiện kiểm tra-thanh tra theo định kỳ tháng, học kỳ, năm học về công tác Thiết bị dạy học dẫn đến việc ghi chép cập nhật số liệu, thống kê về Thiết bị dạy học chưa được chính xác. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 9.2% (KTX) và 0.3% (KTH); 6.5% (TB) và 6.9% (Y).

Thông tin về thực trạng thiết bị không được cập nhật thường xuyên (trang bị, mua sắm thêm, hư hỏng, hóa chất quá hạn, nắm bắt các đề xuất của GV về thiết bị …) làm cho giáo viên không biết đươc thiết bị có hay không, dùng được hay không dùng được. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 15% (KTX) và 1.3% (KTH); 6.5% (TB) và 6.2% (Y).

Giáo viên kiêm nhiệm, Cán bộ thiết bị không được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về Thiết bị dạy học nên không có kiến thức cơ bản về công việc mình đang phụ trách, không nắm vững được các loại thiết bị dạy học, nội dung chương trình dạy học, nội dung bài dạy có sử dụng Thiết bị dạy học, không có khả năng sửa chữa nhỏ khi thiết bị hư hỏng, cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng của giáo viên. Cán bộ thiết bị dạy học chưa qua đào tạo nên việc chuẩn bị, trợ giúp cho giáo viên bộ môn phần nào bị hạn chế. Từ việc cán bộ thiết bị thiếu nghiệp vụ, việc chuẩn bị đồ dùng, Thiết bị dạy học phục vụ công tác giảng dạy của giáo viên bộ môn không thực hiện đồng bộ, kém hiệu quả, không tạo được sự hứng thú học tập của học sinh dẫn đến tiết dạy không đạt yêu cầu, học sinh không được rèn luyện kỹ năng thực hành. CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông 13.1% (KTX) và 1.3% (KTH); 4.9% (TB) và 5.9% (Y). Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Những vấn đề sau cũng đươc đa số CB- GV trao đổi qua phỏng vấn cho rằng cũng làm ảnh hưởng đến việc sử dung Thiết bị dạy học trong nhà trường:

Việc bảo quản thiết bị dạy học đôi khi phó mặc cho cán bộ quản lý thiết bị, chưa quan tâm đến công tác sửa chữa, khắc phục các hư hỏng đơn giản; có tư tưởng ỷ lại việc trang bị Thiết bị dạy học từ kinh phí, không tận dụng các thiết bị hiện có, cải tiến cho phù hợp với điều kiện của nhà trường;

  • Công tác quản lý thiết bị dạy học ít được kiểm tra, đôn đốc, ít nhắc nhở GV tự làm đồ dùng dạy học.
  • Chưa mạnh dạn lập kế họach đề xuất những thiết bị bộ môn đang cần, tham mưu cho hiệu trưởng để nhà trường có kế hoạch mua sắm bổ sung đầy đủ cho giáo viên sử dụng trong các tiết dạy, thí dụ như hóa chất, dụng cụ dùng trong thí nghiệm bị hư hỏng, thiếu ,…
  • Chưa chủ động kiểm kê – thống kê Thiết bị dạy học của bộ môn về các tình trạng hư hỏng, thiếu, đủ, và hiện có để đề nghị nhà trường trang bị bổ sung Thiết bị dạy học; Vẫn còn mang nặng tư tưởng trông chờ từ nguồn cung cấp trang bị của cấp SGD&ĐT;
  • Chưa thật sự quan tâm đến phong trào làm đồ dùng dạy học, dẫn đến chưa tập hợp được nguồn lực giáo viên để phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học trong nhà trường.
  • Không quan tâm đến việc kiểm tra chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên; việc khai thác, sử dụng thiết bị dạy học của các tiết học có sử dụng thiết bị dạy học, đặc biệt tiết thực hành có điểm hệ số 2 mà chương trình qui định

Tổ trưởng chuyên môn không được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về Thiết bị dạy học, không có kiến thức cơ bản về công việc mình đang phụ trách; dẫn đến chưa nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quản lý thiết bị dạy học.

Một số trường không có cán bộ chuyên trách thiết bị, nên giáo viên bổ nhiệm về dôi ra được phân công làm cán bộ quản lý thiết bị nên không nắm được số lượng chất lượng các Thiết bị dạy học, không nắm được các tính năng, đặc điểm, tác dụng của các thiết bị đã lúng túng trong khâu chuẩn bị Thiết bị dạy học cho giáo viện, khâu mượn – trả Thiết bị dạy học, khâu bảo quản…

2.3.2.3. Thực trạng tổ chức, chỉ đạo bảo quản Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

  • Bảng 2.8.c: Thực trạng tổ chức, chỉ đạo bảo quản Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Qua bảng 2.8c về thực trạng tổ chức, chỉ đạo bảo quản Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, chúng tôi nhận thấy phần lớn các trường làm Khá công tác này. Điểm trung bình chung cho công tác này của các trường trong huyện về mức thường xuyên là 3.27, mức hiệu quả là 3.28. Tuy nhiên trong số trường điều tra khảo sát, có trường không đạt ở mức này, rơi vào trung bình hoặc yếu, có trường không quan tâm một số nội dung trên, dẫn đến không thường xuyên thực hiện hoặc không thực hiện. Nội dung không quan tâm nhiều nhất, đó là việc tổ chức chỉ đạo kịp thời việc sửa chữa, bảo trì thiết bị kịp thời đúng định kỳ, có 4.9% CB-GV đánh giá các trường Trung học phổ thông không thường xuyên thực hiện và 5.2% CB-GV đánh giá các trường Trung học phổ thông không thực hiên công tác này, về mức hiệu quả có 5.2% CB-GV đánh giá các trường Trung học phổ thông trung bình, 11.4% CB-GV đánh giá các trường Trung học phổ thông yếu.

Tìm hiểu các trường đánh giá chưa đạt trong việc tổ chức, chỉ đạo bảo quản Thiết bị dạy học chúng tôi nhận thấy những hạn chế sau: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

  • Việc bảo quản thì giao cho cán bộ phụ trách hoặc GV kiêm nhiệm;

Giáo viên được bố trí làm Cán bộ thiết bị phần lớn nhận nhiệm vụ này một cách gượng ép, tư tưởng không thoải mái, chế độ phụ cấp đứng lớp không có, dẫn đến thiếu nhiệt tình, không tập trung vào công việc, quản lý thiết bị giống như người giữ kho chỉ biết đóng, mở cửa phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn; việc cho giáo viên bộ môn đăng ký mượn thiết bị, thí nghiệm thực hành, quản lý thiết bị chưa chặt chẽ, dễ thất lạc, hư hỏng thiết bị, gây lãng phí,

Một số trường Trung học phổ thông trong huyện, cán bộ thiết bị sắp xếp Thiết bị dạy học chưa đạt yêu cầu: sắp xếp phân loại không khoa học, không ngăn nắp; thậm chí không sắp xếp thiết bị, đồ dùng theo từng phân môn, thiết bị và hóa chất để chung với nhau, lộn xộn nên việc sử dụng thiết bị chưa cao.

Một số trường Trung học phổ thông trong huyện, cán bộ quản lý thiết bị không có kiến thức về Thiết bị dạy học ở bộ phận mình phụ trách nên việc bảo quản các thiết bị điện tử, quản lý nhãn mác thiết bị, lọ hoá chất không được chú ý thường xuyên, Thiết bị dạy học bị hư hỏng nhỏ không được khắc phục hoặc sửa chữa kịp thời; từ đó dẫn đến đồ dùng, thiết bị, hoá chất mau hư hỏng, thất lạc,…gây lãng phí tài sản nhà trường.

Chưa chủ động tổ chức, chỉ đạo kiểm kê – thống kê Thiết bị dạy học của bộ môn về các tình trạng hư hỏng, thiếu, đủ, và hiện có để đề nghị nhà trường sửa chữa, trang bị bổ sung Thiết bị dạy học.

Chưa tổ chức chỉ đạo trang bị đầy đủ Cơ sở vật chất cho việc bảo quản Thiết bị dạy học. CSVS cho việc bảo quản còn thiếu như: phòng ốc, kho, bàn ghế tủ, kệ đỡ, khay….

Tóm lại: Công tác tổ chức, chỉ đạo bảo quản thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom có những bất cập sau: Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Một số trường tổ chức, chỉ đạo công tác Thiết bị dạy học chưa thật sự có chiều sâu, không có biện pháp tích cực để triển khai kế hoạch đã đề ra, nhiều trường chỉ tập trung tổ chức, chỉ đạo phát động phong trào theo từng đợt hội thi hàng năm chứ chưa xem đây là công việc thường xuyên, chưa chỉ đạo một cách nề nếp, khoa học; có trường Hiệu trưởng còn khoán trắng cho phó hiệu trưởng hoặc tổ trưởng chuyên môn phụ trách công tác này; việc chỉ đạo phân công không cụ thể, chưa đưa ra các tiêu chí đánh giá việc sử dụng Thiết bị dạy học hoặc đã có nhưng chưa chặt chẽ, chưa có tính bắt buộc vào trong quản lý chuyên môn và các tiêu chuẩn thi đua của nhà trường.

Một số trường tổ chức, chỉ đạo công tác xuất – nhập và mượn – trả sắp xếp hợp lý, tuyển chọn Cán bộ thiết bị đúng chuyên môn nghiệp vụ thì việc bảo quản tốt có tính khoa học cao và thường xuyên sử dụng

Một số trường khác công tác tổ chức, chỉ đạo bảo quản thiếu sự quan tâm về tổ chức quán triệt, phân công, giới thiệu danh mục, tổ chức phong trào tự làm đồ dùng dạy học, kiểm tra đánh giá công tác Thiết bị dạy học, sắp xếp, kiểm kê – thống kê, sửa chữa, không có cán bộ thiết bị chuyên trách thì chỉ đạt yêu cầu. Vì vậy, việc sử dụng, khai thác đồ dùng dạy học của giáo viên nhà trường gặp nhiều khó khăn.

Thực trạng này cho thấy, tổ chức, chỉ đạo công tác Thiết bị dạy học của một số trường Trung học phổ thông ở huyện Trảng Bom nghiên cứu cho thấy còn nhiều bất cập, cần phải có sự thay đổi tư duy trong công tác chỉ đạo trong thời gian tới.

2.3.3. Thực trạng kiểm tra – đánh giá công tác Thiết bị dạy học

  • Bảng 2.9: Thực trạng kiểm tra – đánh giá công tác Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Kiểm tra, đánh giá là một chức năng quan trọng của người làm công tác quản lý, nhất là hiệu trưởng để qua đó nắm bắt lại các thông tin phản hồi trong quá trình quản lý, từ đó có thể điều chỉnh những sai sót trong các quyết định chỉ đạo của mình, uốn nắn những lệch lạc của các thành viên trong quá trình thực hiện.

Nhận định về công tác này, đa số ý kiến đều xác định việc kiểm tra đánh giá công tác Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom ở mức độ khá (mức thường xuyên có điểm trung bình chung là 3.37, mức hiệu quả của công tác này là 3.26), đây là ý kiến phù hợp với thực tế, vì hiện nay công tác kiểm tra đánh giá Thiết bị dạy học là một khâu còn hạn chế trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Một số trường chưa xác định các tiêu chuẩn để kiểm tra đánh giá việc mua sắm trang bị, sử dụng, bảo quản. Có 0.7% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông không thường xuyên thực hiện và 6.9% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông không thực hiện công tác này (bảng 2.9).

Có trường chưa xác định thường xuyên mục tiêu kiểm tra, chưa có tiêu chí kiểm tra – đánh giá việc sử dụng và bảo quản Thiết bị dạy học hoặc có nhưng chưa chặt chẽ để áp dụng tính vào thi đua của giáo viên. Bảng 9 cho thấy thực trạng vấn đề này: có 9.2% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông chưa thường xuyên, 0.7% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông không xác định được mục tiêu. Hiệu quả có 11.4% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông đạt trung bình

Một số trường chưa xây dựng được các nội dung, hình thức kiểm tra, biện pháp kiểm tra, bảng điều tra 2.9 cho thấy số này chiếm tỉ lệ 0.7% và một số trường không thực hiện thường xuyên việc này có tỉ lệ 7.8%, cả hai đánh giá mức hiệu quả thuộc vào loại trung bình chiếm tỉ lệ 9.8% (bảng 2.9).

  • Tìm hiểu về công tác kiểm tra- đánh giá Thiết bị dạy học chúng tôi nhận thấy:

Công tác kiểm tra-đánh giá kế hoạch mua sắm, trang bị Thiết bị dạy học, Hiệu trưởng thường giao khoán hẳn cho cán bộ thiết bị, nên lượng thiết bị trong nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới Phương pháp dạy học.

Công tác sử dụng, bảo quản chủ yếu dựa vào sự nhiệt tình của giáo viên, nên việc kiểm tra đánh giá công tác sử dụng Thiết bị dạy học Hiệu trưởng thường chỉ nhắc nhở ở các cuộc họp Hội đồng sư phạm nhà trường.

Không quan tâm đến việc kiểm tra chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên; việc khai thác, sử dụng thiết bị dạy học của các tiết học có sử dụng thiết bị dạy học, đặc biệt tiết thực hành có điểm hệ số 2 mà chương trình qui định, nên việc xác định kết quả, phân tích, đánh giá kết quả thường không thực hiện (chiếm tỉ lệ 0.3%) hoặc không thường xuyên (chiếm tỉ lệ 6.2%)

Một số trường lực lượng kiểm tra thiếu nhân sự hoặc chưa đúng thành phần, không tuân thủ các bước kiểm tra, các quy trình kiểm tra; lực lượng kiểm tra thành lập nhất thời không có tính lâu dài ổn định để tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ này nâng cao nghiệp vụ. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Công tác kiểm tra – đánh giá của tổ trưởng chuyên môn thực hiện không được thường xuyên chiếm tỉ lệ khá cao, còn bỏ qua không thực hiện, kiểm tra qua loa, lấy lệ nên nhiều mặt kết quả thực hiện kiểm tra chưa đạt. Đánh giá vấn đề này có 12.4% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông không thường xuyên và 0.7% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông không thực hiện xây dựng lực lượng kiểm tra, quy trình kiểm tra, từ đó kéo theo hiệu quả công việc có 11.8% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông đạt trung bình và 6.2% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông đạt yếu.

Một số trường có một số vấn đề cần phải điều chỉnh sau mỗi tiết dạy hoặc sau mỗi chuyên đề về công tác Thiết bị dạy học chưa hoặc ít được mổ xẻ, phân tích, để rút kinh nghiệm hoặc có nhưng không thường xuyên làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác kiểm tra – đánh giá. Trong bảng 9 cho thấy 14.1% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông không thực hiện việc rút kinh nghiệm, điều chỉnh dẫn đến hiệu quả có 10.1% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông đạt trung bình và 6.2% CB-GV đánh giá trường Trung học phổ thông đạt loại Yếu trong công tác này.

Tóm lại: Qua tìm hiểu các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, chúng tôi nhận thấy việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch công tác Thiết bị dạy học của một số trường chỉ thực hiện nghiêm túc khi có thanh tra, kiểm tra toàn diện. Do vậy, việc kiểm tra, đánh giá cũng còn nhiều hạn chế, các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom cần phải có những biện pháp thật cụ thể, tích cực và thường xuyên hơn trong hoạt động kiểm tra đánh giá mới có thể góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này.

2.4. Nguyên nhân của thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

CB-GV các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom đã nhận định những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Thiết bị dạy học như sau:

2.4.1. Nguyên nhân của ưu điểm (yếu tố thuận lợi)

  • Bảng 2.10.a: Những yếu tố thuận lợi trong công tác quản lý Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Đội ngũ Cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng của Thiết bị dạy học và quản lý Thiết bị dạy học (có 81.4% CB-GV tham gia nhất trí): Thiết bị dạy học là công cụ lao động của giáo viên, là phương tiện giúp học sinh dễ hiểu các khái niệm, dễ lĩnh hội kiến thức, qua sử dụng Thiết bị dạy học cũng giúp cho học sinh hình thành những kỹ năng thói quen cần thiết trong thực hành, trong lao động và ứng dụng trong đời sống, đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa;

  • Có sự quan tâm chỉ đạo thống nhất từ các cấp quản lý về công tácTBDH (có 6% CB-GV tham gia nhất trí). Thể hiện qua các văn bản:

Đảng và Nhà nước và Chính quyền các địa phương đã có những chủ trương đúng đắn trong việc chăm lo sự nghiệp giáo dục.Tại kỳ họp lần thứ 8 khóa X Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 40/2015/QH về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

Bộ giáo dục ban hành: Quy chế thiết bị giáo dục trong trường Mầm non, phổ thông (ban hành kèm theo quyết định số 41/2015/QĐ-BGD&ĐT) quy định danh mục và chất lượng thiết bị; quản lý sử dụng.

Bảng danh mục thiết bị tối thiểu các lớp 10, 11, 12 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành từ năm 2017 đến nay. Qui chế công nhận phòng học bộ môn trường trung học đạt chuẩn quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định 32/2019/QĐ-BGD&ĐT).

Thông tư 30/1990/TT-LB của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính hướng dẫn ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục phổ thông hàng năm để mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, sách giáo khoa và các thiết bị cho thư viện trường học (nay là Thông tư 14/TT-LB). Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Quyết định số 2105/QĐ-BGD ĐT ngày 25/04/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành qui định về công tác thiết bị giáo dục phổ thông.

Theo đó chương trình đổi mới giáo dục phổ thông được đưa vào chương trình mục tiêu quốc gia, hàng năm ngân sách giáo dục được đầu tư ngày càng tăng.

  • CBQL có biện pháp quản lý Thiết bị dạy học phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nhà trường.( 90.8% CB-GV tham gia nhất trí).
  • Đội ngũ quản lý Thiết bị dạy học và đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu sử dụng Thiết bị dạy học nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ( có 90.5% CB-GV nhất trí).
  • Huy động các nguồn lực để khắc phục những thiếu sót về Cơ sở vật chất, Thiết bị dạy học trong nhà trường. (Có 90.5% CB-GV nhất trí).

2.4.2. Nguyên nhân của hạn chế (yếu tố khó khăn)

  • Bảng 2.10.b: Đánh giá những yếu tố khó khăn trong công tác quản lý Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom

Về khó khăn: các ý kiến đều thống nhất cao (điểm trung bình chung là 2.95) những khó khăn ở một số trường Trung học phổ thông nhất là các trường tư thục:

Trình độ và năng lực quản lý Thiết bị dạy học của một số Cán bộ quản lý còn hạn chế (có 86.3% CB-GV đánh giá): Trong quản lý Thiết bị dạy học của hiệu trưởng, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên ít sáng tạo, chưa nhạy bén với tình hình phát triển xã hội hiện nay. Công tác tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên, nhân viên sử dụng, bảo quản Thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế; cán bộ chuyên trách Thiết bị dạy học thiếu chưa có nghiệp vụ chuyên môn.

Nhận thức về nội dung quản lý Thiết bị dạy học của một số Cán bộ quản lý chưa đầy đủ (có 88.2% CB-GV đánh giá) dẫn đến công tác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, công tác thanh tra, kiểm tra về hoạt động Thiết bị dạy học ở các trường chưa được quan tâm, chưa được giám sát chặt chẽ; thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực này chưa được qui định rõ ràng.

Biện pháp quản lý Thiết bị dạy học của Cán bộ quản lý chưa khoa học, thiếu tính cụ thể, chưa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nhà trường (89.2 % CB- gv tham gia đánh giá). Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

Đội ngũ quản lý Thiết bị dạy học, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng Thiết bị dạy học nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học (có 84% CB-GV tham gia đánh giá nhất trí).

Điều kiện về Cơ sở vật chất, Thiết bị dạy học của nhà trường còn thiếu thốn (có 81.4% CB- GV tham gia đánh giá) cơ sở vật chất trường học hàng năm tuy có đầu tư nhưng chỉ để giải quyết số lượng phòng học xuống cấp; các phòng học bộ môn, thư viện, thí nghiệm, chưa được quan tâm đúng mức kho chứa thiết bị, phòng thực hành, phòng bộ môn theo đúng mẫu hướng dẫn của Bộ giáo dục.

Những tác động của môi trường kinh tế- xã hội đã ảnh hưởng đến công tác quản lý Thiết bị dạy học: huyện Trảng Bom còn nhiều xã khó khăn về kinh tế, nên việc huy động nguồn lực trong dân để làm công tác xã hội hóa Thiết bị dạy học còn hạn chế cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp này. Với các trường dân lập, tư thục việc tuyển sinh khó khăn do có nhiều trường tư mở ra trong cùng một huyện, thêm vào đó các trường Đại học lâm nghiệp 2, Cao đẳng Vinatex, Cao đẳng nghề số 8, Trường nghề Cơ giới 3, Trung tâm giáo dục thường xuyên Huyện nằm trong địa bàn huyện cũng tuyển sinh lớp 10 hệ phân luồng nghề; dẫn đến kinh phí đấu tư cho Thiết bị dạy học thu gọn, Hội đồng quản trị không dám đầu tư nhiều hơn nữa vì không biết cứ đà tuyển sinh này có tồn tại được không. Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537