Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy: Giáo dục là phương thức phát triển xã hội, tạo tiền đề về đào tạo nhân lực có tri thức cho phát triển kinh tế – xã hội. Mặt khác, kinh tế – xã hội luôn luôn đặt ra các yêu cầu mới và tạo điều kiện mới cho giáo dục phát triển đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển xã hội loài người. Như vậy, phát triển giáo dục và phát triển kinh tế – xã hội có tính “cân bằng động” cho nên giáo dục phải luôn tự điều chỉnh để nâng mình lên nhằm đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và tận dụng những điều kiện mới mà kinh tế – xã hội đã mang lại.
Tiếp cận xu thế phát triển giáo dục của thế giới, để phù hợp với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, trong thời gian qua, giáo dục Việt Nam đã có nhiều cải cách, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo. Về phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông hiện nay, Luật Giáo dục qui định: “Phương pháp giáo dục Trung học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh ”.[14, trang 8]. Để làm được điều này, nhà trường phải có đầy đủ thiết bị dạy học vừa đồng bộ, vừa hiện đại để qua đó phục vụ tốt cho việc cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng phát triển kinh tế – xã hội yêu cầu.
Thiết bị dạy học đóng một vai trò quan trọng đối với việc đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trong quá trình dạy học thiết bị dạy học vừa là nội dung vừa là phương tiện chuyển tải thông tin, giúp giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, đồng thời giúp học sinh hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành, hình thành phương pháp học tập chủ động tích cực, sáng tạo.
Chỉ thị số 14/2016/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định: thiết bị dạy học là một trong những thành tố quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Thiết bị dạy học phải là những thiết bị cần thiết, đáp ứng yêu cầu của nội dung chương trình và sách giáo khoa mới; phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, trình độ đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên thiết bị thí nghiệm; từng bước ứng dụng Công nghệ thông tin vào giảng dạy ở các trường phổ thông. Như vậy, việc trang bị trang thiết bị dạy học cho các trường học và quản lý việc thực hiện sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trong các trường phổ thông là một việc làm cần thiết để đáp ứng cho việc đổi mới phương pháp dạy học.
Quản lý công tác thiết bị dạy học trong nhà trường là làm cho nó có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung và phương pháp dạy học theo định hướng của mục tiêu đào tạo đề ra. Yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý thiết bị dạy học trong trường Trung học phổ thông là vấn đề quan trọng và cấp thiết hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Việc đổi mới quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường là điều tất yếu. Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
Với sự chỉ đạo của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, công tác quản lý Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Đồng Nai nói chung và các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom nói riêng đã và đang được thực hiện một cách thường xuyên, có nhiều cố gắng và đi vào nề nếp, nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, không đồng bộ, chưa được quan tâm đúng mức, việc quản lý còn mang tính đối phó, có trường chưa bao quát hết các nội dung quản lý thiết bị dạy học và chưa mang lại hiệu quả cao cho việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý công tác thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông Huyện Trảng Bom – tỉnh Đồng Nai có một số ưu điểm trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc sử dụng khai thác Thiết bị dạy học. Tuy nhiên việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá công tác thiết bị dạy học của các trường chưa được thực hiện thường xuyên, chưa sâu sát với từng môn học cụ thể và chưa thật sự có hiệu quả.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông.
6. Phạm vi nghiên cứu
- 8 trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học làm cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: điều tra thực trạng công tác Thiết bị dạy học và quản lý Thiết bị dạy học của các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn BGH, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên có kinh nghiệm trong việc quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý thiết bị trường học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 11.5 để xử lý các kết quả điều tra được.
8. Cấu trúc luận văn
- Chương I: Cơ sở lý luận của công tác quản lý thiết bị dạy học.
- Chương II: Thực trạng công tác quản lý Thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Chương III: Một số giải pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG Trung học phổ thông
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục –đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”. [29, 212].
Nghị quyết số 40/2015/QH10 của Quốc Hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông có nêu: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục. [21, dòng 22]
Trong Luật Giáo dục, Điều 24.2 qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. [14, trang 8]
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông, trong đó người học thực hiện hai chức năng: lĩnh hội và tự điều khiển (tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo) và người dạy thực hiện hai chức năng: truyền thụ và điều khiển (tổ chức, hướng dẫn thích hợp) nhằm phát huy tư duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp, khả năng tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập. Thực hiện được điều này thì không thể nào thiếu Thiết bị dạy học. Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
Trong quá trình dạy học, thiết bị dạy học không thể nào thiếu được vì nó là công cụ lao động sư phạm của giáo viên và là công cụ nhận thức của học sinh; là nội dung, là phương tiện chuyển tải thông tin. Sử dụng Thiết bị dạy học phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn đúng quy trình, đúng phương pháp sẽ tạo ra nhiều khả năng giúp cho giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, giúp học sinh hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành, hình thành phương pháp học tập chủ động tích cực, sáng tạo; lúc này thiết bị dạy học trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận không thể tách rời của cả phương pháp và nội dung dạy học.
Lịch sử phát triển giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng cho thấy, nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học luôn được coi trọng. Nghiên cứu về vấn đề trực quan và các Thiết bị dạy học nhiều nhà khoa học như: Konmensky (1592-1679), V.G.Bêlinxky (1811-1848), Thái Duy Tuyên, Vũ Trọng Rỹ… và các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đã xây dựng được một hệ thống lí luận về vai trò, tác dụng của Thiết bị dạy học cùng một số yêu cầu và nguyên tắc sử dụng nó trong Quá trình dạy học.
Ở Việt Nam, ngoài chủ trương ưu tiên tăng cường trang bị thiết bị dạy học cho tất cả các cơ sở giáo dục, nhiều nhà khoa học cũng đã quan tâm nghiên cứu xây dựng hệ thống lý luận về vai trò Thiết bị dạy học, coi Thiết bị dạy học là một trong những thành tố cơ bản trong quá trình dạy học – giáo dục hiện nay.
Giống như các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường, hoạt động quản lý Thiết bị dạy học diễn ra liên tục trong suốt năm học. Chính vì vậy quản lý công tác Thiết bị dạy học cũng là nội dung chủ yếu của người cán bộ quản lý. Làm thế nào để quản lý tốt công tác thiết bị dạy học trong điều kiện đổi mới chương trình giáo dục hiện nay là vấn đề cấp thiết mà người làm công tác giáo dục luôn quan tâm, trăn trở.
Đã có một số nghiên cứu về công tác quản lý Thiết bị dạy học ở trường Trung học phổ thông được đăng trên báo Giáo dục thời đại, tạp chí Thiết bị giáo dục…, một số luận văn Cao học nghiên cứu công tác quản lý Thiết bị dạy học ở các địa phương khác nhau, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề này ở các trường Trung học phổ thông huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
1.2. Hệ thống các khái niệm cơ bản Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
1.2.1. Khái niệm quản lý
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, từ thời kỳ lạc hậu đến xã hội văn minh ngày nay, con người biết tập hợp nhau lại để tự vệ, chinh phục thiên nhiên, lao động kiếm sống, từ lao động chung của mọi người đã xuất hiện một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội, qua đó hình thành những hoạt động có tổ chức, phối hợp và điều khiển đối với họ. Những hoạt động này tồn tại và phát triển một cách tất yếu khách quan, làm cơ sở đảm bảo cho mọi hoạt động của lao động chung của con người đạt được kết quả mong muốn, từ đó làm nảy sinh hoạt động quản lý. Xã hội loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên trong quản lý cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, liên quan đến mọi người. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Hoạt động quản lý chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp được sự nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Các triết gia, các chính trị gia từ thời cổ đại đến nay đều coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội, quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan, là một sự tất yếu của lịch sử. Các Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8, Tr 480].
Trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người. Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [10, Tr 176]
- Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [13, Tr 11]
- Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’’ [18, Tr16].
- Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” khi đề cập về vai trò của quản lý trong xã hội cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [19, Tr19]
- Theo tác giả Hanold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học [11, Tr 33].
Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng có thể thấy rõ được nội hàm khái niệm quản lý như sau:
- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động.
- Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức
- Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý được quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý.
- Hoạt động “quản lý” bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định. Khái niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người.
Như vậy, có thể hiểu: quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.2. Chức năng của quản lý Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, hình thành từ quá trình phân công, hợp tác lao động và chuyên môn hoá trong quản lý, thể hiện qua các tính chất tương đối độc lập của những bộ phận của quản lý.
Quản lý có 4 chức năng:
- Kế hoạch hoá.
- Tổ chức.
- Điều khiển (chỉ đạo thực hiện).
- Kiểm tra, đánh giá.
Kế hoạch hoá: là quá trình là xác định các mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt đến mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, kế hoạch hoá là chức năng đầu tiên của môt quá trình quản lý, có vai trò định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý, là cơ sở huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ để kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu của đơn vị, bộ phận, cá nhân; trong kế hoạch chỉ rõ chương trình hành động, xác định từng lộ trình, biện pháp, điều kiện, phương tiện cần thiết cách thức để thực hiện mục tiêu. Nội dung của chức năng kế hoạch thể hiện ở 4 hoạt động:
- Xác định mục tiêu và phân tích mục tiêu.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu.
- Triển khai thực hiện kế hoạch
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
Do đó, người quản lý nếu không có kế hoạch sẽ không thể biết cách tổ chức, huy động nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực…) của đơn vị như thế nào cho có hiệu quả theo mục tiêu của đơn vị được, công việc kiểm tra trở thành không có cơ sở đối chiếu.
Tổ chức: là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra. Đó là quá trình hình thành nên cấu trúc, các quan hệ của các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được các mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý một khi tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.
Nội dung của chức năng tổ chức chủ yếu là:
- Xác định từng chủ thể quản lý tương ứng với các đối tượng quản lý
- Xây dựng, đào tạo để phát triển nguồn nhân lực.
- Thiết lập cơ chế hoạt động và các mối quan hệ .
- Tổ chức lao động một cách khoa học. Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
- Chỉ đạo thực hiện (điều khiển): là quá trình tác động gây ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra với chất lượng cao nhất. Muốn thế, các nhà quản lý phải có khả năng truyền đạt và thuyết phục về các mục tiêu bằng các biện pháp khác nhau.
Chức năng chỉ đạo cùng chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hoá các mục tiêu của kế hoạch. Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức thành những nhu cầu của mọi thành viên trong tổ chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác mang hết khả năng để làm việc.
Chức năng chỉ đạo thực hiện các nội dung chủ yếu sau:
- Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ.
- Thường xuyên đôn đốc, khen thưởng động viên.
- Giám sát công việc, uốn nắn kịp thời mọi lệch lạc trong hoạt động.
- Thúc đẩy các hoạt động được
Do vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động thực hiện mục tiêu quản lý.
Kiểm tra, đánh giá: là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt đến mục tiêu của tổ chức; đây là khâu cuối cùng của quá trình quản lý, là chức năng rất quan trọng của công tác quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện nhiệm vụ đạt ở mức độ nào, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động , giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, bộ phận hoặc tổ chức đạt các mục tiêu đề ra.
Như vậy chức năng kiểm tra đánh giá có vai trò cung cấp thông tin và trợ giúp các cá nhân, tập thể đơn vị hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đã xác định. Với vai trò cung cấp thông tin, chức năng kiểm tra đánh giá lại còn tạo tiền đề cho một quá trình quản lý mới tiếp theo.
Chức năng kiểm tra, đánh giá thực hiện các nội dung sau:
- Xác định các chuẩn kiểm tra, thu thập thông tin, so sánh kết quả đạt được với các chuẩn, đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết.
- Kiểm nghiệm các mức độ thực hiện của các đối tượng quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn.
Điều chỉnh, tư vấn (uốn nắn, sửa chữa), thúc đẩy (phát huy thành tích tốt), xử lý Như vậy, chức năng kiểm tra là một chức năng quan trọng của công tác quản lý nhằm đánh giá đúng kết quả hoạt động, phát hiện ra những lệch lạc, sai sót nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó tìm hiểu các nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục, sửa chữa, đảm bảo hoàn thành kế hoạch đã đề ra.
Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng, trong quá trình quản lý, các chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất của hoạt động quản lý. Việc liên kết giữa các chức năng này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý.
- Hình 1.1: Mối quan hệ của các chức năng trong một chu trình quản lý
1.2.3. Khái niệm quản lý nhà trường Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, ở đó tiến hành quá trình giáo dục đào tạo, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của quản lý giáo dục.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [16, Tr 48].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [20, Tr 75].
Từ những quan điểm trên đây ta thấy: bản chất của hoạt động quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt nhằm thực hiện chức năng cơ bản là tái tạo, phát triển nhân cách con người của thế hệ sau hơn thế hệ trước theo hướng duy trì, phát triển xã hội. Trên cơ sở quan niệm về quản lý giáo dục, ta nhận thấy: Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý làm cho Nhà trường thực hiện có chất lượng về mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quản lý nhà trường thực chất là quá trình quản lý lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập và tự giáo dục của trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.
Quản lý nhà trường còn có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu đã đề ra.
1.2.4. Khái niệm thiết bị dạy học
Trong công tác dạy học, bên cạnh sách giáo khoa, trường lớp, sân bãi… thầy trò còn phải dùng đến loại phương tiện được gọi học cụ, giáo cụ trực quan, đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục. Ngày nay thuật ngữ thiết bị dạy học được coi là đại diện cho các tên gọi trên. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thiết bị dạy học:
Theo tác giả Trần Kiểu và Vũ Trọng Rỹ: Thiết bị dạy học là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, còn đối với học sinh thì đó là nguồn tri thức giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học,… hình thành ở học sinh các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ mục đích dạy học và giáo dục. [30, tr 4].
Theo tác giả Thái Văn Thành: Thiết bị dạy học bao gồm: vật liệu, mẫu vật mô hình, tranh ảnh, bản đồ, dụng cụ thí nghiệm, dụng cụ lao động dạy nghề, hoá chất, vật liệu, phim đèn chiếu, băng đĩa ghi âm, ghi hình, phần mềm dạy học, vườn trường,… [25, tr 90]. Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
Theo Lotx Klinbơ (Đức) thì Thiết bị dạy học (còn gọi là đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục, dụng cụ,…) là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành sử dụng hợp lý, có hiệu quả trong quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học.
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Thiết bị dạy học là một vật thể hoặc một tập hợp các vật thể mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, định luật, … hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết.
Theo điều 1 về quy chế thiết bị giáo dục của Bộ Giáo dục (41/2015/ QĐ-BGD-ĐT): thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học ở tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc – họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
Như vậy, có thể hiểu: thiết bị dạy học là hệ thống đối tượng vật chất và tất cả những phương tiện kỹ thuật được giáo viên, học sinh sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu dạy học.
1.2.5. Khái niệm quản lý thiết bị dạy học
Quản lý Thiết bị dạy học là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà trường, do đó từ khái niệm quản lý và quản lý nhà trường ta có thể hiểu quản lý Thiết bị dạy học là tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến hệ thống Thiết bị dạy học để xây dựng, trang bị, bảo quản và tổ chức sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
Nói cách khác, quản lý thiết bị dạy học là làm cho nó có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, phương pháp học theo định hướng của mục tiêu giáo dục đào tạo đề ra.
1.3. Một số vấn đề lý luận cơ bản về thiết bị dạy học Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
1.3.1. Vai trò, chức năng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học
1.3.1.1 Vai trò của Thiết bị dạy học
Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố cốt lõi chủ yếu sau:
- Mục tiêu dạy học
- Nội dung dạy học
- Phương pháp dạy học
- Chủ thể dạy học (giáo viên)
- Đối tượng dạy học (học sinh)
- Thiết bị dạy học
Các thành tố này liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau, trong đó ba nhân tố Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp liên kết, tương tác chặt chẽ và các nhân tố này có mối quan hệ với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, với sự tiến bộ khoa học công nghệ, văn hóa của đất nước. Ba nhân tố còn lại (Giáo viên – Học sinh – Thiết bị dạy học) là các nhân tố để hiện thực hóa mục tiêu đào tạo, tái tạo, sáng tạo nội dung, phương pháp đào tạo. Trong đó, thiết bị dạy học là cầu nối để giáo viên tổ chức quá trình dạy học, đưa học sinh tham gia thực sự vào quá trình dạy học, học sinh tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Hình 1.2: Sơ đồ liên hệ tương tác 6 nhân tố
Từ sơ đồ này, ta có thể nêu ra một số vai trò của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học như sau:
- TBDH là công cụ lao động của người giáo viên.
- TBDH là công cụ nhận thức của học
- TBDH là sự cụ thể hóa nội dung dạy học.
- TBDH vật chất hóa phương pháp dạy học.
- TBDH tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hóa mục tiêu dạy học, góp phần làm cho quá trình dạy học có chất lượng, hiệu quả. Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
1.3.1.2. Chức năng của Thiết bị dạy học
- TBDH là một bộ phận của nội dung và phương pháp dạy học.
Để quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả cao, từ thời xa xưa con người ta đã tìm ra và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau cho mục đích này và theo đó, Thiết bị dạy học phục vụ cho phương pháp dạy học ra đời. Đứng về mặt nội dung và phương pháp dạy học thì Thiết bị dạy học đóng vai trò hỗ trợ tích cực vì có Thiết bị dạy học ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy học khoa học, đưa người học tham gia thực sự vào quá trình này, tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người thầy. Thiết bị dạy học đầy đủ, đồng bộ, hiện đại và phù hợp nội dung chương trình mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả.
- TBDH góp phần đảm bảo chất lượng dạy học
Xuất phát từ đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của con người trong quá trình nhận thức; sự trực quan đóng vai trò quan trọng đối với sự lĩnh hội kiến thức của người học. Khả năng các giác quan trong việc duy trì học tập theo VAT Project nhận xét như sau: Nghe chiếm 11%, nhìn chiếm 81%, các giác quan khác chiếm 8% [12, trang 180]. Như vậy, Thiết bị dạy học thực hiện được nguyên tắc trực quan qua kênh nhìn giúp cho lĩnh hội kiến thức tốt hơn.
Nhiều nội dung học tập phức tạp phải cần đến sự hổ trợ tích cực của phương tiện trực quan mới giải quyết được như chứng minh các định luật, các hiện tượng trừu tượng trong khoa học tự nhiên…
Rèn luyện kỹ năng cho người học: học sinh qua trực tiếp làm thí nghiệm, được lắp ráp thao tác, được quan sát, được nhận xét, do đó học bằng tất cả các giác quan, huy động mọi tiềm năng để nhận thức.
1.3.2. Phân loại thiết bị dạy học Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
TBDH trong nhà trường hiện nay hết sức phong phú và đa dạng về chủng loại; do vậy việc phân loại Thiết bị dạy học cũng có nhiều cách khác nhau:
Phân loại theo cách sử dụng:
- Thiết bị dùng trực tiếp để dạy học như: bảng, phấn, các thiết bị nghe nhìn video, máy chiếu, thiết bị đa phương tiện, máy vi tính…
- Thiết bị dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học gồm: các thiết bị hỗ trợ, thiết bị ghi chép và các thiết bị khác.
Phân loại theo góc độ xuất xứ:
- TBDH được làm theo phương pháp công nghệ: thiết bị sản xuất theo yêu cầu của giáo dục, chiếm tỉ lệ rất lớn trong số lượng Thiết bị dạy học của nhà trường như các bộ thí nghiệm đồng bộ, bản đồ, tranh ảnh, mô hình, dụng cụ máy móc, bộ đồ dùng thí nghiệm…, có tính kỹ thuật cao, có giá trị sử dụng lâu dài.
- TBDH được làm theo phương pháp thủ công: là loại Thiết bị dạy học do giáo viên tự làm, độ chính xác không cao, không có độ bền.
Phân loại dựa theo mức độ phức tạp trong chế tạo:
- Loại chế tạo không phức tạp: loại này thường thầy cô giáo tự nghiên cứu thiết kế, tự làm phục vụ cho bài dạy của môn học, giá thành chế tạo không quá cao; có thể dễ dàng cải tiến, tuổi thọ sử dụng thường ngắn.
- Loại chế tạo phức tạp: thường được thiết kế và tạo ra bởi một nhóm người; sản phẩm làm ra cần nhiều thời gian và được dùng phổ biến cho thầy cô giáo có kèm theo các tài liệu hướng dẫn cho thầy và trò; giá thành chế tạo tương đối cao, thường là sản phẩm hoàn hảo, có tuổi thọ sử dụng cao .
Phân loại theo sự tác động lên các giác quan: Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
- Các thiết bị nghe: là các thiết bị dung để thực hiện các chương trình truyền thanh, người học được lĩnh hội các kiến thức, nội dung cần thiết, chỉ có được nhờ vào việc lắng nghe sự truyền thanh lại từ các thiết bị này.
- Các thiết bị nhìn: là các thiết bị mà qua đó người học lĩnh hội được các kiến thức nhờ vào sự quan sát các hình ảnh trên thiết bị, được sử dụng khi giáo viên cần phải giới thiệu các hiện tượng, các quá trình không thể quan sát được trong lớp học hoặc các quá trình diễn ra quá chậm hay quá nhanh
Phân loại theo tính chất:
- Nhóm truyền tin cung cấp cho các giác quan của học sinh nguồn tin dưới dạng tiếng hoặc hình ảnh hoặc cả hai cùng một lúc như: máy chiếu đa năng, máy chiếu qua đầu, máy thu hình, máy chiếu phim, máy quay đĩa ….
- Nhóm mang tin là nhóm mà tự bản thân mỗi thiết bị đều chứa đựng một lượng thông tin nhất định. Các thiết bị mang tin được nghiên cứu, thiết kế theo các nguyên tắc sư phạm và khoa học kỹ thuật nhằm truyền tải những nội dung bài dạy học một cách thuận lợi và chính xác.
Phân loại theo hình thức tồn tại Thiết bị dạy học:
- TBDH theo nguyên mẫu.
- TBDH phỏng theo nguyên mẫu.
- TBDH biểu trưng.
Phân loại theo loại hình:
- Nhóm mô hình, mẫu vật: gồm máy móc, dụng cụ nguyên mẫu hoặc mô hình phỏng theo nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo.
- Nhóm các dụng cụ thí nghiệm: dùng chứng minh và thực hành theo từng mục đích, nội dung của chương trình.
- Nhóm các vật liệu nghe nhìn: tranh ảnh, sơ đồ, biểu bảng, băng hình, băng ghi âm, phim giáo khoa…
- Nhóm các phương tiện hỗ trợ gồm: các bộ lắp ráp, hệ điều khiển điện, dụng cụ đo, hoá chất, radio, cassette, máy chiếu phim, video, computer, overhead… Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
1.3.3. Yêu cầu về thiết bị dạy học ở trường Trung học phổ thông
Tính khoa học sư phạm
- TBDH phải đảm bảo tương ứng phù hợp với nội dung, chương trình học, nội dung sách giáo khoa, đúng đặc trưng của từng môn học, tâm lý lứa tuổi của học sinh để giúp học sinh phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic.
- TBDH phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy hiện đại, với các hình thức tổ chức dạy học tiên tiến nhằm thúc đẩy khả năng tiếp thu của học sinh.
Tính trực quan
- TBDH dùng biểu diễn trước học sinh phải đủ lớn để học sinh ở xa và gần đều nhìn thấy được, qua đó học sinh tìm kiếm kiến thức mới.
- Thiết bị dạy học dùng cho thực hành nhỏ hơn phải phù hợp vị trí, tính chất thực hành, qua đó học sinh củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng.
- TBDH phải phù hợp tâm lý lứa tuổi học sinh
- Hệ thống kí hiệu và màu sắc trên Thiết bị dạy học phải rõ ràng, màu sắc rực rỡ, đẹp, có độ tương phản mạnh và phù hợp với kí hiệu các thiết bị trong thực tế.
- TBDH phải có tính an toàn cao khi sử dụng trong quá trình dạy học.
Tính thẩm mỹ
- TBDH thể hiện được bố cục hợp lý, trình bày đẹp, gây hứng thú cho học sinh sử dụng, học tập, kích thích sự say mê làm việc với thiết bị dạy học, kích thích sự yêu môn học; tạo sự hứng thú trong quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh.
Tính khoa học kỹ thuật Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
- Thiết bị dạy học đảm bảo tính chính xác của cơ sở toán học, khoa học kỹ thuật, số liệu phải phù hợp với thực tiễn, phải đảm bảo tính năng kỹ thuật, độ bền.
- TBDH phải thể hiện các thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật, phải có cấu trúc hợp lý, kết cấu phù hợp với môn học, dễ vận chuyển, lắp ráp dễ dàng.
Tính kinh tế
- TBDH chế tạo sao cho giá thành rẻ, mà hiệu quả sử dụng cao nhất, có độ bền cao, chắc chắn và chi phí bảo quản thấp nhất.
1.4. Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thiết bị dạy học ở trường Trung học phổ thông
1.4.1. Yêu cầu của việc quản lý Thiết bị dạy học trong trường Trung học phổ thông
Để quản lý tốt công tác Thiết bị dạy học đòi hỏi người cán bộ quản lý trường học cần nắm vững một số yêu cầu sau:
- Nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn về lĩnh vực quản lý.
- Hiểu rõ những yêu cầu về nội dung chương trình và phương pháp bộ môn, các qui định Thiết bị dạy học cho từng môn học và cho các hoạt động giáo dục khác.
- Nắm vững nội dung quản lý công tác Thiết bị dạy học.
- Phải có các giải pháp để huy động mọi tiềm năng có thể có của tập thể sư phạm trong nhà trường và cộng đồng trong việc xây dựng, trang bị và tổ chức sử dụng các Thiết bị dạy học có hiệu quả cao.
- Phải có các giải pháp giữ gìn và bảo quản tốt các Thiết bị dạy học đã được trang bị.
- Phải có lộ trình đầu tư ngắn hạn và dài hạn để trang bị Thiết bị dạy học.
1.4.2. Nguyên tắc quản lý Thiết bị dạy học ở trường Trung học phổ thông
- Nguyên tắc tính mục đích của quản lý Thiết bị dạy học
Quản lý Thiết bị dạy học trong các trường Trung học phổ thông là một trong những nội dung và nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý nhà trường, có mục đích cùng với các hoạt động khác góp phần là thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
- Nguyên tắc tính hành chính và chuyên môn trong quản lý Thiết bị dạy học
TBDH được trang bị, mua sắm từ kinh phí Nhà nước và các nguồn xã hội hóa khác, vì thế, việc trang bị, sử dụng và bảo quản các Thiết bị dạy học phải tuân thủ các thủ tục quản lý hành chính của Nhà nước. Do đó, quản lý Thiết bị dạy học phải đảm bảo có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa công tác quản lý hành chính và chuyên môn. Công tác quản lý Thiết bị dạy học của nhà trường là tổ chức làm thế nào để kế hoạch và nội dung quản lý chuyên môn phải đồng bộ và ăn khớp với kế hoạch quản lý hành chính; ngược lại, kế hoạch và nội dung quản lý hành chính phải nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động dạy và học.
- Nguyên tắc tính khoa học và thực tiễn trong quản lý Thiết bị dạy học
Trong công tác quản lý Thiết bị dạy học, khi trang bị, mua sắm sử dụng bảo quản Thiết bị dạy học phải xuất phát từ nhu cầu của việc thực hiện nội dung chương trình và việc đổi mới Phương pháp dạy học cùng các điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương.. Do đó, Nhà trường cần tổ chức và bố trí nhân lực, vật lực, tài lực một cách khoa học và phù hợp với điều kiện hiện có của nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác này.
- Nguyên tắc về tính đầy đủ và đồng bộ trong quản lý Thiết bị dạy học
Để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường thì lượng thiết bị phải đầy đủ và đồng bộ. Thiết bị dạy học đầy đủ và đồng bộ bao gồm các thiết bị chứng minh lí thuyết và thí nghiệm thực hành, thiết bị để luyện tập. Muốn vậy cần phải có lượng thiết bị đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, ít nhất là lượng thiết bị dạy học tối thiểu theo qui định của BGD; có đầy đủ và đồng bộ cơ cấu nhân sự quản lý Thiết bị dạy học.
- Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả trong quản lý Thiết bị dạy học
Quản lý Thiết bị dạy học nhằm bảo đảm thực hiện tốt nội dung chương trình và đổi mới Phương pháp dạy học.
Do đó:
- Thiết bị dạy học được trang bị phải có chất lượng tốt, việc sử dụng phải đơn giản, tiện lợi và có hiệu quả cao.
- Việc sử dụng Thiết bị dạy học phải theo đúng hướng dẫn, đúng tính năng tác dụng và đúng mục đích.
- Việc bảo quản Thiết bị dạy học phải đúng cách, có phương án sắp xếp, bảo quản, sửa chữa tránh hỏng hóc do thời tiết, độ ẩm, nhiệt độ quá cao làm ảnh hưởng đến tính chính xác của Thiết bị dạy học khi sử dụng.
1.4.3. Nội dung quản lý Thiết bị dạy học ở trường Trung học phổ thông Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
Quản lý Thiết bị dạy học trong nhà trường bao gồm 3 nội dung chính:
- Quản lý trang bị Thiết bị dạy học phù hợp với nội dung, chương trình.
- Quản lý sử dụng và khai thác có hiệu quả Thiết bị dạy học để nâng cao chất lượng dạy học.
- Quản lý bảo quản Thiết bị dạy học đã được trang bị
Để thực hiện các nội dung trên thì hoạt động quản lý Thiết bị dạy học cần thực hiện 4 chức năng cơ bản sau:
1.4.3.1. Xây dựng kế hoạch công tác Thiết bị dạy học
Là quá trình thiết lập các mục tiêu về công tác Thiết bị dạy học, hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó. Nội dung của kế hoạch bao gồm:
- Xác định các nhu cầu đầu tư về Thiết bị dạy học cho mỗi môn học nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu Thiết bị dạy học đã đặt ra cho phù hợp với điều kiện thực tế của trường.
- Xây dựng các quy định, quy trình trong việc quản lý và sử dụng các Thiết bị dạy học nhằm mục đích: nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và giảm chi phí sử dụng. Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
1.4.3.2. Tổ chức thực hiện công tác Thiết bị dạy học
Là quá trình tổ chức, sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành cho các thành viên và các nguồn lực khác trong nhà trường để có thể quản lý sử dụng bảo quản Thiết bị dạy học một cách có hiệu quả nhất.
1.4.3.3. Chỉ đạo thực hiện công tác Thiết bị dạy học
Là việc điều hành (điều khiển) thông qua các quyết định quản lý của Hiệu trưởng để thực hiện trách nhiệm quản lý Thiết bị dạy học một cách thuận lợi nhất, đạt hiệu quả cao nhất.
1.4.3.4. Kiểm tra – đánh giá công tác Thiết bị dạy học
Là công tác kiểm tra – đánh giá việc quản lý và sử dụng các Thiết bị dạy học theo các kế hoạch đã đề ra của Hiệu trưởng để qua đó có thể điều chỉnh các quyết định quản lý không phù hợp, cũng như việc khen thưởng động viên, việc uốn nắn các suy nghĩ lệch lạc trong quản lý, sử dụng Thiết bị dạy học.
Kết hợp các nội dung và chức năng của quản lý Thiết bị dạy học ta được một hệ thống các nhiệm vụ quản lý Thiết bị dạy học trong trường Trung học phổ thông như sau: Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT […]