Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong mấy năm qua, khi cơ cấu giáo dục đại học nước ta được xác lập, việc cải cách giảng dạy cũng là vấn đề được quan tâm nhiều. Mục đích chính của cải cách giảng dạy là dần dần thiết lập một hệ thống quản lý việc giảng dạy đáp ứng cho sự cung cấp giáo dục và làm cho quá trình dạy và học trở nên đầy tính chủ động tích cực, nhằm tăng cường nội dung giáo trình, khung chương trình giảng dạy sao cho phù hợp với công cuộc xây dựng kinh tế và đáp ứng được các xu hướng phát triển khoa học, công nghệ và văn hóa hiện đại, nhằm phát triển một cơ chế kích thích và cạnh tranh thích hợp để động viên hết nhiệt tình và sáng kiến của những người làm công tác giáo dục trong giảng dạy và học tập, nâng cao được chất lượng giảng dạy, nâng cao hiệu quả chi phí đối với việc cung cấp giáo dục lên một bước.
Trong bài phát biểu tại “Hội nghị giáo dục đại học “(Hà Nội ngày 4/10/ 2025), Thủ tướng Phan Văn Khải đã đề cập đến nhiều vấn đề trọng tâm mà ngành giáo dục không chỉ nói, viết, bàn mà phải làm thiết thực và tìm ra cách làm thật sự có hiệu quả. Đó là chất lượng giáo dục, qui mô đào tạo đại học, những giải pháp chủ yếu để tạo chuyển biến về chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học cùng với việc đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục, quản lý đại học. Những vấn đề nêu trên trong “Hội nghị giáo dục đại học” vừa qua đã đặt ra cho những người làm công tác giáo dục một trách nhiệm lớn lao trong việc đổi mới giáo dục đại học, trong đó có chúng tôi, những giáo viên bộ môn ngoại ngữ, những người làm công tác quản lý việc giảng dạy ngoại ngữ ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông, các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học là rất quan trọng đối với việc đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, ngoại ngữ không chỉ là một công cụ giao tiếp, một phương tiện thông tin nhạy bén, mà còn được nâng lên như vai trò của một năng lực phẩm chất cần thiết trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện đại. Với ngôn ngữ quốc tế, chúng ta có thể tiếp thu những trào lưu tư tưởng văn hóa lớn, công nghệ tiên tiến cũng như làm cho thế giới hiểu rõ con người và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Thế nhưng do công tác quản lý giáo dục đào tạo, việc dạy học ngoại ngữ trong các trường đại học bị xem nhẹ, sự đầu tư và quản lý việc giảng dạy chưa tốt nên chất lượng dạy và học ngoại ngữ bị hạn chế, ngoại trừ các trường chuyên ngữ và các trường được Chính phủ Pháp tài trợ. Qui mô dạy và học ngoại ngữ trong các trường luôn biến động lên xuống không ngừng. Sự phân bố các thứ tiếng giữa các cấp, bậc học vẫn còn bất cập. Giáo trình bộ môn ngoại ngữ chưa thống nhất, chưa cập nhật, còn thiếu trang thiết bị hiện đại phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt, cơ cấu môn học ngoại ngữ chưa được qui định cụ thể cho từng khối trường, từng chuyên ngành và chưa liên thông với chương trình đào tạo ngoại ngữ ở phổ thông. Chất lượng học ngoại ngữ của học sinh, sinh viên nước ta, trong đó có sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ – Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh còn bị hạn chế nhiều. Hậu quả là đại đa số sinh viên sau khi tốt nghiệp không sử dụng được ngoại ngữ đã học trong trường và ngay cả trong công tác chuyên môn.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài ” Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh ” là hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ của Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh giúp cho sinh viên có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ trong học tập và nghiên cứu, kết hợp với vốn kiến thức chuyên ngành được đào tạo, tiếp cận với công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Nắm rõ thực trạng việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Xác định nguyên nhân của thực trạng trên.
- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giảng dạy tiếng Anh
- Quá trình dạy học ở đại học
- Nội dung của công tác quản lý hoạt động dạy – học
- Một số yếu tố của công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ
Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng trên.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thực nghiệm bước đầu cải tiến nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
4.1. Khách thể nghiên cứu:
- Hoạt động đào tạo, giảng dạy của Tổ Ngoại ngữ ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh
- Hoạt động giảng dạy của Tổ tiếng Anh thuộc Tổ Ngoại ngữ -700 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai của 12 khoa không chuyên ngữ – Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tương đối tốt ở một số mặt như sau:
- Quản lý mục tiêu đào tạo và giảng dạy bộ môn.
- Quản lý nội dung chương trình bộ môn nhằm rèn luyện các kỹ năng giao tiếp: nghe-nói-đọc-viết, đặc biệt đã tiến hành thực nghiệm dạy tiếng Anh chuyên ngành cho một số khoa (Ngữ văn, Vật lý, Sinh vật)
Quản lý đội ngũ giáo viên và phân cấp quản lý phù hợp.
Tuy nhiên hiệu quả việc giảng dạy chưa cao, do đó cần phải tăng cường quản lý và cải tiến các mặt sau đây:
- Cải tiến nội dung, chương trình bộ môn nhằm thực hiện giảng dạy có hiệu quả và phù hợp với đối tượng sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên.
- Nâng cấp, bổ sung trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học có hiệu quả.
- Cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực.
- Tổ chức tốt và đổi mới hình thức các buổi sinh hoạt ngoại khóa và cuộc thi Olympic tiếng Anh hàng năm với tinh thần khuyến khích sinh viên thực sự yêu thích môn học.
- Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học.
6. PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
6.1. Phạm vi nghiên cứu:
- Công tác giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.
6.2. Địa bàn nghiên cứu:
- Hoạt động của Tổ bộ môn tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.
- 700 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai ở các khoa: Toán -Tin, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Tâm lý giáo dục, Giáo dục chính trị, Giáo dục tiểu học, Giáo dục mầm non, Giáo dục thế chất của Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sử dụng phương pháp thu thập các tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ.
7.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý số liệu
- Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến:
Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên sự tham khảo những đề tài có liên quan đã nghiên cứu trước đây cũng như dựa vào cơ sở lý luận, mục đích, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu.
- Phiếu trưng cầu ý kiến có 2 loại: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho giáo viên gồm 21 câu hỏi được soạn thảo dưới nhiều hình thức khác nhau (Xem phụ lục l). Có loại câu hỏi bao gồm từ 3 đến 4 lựa chọn và trong đó giáo viên chỉ được chọn duy nhất 1 lựa chọn mà thôi; có loại câu hỏi bao gồm từ 4 đến 7 lựa chọn và giáo viên được quyền chọn những lựa chọn nào mà họ cảm thấy phù hợp với ý kiến của mình.
Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho sinh viên gồm 15 câu hỏi cũng được soạn thảo dưới nhiều hình thức khác nhau (Xem phụ lục 2). Có loại câu hỏi bao gồm từ 3 đến 4 lựa chọn và sinh viên chỉ được chọn duy nhất 1 lựa chọn mà thôi; có loại câu hỏi bao gồm từ 5 đến 7 lựa chọn và sinh viên có thể chọn những lựa chọn mà họ cảm thấy phù hợp với ý kiến của mình.
Hai bảng trưng cầu ý kiến trên được chia thành từng phần cơ bản như: thực trạng của công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Quá trình tiến hành:
Giai đoạn 1. Gặp gỡ các giảng viên bộ môn tiếng Anh thuộc đơn vị Tổ Ngoại ngữ trong thời gian sinh hoạt đơn vị để thực hiện phiếu trưng cầu ý kiến. Tiến hành phân loại, xử lý số liệu, thống kê tần số, tính phần trăm (%) và bình luận từng vấn đề.
Giai đoạn 2. Liên hệ với các giảng viên bộ môn xin gặp sinh viên để thực hiện phiếu trưng cầu ý kiến. Tiến hành phân loại, xử lý số liệu, thống kê tần số, tính phần trăm (%) và bình luận từng vấn đề.
7.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng
Mục đích: Nắm rõ kết quả học tập về bộ môn tiếng Anh của sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường, từ đó nhận xét chất lượng học tập bộ môn của sinh viên trong từng khoa, từng năm học (từ năm học 2022 – 2023 đến năm học 2025 – 2026).
- Quá trình tiến hành:
Tổng kết điểm số đạt được về bộ môn tiếng Anh trong từng năm học của sinh viên mỗi khoa (phân loại: giỏi, khá, trung bình và yếu). Thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm (%) theo phân loại.
Tổng kết điểm số theo phân loại: giỏi, khá, trung bình, yếu của sinh viên tất cả các khoa trong từng năm học, thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm (%) và nhận xét chất lượng học tập bộ môn tiếng Anh của sinh viên trong từng giai đoạn.
7.4. Phương pháp thực nghiệm: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Mục đích: Tiến hành thực nghiệm tác động nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình tiến hành: Chọn lựa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm để so sánh nhằm tìm ra sự khác biệt giữa 2 nhóm, kiểm định hiệu quả của những biện pháp tác động.
Đây là phương pháp chủ yếu để tìm hiểu hiệu quả của những biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh. (Phần này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn, đầy đủ hơn ở mục IV – Chương 2)
7.5. Phương pháp toán thống kê:
Mục đích: Dùng phương pháp toán thống kê để phân tích và xử lý các số liệu điều tra nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu.
Quá trình tiến hành:
- Thống kê các kết quả của bảng trưng cầu ý kiến, xử lý thô.
- Thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm.
- Kiểm nghiệm Chi
8. TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU
Đề tài này được bắt đầu từ tháng 3 năm 2025 với các bước như sau:
- Tháng 3 / 2025: Chọn đề tài, chính xác hóa tên đề tài, xác định rõ mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, khách thể, phạm vi và phương pháp nghiên cứu thông qua người hướng dẫn khoa học.
- Tháng 6 / 2025: Xây dựng đề cương, kế hoạch nghiên cứu.
Tháng 8 / 2025: Bảo vệ đề cương, thông qua các mẫu phiếu trưng cầu ý kiến; xin ý kiến người hướng dẫn, hoàn chỉnh các mẫu phiếu trưng cầu ý kiến. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Tháng 9 / 2025: Chuẩn bị địa bàn nghiên cứu và tiến hành trưng cầu ý kiến.
- Tháng 1 / 2026: Hoàn thành phần nghiên cứu lý luận của đề tài.
- Tháng 2 và 3 / 2026: Phân tích, xử lý các số liệu và tài liệu thu thập được, xây dựng kế hoạch và công cụ thực nghiệm.
- Tháng 4 / 2026: Tiến hành thực nghiệm, thu thập số liệu và xử lý.
- Tháng 8 / 2026: Hoàn tất đề tài.
- Tháng 9 /2026: In ấn và đệ trình.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Quản lý chất lượng giáo dục đại học nước ta trong thời kỳ chuyển đổi hiện nay là vấn đề được dư luận rất quan tâm. Đã có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề quản lý chất lượng giáo dục – đào tạo nói chung, vấn đề quản lý việc dạy và học các bộ môn nói riêng. Đối với bộ môn ngoại ngữ đã có nhiều bài tham luận bàn về vấn đề “Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ không chính qui đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội” tại Hội thảo quốc gia – Đại học quốc gia Hà Nội – năm 2025.[ 113, 29]
Đề tài ” Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ hệ không chính qui của Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội” do Phó Giáo sư – Tiến sĩ Trần Hữu Luyến trình bày tại hội thảo đã nêu rõ đặc điểm, định hướng, thành tích, tồn tại và nguyên nhân của tình hình đào tạo ngoại ngữ không chính qui của trường, đồng thời đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm tạo bước phát triển mới về chất lượng đào tạo, góp phần thiết thực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đề tài ” Nâng cao chất lượng đào tạo không chính qui nhìn từ góc độ động lực “do Giảng viên Trần Xuân Điệp – Cán bộ giảng dạy Khoa Anh, Đại học Ngoại ngữ -Đại học quốc gia Hà Nội trình bày. Vắn tắt, quan điểm của đề tài này là: Động lực là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo ngoại ngữ không chính qui, chất lượng chưa được như mong muốn là do vấn đề động lực chưa được giải quyết tới mức cần thiết. Tác giả của đề tài đã đề cập đến vai trò của yếu tố động lực trong toàn bộ quá trình đào tạo và đào tạo ngoại ngữ nói chung: trong địa hạt quản lý và trong địa hạt chuyên môn, từ khâu xác định phương hướng đến phương pháp, từ khâu soạn chương trình đến giáo trình, từ thủ thuật trên lớp đến hoạt động ngoại khóa, kiểm tra, đánh giá và việc áp dụng những lý luận đó để soi sáng cho việc đào tạo ngoại ngữ không chính qui ở nước ta, từ đó chỉ ra những điều chưa làm được và cần phải làm để nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ không chính qui.
” Một vài biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ không chính qui” của tác giả Kim Văn Tắt – Giảng viên Khoa Ngôn ngữ & Văn hóa Anh Mỹ, Đại học Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội đã khẳng định yếu tố quyết định số một về chất lượng đào tạo là cách dạy của thầy, cách học của trò và vai trò cần thiết của giáo trình sử dụng trên lớp cũng như sách hỗ trợ dạy và học bộ môn. Đồng thời, tác giả còn nêu rõ những điểm cần cải tiến và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo từ khâu tổ chức giảng dạy, điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy, đổi mới cách kiểm tra, đánh giá sao cho phù hợp với đối tượng đào tạo, để tạo ra chất lượng giảng dạy và học tập có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Đề tài ” Phát huy tính tích cực học tập- là một biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ không chính qui” của Tiến sĩ Đỗ Thị Châu – Tổ Tâm lý-Giáo dục, Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội đà nêu rõ: Chất lượng đào tạo nói chung phụ thuộc vào các yếu tố như mục đích, kế hoạch, nội dung, phương pháp, tổ chức, phương tiện, kỹ thuật đào tạo, các yếu tố này quan hệ biện chứng với nhau ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, trong đó, yếu tố phương pháp đào tạo nói chung và phương pháp dạy học nói riêng giữ vai trò vô cùng quan trọng. Trong phạm vi bài này, tác giả đề cập đến cách dạy học chú trọng vào việc rèn luyện phương pháp tự học – một trong những biện pháp phát huy tính tích cực của người học để nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo ngoại ngữ nói riêng. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Đề tài “Từng bước nâng cao chất lượng dạy – học ngoại ngữ không chính qui để xứng đáng với vai trò lịch sử của nó “của tác giả Quách Công Đông đã đề cập đến vấn đề cần phải chuẩn hóa đội ngũ giáo viên ngoại ngữ hiện nay. Bởi vì, đội ngũ giáo viên tiếng Anh của một số trường phần đông đều là giáo viên tại chức. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa, nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên được đặt ra rất cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng ngoại ngữ cho những người cần sử dụng nó, tạo ra những sản phẩm mong muốn đáp ứng với nhu cầu của xã hội.
- Và tại Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh đã có một số bài tham luận nhỏ đề cập đến các vấn đề:
“Tính khoa học của việc dạy tiếng Anh chuyên ngành ở các khoa không chuyên ngữ” của Thạc sĩ Huỳnh Công Minh Hùng – Giảng viên Tổ Ngoại ngữ, Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2023. Trong bài viết của mình, Thạc sĩ Huỳnh Công Minh Hùng đã nêu rõ tính chất dạy-học ở trường đại học Sư phạm khác với trường phổ thông và các trường đại học khác, cho nên chương trình bộ môn tiếng Anh chuyên ngành cũng phải mang đậm dấu ấn tính sư phạm. [112, 10]
“Tiếng Anh chuyên ngành-một nhu cầu cấp bách” của Thạc sĩ Lê Thúy Hằng-Giảng viên Tổ Ngoại ngữ, Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh -năm 2023. Xuất phát từ mục đích học tiếng Anh của sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ, bài viết đã nêu rõ, việc sử dụng một giáo trình tiếng Anh riêng cho từng chuyên môn là rất cần thiết. Sự liên quan mật thiết giữa tiếng Anh với chuyên môn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy động cơ và hứng thú học tập của sinh viên, nhờ đó sinh viên học sẽ có kết quả tốt hơn, hiệu quả hơn. [112, 14]
“Thực trạng và một số kiến nghị đối với việc dạy và học tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ – Trường Đại học sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh”của 02 tác giả: Hà Thanh Liêm và Hồ Thị Phượng – Cán bộ giảng dạy Tổ Ngoại ngữ, Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh – năm l999. Bài viết đã nêu rõ sự chênh lệch quá nhiều cấp độ về trình độ tiếng Anh của sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ khi phân bố xếp lớp học bộ môn từ đầu năm học thứ nhất. Hiện tượng này đã gây khó khăn, hạn chế nhiều đến hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ của thầy và trò. Chính vì vậy, họ đã có những kiến nghị cần thiết yêu cầu cho phân loại trình độ tiếng Anh của sinh viên khi phân bố xếp lớp. [111,7]
Các đề tài trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều mặt của việc giảng dạy tiếng Anh, tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu đến vấn đề tìm hiểu thực trạng dạy và học tiếng Anh với việc đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học chính qui một cách qui mô và cụ thể.
Vì thế, chúng tôi mong rằng đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần thiết thực vào việc cải tiến nội dung, chương trình giảng dạy và đề xuất việc tăng thời lượng đối với bộ môn ngoại ngữ cho phù hợp với đối tượng sinh viên các khoa không chuyên ngữ; đồng thời tạo điều kiện cho việc cải tiến phương pháp dạy học nhằm đưa lại hiệu quả thật sự cho sinh viên trong việc sử dụng ngoại ngữ phục vụ học tập và nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên Đại học sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và chất lượng giáo dục đại học Việt Nam nói chung, đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
1.2.1. Quá trình dạy học ở đại học:
1.2.1.1. Khái niệm chung về quá trình dạy học đại học:
Quá trình dạy học là một hệ thống hoàn chỉnh trong đó tất cả các nhân tố cơ bản tác động qua lại lẫn nhau theo những qui luật nhất định nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học. Các nhân tố cơ bản trong quá trình dạy học:
- Mục đích, nhiệm vụ dạy học
- Nội dung dạy học
- Người dạy (hoạt động dạy)
- Người học (hoạt động học)
- Tập thể (vì việc dạy và học diễn ra trong tập thể)
- Phương tiện dạy học (lời nói, phương tiện kỹ thuật dạy học)
- Phương pháp dạy học (cách thức làm việc của thầy giáo và học sinh thông qua việc sử dụng các phương tiện dạy học để đạt được các nhiệm vụ dạy học)
- Môi trường kinh tế xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra việc dạy học.
Qui luật cơ bản của quá trình dạy học: hoạt động dạy và hoạt động học phải thống nhất biện chứng với nhau. Dạy và học là hai mặt không thể thiếu được của quá trình dạy học.
Hoạt động của người thầy giáo nhằm lãnh đạo, tổ chức và điều khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu khoa học của học sinh trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật có liên quan đến nghề nghiệp tương lai của họ. Người thầy giáo đại học phải hoạt động với ba tư cách: nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị xã hội.
Học là một hoạt động của học sinh, là sự tự giác và tích cực huy động mọi chức năng tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ đến tình cảm, ý chí, hành động thực tiễn xã hội và nghiên cứu khoa học. Hoạt động học tập của học sinh đại học có nhiều nét khác với học sinh phổ thông, đòi hỏi họ phải có trình độ tư duy lý luận cao, tự giác nắm chân lý cũ và góp phần tìm chân lý mới; kết hợp học tập với lao động sản xuất theo ngành nghề, với thực nghiệm và nghiên cứu khoa học; có tính độc lập cao, có bản lĩnh trong việc đề ra và bảo vệ ý kiến của mình v.v … Học sinh đại học phải luôn luôn có ý thức mình vừa là người tập dượt nghiên cứu, vừa là cán bộ khoa học kỹ thuật trong tương lai của một nghề nhất định.
Dạy và học phải thống nhất biện chứng với nhau vì kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia. Trong quá trình dạy học, người thầy giáo đóng vai trò chủ thể tác động đến học sinh bằng những biện pháp sư phạm (thông qua nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học) và học sinh là khách thể nhận sự tác động của thầy. Nhưng học sinh đại học không chỉ đóng vai trò khách thể mà còn đóng vai trò chủ thể vì họ là những thực thể có ý thức của xã hội, là những con người đã trưởng thành về mọi mặt. Họ ý thức được yêu cầu và nhiệm vụ học tập, tự giác và tích cực nhận sự tác động từ phía người thầy. Vai trò chủ thể càng được phát huy, thì tác động sư phạm càng có hiệu quả. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Trong sự thống nhất biện chứng và trong sự kết hợp giữa hai mặt của quá trình dạy học, hoạt động dạy bao giờ cũng phải đóng vai trò chủ đạo, hướng dẫn. Chính người thầy giáo phải chỉ rõ phương hướng, nội dung và phương pháp học tập cho học sinh, phải tìm ra mọi cách làm cho học sinh tự giác tuân theo sự hướng dẫn của mình. Cần khẳng định vai trò lãnh đạo của người thầy giáo – nhà khoa học trong quá trình dạy học ở đại học dù có phương tiện dạy học tối tân bao nhiêu đi nữa, bao giờ người thầy giáo cũng đóng vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, vai trò lãnh đạo của người thầy không được đối lập với tính độc lập, chủ động và sáng tạo của trò; ngược lại, thầy có nhiệm vụ quan trọng là phải khởi động, phát huy cho được tính độc lập, sáng tạo, vai trò chủ thể của trò. Chính vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ vai trò chủ đạo của người thầy giáo với tính chủ động, độc lập của học sinh. Phải bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học, đó là qui luật cơ bản của dạy và học và là một vấn đề quan trọng trong nghệ thuật dạy học.
1.2.1.2. Bản chất của quá trình dạy học ở đại học:
Bản chất của quá trình dạy học ở đại học là một quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của học sinh dưới sự chỉ đạo của người thầy giáo, nhà khoa học, nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy nghề, dạy phương pháp và dạy lý tưởng đạo đức nghề nghiệp.
Ở đây người thầy giáo là người tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh (qua các hình thức diễn giảng, xêmina, giúp đỡ riêng, hướng dẫn nghiên cứu khoa học, kiểm tra v.v…).
- Trong quá trình học tập ở đại học, người học sinh phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản:
Nắm được những chân lý có sẵn liên quan tới tới nghề nghiệp tương lai của mình thông qua các bộ môn cơ bản, cơ sở, chuyên ngành và các chuyên đề. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Dần dần thực sự tham gia vào quá trình tìm ra chân lý mới trong lĩnh vực nghề nghiệp, tức là phải tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học từ thấp đến cao thông qua các bài tập nghiên cứu, niên luận, khóa luận, luận văn hoặc đồ án tốt nghiệp. Trong quá trình nhận thức, người học sinh phải phản ánh được bản chất và những qui luật của thế giới khách quan vào ý thức của mình. Sự phản ánh đó phải có tính khách quan về nội dung và tính chất chủ quan về hình thức. Khách quan về nội dung, đây là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá nhận thức của học sinh. Chủ quan về hình thức là một điểm thể hiện tính độc lập sáng tạo của cá nhân trong học tập.
1.2.1.3. Các nhiệm vụ dạy học ở đại học:
- Những cơ sở xác định các nhiệm vụ dạy học ở đại học:
Để có thể xác định đúng đắn các nhiệm vụ dạy học cơ bản ở đại học cần dựa vào một số cơ sở chủ yếu sau:
- Căn cứ vào yêu cầu của thời đại đối với nhà trường đại học.
- Căn cứ vào tính chất và mục tiêu của nhà trường đại học.
- Căn cứ vào đặc điểm phát triển của cách mạng Việt Nam, trình độ phát triển tâm sinh lý của thanh niên và điều kiện cụ thể của từng loại trường, từng hệ đào tạo, từng khoa, từng loại bộ môn.
- Các nhiệm vụ dạy học cơ bản ở đại học:
- Dạy nghề (dạy chuyên môn):
Trong quá trình dạy học, giáo viên phải giúp sinh viên nắm vững những tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng về một lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhất định ở trình độ hiện đại. Sinh viên phải nắm được đối tượng, phương pháp, các khái niệm, qui luật, lý thuyết, học thuyết của một khoa học nào đó. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Những tri thức đó phải hiện đại nhất vì khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh theo yêu cầu của thực tiễn. Những tri thức hiện đại sẽ giúp cho vốn hiểu biết của học sinh luôn được đổi mới và được bổ sung, làm cho thế giới quan của họ được phát triển, hoạt động của họ được đúng hơn, nhờ đó, họ dễ dàng thích ứng với nhiệm vụ tương lai.
Những tri thức đó chẳng những phải giúp cho học sinh hình dung được bức tranh khái quát về ngành chuyên môn của mình trong quá khứ và hiện tại, mà còn dự đoán được con đường phát triển của nó trong tương lai nữa.
- Học sinh đại học phải nắm được những tri thức khoa học cơ bản, khoa học cơ sở của chuyên ngành và chuyên ngành.
Các khoa học cơ bản có tác dụng làm cơ sở lý luận chung cho việc dạy và học các khoa học cơ sở và chuyên ngành và thay đổi tùy theo diện đào tạo của trường hoặc khoa, ngành.
Có được những tri thức về các khoa học cơ bản, học sinh chẳng những có thể nắm được một cách vững chắc các khoa học cơ sở của chuyên ngành và chuyên ngành, mà còn có được những điều kiện cần thiết để nắm vững những vấn đề mới trong khoa học. Vì vậy cần phải kết hợp chặt chẽ cả ba loại tri thức: khoa học cơ bản, cơ sở chuyên ngành và chuyên ngành.
- Học sinh đại học phải nắm được cả tri thức khoa học tự nhiên, cả tri thức khoa học xã hội và quản lý kinh tế.
Đây là một yêu cầu khách quan của thời đại, vì hiện nay các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đang thâm nhập vào nhau, hỗ trợ cho nhau. Đã đến lúc, chỉ nắm khoa học tự nhiên và ngược lại, thì không thể phát triển được khoa học của mình. Các khoa học xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho người cán bộ tương lai. Ngoài ra, cần bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức quản lý kinh tế, quản lý xã hội và quản lý tổ chức của ngành. Học sinh đại học, sau khi tốt nghiệp, sẽ chịu trách nhiệm quản lý và lãnh đạo một tập thể nhỏ hay lớn trong các tổ chức sản xuất, tổ chức xã hội. Một trong những nguyên nhân khá quan trọng làm cho hiệu suất lao động thấp là do họ thiếu những hiểu biết cần thiết về tổ chức, về quản lý. Vì vậy, cần trang bị cho học sinh những tri thức về kinh tế học, kế hoạch hóa, cải tiến quản lý và tổ chức lao động khoa học v.v…
- Học sinh phải nắm vững những tri thức nói trên ở những trình độ khác nhau tùy theo loại tri thức.
Có bốn trình độ nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo:
- Phân biệt được kết luận đúng với kết luận sai (tri thức ở trình độ nhận biết).
- Tái hiện được thông tin theo trí nhớ hoặc ý nghĩa (tri thức ở trình độ khái niệm)
- Có kỹ năng vận dụng tri thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn (tri thức ở trình độ kỹ năng).
Có kỹ xảo vận dụng tri thức vào những tình huống quen biết nhưng đã có biến đổi ít nhiều hoặc chưa quen biết (tri thức ở trình độ kỹ xảo hay biến hóa). Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Học sinh đại học phải nắm vững tri thức theo các trình độ trên đây tùy theo loại tri thức hoặc loại giáo trình. Học sinh chỉ thực sự nắm được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo khi họ tự giác, tích cực tự lực giành lấy những hiểu biết đó, biến chúng thành vốn riêng của mình thông qua việc kết hợp học tập với lao động sản xuất theo ngành nghề, với thực nghiệm và nghiên cứu khoa học.
- Dạy phương pháp:
Trong quá trình dạy học, người cán bộ giảng dạy phải giúp sinh viên:
Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt tư duy khoa học, tư duy nghề nghiệp, phương pháp tự học và nghiên cứu khoa học.
Phát triển năng lực trí tuệ là một vấn đề hết sức phức tạp. Năng lực hành động trí tuệ đảm bảo cho con người hoạt động có hiệu quả và là cơ sở của sự thông minh sáng tạo. Đặc biệt đối với học sinh đại học, cần bồi dưỡng năng lực tư duy phê phán, tư duy độc lập, sáng tạo, tư duy lý luận và tư duy nghề nghiệp. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học ở đại học.
Trong quá trình dạy học, muốn phát triển năng lực trí tuệ của học sinh, chúng ta phải chú ý đầy đủ đến cả hai yếu tố cơ bản sau:
- Một là phải lựa chọn được một nội dung dạy học khoa học, hợp lý.
- Hai là phải có phương pháp tốt để giúp học sinh nắm vững nội dung đó.
Trong quá trình dạy học đại học, người cán bộ giảng dạy cần giúp sinh viên rèn luyện được phương pháp tự học tốt để có thể học suốt đời.
Trong quá trình nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và tập dượt nghiên cứu khoa học, người học sinh đại học phải xây dựng cho mình được phương pháp tự học tốt. Đây là một yêu cầu khách quan và cấp bách của thời đại. Muốn thế, ngay trong trường đại học, người học sinh phải tự vũ trang cho mình một phương pháp tự học tốt theo một sô hướng cơ bản sau:
- Độc lập suy nghĩ nắm tri thức một cách tự giác. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Vận dụng tri thức một cách thông minh sáng tạo vào bài làm, vào thực tiễn sản xuất, vào nghiên cứu khoa học.
- Tự đề ra cho mình một kế hoạch học tập khoa học, hợp lý phù hợp với hoàn cảnh.
- Kết hợp một cách hài hòa giữa việc tự học của bản thân với sự hướng dẫn của thầy giáo, với các hoạt động học tập của tập thể (tổ, nhóm, lớp…)
- Chuyển dần từ phương pháp học tập sang phương pháp nghiên cứu, rèn luyện được phương pháp tự học tốt như vậy, vào đời họ mới có thể vươn lên không ngừng để đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại.
Trong quá trình dạy học đại học, người cán bộ giảng dạy phải giúp sinh viên, bước đầu nắm được phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình.
Trong tình hình phát triển hiện nay của khoa học kỹ thuật, hoại động nghiên cứu khoa học của học sinh đại học có một tầm quan trọng đặc biệt. Nó là một trong những con đường chủ yếu để nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ có học vấn đại học, có năng lực áp dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn những thành tựu mới nhất của tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn hóa. Muốn nghiên cứu khoa học có kết quả, phải nắm được phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Các phương pháp này rất đa dạng, muôn hình muôn vẻ tùy theo đặc trưng của lừng khoa học. Tuy nhiên, trong đó có một số phương pháp chung cần đặc biệt chú ý trau dồi cho học sinh như quan sát, điều tra, tổng kết kinh nghiệm, tiến hành thử nghiệm … cần tập dượt cho học sinh và dần dần đưa họ vào nghiên cứu trong các hệ đề tài chung của các cán bộ giảng dạy.
Tóm lại, cần hiểu dạy phương pháp ở đại học với nội dung đầy đủ và rất phong phú chứ không nên qui dạy phương pháp vào việc chỉ rèn luyện một số kỹ năng, phương pháp học tập nào đó.
Muốn dạy phương pháp như trên cần hết sức chú ý phát triển trí thông minh của sinh viên và tập dượt cho họ nghiên cứu khoa học.
- Dạy người (còn có thể gọi là dạy thái độ):
Trong quá trình dạy học, người cán bộ giảng dạy cần bồi dưỡng cho sinh viên lý tưởng đạo đức nghề nghiệp, thái độ, tác phong của người cán bộ khoa học kỹ thuật mới. Đây là nhiệm vụ giáo dục của quá trình dạy học ở đại học, nhằm góp phần đào tạo những cán bộ vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có trình độ chuyên môn giỏi.
Trong quá trình dạy học, tất cả các cán bộ giảng dạy đều phải quan tâm góp phần giáo dục lý tưởng, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, làm cho họ tha thiết yêu nghề, từ đó quyết tâm đi sâu vào khoa học và nghề nghiệp để sau này có thể trở thành người cán bộ khoa học kỹ thuật tốt và có năng lực giỏi. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Trong quá trình dạy học cần giáo dục cho học sinh các phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp như lòng yêu nghề, tính khiêm tốn giản dị, tính kiên trì v.v… và tác phong làm việc của người cán bộ trong nền sản xuất hiện đại. Ngoài những phẩm chất đạo đức và tác phong có tính chất chung, mỗi ngành nghề cần chú ý bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất và tác phong đặc trưng cho ngành mình. Thí dụ đối với ngành sư phạm, cần bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu trẻ, tính lạc quan, tác phong gương mẫu v.v…
Việc giáo dục lý tưởng đạo đức và thái độ nghề nghiệp phải được tiến hành trên cơ sở nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và phải gắn liền với sự phát triển những năng lực nhận thức của học sinh. Thông qua nội dung các bộ môn, cần làm cho học sinh nắm được qui luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Thông qua việc gắn liền nội dung bộ môn với đời sống, với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, với thực tiễn nghề nghiệp, với thực tiễn tư tưởng tình cảm của người học sinh, người cán bộ giảng dạy góp phần làm cho học sinh hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ của đất nước, của nghề nghiệp tương lai của mình, từ đó làm cho họ có quyết tâm khắc phục khó khăn, vươn lên nắm những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật để có thể phục vụ tốt nghề nghiệp của mình sau này. Việc giáo dục lý tưởng nghề nghiệp thông qua bộ môn phải được tiến hành một cách khéo léo tự nhiên, phù hợp với đặc điểm của bộ môn, phải phát huy được tính độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng của học sinh, tránh gò ép, thô bạo, phải gắn với thực tiễn, với ngành nghề được đào tạo.
Ba nhiệm vụ dạy học cơ bản ở đại học có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình dạy học. Nhiệm vụ võ trang tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp là cơ sở phát triển trí tuệ và hình thành lý tưởng đạo đức nghề nghiệp. Phát triển trí tuệ có được phương pháp là kết quả của việc nắm tri thức và đồng thời là điều kiện để nắm trì thức ở một trình độ cao hơn. Phải có một sự phát triển trí tuệ nhất định mới có khả năng biến tri thức thành niềm tin, thành lý tưởng.
Nhiệm vụ giáo dục lý tưởng, đạo đức nghề nghiệp vừa là kết quả tổng hợp của hai nhiệm vụ thứ nhất và thứ hai, vừa là yếu tố chỉ đạo và kích thích việc nắm trí thức và phát triển trí tuệ.
Cần quán triệt cả ba nhiệm vụ dạy học trên vào toàn bộ quá trình dạy học ở đại học, từ việc vạch kế hoạch, chương trình dạy học đến nội dung và phương pháp giảng dạy, từ việc hoạt động trên lớp, việc tổ chức tự học … đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học.
1.2.2. Nội dung của công tác quản lý hoạt động dạy học ở đại học: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học, tiêu chuẩn giáo viên, tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và thiết bị trường học, qui chế thi cử và hệ thống văn bằng.
1.2.2.1. Quản lý mục tiêu giáo dục:
Nhiệm vụ của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần tạo ra động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Quản lý mục tiêu giáo dục là quản lý việc đào tạo con người, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đào tạo những con người lao động phát triển toàn diện, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, sức khỏe, học vấn và nghề nghiệp, có ý thức cộng đồng, năng động và sáng tạo, có ý thức giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, có tính tổ chức kỷ luật tác phong công nghiệp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.2.2. Quản lý nội dung, chương trình dạy học: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Nội dung dạy học trong nhà trường phải cơ bản, thiết thực, hiện đại, toàn diện; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý của người học; đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng nhân tố con người phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ khoa học – công nghệ. Nội dung dạy học phải được cụ thể hóa thành chương trình dạy học, sách giáo khoa, giáo trình phù hợp với mục tiêu của từng bậc học, cấp học.
Chương trình dạy học là văn bản qui định mục tiêu cụ thể, cấu trúc nội dung, chuẩn kiến thức, kỹ năng, qui trình, phương pháp giáo dục của các môn học, ngành nghề đào tạo ở mỗi bậc học, cấp học. Chương trình dạy học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của từng bậc học, cấp học (khối lượng, thời gian, nội dung, kiến thức chuyên sâu). Giáo trình, sách giáo khoa dùng trong trường học là tài liệu được hiệu trưởng duyệt trên cơ sở thẩm định của hội đồng chuyên môn, hội đồng khoa học có thẩm quyền để sử dụng chính thức trong việc giảng dạy và học tập.
1.2.2.3. Quản lý hoạt động dạy học:
Quản lý tổ chức đào tạo, quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình dạy của giáo viện và quá trình học của học sinh. Đây là hai quá trình gắn bó hữu cơ. Quá trình dạy và học là tập hợp những hành động liên tiếp của giáo viên và của học sinh được giáo viên hướng dẫn. Những hành động này nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trong quá trình đó phát triển năng lực nhận thức, nắm được các yếu tố của văn hóa lao động trí óc và chân tay, hình thành những cơ sở của thế giới quan đúng đắn.
Nếu xét dạy và học như một hệ thống thì quan hệ người hoạt động dạy và hoạt động học là quan hệ điều khiển. Do đó, hành động quản lý (điều khiển hoạt động dạy và học) của hiệu trưởng, của cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy, và là trực tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua hoạt động dạy của thầy, quản lý hoạt động học của trò.
- Quản lý hoạt động dạy của thầy:
- Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học:
Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học là quản lý việc thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của trường, về nguyên tắc, chương trình là pháp lệnh nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Hiệu trưởng, cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo phải làm cho giáo viên nắm vững chương trình, không được tùy tiện thay đổi, thêm bớt hoặc làm sai lệch nội dung chương trình dạy học. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Hiệu trưởng, cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo điều khiến hoạt động dạy và học phải dựa vào nội dung chương trình theo yêu cầu và hướng dẫn của chương trình. Do đó, việc nắm vững chương trình dạy học là một tiền đề đảm bảo hiệu quả quản lý dạy và học.
Về lý thuyết, hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo càng nắm vững, nắm chắc, nắm sâu, nắm rộng chương trình đào tạo càng tốt. Tuy nhiên,
trong thực tế điều này còn khó. Do đó, chỉ yêu cầu hiệu trưởng, cán bộ quản lý các cơ sở đào tạo nắm vững chương trình ở mức độ giới hạn cần thiết. Cụ thể là nắm vững những vấn đề sau đây:
- Những nguyên tắc cấu tạo chương trình dạy học của cấp học
- Những nguyên tắc cấu tạo chương trình dạy học môn học, nội dung phạm vi kiến thức của từng môn học
- Phương pháp dạy học đặc trưng của từng môn học
- Kế hoạch dạy học từng môn học
Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học của giáo viên là quản lý việc dạy đúng và đủ chương trình qui định. Thực hiện yêu cầu này, người hiệu trưởng, cán bộ quản lý đơn vị đào tạo làm một số việc sau đây:
- Yêu cầu giáo viên lập kế hoạch giảng dạy môn học. Đây là kế hoạch chủ yếu của giáo viên và cần phải được trao đổi trong tổ chuyên môn.
- Bảo đảm thời gian qui định cho chương trình (trong chỉ thị của Bộ gọi là biên chế năm học). Nghiêm cấm việc cắt xén chương trình để dành cho những hoạt động khác.
- Hiệu trưởng, hiệu phó hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo phải theo dõi việc thực hiện chương trình hàng tuần, hàng tháng của giáo viên.
- Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc theo dõi: biểu bảng, sổ sách, phiêu báo giảng bài, sổ dự giờ, lịch kiểm tra học tập, sổ ghi đầu bài… Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Quản lý việc soạn bài, việc chuẩn bị lên lớp:
- Cần hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài.
Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức trao đổi phương hướng giảng dạy từng bài, những bài khó, những tư liệu mới cần bổ sung vào bài giảng, những điều kiện vật chất, kỹ thuật cần cho bài giảng.
Cố gắng xây dựng tiêu chuẩn đánh giá giờ lên lớp cho từng loại bài học đối với từng môn học. Đây là công trình chung của tập thể Sư phạm nhà trường, nhất là tổ chuyên môn. Có tiêu chuẩn cụ thể vừa giúp cho việc đánh giá giờ học vừa giúp cho việc nâng cao tay nghề của giáo viên. Đương nhiên, tiêu chuẩn giờ lên lớp chỉ là những qui định tối thiểu, cơ bản nhưng rất cần thiết. Trong thực tế, tùy tình hình cụ thể, cần vận dụng linh hoạt tiêu chuẩn đánh giá giờ lên lớp.
Để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên, hiệu thưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo cần chỉ đạo việc tổ chức các chuyên đề về giờ lên lớp. Thực tiễn cho thấy đây là cách tự bồi dưỡng có hiệu quả, thiết thực nhất đối với giáo viên.
Việc tổ chức và hướng dẫn học sinh cũng nằm trong công tác chỉ đạo của hiệu trưởng, của cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo. Thực chất đây là nhiệm vụ của giáo viên bộ môn, song cần có sự quan tâm chỉ đạo của hiệu trưởng, của cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo để đảm bảo có sự hiệp đồng thống nhất trong các giáo viên. về việc này, hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo cần kết hợp với các đoàn thể trong trường nhằm tạo nên phong trào quần chúng rộng rãi trong nhà trường.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh:
Hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo cần nắm được tình hình của giáo viên thực hiện sự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh với những nội dung như sau: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Có lịch kiểm tra hàng tháng và cả học kỳ.
- Thực hiện đúng chế độ kiểm tra, cho điểm như qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Chấm và trả bài đúng thời hạn.
- Báo cáo tình hình kiểm tra theo qui định của trường.
Trong trường hợp cần thiết, hiệu trưởng (hoặc phó hiệu trưởng) hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo kiểm tra kết quả học tập của học sinh.
- Quản lý hoạt động học tập của học sinh:
Thông qua giáo viên hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo quản lý hoạt động học tập của học sinh. Hoạt động đó xảy ra ở lớp, ngoài lớp, ngoài trường, ở gia đình và được thể hiện qua nhiều hình thức: học trên lớp, thực hành, lao động, tự học ở nhà.
Để giúp cho hoạt động của học sinh được tốt, hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo phải chú ý:
- Giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập đúng đắn trong học
- Xây dựng và thực hiện nề nếp học tập.
- Áp dụng các hình thức động viên khuyến khích học sinh học tập.
- Phối hợp với các lực lượng giáo dục quản lý hoạt động học tập của học
Trong việc này cần đề cao vai trò của Đoàn, Hội…
1.2.2.4. Quản lý đội ngũ giáo viên:
Tiềm lực và khả năng của đội ngũ giáo viên ở mỗi trường học quyết định chất lượng đào tạo. Trước yêu cầu đổi mới mục tiêu đào tạo, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, những yếu kém của đội ngũ giáo viên càng trầm trọng. Đã từ lâu chúng ta thấy rõ sự bất cập về trình độ học vấn và năng lực của đa số giáo viên, sự hụt hẫng về số lượng, nhất là thiếu nhiều cán bộ kế cận, đầu đàn của các bộ môn. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Để quản lý đội ngũ giáo viên có hiệu quả, cần phải kiên trì, quyết tâm thực hiện chủ trương tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên.
Hiện nay, các trường đã phấn đấu thực hiện chủ trương của Bộ đề ra. Ngoài ra, nhiều trường còn đề ra chỉ tiêu phấn đấu tin học hóa, ngoại ngữ hóa và cao học hoá. Việc sắp xếp cán bộ giảng dạy theo chức danh (giáo sư, phó giáo sư, giảng viên chính, giảng viên, trợ giảng…) cũng tạo ra động lực kích thích sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ giáo viên: về cập nhật kiến thức nâng cao trình độ, về bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, về học tập trau dồi kiến thức ngoại ngữ …
Nhiều cán bộ trẻ trưởng thành tương đối nhanh. Song chúng ta vẫn chưa khắc phục được tình trạng hẫng hụt đội ngũ giáo viên. Sự khống chế về chỉ tiêu biên chế lao động của mỗi trường vẫn là cản trở cho việc bổ sung vào đội ngũ giáo viên những người trẻ và giỏi.
Để quản lý tốt đội ngũ giáo viên, cần phải có chính sách chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ giáo viên, củng cố và phát triển các trường sư phạm chất lượng cao, tôn vinh nghề dạy học và các giáo viên dạy giỏi.
Thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với giáo viên, khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học. Có chính sách ưu đãi đặc biệt về tiền lương và phụ cấp đối với giáo viên dạy ở những vùng khó khăn, có chính sách thu hút những học sinh giỏi vào học trường sư phạm. Kết hợp đào tạo giáo viên mới và bồi dưỡng thường xuyên những giáo viên đang làm việc.
1.2.2.5. Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy và học:
Cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học được hiểu là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc giáo dục toàn diện con người trong nhà trường.
Có bốn nhóm chủ yếu: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Trường sở: bao gồm các phòng học, phòng thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành, sân chơi, bãi tập…
- Thiết bị dạy học và giáo dục: thiết bị dạy học bao gồm: vật liệu, mẫu vật mô hình, tranh ảnh, bản đồ, dụng cụ thí nghiệm, dụng cụ lao động dạy nghề, hóa chất, vật liệu, phim đèn chiếu, băng đĩa ghi âm, ghi hình, vườn trường thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị giáo dục lao động, hướng nghiệp, dạy nghề, thiết bị hoạt động văn hóa…
- Sách báo là một bộ phận của cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học, là công cụ phương tiện của giáo viên và học Chú ý xây dựng tủ sách nghiệp vụ giáo viên, tủ sách tham khảo dạy thêm và tủ sách giáo khoa cho học sinh.
Các báo chí chủ yếu như báo giáo dục và thi đua, báo nhân dân, báo địa phương, tạp chí… phải có trong thư viện trường.
Đồ dùng học sinh bao gồm những đồ dùng, dụng cụ học tập của học sinh. Trong lớp, bảng, bàn ghế cũng thuộc đồ dùng của học sinh. Bàn ghế học sinh phải theo đúng tiêu chuẩn qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Quản lý việc xây dựng cơ sở vật chất -kỹ thuật trường học cần:
Xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của trường phải định hướng theo mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu của ngành giáo dục, mục tiêu phát triển kinh lế-xã hội của địa phương.
- Cần xác định mục tiêu lâu dài (5-10 năm) và mục tiêu trước mắt (năm học), mục tiêu tổng quát và mục tiêu bộ phận.
- Kế hoạch hóa xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học có ý nghĩa quan trọng vì có vậy mới có thể phối hợp được các lực lượng trong và ngoài trường (như tài chính, ngân hàng, thiết bị trường học, phòng giáo dục, chính quyền địa phương…)
Quản lý việc sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học.
- Việc sử dụng thiết bị dạy học, giáo dục được qui định trong chương trình môn học. Hiệu trưởng và cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo cần kiểm tra việc thực hiện của giáo viên. Chống “dạy chay”, chú ý xây dựng nội qui sử dụng thiết bị dạy học, giáo dục và bắt buộc thực hiện.
- Quản lý cơ sở vật chất trường học phải chú ý bảo quản tốt, sử dụng tốt. Tổ chuyên môn và các giáo viên bộ môn phải có kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy học cũng như trang thiết bị, thí nghiệm thực hành và có trách nhiệm bảo quản tốt.
- Định kỳ, hiệu trưởng và cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo kiểm tra sổ sách, việc bảo quản và sử dụng cơ sở vật chất của nhà trường.
Trang bị, mua sắm, tự làm thiết bị dạy học và giáo dục, cần chú ý các biện pháp:
Tìm tòi, khai thác những cái có sẵn hoặc tận dụng nguồn cung cấp khác ngoài xã hội, hoặc còn tiềm tàng trong nhân dân và phụ huynh học sinh để có thể sử dụng, mua sắm.
Trong việc mua sắm trang thiết bị dạy học và giáo dục thì việc tự làm, sáng chế đồ dùng dạy học có ý nghĩa rất quan trọng, đây là sự vật chất hóa tri thức của thầy và trò, là cầu nối giữa học với hành, rèn luyện và phát triển tính tích cực sáng tạo, song việc tự làm đồ dùng dạy học và giáo dục phải chống khuynh hướng hình thức: chạy theo phong trào, thành tích.
1.2.3. Một số yếu tố của công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
1.2.3.1. Quản lý mục tiêu của môn học (đầu ra):
Việc đánh giá đầu ra nhằm xem xét sản phẩm đào tạo (sinh viên) của cơ sở giáo dục đại học đạt chất lượng đến mức nào. Việc đánh giá sinh viên tốt nghiệp phải tập trung vào mức độ kiến thức tiếp thu được, kỹ năng, thái độ và hệ thống giá trị của họ. Đánh giá đầu ra không chỉ nhằm xác định mức độ chất lượng mà cần xác định sự tiến bộ về các mặt từ khi sinh viên vào trường tới khi sinh viên ra trường. Đánh giá theo các tiêu chí này chính là đánh giá kết quả và hiệu quả đào tạo của một trường đại học.
Vì vậy, quản lý mục tiêu của bộ môn tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ phải được đề ra dựa trên các mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Kiến thức: Cung cấp kiến thức tiếng Anh tổng quát và tiếng Anh theo chuyên ngành cho sinh viên, giúp họ có thể truy cập Internet, tham khảo sách báo, tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh trong học tập và nghiên cứu khoa học. Mức kiến thức thể hiện thông qua việc:
Lưu giữ thông tin, trình bày những sự kiện, phân loại và trình bày các nguyên tắc (học thuộc lòng bài khóa).
- Thông hiểu nắm bắt được sự kiện, trình bày, giải thích và ngoại suy các mối quan hệ (tìm các mối quan hệ trong bài khóa, xem xét ngữ pháp, quan hệ giữa các phần). Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
- Ứng dụng các tư tưởng và khái niệm vào giải quyết vấn đề (chẳng hạn, viết một bức thư trao đổi công việc).
- Phân tích vấn đề, tư liệu ra để tìm hiểu các mối quan hệ, so sánh để đưa ra ý kiến của riêng mình (chẳng hạn như viết một bài phê bình bài quảng cáo…).
- Tổng hợp các bộ phận riêng lẻ vào một chính thể (ví dụ: đưa các thông tin rải rác đây đó trong báo chí thành nhưng nhận xét chung).
- Đánh giá, phán xét ưu, nhược điểm (đánh giá bài viết theo các tiêu chí khác nhau: đúng về ngữ pháp, sử dụng tài liệu tham khảo, trích dẫn, so sánh, dẫn chứng, đưa ra nhận xét, điểm mạnh, điểm yếu …)
Kỹ năng: Sinh viên phát triển được các kỹ năng giao tiếp: nghe-nói-đọc-viết bằng tiếng Anh trong lĩnh vực chuyên môn, đặc biệt, là kỹ năng đọc hiểu các tài liệu liên quan tới chuyên ngành được đào tạo; kỹ năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết các vấn đề không chỉ trong chuyên môn mà cả trong các tình huống xã hội nhất định.
Thái độ: Phát triển thái độ (sự thay đổi hệ thống giá trị) và hành vi của sinh viên tốt nghiệp mang tính xã hội, đạo đức, pháp lý. Các hệ thống giá trị chung có thể là: sự tôn trọng, lòng dũng cảm, tính trách nhiệm…trong cuộc sống, trong nghề nghiệp v.v…
Hình thành được ý thức học tập và sử dụng tiếng Anh như một công cụ hỗ trợ cho việc phát triển tư duy, cho việc học tập các môn khác, cho nghiên cứu và phát triển chuyên môn sau này, góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, tác phong của người lao động mới.
Có thái độ đúng đắn trong việc sử dụng tiếng Anh như một công cụ nhằm nâng cao hiểu biết, tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa của thế giới phục vụ cho việc xây dựng đất nước, làm cho các dân tộc khác trên thế giới hiểu rõ hơn về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam, từ đó tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc, gìn giữ hòa bình thế giới.
Có ý thức sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả thông qua việc tiếp thu các tri thức ngôn ngữ, hình thành các kỹ năng giao tiếp và phương pháp học tiếng như khả năng tìm kiếm và phát hiện thông tin, khả năng tự học, tự đánh giá. Những khả năng này sẽ tác động tích cực tới việc sử dụng tiếng mẹ đẻ và đem lại cho sinh viên năng lực ngôn ngữ toàn diện hơn. [ 112, 10 và 11 ]
1.2.3.2. Quản lý trình độ ban đẩu của sinh viên (đầu vào): Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Trình độ tiếng Anh ban đầu của sinh viên khi nhập học tại các khoa không chuyên ngữ của một trường đại học đều phải nắm được chương trình tiếng Anh cơ bản (qua 2 cấp học ở trường phổ thông), đặc biệt là hệ thống ngôn ngữ tiếng Anh cơ bản, hiện đại và tương đối hệ thống làm cơ sở cho việc hình thành các kỹ năng giao tiếp phù hợp với lứa tuổi, có sự hiểu biết tương đối khái quát về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước sử dụng tiếng Anh.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có qui định tạm thời về mục tiêu và kế hoạch dạy học của trường trung học phổ thông. Qui định này có hiệu lực từ ngày 22/03/2026. Một trong những mục tiêu xác định là học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông phải có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường ….
Nếu xét theo yêu cầu của Bộ hiện đề ra, học sinh (đã có học tiếng Anh ở phổ thông) khi nhập học vào trường đại học phải có khả năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ đơn giản, cơ bản, phổ thông dưới dạng nghe, nói, đọc, viết. Cụ thể là:
Kỹ năng nghe:
- Nghe hiểu các cuộc hội thoại trực tiếp bằng tiếng Anh ở mức độ đơn giản, phổ thông có liên quan đến các chủ điểm và nội dung ngôn ngữ đã được qui định trong chương trình.
- Nghe hiểu ý chính các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến các chử đề và nội dung ngôn ngữ đã học.
Kỹ năng nói:
- Trao đổi trực tiếp bằng ngôn ngữ nói ở mức độ đơn giản các tình huống giao tiếp hàng ngày thông qua việc vận dụng các kiến thức ngôn ngữ cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
- Diễn đạt được ý mình trong những tình huống giao tiếp thông thường có liên quan đến những chủ điểm quen thuộc thông qua việc vận dụng các chức năng ngôn ngữ đã học. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Kỹ năng đọc:
- Có kỹ năng đọc hiểu cơ bản các đoạn văn trong phạm vi 3.000 từ liên quan đến các chủ điểm và nội dung ngôn ngữ được qui định trong chương trình.
- Đọc hiểu nội dung chính các văn bản xác thực có nội dung phù hợp với sở thích cá nhân, với những vấn đề văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật phổ thông trên cơ sở ngữ liệu và chủ đề đã học có kết hợp với suy đoán và tra cứu.
Kỹ năng viết:
- Viết để phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân và xã giao như viết thư cho bạn bè, viết các thiệp mừng, thiệp mời sinh nhật… , mô tả hoặc tường thuật các hoạt động của cá nhân, của lớp học hoặc điền vào các phiếu, mẫu đơn, các bảng điều tra ….
- Viết một đoạn văn ngắn (từ khoảng 100 đến 150 từ) có liên quan đến các chu đề đã học trong phạm vi nội dung ngôn ngữ được qui định trong chương trình. [111,3]
1.2.3.3. Quản lý nội dung, chương trình của môn học:
Chương trình tiếng Anh giảng dạy cho sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ tại các nường đại học cần phải đạt những mục tiêu giáo dục sau:
Cấp trường: Đào tạo sinh viên thành những kỹ sư, cán bộ khoa học, giáo viên có tư duy độc lập, sáng tạo, có khả năng tự học, tự nghiên cứu. (Dựa theo yêu cầu chung của xã hội và mục tiêu đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định)
Cấp khoa: Nâng cao kiến thức tiếng Anh tổng quát và cung cấp kiến thức tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên, giúp họ có thể tham khảo tài liệu chuyên ngành trong học tập, trong nghiên cứu khoa học, có năng lực giao tiếp cơ bản trong lĩnh vực xã hội và cả trong lĩnh vực chuyên môn. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Tiếng Anh tổng quát trong chương trình dành cho sinh viên các khoa không chuyên ngữ giúp cho sinh viên nắm vững thêm kiến thức ngôn ngữ để có thể thực hiện được các chức năng giao tiếp bằng tiếng Anh.
Chương trình tiếng Anh chuyên ngành cung cấp cho sinh viên các khoa không chuyên ngữ những kiến thức đại cương, cơ bản nhất về chuyên ngành mình đang học, bao gồm các thuật ngữ khoa học bằng tiếng Anh, các dạng cấu trúc thường dùng, cũng như lịch sử và sự phát triển trong tương lai của chuyên ngành đó. [112, 10]
1.2.3.4. Quản lý cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật dạy học:
Để tạo điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị đảm bảo chất lượng cho hoạt động dạy và học, các cơ sở trường học cần thực hiện tốt các việc sau: (Theo 10 tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học – thực hiện trong giai đoạn 2025-2030)
- Phải có đủ giáo trình và phong phú tài liệu phục vụ cho việc dạy và học.
- Sắp xếp số sinh viên đối với một lớp học ngoại ngữ không quá 30 người.
Trong điều kiện chưa có thể trang bị các phòng học chuyên ngành đặc biệt với các phương tiện dạy học cho bộ môn ngoại ngữ thì phòng học nếu không có hệ thống điều hòa không khí thì khối tích trong phòng học cho một học sinh không được ít hơn 4m3 và phải đảm bảo được chiếu sáng, che nắng tùy thuộc vào vùng khí hậu và hướng của từng phòng học.
Phải có các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học ngoại ngữ (âmli, cassette, máy đèn chiếu băng hình và các giáo cụ trực quan …). Đối với những giờ dạy luyện nghe, sinh viên phải được bố trí học tại phòng nghe nhìn.
Bàn ghế, bảng và các thiết bị dạy học phải được bố trí thật khoa học.
Phải có khu dành riêng cho việc dạy học ngoại ngữ (vì đặc thù của bộ môn ngoại ngữ) để khỏi ảnh hưởng tới việc dạy học các bộ môn khác. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
1.2.3.5. Quản tỷ việc tổ chức công tác giảng dạy:
Tổ chức công tác giảng dạy là một khâu rất quan trọng trong chu trình quản lý việc dạy học ở nhà trường, là một chuỗi các hoạt động diễn ra trong việc thực hiện mỗi quá trình quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu đào tạo đề ra. Đó là phương thức lập kế hoạch giảng dạy thật khoa học, bố trí, xắp xếp, sử dụng một cách tối ưu đội ngũ giáo viên, các phương tiện, vật chất kỹ thuật phục vụ việc dạy và học, đề ra các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy có hiệu quả …
Trong việc quản lý giảng dạy bộ môn tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ ở các trường đại học, chủ nhiệm bộ môn được Hiệu trưởng giao nhiệm vụ vừa thiết kế vừa thi công, vạch kế hoạch giảng dạy và các phương pháp quản lý, tổ chức chỉ đạo thực hiện việc giảng dạy theo đúng lịch trình bộ môn đã phân bố. Sau khi xem xét và phân tích kỹ những đặc điểm, đặc thù của từng loại hình đào tạo, của từng chuyên ngành, cần tập trung thực hiện một số vấn đề sau:
Xây dựng và thông báo kế hoạch giảng dạy bộ môn toàn khóa và năm học, chương trình hành động của đơn vị đến từng người, làm cho mỗi thành viên trong đơn vị tự giác chấp nhận kế hoạch và tự nguyện hành động theo kế hoạch đã đề ra.
Muốn vậy, Chủ nhiệm bộ môn phải chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng quản lý và tổ chức đào tạo, sắp đặt các bộ phận, bố trí đội ngũ giáo viên, công nhân viên trong đơn vị đúng người đúng việc, qui định chức năng quyền hạn cho từng người (từ tổ trưởng chuyên môn đến từng cá nhân), từng bộ phận, xây dựng tập thể sư phạm đoàn kết nhất trí nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường đã giao phó.
Chỉ đạo việc quản lý tổ chức lớp học theo đúng qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với bộ môn ngoại ngữ (không quá 30 sinh viên trong một lớp), tổ chức quá trình dạy học và giáo dục (bao hàm cả thời gian, chất lượng học tập, tinh thần thái độ, phương pháp học tập …) giúp sinh viên học tập tu dưỡng và rèn luyện nhân cách.
Chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ như: soạn giáo án, lên lớp, dự giờ, kiểm tra đánh giá sinh viên …
Sắp xếp đội ngũ giáo viên đúng chức danh, đúng chuyên môn và phân công theo năng lực. Thường xuyên có kế hoạch tổ chức, động viên cán bộ học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển của xã hội.
Tổ chức tốt việc tiếp nhận và phân phối các nguồn lực (người, kinh phí, các trang thiết bị …), sử dụng chúng đạt hiệu quả cao nhất cho việc giảng dạy, học tập, giáo dục sinh viên và cho việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ công nhân viên, giáo viên trong đơn vị. Quản lý và sử dụng các trang thiết bị, đồ dùng dạy học có hiệu quả.
Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động giảng dạy, chủ yếu tập trung vào việc chỉ đạo tổ chức thực hiện mục tiêu, kế hoạch, qui chế chuyên môn, kiểm tra nền nếp dạy và học, hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo và đặc biệt chú trọng đến việc đánh giá chất lượng dạy và học của thầy và trò. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Việc kiểm tra, thanh tra hoạt động dạy và học không những chỉ giúp cho việc đánh giá thực chất trạng thái đạt được của nhà trường khi kết thúc một kỳ kế hoạch mà còn có tác dụng chuẩn bị tích cực cho năm học sau. Việc kiểm tra, thanh tra nếu được thực hiện tốt, đánh giá được một cách chính xác, sẽ giúp cho người quản lý đơn vị thấy được những mặt tồn tại, những lệch lạc, sai sót cùng nguyên nhân của chúng và những vấn đề mới nảy sinh cần phải giải quyết.
1.2.3.6. Quản lý việc thực hiện các phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp dạy học là quá trình trong đó giáo viên tổ chức các hoạt động học tập của sinh viên, hướng dẫn người học tham gia tích cực vào quá trình học lập thông qua việc dự đoán, đưa giả thiết, tham gia tranh luận và giải quyết các tình huống có vấn đề cũng như tạo cơ hội để sinh viên tích cực tham gia hoạt động thực hành giao tiếp thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp và trong nhóm. Để có được phương pháp dạy tiếng Anh tốt, giáo viên cần được đào tạo Cơ bản, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, có khả năng kết hợp hài hòa các phương pháp và kỹ thuật dạy – học, sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy học và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú học tập cho sinh viên.
Ở Việt Nam, ba phương pháp thường được sử dụng nhiều để giảng dạy bộ môn tiếng Anh (cũng như những ngoại ngữ khác) là: Phương pháp Ngữ pháp Dịch -Phương pháp Nghe – Nói và Phương pháp Giao tiếp. [111,8]
- Phương pháp Ngữ pháp – Dịch: Mục đích chủ yếu của Phương pháp Ngữ pháp
Dịch là giúp cho người học có khả năng thưởng thức văn chương. Phương pháp này cung cấp cho người học những loại bài tập rèn luyện về trí tuệ, giúp họ mở rộng kiến thức và phát triển tư duy của mình. Khi dạy, giáo viên thường chú trọng đến việc diễn giải các quy tắc khó, phức tạp của ngữ pháp tiếng nước ngoài và hay sử dụng tiếng mẹ đẻ của người học trong quá trình giảng dạy để khai thác ý nghĩa của ngữ liệu. Dạy từ vựng một cách riêng lẻ, học sinh chủ yếu học và ghi nhớ một cách máy móc theo bảng từ, không tính đến mối liên hệ giữa những từ trong câu và mối liên hệ giữa những bài đã học trước với những bài học sau. Đối với phương pháp này chỉ chú trọng đến 2 kỹ năng đọc và dịch, chủ yếu là những bài văn cổ điển chứ không phải ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày. Do đó người học không phát triển được 2 kỹ năng nghe và nói.
Phương pháp Nghe – Nói: Phương pháp này giúp cho người học thực hành giao tiếp một cách rất máy móc và tự động hóa (không cần phải dừng lại để suy nghĩ). Người học bắt chước và nhắc lại từng từ, từng câu trong bài theo thầy giáo và học thuộc lòng bài đọc. Phương pháp này chú trọng đến phát âm vì nó đòi hỏi sự chuẩn xác. Cố ngăn chặn không cho học sinh phạm lỗi. Cấm dịch trong phương pháp Nghe -Nói tạo cho người học có thói quen tốt là nói tiếng Anh trong giờ học, tránh được thói quen xấu – nói tiếng mẹ đẻ trong giờ học. Đối với phương pháp này, dạy kỹ năng nghe – nói – đọc – viết theo một trật tự nhất định đó. Xem kỹ năng nghe – nói là quan trọng. Trong phương pháp này, thầy giáo phải tích cực sử dụng thiết bị hỗ trợ như các phương tiện nghe – nhìn để luyện các kỹ năng, kỹ xảo nghe – nói cho học sinh. Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Phương pháp Giao tiếp: Trong phương pháp này, 4 kỹ năng giao tiếp kết hợp cùng một lúc, không cần tuân theo thứ tự như trong Phương pháp Nghe Nói. Đối với Phương pháp Giao tiếp, nếu có mắc lỗi, sai về phát âm hay về ngữ pháp một chút không sao mà cần chú trọng đến giao tiếp. Dịch trong phương pháp này không cấm, nhưng chỉ dùng dịch khi cần thiết, như khi giải thích những trường hợp mang tính trừu tượng (để tránh mất thời gian vừa đạt hiệu quả nhanh trong việc hiểu nghĩa từ và cách sử dụng chúng). Trong phương pháp này, giáo viên phải bằng mọi cách tạo điều kiện tối đa để động viên, giúp cho các em hoạt động, sử dụng ngoại ngữ trong học tập. Phương pháp Giao tiếp là phương pháp dạy ngoại ngữ có hiệu quả nhất, giúp cho người học sử dụng ngôn ngữ để thực hành giao tiếp trong nhiều tình huống khác nhau.
Trong việc giảng dạy bộ môn ngoại ngữ cho sinh viên các khoa không chuyên ngữ cần sử dụng hài hòa cả ba phương pháp trên thì hiệu quả của việc dạy và học bộ môn càng cao. Điều này đòi hỏi nhiều ở trình độ, kiến thức của thầy giáo và sự nhuần nhuyễn, thành thục trong việc sử dụng các phương pháp dạy học bộ môn.
Phương pháp giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành rất đa dạng và cơ bản cũng như phương pháp giảng dạy tiếng Anh tổng quát, cho dù nội dung của việc học tiếng Anh chuyên ngành có thay đổi so với việc học tiếng Anh tổng quát. Cái gốc của việc dạy tiếng Anh chuyên ngành vẫn là năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh trong lĩnh vực chuyên môn. [112, 14 ]
1.2.3.7. Quản lý trình độ của giáo viên:
Tiềm lực và khả năng của đội ngũ giáo viên ở các trường học quyết định chất lượng đào tạo. Giảng viên ở các trường đại học phải có bằng cấp chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy theo đúng quy chuẩn về cán bộ giảng dạy đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo đảm nhiệm.
Giáo viên giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học yêu cầu tối thiểu phải có trình độ học vị Thạc sĩ. Đối với một đơn vị giảng dạy tại các trường đại học sư phạm, tỷ lệ cán bộ giảng dạy có học vị Thạc sĩ phải đạt từ 65 đến 95 % và tỷ lệ cán bộ giảng dạy có học vị Tiến sĩ phải đạt từ 25 đến 45% theo qui chuẩn của Bộ đề ra. [113, 26]
Thực hiện giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên các khoa không chuyên ngữ, giảng viên phải nắm vững toàn bộ chương trình bộ môn vừa phải mở rộng tầm nhìn qua các tài liệu chuyên môn để đảm bảo chất lượng và hiệu quả cho việc giảng dạy. Để giảng dạy tốt tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên các khoa không chuyên ngữ, bên cạnh giáo trình bộ môn, giáo viên cần phải có những tài liệu bổ trợ như: giáo trình chuyên ngành đào tạo, từ điển chuyên ngành, sách tham khảo liên quan đến kiến thức trong chương trình, tạp chí, sách báo nước ngoài liên quan đến môn học, các thông tin trên mạng Internet phục vụ cho việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành …Và đồng thời, giảng viên cần phải có phương pháp dạy học phù hợp với giáo trình và luôn có sự nâng cao trình độ học vấn để không những truyền đạt kinh nghiệm của bản thân cho học sinh mà còn cập nhật những tri thức mới, không để lạc hậu với người học trong lĩnh vực giảng dạy của mình. [112, 10]
1.2.3.8. Quản lý cách kiểm tra, đánh giá kết qua học tập của sinh viên: Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
Việc đánh giá chất lượng học tập của sinh viên không chỉ là cơ sở để phân loại sinh viên mà còn có vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng đào tạo, giúp việc điều chỉnh nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn nhằm làm cho việc đào tạo đảm bảo tính cập nhật, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất xã hội, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Thực tế cho thấy, muốn đáp ứng được yêu cầu của xã hội sinh viên phải có khả năng biến các yêu cầu, đòi hỏi của xã hội thành yêu cầu, nhu cầu của cá nhân, có khả năng tự học, tự nghiên cứu, biến “quá trình đào tạo” thành “quá trình tự đào tạo” để tự hình thành, phát triển, hoàn thiện tri thức và tất nhiên, trường đại học phải trang bị khả năng này cho sinh viên – những cán bộ khoa học, những giáo viên trong tương lai. Vì vậy, kiến thức đưa vào dạy trong chương trình của các trường đại học không chỉ là “mục đích” mà còn là “phương tiện” để hoàn thiện nhân cách cho sinh viên.
Từ những tiêu chí nêu trên, việc kiểm tra, đánh giá tri thức, sự nhận thức của sinh viên không chỉ nhằm mục đích kiểm tra kết quả lĩnh hội các kiến thức đơn thuần về nội dung mà còn kiểm tra các kiến thức về phương pháp, vì quá trình học của sinh viên là học phương pháp, học cách thức để tạo cho mình có năng lực tiếp nhận nghề nghiệp trong tương lai.
Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên có thể thông qua các đề bài thi, bài kiểm tra. Yêu cầu chung khi ra đề thi, đề kiểm tra, không nên đưa ra các dạng đề học thuộc lòng, mang tính thụ động mà cần chú trọng các dạng đề phát triển tính lư duy, tính độc lập, sáng tạo của sinh viên nhằm đánh giá được khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự đọc sách tham khảo, tài liệu của sinh viên.
Theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc thi, kiểm tra bộ môn ngoại ngữ nói chung và bộ môn tiếng Anh nói riêng cho sinh viên các khoa không chuyên ngữ từ các khâu ra đề, tổ chức coi thi, chấm thi còn cần tổ chức, phối hợp với các hình thức đánh giá:
- Giáo viên cần tăng cường kiểm tra việc tự học, tự nghiên cứu tài liệu trong các giờ học bằng phương pháp vấn đáp.
- Mỗi học phần phải tổ chức 2 lần kiểm tra: 1lần kiểm tra điều kiện và 1 lần thi hết học phần. Sinh viên phải đủ điểm điều kiện mới được thi học phần.
- Phối hợp nhiều hình thức kiểm tra vấn đáp, kiểm tra trắc nghiệm, kiểm tra viết … để việc đánh giá được khách quan.
- Cần coi trọng giờ luyện tập, giờ thảo luận và đó là cách đánh giá chính xác chất lượng học tập và nhận thức của sinh viên.
- Cần tăng cường cho sinh viên làm các bài tập lớn, tiểu luận để giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. Cần qui định về điểm số để khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học.
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên được tiến hành một cách khách quan có ý nghĩa thiết thực thúc đẩy, khích lệ sinh viên học tập tốt hơn. Đồng thời, việc kiếm tra, đánh giá còn góp phần điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp dạy của thầy, phương pháp học tập của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào lạo trong các trường đại học. [Ì 12, 12] Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh
