Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2040, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”
Muốn đạt được mục tiêu này ngành giáo dục nước ta không thể chỉ thực hiện việc đổi mới ở một cấp bậc học nào mà phải thực hiện đồng bộ ở tất cả các bậc học. Giáo dục mầm non cũng là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hơn nữa giai đoạn từ 0-6 tuổi khoa học đã chứng minh trí tuệ và nhân cách của con người cơ bản đã được hình thành. Giai đoạn từ 0-6 tuổi là giai đoạn não bộ con người phát triển mạnh nhất, các tế bào thần kinh hình thành và phát triển theo cấp số nhân. Đặc biệt trong giai đoạn từ 0-3 tuổi, não trẻ hoàn thiện đến 80% so với người trưởng thành và hình thành vô số kết nối (Synapse) giữa các tế bào thần kinh.
Giai đoạn trẻ từ 0-3 tuổi được coi là giai đoạn phát cảm ngôn ngữ. Đặc biệt giai đoạn trẻ 24-36 tháng tuổi được coi là giai đoạn bùng nổ về ngôn ngữ của trẻ. Không những thế theo các nghiên cứu về não bộ ở giai đoạn 0-6 tuổi và nhất là giai đoạn 0-3 tuổi được coi là giai đoạn vàng trong việc phát triển trí tuệ của trẻ. Vậy muốn có một thế hệ tương lai của đất nước có tầm vóc trí lực không thể không quan tâm và đầu tư đúng mực cho bậc học giáo dục mầm non.
Một trong các mục tiêu của cải cách giáo dục của nước ta là: Làm tốt việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ cấp học mầm non giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách. Ngày nay, chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí thức có khoa học có tình yêu quê hương, yêu đất nước, yêu lao động mà còn tạo nên những con người biết yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giầu mơ ước và sáng tạo. Những phẩm chất ấy con người phải được hình thành từ lứa tuổi mầm non. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đổi mới, chương trình giáo dục trẻ, trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức các hoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nhân trẻ, khuyến khích trẻ hoạt động một cách chủ động tích cực, hồn nhiên vui tươi. Đồng thời, tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt, theo phương châm “Học mà chơi – Chơi mà học” đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện về mọi mặt của trẻ.
Trong quá trình phát triển nhân cách, ngôn ngữ có vai trò là một phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ sẽ giúp trẻ tìm hiểu, nhận thức, khám phá về môi trường xung quanh, thông qua hành động và lời nói của người lớn giúp trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng môi trường xung quanh. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày.
Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện, mặt khác trẻ cũng có thể dùng ngôn ngữ để bày tỏ những nhu cầu mong muốn của mình với các thành viên trong cộng đồng điều đó giúp trẻ hoà nhập với mọi người. Đặc biệt giai đoạn 0-3 tuổi là giai đoạn phát cảm ngôn ngữ. Nếu được kích thích và giáo dục đúng cách trẻ sẽ phát triển ngôn ngữ tốt nhất.
“Chiến lược phát triển giáo dục 2021-2030” đề ra 8 giải pháp, trong đó đổi mới Quản lý giáo dục là giải pháp đột phá; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ Quản lý giáo dục là giải pháp then chốt. Vấn đề về đội ngũ giáo viên luôn được coi là nhân tố quyết định đến chất lượng của một nền giáo dục.
“Chiến lược phát triển giáo dục 2021-2030 xác định, đổi mới Quản lý giáo dục là giải pháp đột phá. Từ góc độ từng trường học, thực tế cho thấy, trường nào có đội ngũ quản lý giỏi, đều tay, đoàn kết, nhiệt tình, hiệu trưởng có tư duy tốt… thì trường đó mạnh lên một cách nhanh chóng, uy tín lớn và sức lan tỏa rộng. Lâu nay chúng ta từng tự hào về đội ngũ quản lý các trường học, tuy nhiên cũng cần thừa nhận một thực tế là ở nhiều trường học, ban giám hiệu không mạnh, các tổ chức đoàn thể hoạt động mang tính hình thức. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Từ những nghiên cứu về não bộ của trẻ chúng ta thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ không thể tách rời việc dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng ở trường mầm non.
Và trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2021-2030” xác định đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phá. Như vậy từ góc độ trường học, thực tế cho thấy muốn dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ 24-36 tháng được tốt không thể không có biện pháp quản lý hữu hiệu từ đội ngũ quản lý Nhà trường.
Xuất phát từ những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn trên, tôi thấy việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy trẻ phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng là hết sức cần thiết và quan trọng. Chính vì vậy tôi đã chọn Đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề: “Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ đáp ứng nhu cầu đổi mới của ngành học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội nhằm đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24 – 36 tháng.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nôi. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Nội dung trọng tâm
- Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân
4.2. Thời gian thực hiện nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu hoạt động giáo dục trẻ và quản lý hoạt động giáo dục trẻ từ năm 2024 đến năm 2026.
4.3. Không gian nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
5. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân như thế nào?
Công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân được đánh giá như thế nào?
Cần phải đề xuất các biện pháp quản lý nào để góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24 – 36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân.
6. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24 tháng đến 36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân hiện nay chưa bám sát mục tiêu, nội dung giáo dục trẻ, chưa chú trọng phát triển năng lực cá nhân của từng trẻ, chưa chú ý đến việc mở rộng và làm giàu vốn từ cho trẻ; hình thức và phương pháp giáo dục chưa phát huy được tính tích cực ở trẻ, chưa lấy trẻ làm trung tâm, giáo viên mới chú trọng đến việc dạy ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ học nhận biết tập nói mà chưa chú ý đến việc dạy học ngôn ngữ được tích hợp lồng ghép thông qua các môn học khác. Việc đánh giá trẻ còn chung chung chưa xây dựng được tiêu chí đánh giá khả năng ngôn ngữ cũng như sự tiến triển ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn 24 tháng đến 36 tháng. Chưa có hình thức và biện pháp theo dõi diễn biến ngôn ngữ của trẻ qua từng chủ đề của năm học. Công tác quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ đang thực hiện đạt được một số kết quả nhất định nhưng còn bất cập trong việc đánh giá hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24 tháng đến 36 tháng. Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, cũng như công tác kiểm tra đánh giá còn hình thức. Việc phối hợp các lực lượng giáo dục trẻ chưa sâu rộng và xuyên suốt.
Cần phải áp dụng đồng bộ các biện pháp hiệu quả, đặc biệt biện pháp quản lý theo mục tiêu và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24 tháng đến 36 tháng, về công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tại trường mầm non.
Khảo sát thực trạng hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24 tháng đến 36 tháng và thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội và phân tích nguyên nhân thực trạng.
Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất một số biện pháp quản lý khả thi nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24 tháng đến 36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Nghiên cứu các nghị quyết lãnh đạo của Đảng, các văn bản quy định của Nhà nước và của ngành Giáo dục và Đào tạo.
Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt tài liệu về giáo dục mầm non, quản lý giáo dục mầm non, quản lí hoạt động giáo dục trẻ trong trường mầm non, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non, quản lý hoạt động dạy trẻ phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non.
Đọc các văn bản tài liệu chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền liên quan đến các hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
Nghiên cứu các tác phẩm, tập san, bài giảng, giáo trình liên quan đến công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục trẻ. Tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra bằng hệ thống phiếu hỏi, đối tượng là giáo viên mầm non, nhằm tìm hiểu và đánh giá về hoạt động giáo dục trẻ, quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
Phỏng vấn sâu: Phụ huynh học sinh nhằm tìm hiểu sâu hơn về quản lý hoạt động dạy trẻ phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
Quan sát: Quan sát các lớp học ở độ tuổi 24-36 tháng về hình thức, phương pháp, các nội dung dạy của giáo viên và tiếp nhận của trẻ.
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các số liệu điều tra, khảo sát thu về.
9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
9.1. Ý nghĩa lý luận
Tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số phương pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng ở Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường mầm non
- Chương 2: Thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
- Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới hiện nay.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ LỨA TUỔI 24-36 THÁNG Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Rất nhiều các học giả nổi tiếng trên thế giới qua những nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ đã cho chúng ta thấy rằng giai đoạn trẻ ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt ở lứa tuổi Nhà trẻ dưới 36 tháng, dạy học ngôn ngữ cho trẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với việc phát triển trí tuệ cũng như nhân cách của trẻ.
Comenxki tên đầy đủ là Jan. Amos. Comenxki (1592-1670) người có những cống hiến rất quý báu cho sự nghiệp giáo dục. Ông đã tổng hợp được lý luận kinh nghiệm và thực tiễn từ thời kỳ phục hưng và đặt nền móng, cơ sở cho nền giáo dục tiên tiến, xứng danh là “ông tổ của nền sư phạm cận đại”. Comenxki mong muốn chỗ nào cũng có trường Mẫu giáo, mỗi một làng có một trường Quốc ngữ, mỗi một Thành phố có một trường La tinh, mỗi một miền phải có một trường Đại học.[19]
Ông rất chú trọng đến việc giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ, bởi vì ông cho rằng: “Muốn dạy ngoại ngữ cho những người chưa nắm được tiếng dân tộc mình thì khác nào dạy trẻ cưỡi ngựa trước khi biết đi”. Trong tác phẩm “Loan báo về một nhà trường mẫu giáo”, tác phẩm chỉ ra những phương pháp học tập ở nhà trường mẫu giáo, học mà chơi,chơi mà học, rồi đưa ra những chỉ dẫn về giáo dục thẩm mỹ, đưa âm nhạc, thơ ca, hội hoạ vào giáo dục trẻ em. Đây là những điều mà ở Châu Âu hàng mấy thế kỷ sau người ta mới tiếp nhận và phổ biến.[19]
Giáo sư Phùng Đức Toàn trong tác phẩm phát triển ngôn ngữ từ trong nôi, giáo sư đã chỉ rõ giáo dục sớm có vai trò quan trọng đối với việc phát triển trí tuệ cho trẻ đặc biệt trẻ ở lứa tuổi Nhà trẻ từ 0-3 tuổi được coi là giai đoạn vàng để trẻ phát triển trí tuệ. Đây cũng là giai đoạn mà ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển mạnh mẽ và bùng nổ. Theo giáo sư Phùng Đức Toàn trẻ không chỉ có thể phát triển ngôn ngữ nói mà sẽ phát triển đồng bộ ngôn ngữ nói và việc biết đọc sớm. Trẻ từ 0-3 tuổi não bộ có khả năng chụp hình ảnh rất tốt. Chính vì vậy nếu thầy cô giáo và gia đình biết cách kích hoạt đúng cách trẻ không chỉ biết nói mà có thể đọc sách một cách thành thạo.[33]
Còn theo quan điểm của Tiến sĩ Maria Montessori người đã khai sáng ra phương pháp giáo dục mang tên bà cũng đã chỉ cho chúng ta thấy ngôn ngữ không chỉ đơn giản dạy trẻ nói mà còn có thể dạy trẻ đọc và viết. Với bộ học cụ vô cùng hấp dẫn về việc dạy trẻ đọc những trẻ được học theo phương pháp Montessori có khả năng tri giác chữ viết tốt và đọc tốt.[22]
1.1.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn đặt trẻ em, lứa tuổi măng non của đất nước trong một vị trí vô cùng quan trọng và cần được sự quan tâm. Đặc biệt việc dạy trẻ phát triển ngôn ngữ cũng như tiếng nói được Bác kính yêu căn dặn: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó ”. Việc rèn luyện và phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ đặc biệt là lứa tuổi nhà trẻ – giống như việc đặt những viên gạch đầu tiên của nền móng giáo dục mầm non. Ngay từ khi còn nhỏ ở lứa tuổi Nhà trẻ chúng ta cần lưu tâm đến việc dạy học phát triển ngôn ngữ. Ca dao tục ngữ cũng có rất nhiều câu của cha ông nhắc nhở chúng ta phải chú ý đến việc rèn luyện và phát triển ngôn ngữ như: “ Học ăn học nói học gói học mở”.
Mục tiêu chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non đổi mới hiện nay, trẻ mầm non cần đảm bảo phát triển 5 mặt phát triển sau:
- Phát triển thể chất;
- Phát triển ngôn ngữ;
- Phát triển thẩm mỹ;
- Phát triển nhận thức;
- Phát triển tình cảm xã hội.
Như vậy trong năm mục tiêu phát triển giáo dục mầm non, mục tiêu phát triển ngôn ngữ là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục mầm non. Chính vì vậy có rất nhiều nhà khoa học cũng như những nghiên cứu một cách cụ thể, có tính hệ thống về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non như:
- Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non của tiến sĩ Trần Nguyên Hân – Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ.
- Tuyển chọn giáo án lĩnh vực phát triển ngôn ngữ (Phan Lan Anh – Nguyễn Thị Hiếu; Đặng Lan Hương – Nguyễn Minh Thảo).
- Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em của Tiến sĩ Trịnh Thị Hà Bắc (Đại học Huế – Trung tâm đào tạo từ xa) Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em 1-3 tuổi (Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Cúc).
- Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm Mô đun MN1-A xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm. Giáo dục phát triển ngôn ngữ (dành cho giáo viên), tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thông qua những nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non đặc biệt là trẻ 24-36 tháng tuổi đã chỉ ra rằng:
Trẻ ở lứa tuổi mầm non là giai đoạn vàng vô cùng quan trọng để phát triển không chỉ ngôn ngữ mà còn giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt. Chính vì vậy Đảng Nhà nước ta cũng như xã hội, các nhà trường, gia đình cần có sự quan tâm đúng mức, đúng cách và thường xuyên để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Cần phải thường xuyên đổi mới để bắt kịp sự đổi mới của xã hội; nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học phát triển ngôn ngữ không cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy không chỉ là trách nhiệm của gia đình, trách nhiệm của giáo viên mầm non mà còn là nhiệm vụ của nhà quản lý giáo dục mầm non. Đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay Nhà quản lý cần có sự nhanh nhạy và sát sao để các Nhà trường đạt được hiệu quả cao nhất về chất lượng giáo dục.
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu các kinh nghiệm quản lý Giáo dục mầm non, tác giả đặt vấn đề nghiên cứu quá trình quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ của nhà trường đáp ứng nhu cầu đổi mới của ngành học, sự tin yêu của nhân dân.
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường Quản lý
Qua các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, thuật ngữ “quản lý” có thể được nêu với một số định nghĩa như sau:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [24]
Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [30]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [32]
Từ nhiều cách diễn đạt khái nhiệm về quản lý khác nhau, quản lý được hiểu là: quản lý là một quá trình tác động có định hướng, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
- Quản lý giáo dục
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [1]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến bộ trạng thái về chất” [15]
Từ những khái niệm quản lý trên ta có thể quan niệm quản lý giáo dục là: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu giáo dục đã định.
- Quản lý nhà trường
Nhà trường là tế bào của Hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện nhiệm vụ chuyên trách giáo dục và đào tạo cho học sinh nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra. Nhà trường là nơi tổ chức thực hiện và quản lý quá trình giáo dục.
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin…) nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, tiến tới mục tiêu giáo dục đề ra.
1.2.2. Dạy học, hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Dạy học: Là một bộ phận của quá trình giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội được những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục. Chức năng nổi trội của dạy học là hình thành kiến thức, kỹ năng kỹ xảo và phát triển trí tuệ cho học sinh. [34]
Tuy nhiên trong trường mầm non hoạt động dạy học được hiểu theo nghĩa tổ chức các hoạt động vui chơi, các hoạt động có chủ đích cho trẻ được tham gia, làm sao để học sinh học học một cách “ vô tình” mà người dạy lại dạy có chủ đích. Trẻ học thông qua các hoạt động vui chơi chứ không phải hình thức tiểu học hóa.
Hoạt động dạy học: Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học không diễn ra.[34]
Quản lý hoạt động dạy học: Là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
1.2.3. Dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng
Dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng bao gồm:
Nghe
- Nghe các giọng nói khác Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Nghe, hiểu các từ và câu chỉ đồ vật, sự vật, hành động quen thuộc và một số loại câu hỏi đơn giản.
- Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao có nội dung phù hợp với độ tuổi.
Nói
- Phát âm các âm khác
- Trả lời và đặt một số câu hỏi đơn giản.
- Thể hiện nhu cầu, cảm xúc, hiểu biết của bản thân bằng lời nói.
Làm quen với sách
- Mở sách, xem và gọi tên sự vật, hành động của các nhân vật trong tranh.
1.3. Lý luận về hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
1.3.1. Vai trò của trường mầm non đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng
- Trường mầm non có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng
Thứ nhất: Trường mầm giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng việt (luyện phát âm chuẩn cho trẻ) đồng thời sửa các lỗi phát âm cho trẻ. Trẻ học ngôn ngữ ở mọi lúc mọi nơi. Có thể học ở gia đình, học ở môi trường nơi trẻ sinh ra. Tuy nhiên không phải trẻ nào cũng phát âm đúng và chuẩn. Có rất nhiều trẻ ở với giúp việc hoặc với những người phát âm chưa chuẩn trẻ sẽ học cách phát âm cũng như những từ vựng từ những người xung quanh trẻ. Và nhiệm vụ của trường học là phải dạy trẻ phát âm chuẩn mực. Đôi khi do đặc điểm lứa tuổi nhiều trẻ ở giai đoạn này còn chưa phát âm được tròn vành rõ tiếng hay nói ngọng. Nhưng khi trẻ ở nhà với gia đình, có rất nhiều gia đình chưa chú trọng việc sửa hoặc uốn nắn lỗi phát âm cho trẻ. Vậy ở trường mầm non có trách nhiệm sửa các lỗi phát âm cho trẻ.
Thứ hai: Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ. Trường mầm non là nơi mà có thể đánh giá được mức độ và chuẩn ngôn ngữ của trẻ ở từng lứa tuổi. Chính vì vậy đối với mỗi trẻ khi đi học Nhà trường có thể dựa vào mục tiêu phát triển ngôn ngữ lứa tuổi của trẻ để đánh giá được khả năng ngôn ngữ của trẻ. Nếu ngôn ngữ của trẻ chưa đạt chuẩn so với độ tuổi trường mầm non là nơi có nhiệm vụ tổ chức cac hoạt động dạy-học để giúp trẻ hình thành ngôn ngữ. Đồng thời với những trẻ đã có lượng từ vựng nhất định trường mầm non giúp trẻ tiếp tục phát triển vốn từ cho trẻ.
Thứ ba: Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn. Nói đúng ngữ pháp và nói theo đúng mục đích phát ngôn có vai trò vô cùng quan trọng. Có những trẻ biết từ vựng những chưa sử dụng được từ vựng vào đúng mục đích phát ngôn. Và cũng có những trẻ nói chưa đúng ngữ pháp và chưa nói được đa dạng các kiểu câu khác nhau. Vậy trường mầm non có vai trò dạy trẻ nói câu đúng ngữ pháp và nói các kiểu câu theo mục đích nói.
Thứ tư: Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Thứ năm: Giáo dục văn hoá giao tiếp ngôn ngữ. Sử dụng âm thanh, ngữ điệu sao cho phù hợp, biểu cảm. Rèn luyện cho trẻ biết phối hợp các phương tiện phi ngôn ngữ…
Thứ Sáu: Phát triển ngôn ngữ nghệ thuật thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học. Qua dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học, giáo viên giúp trẻ biết nghe và hiểu được tác phẩm văn học, biết đánh giá các nhân vật trong tác phẩm; nhớ nội dung các bài thơ, biết cách đọc diễn cảm… Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là cho trẻ làm quen với phong cách ngôn ngữ văn chương. Qua làm quen tác phẩm văn học, vốn từ nghệ thuật của trẻ được mở rộng, trẻ làm quen với cách dùng từ, cách đặt câu, cách diễn đạt, lời nói có vần, nhịp, nói có ngữ điệu…
1.3.2. Mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non như sau:
Theo Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 3-36 tháng như sau:
- Nghe hiểu được các yêu cầu đơn giản bằng lời nói.
- Biết hỏi và trả lời một số câu hỏi đơn giản bằng lời nói, cử chỉ.
- Sử dụng lời nói để giao tiếp, diễn đạt nhu cầu.
- Có khả năng cảm nhận vần điệu.
Từ việc nắm được mục tiêu giáo dục phát triển triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng, nhà quản lý sẽ xây dựng được các kế hoạch quản lý được mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi.
1.3.3. Đặc điểm dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng tuổi
- Giáo viên phải nắm vững được đặc điểm phát triển vốn từ cho trẻ 24- 36 tháng.
Dựa vào cơ sở ngôn ngữ: [modul MN3 đặc điểm phát triển ngôn ngữ, những mục tiêu và kết quả mong đợi ở trẻ mầm non về ngôn ngữ -Nguyễn Thị Hảo]
- Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ giai đoạn 24-36 tháng tuổi:
- Khi 2 tuổi trẻ biết được khoảng 50 từ.
- Biết các khái niệm không gian: bên trong, bên ngoài, bên trên, bên dưới…
- Biết vài đại từ: “ bạn”, “ tôi”
- Lời nói chính xác hơn nhưng có thể bị nuốt âm cuối.
- Trả lời những câu hỏi đơn giản
- Nói được cụm từ có từ 2-3 từ
- Sử dụng câu hỏi có nhấn trọng âm ở cuối như: “Quả bóng của con đâu?”
- Bắt đầu sử dụng các từ chỉ số nhiều như: “ Những cái tất”; “những đôi dép”, thì quá khứ: “đã ăn rồi”
Đây là giai đoạn mà ngôn ngữ của trẻ có sự phát triển mạnh mẽ. Các từ thường dùng là danh từ và động từ, các từ gần gũi với cuộc sống hàng ngày của trẻ. Giai đoạn này trẻ cảm nhận và tiếp thu ngôn ngữ một cách trực quan, gắn liền với các hình ảnh, đồ vật, hiện tượng mà trẻ có thể nhìn thấy chơi cùng với các hoạt động hàng ngày. Mới đầu là kinh nghiệm, sau đó là hiểu, và cuối cùng là dùng từ. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Dựa vào cơ sở tâm lý của trẻ 24-36 tháng: Tư duy của trẻ ở giai đoạn này trực Ở thời kỳ này khái niệm tri giác về các sự vật hiện tượng bắt đầu được hoàn thiện, trẻ hay bắt chước những cử chỉ và lời nói của người khác.
Dựa vào cơ sở giáo dục: Ngôn ngữ được hình thành và phát triển thông qua giao tiếp mọi lúc mọi nơi. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các giờ học, các hoạt động vui chơi, các giờ sinh hoạt ăn ngủ, giờ dạo chơi ngoài trời.
Từ những cơ sở ngôn ngữ, cơ sở tâm lý, cơ sở giáo dục của trẻ giai đoạn 24-36 tháng chúng ta có thể thấy được rằng đặc điểm dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng mang tính chất rất đặc thù:
- Ngôn ngữ của giáo viên khi giao tiếp và dạy trẻ phải trong sáng dễ hiểu, chính xác để trẻ có thể dễ bắt chước.
- Giáo viên dạy trẻ nói ở mọi lúc mọi nơi không chỉ trong giờ học mà ở tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ như giờ học, giờ chơi, giờ sinh hoạt chung, giờ hoạt động ngoài trời.
- Đồ dùng giảng dạy trẻ phải trực quan, hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn.
- Trong khi trẻ trả lời cô, cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu, không nói cụt ngủn, cộc lốc.
- Cô giáo tổ chức rộng rãi các trò chơi khác nhau và sử dụng những loại câu đơn giản.
- Khi đi dạo chơi ngoài trời thấy gì giáo viên giới thiệu đấy để cung cấp các vốn từ mới cho trẻ.
- Nội dung chương trình dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng
Theo Thông tư số: 17 /2019/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung giáo dục dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-36 tháng tuổi gồm có những nội dung sau:
Nghe:
- Nghe lời nói với sắc thái tình cảm khác nhau.
- Nghe các từ chỉ tên gọi đồ vật, sự vật, hành động quen thuộc.
- Nghe và thực hiện các yêu cầu bằng lời nói.
- Nghe các câu hỏi: cái gì? làm gì? để làm gì? ở đâu? như thế nào?
- Nghe các bài thơ, đồng dao, ca dao, hò vè, câu đố, bài hát và truyện ngắn.
Nói:
- Phát âm các âm khác nhau.
- Sử dụng các từ chỉ đồ vật, con vật, đặc điểm, hành động quen thuộc trong giao tiếp.
- Trả lời và đặt câu hỏi: cái gì?, làm gì?, ở đâu?, …. thế nào?, để làm gì?, tại sao?…
- Thể hiện nhu cầu, mong muốn và hiểu biết bằng 1-2 câu đơn giản và câu dài.
- Đọc các đoạn thơ, bài thơ ngắn có câu 3-4 tiếng.
- Kể lại đoạn truyện được nghe nhiều lần, có gợi ý.
- Sử dụng các từ thể hiện sự lễ phép khi nói chuyện với người lớn.
Làm quen với sách:
- Lắng nghe khi người lớn đọc sách.
- Xem tranh và gọi tên các nhân vật, sự vật, hành động gần gũi trong tranh.
- Phương pháp tổ chức dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng
- Nhóm phương pháp tác động bằng tình cảm
- Nhóm phương pháp trực quan- minh họa
- Nhóm phương pháp thực hành
- Hành động, thao tác với đồ vật, đồ chơi
- Trò chơi
- Luyện tập
- Nhóm phương pháp dùng lời nói
- Nhóm phương pháp đánh giá nêu gương.
1.2.3.3. Kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục trẻ trong nhà trường là một việc làm hết sức quan trọng. Qua kiểm tra đánh giá Nhà quản lý có thể nắm được giáo viên đã đang và có đi đúng hướng kế hoạch năm học do Nhà trường đề ra hay không. Để từ đó kịp thời uốn nắn thay đổi. Đối với hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ là một trong chuỗi các hoạt động giáo dục mà nhà quản lý sẽ kiểm tra đánh giá. Tuy nhiên dựa vào từng hoạt động giáo dục mà Nhà quản lý có hình thức cũng như kế hoạch kiểm tra đánh giá riêng. Các hoạt động kiểm tra đánh giá giáo viên dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng của Nhà quản lý bao gồm. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Kiểm tra kế hoạch năm học của lứa tuổi. Trong kế hoạch năm học kiểm tra cụ thể chi tiết dự kiến xây dựng các chủ đề chủ điểm học từng tháng.
- Kiểm tra việc xây dựng mạng nội dung học tập của từng chủ đề và kế hoạch tuần của giáo viên. Thông qua việc kiểm tra việc xây dựng nội dung Nhà quản lý có thể đánh giá được mức độ phù hợp hay chưa phù hợp để có hướng điều chỉnh kịp thời. Nhà quản lý cũng có thể kiểm tra được hệ thống những bài thơ, bài hát, hay câu chuyện… mà giáo viên lựa chọn đã phù hợp với lứa tuổi của trẻ hay chưa? Có đem lại kết quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ hay không?
- Kiểm tra xây dựng mục tiêu giáo dục của lứa tuổi. Đặc biệt là xây dựng mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Kiểm tra giáo án bài giảng dự kiến của giáo viên
- Kiểm tra đánh giá kết quả mong đợi dành cho học sinh sau mỗi chủ đề, chủ điểm của giáo viên (Tức là kiểm tra đánh giá của giáo viên đối với học sinh thông qua các tiêu chí phát triển ngôn ngữ của lứa tuổi).
- Kiểm tra việc sử dụng đồ dùng phục vụ cho hoạt động giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ của giáo viên.
- Kiểm tra giờ dạy của giáo viên
Các hình thức kiểm tra:
- Kiểm tra đầu năm học, kiểm tra hàng tháng, kiểm tra giữa các kỳ, kiểm tra cuối kỳ, kiểm tra hàng ngày, kiểm tra đột xuất và báo trước.
- Dự giờ dưới nhiều hình thức: Báo trước, không báo trước, các lớp song song, dự liên tục cả buổi, theo chuyên đề, có lựa chọn, có thể mời giáo viên trong khối cùng dự.
- Phân tích sư phạm bài trên lớp đã dự: Dựa vào lý thuyết các kiểu bài học, phân tích hoạt động giáo viên, trẻ em trong việc thực hiện mục đích, nội dung, phương pháp, kết quả nhận thức của trẻ. Cán bộ quản lý nêu kết luận cuối cùng, ghi biên bản, lưu hồ sơ.
1.4. Quản lý hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
1.4.1. Quản lý mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng
Nhà quản lý cần xác định rõ mục tiêu phát triển ngôn ngữ [Theo nguồn tài liệu của Bộ giáo dục và Đào tạo: Mô đun MN1 – A xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm giáo dục phát triển ngôn ngữ.]
- Mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non như sau:
Theo Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 3-36 tháng như sau:
- Nghe hiểu được các yêu cầu đơn giản bằng lời nói.
- Biết hỏi và trả lời một số câu hỏi đơn giản bằng lời nói, cử chỉ.
- Sử dụng lời nói để giao tiếp, diễn đạt nhu cầu.
- Có khả năng cảm nhận vần điệu.
Từ việc nhà quản lý nắm được mục tiêu giáo dục phát triển triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng, nhà quản lý sẽ xây dựng được các kế hoạch quản lý được mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi.
1.4.2. Quản lý nội dung hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng ở trường mầm non
Theo Thông tư số 17 /2019/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung giáo dục dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-36 tháng tuổi gồm có những nội dung sau:
Nhà quản lý giáo dục cần nắm được nội dung dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng của Bộ Giáo dục và đào tạo để từ đó cùng với nhà giáo dục của cơ sở xây dựng lên nội dung bài học phù hợp với trẻ của trường mình.
Nội dung chương trình giáo dục trẻ đảm bảo tính tích hợp chủ đề, tính vừa sức, phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi; nội dung giáo dục gắn với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống. Nội dung chương trình dạy học phát triển ngôn ngữ không chỉ với mục đích giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mà bên cạnh đó kích thích sự tìm tòi ham hiểu biết của trẻ. Giáo dục trẻ tình yêu thiên nhiên yêu người thân, yêu bạn bè thầy cô giáo, lễ phép với ông bà cha mẹ thầy cô…
1.4.3. Quản lý hình thức, phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường mầm non. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Quản lý hình thức dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng.
Muốn đạt được hiệu quả giáo dục và giúp trẻ phát triển tối đa khả năng ngôn ngữ của trẻ nhà quản lý phải quản lý được các hình thức dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ của nhà giáo dục. Bới các hình thức để dạy trẻ phát triển ngôn ngữ vô cùng đa dạng. Tính đa dạng của hình thức dạy học phát triển ngôn ngữ được biểu hiện như sau:
Dựa vào mục đích và nội dung hoạt giáo dục cho trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng ở trường mầm non, Các hoạt động giáo dục ở lứa tuổi 24-36 tháng bao gồm:
- Hoạt động giao lưu cảm xúc
- Hoạt động với đồ vật
- Hoạt động chơi tự do
- Hoạt động chơi tập có chủ đích
- Hoạt động ăn ngủ vệ sinh cá nhân.
Nhà giáo dục không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua các giờ dạy học phát triển ngôn ngữ (như giờ nhận biết tập nói, thơ truyện) mà cần phải tích hợp việc dạy học ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động học giáo dục trẻ ở trường mầm non. Ví dụ như thông qua các hoạt động vui chơi tự do tự chọn của trẻ. Thông qua các giờ chơi của trẻ giáo viên có thể chơi cùng trẻ, đặt ra các câu hỏi giúp trẻ mở rộng vốn từ của mình. Thông qua các hoạt động tổ chức lễ hội ở trường mầm non. Ở trường mầm non một năm học trẻ có cơ hội được trải qua rất nhiều lễ hội như: Lễ hội trung thu, lễ hội 1/6, lễ khai giảng, lễ hội chào năm mới, lễ hội Halloween, lễ hội Noel…
Dựa theo vị trí không gian, có các hình thức:
- Tổ chức hoạt động trong phòng, lớp.
- Tổ chức hoạt động ngoài trời trong khuôn viên trường
- Tổ chức các hoạt động ngoài trường như đi thăm quan dã ngoại.
Dựa theo số lượng trẻ, có các hình thức:
- Tổ chức hoạt động cá nhân.
- Tổ chức hoạt động theo nhóm.
- Tổ chức hoạt động cả lớp
Quản lý phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng.
Việc lựa chọn phương pháp giáo dục và tổ chức các hoạt động của trẻ nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung giáo dục dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng ở trường mầm non. Quản lý phương pháp dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà quản lý phải quản lý việc phối kết hợp giữa các phương pháp giáo dục với nhau để thực hiện được mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng, thường sử dụng các phương pháp sau: Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Nhóm phương pháp tác động bằng tình cảm
- Nhóm phương pháp trực quan – minh họa
- Nhóm phương pháp thực hành
- Hành động, thao tác với đồ vật, đồ chơi
- Trò chơi
- Luyện tập
- Nhóm phương pháp dùng lời nói
- Nhóm phương pháp đánh giá, nêu gương
Việc sử dụng các phương pháp giáo dục trẻ cần đảm bảo tính trực quan, tính thực tiễn, trẻ có nhiều cơ hội được trải nghiệm. Câu từ dùng cho lứa tuổi Nhà trẻ cần ngắn gọn dễ hiểu. Hình ảnh phải sinh động đặc biệt nên sử dụng các gam màu cơ bản và màu có gam sáng.
1.4.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục trẻ trong nhà trường là một việc làm hết sức quan trọng. Qua kiểm tra đánh giá Nhà quản lý có thể nắm được giáo viên đã đang và có đi đúng hướng kế hoạch năm học do Nhà trường đề ra hay không. Để từ đó kịp thời uốn nắn thay đổi. Đối với hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ là một trong chuỗi các hoạt động giáo dục mà nhà quản lý sẽ kiểm tra đánh giá. Tuy nhiên dựa vào từng hoạt động giáo dục mà Nhà quản lý có hình thức cũng như kế hoạch kiểm tra đánh giá riêng. Các hoạt động kiểm tra đánh giá giáo viên dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng của Nhà quản lý bao gồm:
- Kiểm tra kế hoạch năm học của lứa tuổi. Trong kế hoạch năm học kiểm tra cụ thể chi tiết dự kiến xây dựng các chủ đề chủ điểm học từng tháng. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Kiểm tra việc xây dựng mạng nội dung học tập của từng chủ đề và kế hoạch tuần của giáo viên. Thông qua việc kiểm tra việc xây dựng nội dung Nhà quản lý có thể đánh giá được mức độ phù hợp hay chưa phù hợp để có hướng điều chỉnh kịp thời. Nhà quản lý cũng có thể kiểm tra được hệ thống những bài thơ, bài hát, hay câu chuyện…. mà giáo viên lựa chọn đã phù hợp với lứa tuổi của trẻ hay chưa? Có đem lại kết quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ hay không?
- Kiểm tra xây dựng mục tiêu giáo dục của lứa tuổi. Đặc biệt là xây dựng mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Kiểm tra giáo án bài giảng dự kiến của giáo viên
- Kiểm tra đánh giá kết quả mong đợi dành cho học sinh sau mỗi chủ đề, chủ điểm của giáo viên (Tức là kiểm tra đánh giá của giáo viên đối với học sinh thông qua các tiêu chí phát triển ngôn ngữ của lứa tuổi).
- Kiểm tra việc sử dụng đồ dùng phục vụ cho hoạt động giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ của giáo viên.
- Kiểm tra giờ dạy của giáo viên
Các hình thức kiểm tra:
- Kiểm tra đầu năm học, kiểm tra hàng tháng, kiểm tra giữa các kỳ, kiểm tra cuối kỳ, kiểm tra hàng ngày, kiểm tra đột xuất và báo trước.
- Dự giờ dưới nhiều hình thức: Báo trước, không báo trước, các lớp song song, dự liên tục cả buổi, theo chuyên đề, có lựa chọn, có thể mời giáo viên trong khối cùng dự.
- Phân tích sư phạm bài trên lớp đã dự: Dựa vào lý thuyết các kiểu bài học, phân tích hoạt động giáo viên, trẻ em trong việc thực hiện mục đích, nội dung, phương pháp, kết quả nhận thức của trẻ. Cán bộ quản lý nêu kết luận cuối cùng, ghi biên bản, lưu hồ sơ.
1.4.5. Quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Có một câu nói nổi tiếng: “Chất lượng giáo dục không thể nằm ngoài chất lượng giáo viên”. Điều đó chứng tỏ giáo viên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ thực hiện được mục tiêu cũng như kết quả mong đợi của lứa tuổi. Nhất là với trẻ lứa tuổi 24-36 tháng lứa tuổi vẫn còn nằm trong giai đoạn Nhà trẻ người giáo viên đóng vai trò vô cùng quan trọng vừa là thầy, vừa là mẹ. Thời gian trẻ ở với cô, với trường có lẽ nhiều hơn thời gian trẻ ở với mẹ với gia đình. Chính vì vậy ngôn ngữ của trẻ học qua cô rất nhiều. Vậy để ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt nhất nhà quản lý không thể bỏ qua việc đào tạo đội ngũ nhân lực, đội ngũ giáo viên. Người thầy có được trang bị đầy đủ hành trang kiến thức để chăm sóc cũng như giảng dạy cho trẻ thì kết quả học tập mới tốt được. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Trước khi muốn trang bị hành trang kiến thức cho giáo viên Nhà quản lý phải đánh giá được:
- Thực trạng đội ngũ giáo viên về trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất thông qua các kế hoạch năm học, kế hoạch xây dựng mục tiêu giáo dục, qua bài soạn. Thông qua đó Nhà quản lý có thể đánh giá giáo viên đã có kiến thức đến đâu. Đã đạt chuẩn nghề nghiệp hay chưa?
- Thông qua các hoạt động dự giờ giảng dạy của giáo viên. Cũng như thông qua các cuộc họp các buổi sinh hoạt chuyên môn, các hội thi. Nhà quản lý đánh giá được năng lực của Nhà giáo.
Sau khi đánh giá được năng lực của giáo viên Nhà quản lý xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cũng như các phẩm chất đạo đức, lối sống cho giáo viên:
- Quản lý giờ giấc, ý thức chấp hành nội quy, quy chế chuyên môn của đơn vị.
- Tham mưu kịp thời Hội đồng quản trị để đảm bảo đời sống giáo viên (thu nhập, đóng bảo hiểm), đảm bảo điều kiện để họ công tác tốt.
- Hàng tháng, năm đánh giá xếp loại giáo viên, cuối năm học đánh giá phân loại, khen thưởng với những giáo viên xuất sắc. Sa thải những giáo viên chưa đủ chuyên môn nghiệp vụ.
1.4.6. Quản lý cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động giáo dục trẻ Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Đối với trẻ mầm non đặc biệt trẻ Nhà trẻ việc dạy học không thể dạy chay bởi trẻ sự tập trung của trẻ mầm non rất ngắn. Trẻ ở dễ bị thu hút bởi hình ảnh, màu sắc sinh động. Chính vì vậy việc chuẩn bị đồ dùng giảng dạy cho trẻ mầm non nói chung và trẻ nhà trẻ nói riêng vô cùng quan trọng.
Bên cạnh việc sử dụng các đồ dùng đồ chơi có sẵn của Nhà trường giáo viên có thể sử dụng đồ dùng đồ chơi tự tạo. Như dạy thơ ca và văn học: giáo viên có thể tự vẽ tranh, làm con rối, làm xa bàn mô hình để thu hút trẻ.
Ngoài việc sáng tạo đồ dùng đồ chơi tự tạo giáo viên còn có thể sử dụng tranh ảnh, đồ vật thật để trẻ trải nghiệm, ví dụ như dạy tiết nhận biết tập chủ đề các loài hoa. Đề tài nhận biết tập nói hoa hồng, hoa cúc. Giáo viên có thể cho trẻ xem, quan sát hoa thật. Cho trẻ ngửi, miêu tả màu sắc, cánh hoa…
Đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động dạy học nói chung và dạy học phát triển ngôn ngữ nói riêng. Chính vì vậy Nhà quản lý cần có sự quan tâm sát sao đến việc chuẩn bị và sử dụng đồ dùng đồ chơi của giáo viên vào hoạt động học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng.
Nhà quản lý có thể kiểm tra kế hoạch chuẩn bị đồ dùng đồ chơi của giáo viên, cũng có thể kiểm tra đột xuất đồ dùng dạy học của 1 tiết nào đó.
1.4.7. Công tác phối hợp trong quản lý dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng
Ngôn ngữ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với con người nói chung và với trẻ nói riêng. Trẻ ở giai đoạn 24-36 tháng là giai đoạn ngôn ngữ đang dần hình thành và hoàn thiện. Thời gian một ngày của trẻ không chỉ có ở trường học mà còn ở với gia đình. Chính vì vậy nhà giáo dục cần có sự phối kết hợp với cha mẹ học sinh trong công tác dạy trẻ phát triển ngôn ngữ. Khi trẻ ở nhà hạn chế cho bé xem ti vi. Khuyến khích bố mẹ, ông bà hay giúp việc tương tác với trẻ nhiều hơn, chơi với con nhiều hơn, nói chuyện với con nhiều hơn. Đặc biệt ý thức được rằng dạy trẻ phát triển ngôn ngữ ở mọi lúc mọi nơi.
Phối hợp với các ban ngành đoàn thể của phường: Y tế, Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Văn hóa,… trong công tác giáo dục trẻ.
Tham mưu với các cấp lãnh đạo địa phương xây dựng môi trường ngôn ngữ văn minh tại địa phương để trẻ có cơ hội được học ngôn ngữ, phát triển ngôn ngữ trong sáng và văn minh. Tránh những ngôn ngữ xấu, ngôn ngữ chợ búa ở giai đoạn học nói này.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
1.5.1. Các yếu tố bên ngoài
- Các yếu tố về kinh tế văn hóa- xã hội của địa phương nơi trường mầm non đóng trên địa bàn.
Các yếu tố văn hóa xã hội của địa phương có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non. Bởi nếu trường nằm trong khu có nền kinh tế phát triển, người dân có trình độ văn hóa cao công tác phối kết hợp giữa dạy học phát triển ngôn ngữ giữa nhà trường và môi trường xung quanh trẻ sẽ gặp nhiều điều kiện thuận lợi. Bên cạnh đó việc người dân trên địa bàn có trình độ văn hóa cao, kinh tế phát triển họ thường lựa chọn những trường mầm non uy tín chất lượng để gửi con, cháu. Đây cũng là cơ hội đồng thời cũng là những thách thức không nhỏ đối với các trường mầm non tư thục.
Với những trường đóng trên địa bàn khu dân cư có trình độ văn hóa thấp, kinh tế kém phát triển người dân thường không dành nhiều sự quan tâm đến hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành và phát triển ngôn ngữ văn minh, mạch lạc cho trẻ.
- Sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ.
Đảng Nhà nước, các ban ngành đoàn thể các phòng ban cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cha mẹ học sinh hiểu được tầm quan trọng và vai trò của phát triển ngôn ngữ với lứa tuổi Nhà trẻ mẫu giáo. Để từ đó có sự đồng thuận cũng như thống nhất và quan điểm cũng như phương pháp dạy ngôn ngữ cho trẻ.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục trẻ theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị – xã hội. Khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động sư phạm của các Nhà trường.
1.5.2. Các yếu tố bên trong trường mầm non
- Vai trò Hiệu trưởng trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Ở trường công lập Hiệu trưởng là người đứng đầu đơn vị, cơ sở của ngành Giáo dục mầm non, là người chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, chính quyền địa phương và các cấp trên về quản lý toàn bộ hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường theo đúng đường lối giáo dục của Đảng, phương hướng, nhiệm vụ của ngành. Tuy nhiên Hiệu trưởng trường mầm non tư thục bên cạnh việc chịu sự chỉ đạo của lãnh đạo các cấp còn chịu sự quản lý trực tiếp của Hội đồng quản trị công ty. Hiệu trưởng trường mầm non tư thục Hoa Kỳ thay mặt cho lãnh đạo công ty giải quyết các vấn đề liên quan đến nhân sự phụ huynh và học sinh của trường.
Hiệu trưởng trường mầm non là người đứng đầu đơn vị trường học. Người Hiệu trưởng trường mầm non không chỉ là một nhà quản lý mà còn là một nhà giáo dục. Bởi vậy người hiệu trưởng mầm non cần phải có phẩm chất chính trị và năng lực của một nhà giáo. Là tấm gương để tập thể cán bộ giáo viên trường, các em học sinh noi theo
- Đội ngũ giáo viên mầm non
Theo Cômexki người thầy giáo là người có tình cảm gắn bó nhất đối với học sinh sau tình cảm ruột thịt của cha mẹ. Do đó, không thể hoàn thành được trách nhiệm của người thầy giáo nếu như không có tình yêu thương chân thật đối với học sinh. Ông khẳng định: “Nếu anh không như một người cha thì cũng không thể là một người thầy”. Cômexki coi người thầy giáo có vai trò vô cùng to lớn đối với kết quả giáo dục, ông ví chức trách của người giáo viên như một người thợ lặn cao cả, nặn những tâm hồn trẻ thơ, hoặc như một ngọn lửa xua đuổi hết thảy những bóng tối trong trí óc, do đó dưới mặt trời, không có nghề nghiệp nào ưu việt bằng. Người thầy giáo theo quan điểm của ông, hơn ai hết là người phải có đạo đức, gương mẫu về mọi mặt vì “ trẻ em học bắt chước khi học biết”.
Nhà giáo dục tiêu biểu, đồng thời là một nhà giáo lẫy lừng người Thuỵ sỹ thời bấy giờ là Petxtalôdi (1746 – 1827). Có thể nói cả cuộc đời Petxtalôdi dành cho sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục cứu vớt cho trẻ em nghèo khổ nên người. Ảnh hưởng lớn quan điểm giáo dục tự nhiên của J.J. Ruxô; Petxtalôdi cho rằng thầy giáo không được đàn áp, đè nén sự phát triển tự nhiên của trẻ em, thầy giáo phải quán triệt nguyên tắc: “Giáo dục phải phù hợp với tự nhiên”. Nhưng với một cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn, ông cho rằng con người cần phải can thiệp vào sự phát triển của trẻ như là sự định hướng vào đời cho trẻ trên cơ sở quy luật tự nhiên của trẻ. Ông nói: “Nếu chỉ chờ đợi ở tự nhiên việc phát triển mọi tiềm năng ở con người mà thiếu sự giúp đỡ từ bên ngoài thì con người được giải phóng rất chậm chạp khỏi những thuộc tính của sinh vật”. Phải chăng Petxtalôdi đã thấy rõ vai trò của giáo dục và của người giáo viên trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em? Petxtalôdi cũng cho rằng mục đích giáo dục là làm phát triển mọi tiềm năng tự nhiên ở con người.
Ở Việt Nam những tấm gương thầy giáo tiêu biểu soi sáng muôn đời sau như Chu Văn An (1292 – 1370), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), Ngô Thế Vinh (1803- 1856), Nguyễn Đức Đạt (1825 – 1887), Nguyễn Văn Siêu (1796-1869); Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888)… Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
- Người giáo viên trong thời kỳ đổi mới:
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người thầy, Bác Hồ đã nói: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo- là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những thầy giáo tốt là những anh húng vô danh”.Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “ Nghề dạy học là một nghề cao quí… nghề dạy học là một nghề sáng tạo vào bậc nhất trong các nghề sáng tạo… vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII khẳng định đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh.
Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh được phát huy, nhưng vai trò của giáo viên không hề bị hạ thấp, yêu cầu đối với người dạy không hề giảm nhẹ, trái lại, giáo viên càng phải có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ mới có thể đóng vai trò là người cố vấn, người trọng tài luôn luôn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình sư phạm. Chính vì vậy, A. Đixtecvec cho rằng: “Người giáo viên bình thường mang chân lý đến cho trò, người giáo viên giỏi biết dạy cho trò đi tìm chân lý”.
Rõ ràng từ thời cổ đại đến thời hiện đại ngày nay qua rất nhiều quan điểm giáo dục luôn khẳng định người thầy có vai trò vô cùng quan trọng đối với kết quả học tập của trẻ. Đặc biệt với trẻ mầm non người thầy không chỉ là thầy mà còn là người mẹ. Người giáo viên mầm non không chỉ thực hiện chức năng “dạy” mà còn thực hiện chức năng “dỗ”. Giáo viên mầm non đang thực hiện nhiệm vụ vô cùng cao quý tuy nhiên chế độ đãi ngộ với giáo viên mầm non chưa thực sự tốt. Nhà quản lý cần có sự quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần để giáo viên có nhiều năng lượng cống hiến và sáng tạo hơn.
- Cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Đối với trẻ em, đồ chơi cũng giống như cuốc cày đối với người nông dân, máy móc đối với người công nhân, là phòng thí nghiệm đối với nhà khoa học. Đồ chơi hết sức cần thiết đối với trẻ, nó có tác dụng và ý nghĩa thật to lớn và sâu sắc đối với trẻ độ tuổi mầm non, vì bất kể một trẻ em nào đều có nhu cầu chơi và rất yêu quí đồ chơi, chúng sống và hành động cùng với đồ chơi. Đồ chơi giúp trẻ em tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, nó giúp các em làm quen với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật, biết được công dụng của chúng trong sinh hoạt và trong lao động của con người. Đồ chơi còn là phương tiện giúp trẻ phát hiện ra những mối quan hệ của người với người trong xã hội dần dần biết gia nhập vào các mối quan hệ đó. (Trích nguồn www.mamnon). Bên cạnh đồ dùng đồ chơi như món ăn không thể thiếu hàng ngày của trẻ thì thiết bị đồ dùng dạy học ở trường mầm non cũng có vai trò vô cùng quan trọng đối với kết quả học tập của trẻ.
Thiết bị dạy học mầm non là nguồn tri thức, phương tiện truyền tải thông tin và điều khiển những nhận thức trong quá trình dạy con học. Cha mẹ cần biết cách vận dụng những thiết bị dạy học phù hợp để con có thể hoàn thiện bản thân và phát triển những kỹ năng trong cuộc sống.
Các chuyên gia khoa học đưa ra nhận định rằng: Phương pháp tốt nhất để dạy trẻ ở giai đoạn mầm non là dạy con thông qua các trò chơi, tình huống thực tế, vì ở giai đoạn này, trẻ có năng lực quan sát và tiếp thu nhận thức mạnh mẽ nhất, trẻ bắt chước và tò mò với mọi những tình huống thực tế ở xung quanh. Bởi vậy những thiết bị dạy học dành cho con ở giai đoạn quan trọng này được nghiên cứu và thiết kế đồ dùng dạy học dưới dạng những đồ chơi có mang tính giáo dục cao.
Để việc dạy và học ở trường mầm non đạt hiệu quả cao đặc biệt hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ đạt được kết quả. Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cũng như sáng tạo ra các đồ dùng dạy học là vô cùng cần thiết. Chính vì vậy Nhà quản lý cần đặc biệt lưu ý việc kiểm tra đồ dùng dạy học của giáo viên trước khi giáo viên giảng dạy cho trẻ.
- Sự ủng hộ của phụ huynh học
Ngày nay rất nhiều trẻ em có hiện tượng chậm nói hoặc thậm chí không tương tác với người khác, một phần do cách giáo dục của các gia đình. Nhiều gia đình giao con cho người giúp việc, những người không có kiến thức chăm sóc nuôi dạy trẻ. Nhiều giúp việc ngại chơi cùng trẻ, ngại nói chuyện với trẻ đã sử dụng phương thức ti vi, điện thoại cho trẻ tương tác. Chính vì vậy trẻ không có cơ hội được giao tiếp, không có cơ hội được phát triển vốn từ vựng, dẫn đến nhiều trẻ hơn 2 tuổi khi đi học vẫn chưa biết nói. Khi tiếp nhận những bạn chậm nói như vậy cũng đặt ra những khó khăn và thách thức cho Nhà trường.
Bên cạnh đó văn hóa gia đình, sự hiểu biết của bố mẹ về kiến thức nuôi dạy trẻ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Những ông bố bà mẹ dành nhiều thời gian cho con, chịu khó tương tác với con, con sẽ có ngôn ngữ tốt hơn những bạn cùng trang lứa. Gia đình là nơi yêu thương nơi mà trẻ luôn tìm thấy những cảm giác an toàn. Việc gia đình phối hợp tốt với Nhà trường và đồng nhất với Nhà trường về quan điểm, cách thức dạy trẻ phát triển ngôn ngữ trẻ có cơ hội được phát triển tối đa khả năng ngôn ngữ của mình.
Chính vì vậy Nhà giáo dục cần nắm được đặc điểm ngôn ngữ của từng trẻ, nắm được hoàn cảnh gia đình của từng trẻ để lên kế hoạch phối kết hợp giữa gia đình và Nhà trường trong hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết. Để làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng đề tài đã nêu ra và phân tích các khái niệm như: Quản lý, quản lý nhà trường; Dạy học, hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học; Dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng.
Đưa ra các lý luận về về hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng bao gồm: Vai trò của nhà trường đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng; mục tiêu dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non; Đặc điểm dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24-36 tháng tuổi. Trình bày nội dung quản lý hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi 24-36 tháng tại trường mầm non. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ bao gồm: Điều kiện kinh tế – xã hội địa phương; Sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương; chất lượng đội ngũ giáo viên; sự quan tâm của Phụ huynh học sinh đối với hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ; năng lực của nhà quản lý (hiệu trưởng). Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ lứa tuổi.
Đó chính là những cơ sở lý luận quan trọng để khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại Trường mầm non tư thục Hoa Kỳ, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Pingback: Luận văn: Biện pháp QL dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ