Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo chủ đề tự chọn ở các Trường Trung học phổ thông huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng

2.1.1. Về vị trí địa lí, lịch sử huyện Bắc Sơn

Bắc Sơn là huyện miền núi, thuộc cánh cung Bắc Sơn của vùng Đông Bắc Việt Nam. Trên địa bàn huyện có các ngọn núi cao 500-1.200 m, như ngọn núi Khau Pi Ao (cao 1.107m), ngọn núi Pa Lép (503 m)… Huyện Bắc Sơn có ranh giới phía Bắc giáp huyện Bình Gia, phía Đông giáp huyện Văn Quan, phía Nam giáp huyện Hữu Lũng, đều là các huyện của tỉnh Lạng Sơn. Riêng phía Tây, huyện Bắc Sơn giáp huyện Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên.

Bắc Sơn có địa hình phức tạp, núi đất và núi đá vôi xen kẽ, bị cắt xẻ địa hình, có nhiều thung lũng và suối thuận tiện cho làm ruộng và nương rẫy.

Bắc Sơn là huyện có nhiều di chỉ khảo cổ về người tiền sử, nơi đây các nhà khảo cổ đã phát hiện ra cả một nền văn minh của người Việt cổ, vào sơ kỳ đồ đá mới, mang tên văn hóa Bắc Sơn. Bắc Sơn là căn cứ địa kháng chiến, nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, chống Nhật và Pháp của lực lượng Việt Minh những năm 1940.

2.1.2. Về điều kiện kinh tế – xã hội của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Bắc Sơn là một huyện nghèo của tỉnh Lạng Sơn, dân cư chủ yếu làm nghề nông nghiệp, sống rải rác ven các thung lũng, những sườn núi. Kết cấu hạ tầng, kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn nhất là hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; trình độ dân trí còn thấp, những quan niệm lạc hậu vẫn còn.

Kinh tế huyện Bắc Sơn chủ yếu là nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), sản xuất chưa tập trung, còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún. Ở các xã vùng sâu, vùng xã kinh tế chủ yếu còn mang tính tự cấp, tự túc, tập quán canh tác lạc hậu vẫn còn nên việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế, trong những năm gần đây, với sự nỗ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Bắc Sơn, sự phát triển kinh tế – xã hội đã đạt được những kết quả tích cực. Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 9,2% (năm 2022-2024), thu nhập bình quân đầu người đạt 29,2 triệu đồng (năm 2024).

Năm 2024, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển, các chỉ tiêu kinh tế xã hội – an ninh quốc phòng đều được triển khai thực hiện có hiệu quả. Lĩnh vực kinh tế, tổng diện tích gieo trồng 12.840,82 ha, tổng sản lượng lương thực 35.161 tấn vượt so với kế hoạch và cùng kỳ. Toàn huyện trồng được 640ha rừng, tăng 31% so với cùng kỳ. Lĩnh vực đầu tư xây dựng khối lượng thực hiện cả năm đạt 52,5 tỷ đồng vượt 15,5% kế hoạch. Tổng thu ngân sách được trên 32 tỷ đồng, vượt trên 16% so với kế hoạch, tăng 29% so với cùng kỳ. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới triển khai thực hiện đúng kế hoạch đề ra. Chất lượng giáo dục toàn diện có bước chuyển biến, công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm thực hiện, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm; hạ tầng cơ sở tiếp tục được tăng cường, các vấn đề về văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên, quốc phòng an ninh được củng cố, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

2.1.3. Tình hình phát triển giáo dục của huyện Bắc Sơn Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

  • Khái quát chung

Đảng bộ và các cấp chính quyền huyện luôn quan tâm đến phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Hệ thống trường học phát triển rộng khắp, toàn huyện có 61 trường học trong đó 10 trường mầm non chiếm 16,39%, 26 trường Tiểu học chiếm 42,6%, 22 trường THCS chiếm 36,0%, 2 trường THPT chiếm 3,3%, 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên chiếm 1,6%. Tỷ lệ huy động trẻ đến trường đạt 99,8%, học sinh chuyển lớp đạt từ 95 đến 98%. Có 20/20 xã và 01 thị trấn đạt phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 98% trở lên. Cơ sở vật chất trường học được đầu tư đảm bảo cho công tác dạy và học, không có phòng học 3 ca và phòng học tranh tre, nứa lá. Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình được nâng lên, hầu hết học sinh được cha mẹ tạo mọi điều kiện để đến trường. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình ngày càng chặt chẽ.

  • Chất lượng giáo dục cấp THPT năm học 2023-2024

Công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật được quan tâm, trong đó chú trọng giáo dục thái độ, ý thức hành vi nhân cách, giáo dục kỹ năng sống, giúp học sinh tự tin trong học tập và rèn luyện, nền nếp, kỷ cương được tăng cường ở tất cả các cấp, tỷ lệ học sinh vi phạm nội quy trường lớp ngày càng giảm, tỷ lệ hạnh kiểm khá tốt được nâng lên, không có học sinh vi phạm các tệ nạ xã hội.

Công tác giáo dục hướng nghiệp, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục hành vi, lối sống, ý thức thực hiện nền nếp nhà trường luôn được chú trọng. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai, thực hiện nghiêm túc đã tạo nên những chuyển biến trong nhận thức của cả giáo viên và học sinh trong việc nâng cao ý thức tu dưỡng đạo đức trong học tập và rèn luyện. Cuộc vận động “Hai không ” với 4 nội dung, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được triển khai thực hiện nghiêm túc đã củng cố nền nếp trong dạy và học ngày càng vững chắc; những tiêu cực trong kiểm tra, thi cử, đánh giá bị đẩy lùi, kết quả giáo dục và đào tạo đảm bảo phản ánh thực chất kết quả dạy và học của mỗi nhà trường.

  • Bảng 2.1. Tổng hợp xếp loại 2 mặt giáo dục cấp THPT năm 2023-2024
  • Thực trạng các trường trung học phổ thông huyện Bắc Sơn

Huyện Bắc Sơn có 2 trường THPT đó là trường THPT Vũ Lễ và Trường THPT Bắc Sơn.

Trường THPT Vũ Lễ nằm ở phía Tây Nam của huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn trên trục quốc lộ 1B, trường được thành lập năm 1999, đến nay đã được 13 năm; trường đóng trên địa bàn xã Vũ Lễ huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn, đây là khu vực điều kiện kinh tế – xã hội chậm phát triển của huyện Bắc Sơn. Trong những năm đầu mới thành lập nhà trường gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, về đội ngũ nên chất lượng giáo dục chưa cao. Hiện nay trường đã được xây mới, đội ngũ cơ bản ổn định do vậy trong những năm gần đây chất lượng giáo dục của nhà trường đã từng bước được nâng lên năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp đã có bước khởi sắc, từ một trường có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp dưới mặt bằng của tỉnh, nay đã vươn lên dẫn đầu tỉnh về tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT, trên mặt bằng tỉnh.

Trường THPT Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn mà tiền thân là trường cấp II-III Bắc Sơn. Được thành lập vào ngày 01 tháng 12 năm 1960 tại trung tâm cánh đồng rộng nhất của huyện Bắc Sơn. Đây là ngôi trường có bề dày truyền thống, có nhiều thành tích trong công tác giáo dục con em các dân tộc huyện Bắc Sơn được Chủ tịch nước tăng Huân chương Lao động hạng ba. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Đôi ngũ giáo viên, cả hai trường cơ bản đủ về số lượng, cơ cấu bộ môn tương đối hợp lý, chất lượng từng bước được nâng lên. Giáo viên phần đa là trẻ, nhiệt tình năng nổ trong công tác, có ý thức vươn lên khẳng định sự vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, chất lượng chưa đồng đều, còn có giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học.

Cơ sở vật chất của nhà trường đảm bảo học 2 ca, học sinh chủ yếu là con em người dân tộc điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương còn gặp nhiều khó khăn.

Chất lượng giáo dục trong những năm gần đây có bước tiến bộ, tỷ lệ học sinh xếp loại học lực từ trung bình trở lên đạt 94,68%, học sinh đạt giải thị học sinh giỏi cấp tỉnh, thi tốt nghiệp và đỗ vào các trường đại học và cao đẳng được tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục chưa thật sự ổn định, tỷ lệ học sinh khá giỏi còn thấp, kết quả giáo dục có năm còn thấp hơn mặt bằng chung của tỉnh.

Quy mô trường lớp cơ bản được giữ ổn định không có biến động. Tỷ lệ học sinh trên lớp tương đối phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của mỗi nhà trường và đội ngũ giáo viên, đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, thuận tiện cho việc tổ chức các hoạt động tập thể.

  • Bảng 2.2. Quy mô phát triển giáo dục trong 3 năm học (2021-2024)

Qua bảng thống kê quy mô phát triển giáo dục của trường THPT Vũ Lễ và trường THPT Bắc Sơn trong ba năm (2021-2024) ta thấy về số lớp là ổn định không có biến động, số học sinh có su hướng giảm so với năm 2021, tỷ lệ học sinh trên lớp tương đối ổn định và phù hợp với việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên.

Kết quả giáo dục hai mặt trong ba năm học (2021-2022, 2022-2023, 2023-2024)

  • Bảng 2.3. Kết quả xếp loại hạnh kiểm cấp THPT

Qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy xếp loại hạnh kiểm Tốt có tăng theo từng năm học năm học 2021-2022 là 58,04% đến năm học 2023-2024 là 62,46%; hạnh kiểm yếu kém giảm năm học 2021-2022 là 2,22% đến năm học 2023-2024 là 1,78%.

  • Bảng 2.4. Kết quả xếp loại học lực cấp THPT

Qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy xếp loại học lực khá giỏi tăng, học lực yếu kém giảm. Năm học 2021 – 2022 học lực giỏi là 1,01%, học lực khá là 30,88%, học lực yếu kém là 15,11% đến năm học 2023-2024 học lực giỏi là 3,00%, học lực khá là 39,37%, học lực yếu kém là 10,22%. Nguyên nhân trong năm học 2023 – 2024 Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn đã chỉ đạo tích cực công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS.

2.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

2.2.1. Về cơ cấu đội ngũ giáo viên

  • Bảng 2.5. Cơ cấu đội ngũ giáo viên

Giáo viên là người dân tộc chiếm phần lớn tổng số giáo viên và trong hai năm gần đây số lượng càng tăng lên, năm học 2021-2022 toàn huyện có 78 giáo viên người dân tộc, năm học 2023-2024 là 87 giáo viên người dân tộc tăng 9 giáo viên. Lý do tăng chủ yếu là do nhưng năm gần đây số sinh viên là người địa phương được Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn cử đi học ở các trường Đại học Sư phạm tốt nghiệp ra trường và được bố trí về công tác tại địa phương.

Tỷ lệ nam và nữ có sự chênh lệch khá lớn năm học 2021-2022 là 54% nữ, 46% là nam, năm học 2023-2024 là 54,3% là nữ, 45,7% là nam. Theo thống kê từng bộ môn sự chênh lệch này còn lớn hơn nhiều. Giáo viên nam chủ yếu tập trung ở các môn khoa học tự nhiên, giáo viên nữ chủ yếu tập trung ở các môn khoa học xã hội; có bộ môn trên 90% là nữ như môn Tiếng Anh, môn Đại lý, môn Lịch sử; môn Ngữ văn 100% là nữ.

Đội ngũ giáo viên ngày càng được trẻ hóa, đặc biệt giáo viên tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ lớn năm học 2021-2022 có 56/113 = 49,6%, năm học 2022-2023 có 70/129 = 54,3%. Điều này cũng có nhiều thuận lợi nhưng cũng có những khó khăn nhất định. Giáo viên trẻ thường nhiệt tình, sáng tạo trong công việc, mạnh dạn tiếp thu cái mới, ý thức vươn lên mạnh mẽ, có thế mạnh về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy và các hoạt động giáo dục. Có môn toàn bộ giáo viên đều trẻ, không có giáo viên nòng cốt, nên có những hạn chế trong việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

2.2.2. Về chất lượng đội ngũ giáo viên Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

  • Về trình độ đào tạo

Giáo viên 100% đạt chuẩn đào tạo theo cấp học. Tỷ lệ giáo viên có trình độ trên chuẩn đào tạo theo cấp học còn rất ít, tuy nhiên, số giáo viên có trình độ trên chuẩn có tăng theo từng năm học, từ chỗ không có giáo viên nào trên chuẩn (năm học 2021-2022) nhưng đến năm học 2023-2024 đã có 9 giáo viên = 6,97% có trình độ trên chuẩn.

  • Về năng lực thực tiến công tác
  • Bảng 2.6. Thống kê số năm công tác của giáo viên

Về năng lực thực tiễn công tác cả hai trường đều có số giáo viên trẻ chiếm tỉ lệ cao trên 50%, số giáo viên này được đào tao cơ bản có trình độ chuyên môn tốt nhưng kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế, sử dụng phương pháp giảng dạy chưa thực sự linh hoạt phù hợp vối từng đối tượng học sinh. Số giáo viên có tuổi có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, nắm rõ đặc điểm lứa tuổi học sinh vùng dân tộc, nhưng những giáo viên này lại tiếp cận phương pháp dạy học hiện đại, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy lại gặp nhiều khó khăn vì vậy phải tích cực bồi dưỡng công nghệ cho những đối tượng giáo viên này.

  • Xếp loại đội ngũ giáo viên
  • Bảng 2.7. Xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống đội ngũ nhà giáo

Ta thấy 100% đội ngũ giáo viên của hai trường đều được đánh giá, xếp loại về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống từ khá trở lên không có giáo viên xếp loại trung bình. Tỷ lệ giáo viên xếp loại Tốt phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống là cao sấp sỉ 90%. Có được kết quả trên là trong các năm học gần đây Bộ GD&ĐT đã phát động sâu rộng các cuộc vận động và các phong trào thi đua lớn. Trong đó các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sang tạo”; phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” được các nhà trường triển khai thực hiện nghiêm túc và đã có kết quả tốt. Vì vậy, phẩm chất đạo đức của giáo viên được nêu cao, nhiều thầy, cô giáo là tấm gương cho học sinh và đồng nghiệp. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

  • Bảng 2.8. Xếp loại chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ giáo viên

Qua bảng kết quả ta thấy không có đội ngũ nhà giáo xếp loại yếu về chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ giáo viên của hai trường đều được đánh giá, xếp loại chuyên môn nghiệp vụ từ mức trung bình trở lên trong đó xếp loại Tốt có tăng theo các năm học (năm học 2021-2022 là 33,6%, năm học 2023-2024 là 41%). Tuy nhiên, số giáo viên xếp loại tốt về chuyên môn nghiệp vụ vẫn còn thấp; còn hơn 10% giáo viên xếp loại trung bình điều đó cần phải có sự tác động mạnh mẽ của các nhà quản lý giáo dục trong công tác quản lý, bồi dưỡng để nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.

  • Bảng 2.9. Tổng hợp ý kiến đánh giá về kiến thức năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên

Kết quả tổng hợp xin ý kiến cho thấy trình độ kiến thức, năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên tất cả đều đạt yêu cầu trở lên, không có xếp loại yếu, đảm nhiệm được công việc chuyên môn được giao theo chuyên ngành đã được đào tạo. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ chưa đồng đều, số giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi còn ít, một số giáo viên cao tuổi ngại đổi mới phương pháp, chưa tiếp cận được công nghệ thông tin. Giáo viên được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn đào tạo từ cử tuyển và các lớp tạo nguồn năng lực chuyên môn cũng như năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục còn nhiều hạn chế nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học của các trường.

Các tiêu chí mức trung bình chiếm tỷ lệ còn cao, điều này cũng đồng nghĩa với việc đặt ra yêu cầu với đội ngũ giáo viên phải có sự nỗ lực rất lớn trong việc nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ mới hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

  • Bảng 2.10. Xếp loại đội ngũ giáo viên theo chuẩn

Số giáo viên đạt chuẩn là 100%, số giáo viên được xếp loại tốt, khá, trung bình tương đối ổn định từ năm học 2021-2022 đến năm học 2023-2024. Tuy nhiên, số lượng giáo viên xếp loại tốt còn thấp mới sấp sỉ 20%, trong đó số giáo viên xếp loại trung bình còn tương đối cao trên 10% đặc biệt có xu hướng tăng. Điều này cũng cho thấy số giáo viên chuyên môn vững làm nòng cốt, mũi nhọn cho các hoạt động dạy học và giáo dục, để nâng cao chất lượng còn ít.

2.3. Thực trạng về hoạt động dạy học các chủ đề tự chọn ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Để tìm hiểu thực trạng HĐDH và công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tác giả tiến hành khảo sát ở 02 trường THPT và ba nhóm khách thể: Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Danh sách 02 trường tiến hành khảo sát:

Các nhóm khách thể:

  • Nhóm CBQL: gồm 18 HT, P.HT và TT chuyên môn.
  • Nhóm GV: gồm 62 GV tham gia dạy các chủ đề tự chọn.
  • Nhóm HS: gồm 335 HS đại diện ngẫu nhiên của HS khối 11 tham gia học theo các chủ đề tự chọn.

2.3.1. Thực trạng nhận thức về hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn

2.2.1.1. Nhận thức về tầm quan trọng

Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn thể hiện trên bảng sau:

  • Bảng 2.11. Nhận thức về tầm quan trọng của HĐDH các chủ đề tự chọn

Hai nhóm đối tượng khảo sát là CBQL và GV có kết quả chỉ ở mức trung bình khá. Nhận thức về sự cần thiết và rất cần thiết của CBQL là 61,1% và của GV là 53,2%. Tỷ lệ lưỡng lự cho rằng có cũng được, không cũng được của CBQL là 33,3% và GV là 40,3% và cho rằng không cần thiết của CBQL là 5,6% và của GV là 6,5%. Từ tỷ lệ này có thể nói rằng tầm quan trọng của HĐDH theo các chủ đề tự chưa được nhận thức đầy đủ. Cũng có thể do đây là một loại hình dạy học mới và các lực lượng tham gia chưa được bồi dưỡng một cách đầy đủ nên họ cảm thấy hoạt động này chưa cần thiết. Vấn đề này cũng phản ánh qua kết quả khảo sát đối với HS. Hầu hết các em đều cho rằng HĐDH theo các chủ đê tự chọn là không cần thiết (46,6%) và lưỡng lự (41,2%). Kết quả này đã phản ánh việc tuyên truyền đến các em HS về ý nghĩa và tầm quan trọng của HĐDH theo các chủ đề tự chọn chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến các em không thích loại hình HĐDH này. Nhưng có thể có nhiều nguyên nhân khác như: điều kiện CSVC thiếu thốn, việc huy động nguồn vốn đầu tư cho CSVC phục vụ cho HĐDH cũng còn nhiều hạn chế dẫn đến công tác tổ chức lớp học, vận dụng phương pháp mới chưa phát huy tối đa đã làm cho HS chưa yêu thích, chưa quan tâm loại hình học tập này. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

2.2.1.2 Nhận thức về khái niệm hoạt động dạy học các chủ đề tự chọn

  • Bảng 2.12. Nhận thức về khái niệm hoạt động dạy học các chủ đề tự chọn

Kết quả sát trên bảng 2.12 cho thấy nhận thức về khái niệm hoạt động dạy các chủ đề tự chọn của hai nhóm đối tượng CBQL và GV là chưa rõ ràng. Chính vì việc nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của hoạt động này nên mức độ trung bình của hai đối tượng khảo sát về nội dung chính của khái niệm là “HĐDH theo các chủ đề tự chọn nhằm cũng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kỹ năng cho HS ở một môn học” chỉ đạt mức thấp (x = 0,39, y = 0,40).

2.2.1.3 Nhận thức về mục tiêu của hoạt động dạy học các chủ đề tự chọn.

  • Bảng 2.13. Nhận thức về mục tiêu của hoạt động dạy học các chủ đề tự chọn

Mục tiêu của dạy học tự chọn ở trường THPT là hệ thống hoá được các kiến thức và kỹ năng đã học trong chương trình chính khoá; nâng cao một số vấn đề đã học nhưng chưa có điều kiện mở rộng, nâng cao trong chương trình chính khoá và phát triển tư duy; bồi dưỡng năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề và kích thích tính tích cực, tự giác học tập của học sinh.

Từ nội dung của mục tiêu trên đối chiếu với kết quả khảo sát trong bảng 2.13 cho thấy chỉ có tiêu chí “củng cố, hệ thống hoá kiến thức và kỹ năng cho học sinh đã học trong chương trình chính khoa” có tỷ lệ 55,6% CBQL và 45,2% GV đồng ý, 44,4% CBQL và 54,8% GV không đồng ý, các tiêu chí còn lại đều được CBQL và GV cho rằng “không đồng ý” trên 60%. Như vậy nhận thức về mục tiêu dạy học các chủ đề tự chọn ở CBQL và GV so với mục tiêu đã được quy định là chưa đảm bảo và chưa được quán triệt một cách sâu sắc dễ dẫn đến việc xây dựng nội dung chương trình, tổ chức hình thức dạy học không phù hợp, điều này sẽ làm hiệu quả không cao; chỉ có tiêu chí 1 được đánh giá cao hơn các tiêu chí còn lại (x= 0,56; y = 0,45) chứng tỏ rằng HĐDH các chủ đề tự chọn được xem là thời gian để củng cố kiến thức, phụ đạo học sinh yếu kém.

2.3.2. Thực trạng thực hiện hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Căn cứ vào cơ sở lý luận về HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT đã được trình bày ở chương 1, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá thực trạng HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Điểm trung bình (ĐTB) của CBQL: x và của GV: y

2.3.2.1 Thực trạng việc thực hiện nội dung dạy học theo các chủ đề tự chọn

Việc xây dựng nội dung dạy học các chủ đê tự chọn thể hiện qua bảng 2.17 như sau:

  • Bảng 2.14. Thực trạng về xây dựng nội dung dạy học theo chủ đề tự chọn

Qua kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy rằng, việc xây dựng nội dung chương trình dạy học theo các chủ đề tự chọn ở các trường THPT ở huyện Bắc Sơn chưa có sự đồng bộ. Kết quả trải đều trên các nội dung khảo sát. Trong đó có 100% CBQL và 100% Giáo viên cho rằng Hiệu trưởng không thực hiện việc ra quyết định thành lập Ban xây dựng nội dung dạy học chủ đề tự chọn của trường. Kết quả khảo sát chứng tỏ việc xây dựng chương trình dạy học các chủ đề tự chọn còn mang tính độc lập, chưa có sự thống nhất và chưa có sự điều hành, quản lý cụ thể tại mỗi đơn vị trường THPT trong huyện.

Ngoài ra, khi quan sát thực tế cũng như qua phỏng vấn một số Giáo viên, đồng thời với kết quả khảo sát tôi được biết rằng một số đơn vị chấp nhận để Giáo viên dạy tự chọn soạn nội dung theo quan điểm ” học sinh yếu phần nào thì dạy phần đó“, còn việc kiểm duyệt chỉ thực hiện khi có yêu cầu. Do vậy, rất khó đánh giá tính khả thi của nội dung chương trình. Kết quả khảo sát bằng phiếu cũng cho thấy đa số CBQL và Giáo viên chưa xác định được cụ thể nội dung của các chủ đề bám sát, chủ đề nâng cao và chủ đề đáp ứng trong dạy học tự chọn.

2.3.2.2 Phương pháp dạy học theo các chủ đề tự chọn

Thực hiện đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Giáo viên THPT trong giai đoạn đổi mới GD THPT hiện nay, đặc biệt trong thời đại mà công nghệ thông tin hầu như chiếm lĩnh các lĩnh vực trong đời sống. Qua báo cáo tổng kết năm học 2022 – 2023, 2023 – 2024, quan sát trường lớp, các phiếu khảo sát và trao đổi với CBQL và Giáo viên 02 trường THPT trong huyện Bắc Sơn cho thấy việc vận dụng đổi mới PPDH của Giáo viên THPT đã làm cho HS thích thú, dễ tiếp thu, khắc sâu kiến thức được học; học sinh phát huy được tính năng động, sáng tạo và hình thành thói quen tự học, tự bổ sung kiến thức. Tuy nhiên, việc vận dụng đổi mới PPDH của một số Giáo viên còn chậm, chưa nhuần nhuyễn, chưa bao quát hết các đối tượng học sinh. Khi áp dụng các PPDH tích cực thì hầu như chỉ có học sinh khá giỏi tham gia hoạt động tích cực còn học sinh yếu kém vẫn chưa phát huy được năng lực của mình. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Quá trình thực hiện đổi mới PPDH giáo viên THPT gặp không ít khó khăn:

  • GV phải tốn nhiều thời gian dành cho việc soạn giảng đặc biệt là soạn giảng bằng công nghệ thông tin.
  • CSVC thiếu thốn, không đủ chuẩn để thực hiện PPDH mới như: bàn ghế thiết kế chưa phù hợp cho hoạt động nhóm học tập, thiếu phòng máy chiếu projector,… thiếu sân chơi, bãi tập, khu thực hành để thực hiện các hoạt động thực hành, trực

Thực trạng việc sử dụng các PPDH các chủ đề tự chọn được thể hiện qua bảng 2.18.

  • Bảng 2.15. Thực trạng về việc sử dụng các PPDH theo các chủ đề tự chọn

Kết quả khảo sát cho thấy trong các PPDH truyền thống thì phương pháp đàm thoại được thực hiện “rất thường xuyên” (ĐTB: X = 3,63; y = 3,35), kết quả thực hiện là “hiệu quả” (ĐTB: X = 3,16; y = 3,25). Tuy nhiên, phương pháp trực quan được sử dụng ít hơn phương pháp đàm thoại về mức độ (ĐTB: X = 3,00; y = 3,09) nhưng hiệu quả lại cao hơn (ĐTB: X = 3,63; y = 3,42). Trong các PPDH tích cực thì phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng với mức độ “thường xuyên” (ĐTB: X = 3,37; y = 3,32), kết quả thực hiện là “hiệu quả” (ĐTB: X = 3,28; y = 3,33). Phương pháp đàm thoại, gợi mở, tìm tòi cũng được sử dụng “thường xuyên” (ĐTB: X = 3,28; y = 3,10), kết quả thực hiện là “hiệu quả” (ĐTB: X = 3,51; y = 3,25). Các phương pháp khác cũng được quan tâm nhưng chưa nhiều. Một vài phương pháp chưa được thực hiện tốt, chẳng hạn: phương pháp đóng vai với mức độ ít thường xuyên (ĐTB: X = 2,12; y = 1,84) và ít hiệu quả (ĐTB: X = 1,95; y = 2,11); phương pháp tình huống với điểm trung bình là 2,49 và 2,13 và hiệu quả là 2,77 và 2,63. Từ phân tích trên đã cho thấy được việc đổi mới PPDH nói chung và dạy học theo các chủ đề tự chọn nói riêng cũng đối mặt với một số khó khăn. Việc này có thể do nhận thức của HS chưa đầy đủ về mục tiêu và ý nghĩa của HĐDH loại hình này nên đã gây khó khăn cho người dạy khi sử dụng các PPDH tích cực.

2.3.2.3 Hình thức tổ chức dạy học theo các chủ đề tự chọn

  • Bảng 2.16. Thực trạng về hình thức tổ chức dạy học theo các chủ đề tự chọn

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.16. cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu là dạy học theo lớp có 77,8% số CBQL và 58,1% số Giáo viên được hỏi thực hiện hình thức dạy học này, điểm trung bình là (x = 0,78, y = 0,58) hoặc khối lớp có cùng chủ đề (x = 0,28; y = 0,36), chứng tỏ hoạt động dạy học các chủ đề tự chọn vẫn thực hiện theo kiểu truyền thống, hình thức học không mới, chưa hấp dẫn làm cho học sinh cảm thấy nhàm chán dẫn đến HĐDH theo các chủ đề tự chọn này có kết quả không cao.

Các hình thức dạy học khác chưa được quan tâm nhiều. Qua trò chuyện và tìm hiểu thực tế các trường thì việc tổ chức hoạt động tham quan, tìm hiểu thực tế, viết báo cáo và cho học sinh trình bày kết quả thu được đối với HĐDH tự chọn nói riêng và hoạt động học tập nói chung chưa được thực hiện. Việc tham quan học tập chỉ tổ chức cuối năm dành cho những học sinh có nhiều thành tích và mang tính tham quan là chủ yếu. Nguyên nhân của việc này là do điều kiện CSVC, kinh phí của nhà trường thấp dẫn đến công tác tổ chức loại hình này gặp nhiều khó khăn.

2.3.2.4 Hiệu quả của hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn tự chọn

  • Bảng 2.17. Hiệu quả của hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn

Từ kết quả khảo sát ở bảng 2.17. cho thấy:

Hiệu quả của HĐDH các chủ đề dạy học các chủ đề tự chọn là thiết thực, cải thiện được kết quả học tập của học sinh (CBQL: 72,2%, GV: 59,7%). Qua báo cáo tổng kết năm học 2022 – 2023 và năm học 2023- 2024 của các trường THPT huyện Bắc Sơn cho thấy tỷ lệ HS giỏi tăng 0,4% và tỷ lệ HS bị xếp loại yếu kém về học lực giảm 8,2%; HS giỏi bộ môn và HS giỏi thí nghiệm thực hành cấp huyện tăng 22 HS và cấp tỉnh tăng 17 HS [1]. Tuy nhiên, tính năng động, sáng tạo, tích cực của học sinh chưa được cải thiện nhiều (CBQL: 5,6%, GV: 22,6%). Kết quả khảo sát này chênh lệch khá lớn, có thể là do GV chỉ nhận định vấn đề dựa vào kết quả học sinh có được mà chưa quan tâm đến sự phát triển kỹ năng của học sinh; ngược lại, CBQL rất chú ý việc đánh giá vấn đề này. Từ kết quả này chúng tôi nhận định rằng HĐDH theo các chủ đề tự chọn chưa đạt được đầy đủ những yêu cầu của mục tiêu sau khi tham gia lớp học tự chọn như:

  • Hệ thống hoá các kiển thức và kỹ năng đã học trong chương trình chính khoá.
  • Nâng cao được một số vấn đề đã học nhưng chưa có điều kiện mở rộng, nâng cao trong chương trình chính khoá.
  • Phát triển tư duy; bồi dưỡng năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề và kích thích tính tích cực, tự giác học tập của học sinh.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo chủ đề tự chọn ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Thực trạng xây dựng kế hoạch, chương trình HĐDH các chủ đề tự chọn được thể hiện qua bảng 2.18 cho thấy:

Tiêu chí 1: “Xây dựng kế hoạch chương trình HĐDH các chủ đề tự chọn của ban giám hiệu” được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,42; y = 3,48), mức độ hiệu quả là “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,26; y = 3,42).

Qua khảo sát thực tế ở kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của CBQL cho thấy kết quả ở phiếu điều tra là phù hợp. Hầu hết CBQL đã chú trọng đến việc xây dựng chương trình, làm cơ sở để Giáo viên thực hiện đúng theo quy định của Bộ GD&ĐT và để quản lý việc xây dựng kế hoạch, chương trình HĐDH theo các chủ đề tự chọn đối với giáo viên. Tuy nhiên, vẫn còn một số CBQL chưa coi trọng biện pháp này nên giáo viên lúng túng trong việc thực hiện tiến độ chương trình và xây dựng chương trình theo quy định nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra. Ở một số bộ môn không tổ chức dạy học theo các chủ đề tự chọn thì kế hoạch này không thực hiện dẫn đến tính không đồng bộ trong việc thực hiện kế hoạch chung. Trường hợp có xây dựng được kế hoạch quản lý HĐDH dạy học các chủ đề tự chọn thì nội dung kế hoạch chưa đầy đủ, thực hiện chủ yếu để hoàn thành thủ tục hồ sơ sổ sách, chưa đảm bảo được tính hệ thống, thiếu tính ứng dụng và chưa đáp ứng được nhu cầu khoa học, phù hợp, khả thi. Khâu kiểm tra và duyệt kế hoạch trước khi triển khai thực hiện chỉ dừng lại ở mức độ ký xác nhận kế hoạch, chưa thực hiện được việc cộng đồng trách nhiệm, trao đổi, thống nhất xây dựng kế hoạch đồng bộ và toàn diện.

  • Bảng 2.18. Thực trạng việc xây dựng kế hoạch, chương trình HĐDH theo các chủ đề tự chọn

Tiêu chí 2: “Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, chương trình HĐDH các chủ đề tự chọn theo thời gian (tuần, tháng, năm) của các bộ phận” như TTCM, Giáo viên được phân công dạy học các chủ đề tự chọn có kết quả đánh giá ở mức độ “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,12; y = 3,38), mức độ hiệu quả là “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,05; y = 3,37).

Nhưng theo kết quả phỏng vấn trực tiếp các TTCM và giáo viên cùng với việc nghiên cứu hồ sơ quản lý của TTCM, tác giả nhận thấy việc xây dựng chương trình của ở các tổ chuyên môn còn nhiều hạn chế, mang tính hình thức. Nhiều tổ trưởng lúng túng trong xây dựng kế hoạch, chương trình cũng như trong việc triển khai và điều hành hoạt động chuyên môn nói chung và HĐDH các chủ đề tự chọn nói riêng. Do vậy, việc bảo đảm tính hệ thống, liên tục, khoa học và chủ động trong phương pháp và nội dung truyền đạt của GV cho học sinh học các chủ đề tự chọn còn nhiều hạn chế.

Tiêu chí 3: “Xác định các chủ đề tự chọn cho từng năm, học kỳ, tháng, tuần“.

Kết quả được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,07; y = 3,19), mức độ hiệu quả “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,02; y = 3,19). Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Kết quả này phản ánh được việc đảm bảo các yêu cầu trong công tác quản lý và thực hiện dạy học các chủ đề tự chọn. Qua tìm hiểu thực tế tại các đơn vị trường THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn thì việc chỉ đạo của CBQL đã thực hiện đầy đủ sự chỉ đạo của Sở GD&ĐT và các văn bản chỉ đạo khác của cấp trên. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nặng về tính “hàn lâm“, ít thể hiện tính thực tiễn đối với từng đơn vị.

Tiêu chí 4: “Quy định kế hoạch dạy học các chủ đề tự chọn cho từng lớp trong học kỳ, năm học“.

Kết quả đánh giá của hai nhóm khách thể như sau: mức độ thực hiện được cho mức độ “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,12; y = 3,24), kết quả thực hiện được cho “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,00; y = 3,18).

Kết quả khảo sát là khá cao và phù hợp so với tìm hiểu thực tế. Tuy nhiên, đa số đối tượng được phỏng vấn đều cho rằng mỗi khối lớp đều được giao khoán dạy tự chọn theo quy định của Bộ GD&ĐT, cụ thể thường thì các môn học được xem là “môn chính” sẽ được chọn dạy tự chọn mà chưa có sự kiểm tra kịp thời để điều chỉnh cho phù hợp. Bên cạnh đó việc kiểm tra đánh giá từng chủ đề vẫn chưa được thực hiện một cách cụ thể mà điểm tự chọn được đưa vào các cột điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ của môn được chọn dạy. Như vậy, để đánh giá được hiệu quả của từng chủ đề là chưa chính xác và có ít cơ hội để rút kinh nghiệm và điều chỉnh theo yêu cầu.

Tiêu chí 5: “Tổ chức xây dựng chương trình dạy học các chủ đề tự chọn cho từng môn học, khối lớp“. Kết quả được CBQL đánh giá ở mức độ “thỉnh thoảng” (ĐTB: X = 2,80) và mức độ hiệu quả là “hiệu quả” (ĐTB: X = 2,74). Tuy nhiên, kết quả khảo sát của giáo viên được đánh giá với ĐTB là 3,18 cho mức độ thường xuyên và 3,19 cho mức độ hiệu quả. Kết quả khảo sát này cho thấy nhóm khách thể 2 đánh giá cao biện pháp quản lý của nhóm khách thể 1 và có độ tập trung cao. Điều này có thể là do số lượng khảo sát đối với CBQL ít hơn so với GV; cũng có thể là do giáo viên đề cao vai trò CBQL. Mặt dầu vậy, với kết quả này cũng thể hiện được công tác tổ chức xây dựng chương trình dạy học theo các chủ đề tự chọn cho từng môn học, khối lớp được quan tâm khá tốt. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Tiêu chí 6: “Duyệt kế hoạch, chương trình HĐDH các chủ đề tự chọn theo định kỳ thai gian“:

Kết quả đánh giá của hai nhóm khách thể là “thường xuyên” và “hiệu quả(x = 3,02; 2,86); y = 3,22; 3,18)

Qua nghiên cứu các hồ sơ quản lý chuyên môn, tác giả nhận thấy: công tác duyệt kế hoạch, chương trình HĐDH theo các chủ đề tự chọn theo định kỳ thời gian được thực hiện theo quy định chung từ đầu năm nhưng hoạt động này còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào nội dung của chủ đề. Đa số TTCM chỉ chú trọng vào bài soạn giảng của chương trình chính khoá.

Tóm lại, thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch chương trình HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT bước đầu đã có những kết quả tích cực. Một số đơn vị nhà trường đã chủ động trong công tác quản lý, thể hiện niềm tin tưởng vào chất lượng việc dạy học các chủ đề tự chọn sẽ mang lại thành công chung cho công tác dạy học của nhà trường. Song, tình hình chung về thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch, chương trình HĐDH theo các chủ đề tự chọn vẫn còn một số nội dung thực hiện chưa tốt, chưa mang tính đột phá, còn nặng tính hình thức và hiệu quả chưa cao, đây chính là vấn đề mà các nhà quản lý cần tiếp tục tập trung nghiên cứu và đề ra các biện pháp khắc phục.

2.4.2. Thực trạng tổ chức thực hiện dạy học theo các chủ đề tự chọn

Hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn cũng là một dạng HĐDH trong nhà trường nhưng có những nét đặc thù riêng đòi hỏi phải có quá trình quản lý việc tô chức thực hiện thật sự khoa học và chặt chẽ. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã khảo sát ý kiến đánh giá của CBQL và GV về vấn đề này. Kết quả được thể hiện qua bảng 2.19:

  • Bảng 2.19. Thực trạng việc tổ chức thực hiện dạy học các chủ đề tự chọn

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.19 cho thấy: có sự thống nhất khá cao giữa hai nhóm khách thể về biện pháp quản lý tổ chức thực hiện dạy học các chủ đề tự chọn. Tuy nhiên, trong từng nội dung của biện pháp thiếu sự thống nhất. Cụ thể như sau:

Tiêu chí 1: “Hướng dẫn qui trình tổ chức HĐDH các chủ đề tự chọn” được đánh giá với kết quả ở mức độ “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,07; y = 3,15) và hiệu quả đạt được ở mức độ “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,00; y = 3,23), điều này chứng tỏ CBQL đã làm tốt việc hướng dẫn qui trình tổ chức HĐDH các chủ đề tự chọn.

Tìm hiểu thực tế tại các trường THPT, tác giả nhận thấy: hầu hết CBQL rất chú trọng đến việc hướng dẫn quy trình tổ chức HĐDH theo các chủ đề tự chọn. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy trình này chưa được triệt để, giáo viên còn thực hiện mang hình thức đối phó khi có kiểm tra. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Tiêu chí 2: “Lựa chọn giáo viên có kinh nghiệm tham gia dạy học các chủ đề tự chọn” được đánh giá với ĐTB lần lượt là 2,58 và 2,78 ở mức độ “thỉnh thoảng” đến “thường xuyên” và hiệu quả đạt được ở mức ĐTB 2.58 và 2,63 “ít hiệu quả” đến “hiệu quả“. Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, lực lượng giáo viên giỏi, giáo viên có kinh nghiệm tham gia dạy học các chủ đề tự chọn còn thiếu. giáo viên tham gia dạy học các chủ đề tự chọn chưa được bồi dưỡng thường xuyên nên còn lúng túng trong công tác lập kế hoạch và soạn giảng. Việc này đã ảnh hưởng trực tiếp việc lựa chọn và phân công giáo viên tham gia HĐDH các chủ đề tự chọn và đây chính là một trong những vấn đề thực trạng cần quan tâm giải quyết hàng đầu trong việc nâng cao chất lượng dạy học các chủ đề tự chọn ở các nhà trường. Giải quyết được vấn đề này sẽ tạo nên động lực học tập cho các em học sinh. So sánh nhận định này với kết quả khảo sát ở bảng 2.20 cụ thể như sau:

  • Bảng 2.20. Sự tham gia học tập của học sinh khi có giáo viên có kinh nghiệm, giáo viên giỏi phụ trách dạy học các chủ đề tự chọn

Kết quả khảo sát cho thấy: nếu có lượng thầy cô giàu kinh nghiện, thầy cô dạy giỏi thì các em tham gia tốt.

Tiêu chí 3: “Lựa chọn và mời GV thỉnh giảng“:

Kết quả đánh giá của hai nhóm khách thể là rất thấp, mức độ thực hiện là “không thường xuyên” (ĐTB: x = 1,19; y = 1,71), mức độ hiệu quả là “không hiệu quả” (ĐTB: x = 1,28; y = 1,66). Thực tế cũng cho thấy, việc mời thỉnh giảng chưa được thực hiện tại các trường THPT ở huyện Bắc Sơn nói riêng mà phần lớn các trường THPT ở tỉnh Lạng Sơn đều chưa thực hiện. Nguyên nhân là do điều kiện kinh phí không đảm bảo, hình thức tự chọn chưa được thực hiện như mục đích đề ra.

Tiêu chí 4: “Tuyên truyền đến GV, HS, cha mẹ HS về mục đích, ý nghĩa dạy học các chủ đề tự chọn“.

Kết quả được đánh giá là “thỉnh thoảng” và “không thường xuyên” (ĐTB: x = 2,56; y = 2,70), mức độ hiệu quả là “ít hiệu quả” (ĐTB: x = 2,58; y = 2,63).

Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, việc tuyên truyền đến giáo viên chỉ là việc thông qua các quy định, quy chế về dạy học các chủ đề tự chọn chứ chưa đi sâu, chưa cho rằng đội ngũ giáo viên phải quán triệt hình thức dạy học này đến từng phụ huynh. Điều này thể hiện qua kết quả khảo sát ở bảng 2.21. Song song đó, đa số cha mẹ học sinh chỉ xem việc học tự chọn của con em mình như là một quy định của ngành Giáo dục mà không hiểu rõ học để làm gì, nó có quan trong không, chứng tỏ công tác tuyên truyền đến cha mẹ học sinh chưa tốt. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Khảo sát về việc tham gia của học sinh vào lớp học tự chọn có kết quả như sau:

  • Bảng 2.21. Việc tham gia của học sinh vào lớp học tự chọn

Qua kết quả trên cho thấy: 57,6% các em học sinh nhận thức đúng đắn ý nghĩa của việc tham gia học các chủ đề tự chọn là nhằm để “trau dồi, mở rộng kiến thức“. Điều này cũng đã phản ánh được kết quả khảo sát về “hiệu quả của HĐDH theo các chủ đề tự chọn” ở bảng 2.17. Tuy nhiên, có đến 42,4% Học sinh chưa hiểu ý nghĩa của việc học các chủ đề tự chọn. Do vậy các em tham gia vào lớp học là do nhiêu nguyên nhân khác nhau, trong đó việc các em muốn cải thiện kết quả học tập là 27,5% chứng tỏ công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả cao nhưng cũng có thể do các em học sinh chưa ý thức được ích lợi của việc học tự chọn nên chưa tập trung, chưa lưu tâm đèn những nội dung được sinh hoạt, tuyên truyền.

Tiêu chí 5: “Thống nhất mục tiêu nội dung, chương trình, PPDH các chủ đề tự chọn“:

Kết quả đánh giá của hai nhóm khách thể là “thường xuyên” và “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,07; 3,12 và y = 3,04; 3,03), điều này chứng tỏ Hiệu trưởng quan tâm đến hiệu quả của HĐDH loại hình này mang lại thông qua việc thống nhất mục tiêu nội dung, chương trình, PPDH các chủ đề tự chọn.

Tìm hiểu thực tế, tác giả thấy rằng: biện pháp này đã được HT, P.HT chuyên môn triển khai trong các phiên họp HĐSP, họp chuyên môn đầu năm học nhưng vẫn còn hạn chế là chưa có sự đánh giá sau mỗi chủ đề dẫn đến hiện tượng giáo viên dạy theo PPDH truyền thống; chương trình không đồng bộ,…

Tiêu chí 6: “Chỉ đạo các tổ chuyên môn hỗ trợ GV chuẩn bị kế hoạch bài dạy chủ đề tự chọn” được đánh giá mức độ “thỉnh thoảng” (ĐTB: x = 2,84; y = 2,92), kết quả thực hiện được đánh giá là “hiệu quả” (ĐTB: x = 2,98; y = 2,96). Tìm hiểu thực tế thấy rằng Hiệu trưởng có quan tâm đến công tác chỉ đạo về hỗ trợ của TTCM cho giáo viên nhưng khi phỏng vấn trực tiếp một số TTCM về công tác hỗ trợ giáo viên chuẩn bị bài dạy các chủ đề tự chọn thì kết quả rất hạn chế. Có nhiều nguyên nhân như: tổ trưởng vừa phải dạy chuyên môn vừa kiêm nhiệm công tác quản lý; một số tổ phải ghép nhiều môn nên không phù hợp với chuyên môn của tổ trưởng;… dẫn đến công tác hỗ trợ đạt kết quả không cao.

Tiêu chí 7: “Tổ chức các hoạt động chuyên đề thảo luận trao đổi kinh nghiệm về dạy học các chủ đề tự chọn” được đánh giá “thỉnh thoảng” (ĐTB: x = 2,65; y = 2,82), kết quả thực hiện (ĐTB: x = 2,74; y = 2,78). Đa số CBQL và GV ở các trường được điều tra, khảo sát đều thống nhất đánh giá công tác này hiện chưa được quan tâm đúng mức. Do vậy, đội ngũ giáo viên nhất là những người đã và đang trực tiếp làm công tác dạy học các chủ đề tự chọn ít có dịp được giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm để nâng cao tay nghề, chia sẻ những kiến thức mới, cách thức mới trong dạy học cho từng đối tượng học sinh theo từng loại chủ đề. vấn đề quản lý đổi mới PPDH đang còn gặp nhiều bất cập trong hoạt động giảng dạy chương trình chính khoá. Một bộ phận CBQL vẫn chưa mặn mà lắm với việc đổi mới do lo ngại về kết quả mà nó mang lại. Hơn nữa điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học đang còn nhiều hạn chế chưa đủ phục vụ cho đổi mới phương pháp, nên nội dung này chỉ thực hiện cầm chừng, giáo viên chú ý vận dụng phương pháp mới trong các kỳ thao giảng, hội giảng, các hội thi. Thông thường việc giảng dạy của giáo viên vẫn còn nặng về thuyết giảng, ít quan tâm đến kỹ năng thực hành và phát huy tính tính cực của học sinh.

Tiêu chí 8: “Bố trí thời khoa biểu và theo dõi việc thực hiện“: Đánh giá của hai nhóm khách thể là “thường xuyên” ở mức độ thực hiện (ĐTB: x = 3,30; y = 3,10), kết quả là “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,30; y = 3,11) kết quả này phản ánh được việc Hiệu trưởng rất quan tâm đến thời gian lao động của Giáo viên để họ có điều kiện đầu tư cho công tác chuẩn bị soạn giảng. Theo quy định, Giáo viên dạy bậc THPT phải dạy 17 tiết tiêu chuẩn, thời gian còn lại dùng để đọc tài liệu, soạn bài, chuẩn bị ĐDDH, và chấm bài cho học sinh. Bên cạnh đó, Giáo viên dạy các chủ đề tự chọn còn phải dạy các tiết chính khoá, vì vậy số lượng công việc của họ rất nặng, đòi hỏi phải có sự sắp xếp hợp lý. Cho nên, khi Hiệu trưởng bố trí thời khoa biểu lên lớp không khoa học thì sẽ gây cho họ tâm lý ngán ngại; đặc biệt đối với Giáo viên dạy thiếu tiết buộc phải dạy thêm tự chọn sẽ mang tâm lý mình là ” GV Thừa “.

2.4.3. Thực trạng tổ chức các lực lượng tham gia việc dạy học các chủ đề tự chọn Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

  • Kết quả khảo sát trong bảng 2.25 cho thấy:

Tiêu chí 1: “Theo dõi, kiểm tra, rút kinh nghiệm, điều chỉnh HĐDH các chủ đề tự chọn của GV” được đánh giá ở mức độ “thỉnh thoảng” đến “thường xuyên” với ĐTB là 2,79 và 2,97; hiệu quả ở mức độ “hiệu quả” với ĐTB là 2,93 và 2,96, điều này cho thấy HĐDH các chủ đề tự chọn đã được quan tâm và có kế hoạch, có tổ chức khá chặt chẽ. Tuy thế, do qui chế kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS học các chủ đề tự chọn được gắn vào các môn chính khoá nên còn có sự thay đổi kết quả học tập của học sinh. Do vậy, việc theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT chưa thực hiện theo một hệ thống thật chặt chẽ. vấn đề này cần được khắc phục bằng những giải pháp thích hợp.

Việc soạn và nộp giáo án dạy học các chủ đề tự chọn để duyệt thực hiện chưa thường xuyên và chưa đảm bảo qui chế chuyên môn. Công tác quản lý chỉ dừng lại ở mức độ quản lý về số tiết đã soạn, hình thức soạn mà chưa quan tâm nhiều đến nội dung và phương pháp của từng loại bài được thể hiện trong giáo án trong khi thực tiễn việc dạy học các chủ đề tự chọn là hình thức dạy học mới cần có sự đầu tư thật khoa học về cả nội dung và phương pháp cho phù hợp với từng loại chủ đề.

  • Bảng 2.22. Thực trạng tổ chức các lực lượng tham gia việc dạy học các chủ đề tự chọn

Tiêu chí 2: “Theo dõi, giám sát, dự giờ việc thực hiện kế hoạch bài dạy chủ đề tự chọn” được đánh giá với mức độ từ “thỉnh thoảng” đến “thường xuyên” (ĐTB: x = 2,58; y = 2,95) và đạt được hiệu quả ở mức độ “vừa” (ĐTB: x = 2,67; y = 2,81). Thực tế qua trao đổi, trò chuyện với một số CBQL và giáo viên thì việc thực hiện biện pháp trên chỉ mang tính hình thức chưa được thường xuyên. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Tiêu chí 3: “Chỉ đạo, điều hành, quản lý, giám sát việc thực hiện kế hoạch HĐDH các chủ đề tự chọn” được đánh giá với mức độ từ “thỉnh thoảng” đến “thường xuyên” và đạt được hiệu quả ở mức độ “vừa” đối với CBQL (ĐTB: 2,70 và 2,70) và mức độ “thường xuyên” và “hiệu quả” đối với GV (ĐTB: 3,04 và 3,11). Kết quả cho thấy giáo viên đề cao vai trò của CBQL trong công tác quản lý nhưng theo quan sát thực tế thì công tác giám sát việc thực hiện kế hoạch dạy học các chủ đề tự chọn của CBQL chưa được thường xuyên và còn mang tính hình thức. Nguyên nhân là do điều kiện CSVC thiếu thốn đã gây khó khăn cho công tác bố trí lớp học cũng như tổ chức các hình thức học tập nên Hiệu trưởng chưa đặt ra các yêu cầu cao đối với giáo viên tham gia dạy học loại hình này.

Tiêu chí 4: “Có biện pháp xử lý việc thực hiện không đúng kế hoạch, chương trình HĐDH các chủ đề tự chọn” được đánh giá với mức độ từ “thỉnh thoảng” đến “thường xuyên” và đạt được hiệu quả ở mức độ “vừa” đối với CBQL (ĐTB: 2,77 và 2,81) và mức độ “thường xuyên” và “hiệu quả” đối với giáo viên (ĐTB: 3,14 và 3,20). Kết quả này cũng cho thấy giáo viên đề cao vai trò của CBQL trong cồng tác quản lý. Song trên thực tế, các biện pháp xử lý giáo viên không thực hiện đúng kế hoạch, chương trình chỉ dừng lại ở mức độ nhắc nhở, đánh giá thi đua giáo viên mà chưa có biện pháp hữu hiệu nào được áp dụng nên tác dụng còn hạn chế.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả dạy học theo các chủ đề tự chọn

Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học các chủ đề tự chọn trong bảng 2.23 cho thấy:

Tiêu chí 1: “Thực hiện các tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá đúng quy định” được đánh giá mức độ “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,53; y = 3,34), kết quả thực hiện là “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,45; y = 3,25). Tìm hiểu hồ sơ quản lý tại các trường THPT, chúng tôi nhận thấy vào đầu năm học, Hiệu trưởng các trường đã tổ chức cho giáo viên học tập lại quy chế đánh giá xếp loại học sinh của Bộ GD&ĐT, cung cấp cho giáo viên quy chế từng môn học, gởi giáo viên tham gia các lớp học chuyên môn. Vì vậy giáo viên nắm vững số lượt bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ; cách tính điểm trung bình và đánh giá xếp loại học sinh.

  • Bảng 2.23. Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy các chủ đề tự chọn

Tiêu chí 2: “Giao tổ chuyên môn ra đề chung và quản lý các bài kiểm tra viết” được đánh giá với mức độ “thỉnh thoảng” (ĐTB: x = 2,86; y = 2,51), hiệu quả ở mức độ “vừa” (ĐTB: x = 2,84; y = 2,56). Qua thực tế tìm hiểu ở các trường THPT huyện Bắc Sơn cho thấy: Hiệu trưởng chưa quản lý được các bài kiểm tra viết theo đề chung của trường hoặc tô chuyên môn ở các chủ đề dạy học tự chọn. Việc kiểm tra thường giao cho giáo viên tiến hành, vì vậy dẫn đến tình trạng không đồng đều trong đánh giá kết quả học tập của học sinh. Một số trường tổ chức quản lý tốt các bài kiểm tra theo đề chung nên thúc đẩy được HĐDH và đánh giá khá chính xác kết quả dạy học tự chọn của giáo viên và học tập của học sinh, làm cơ sở đánh giá thi đua và phân công chuyên môn cũng như đánh giá tính hiệu quả của từng chủ đề. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Tiêu chí 3: “Tăng cường kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan kết hợp tự luận” được hai nhóm khách thể đánh giá là “thường xuyên” (ĐTB x = 3,12; y = 3,13) và “hiệu quả” (ĐTB X = 3,02; y = 3,18). Hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan là một hình thức còn khá mới mẻ đối với giáo viên và học sinh. Hình thức kiểm tra này có nhiều ưu điểm là: kiểm tra được lượng kiến thức rộng, đánh giá khách quan kết quả học tập của học sinh, chấm bài nhanh,… Tuy nhiên, hình thức kiểm tra này khó phát huy được kỹ năng viết cho học sinh, học sinh dễ xem bài nhau và nó cũng đòi hỏi những phương tiện, thiết bị phục vụ cho công tác soạn đề và in ấn đề như: phần mềm, máy vi tính, máy in, giấy in, máy quét,… Qua thực tế các trường THPT huyện Bắc Sơn cho thấy, các đơn vị nhà trường đều chỉ đạo tăng cường công tác phối hợp hai hình thức kiểm tra và phần lớn giáo viên có thực hiện việc soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhưng vấn đề đảm bảo về các yêu cầu của một đề trắc nghiệm khách quan như: độ tin cậy, độ giá trị, độ khó và độ phân cách và yêu cầu “phân hoá” trong việc dạy tự chọn là chưa cao. Ngoài ra, do thiếu thốn về các phương tiện, thiết bị nên hình thức kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan vẫn chưa phát huy hết hiệu quả.

Từ thực tế trên, đối chiếu với kết quả đánh giá của CBQL và giáo viên là khá phù hợp. Đây là hạn chế chung của các trường THPT trên toàn quốc, trừ các trường THPT có chất lượng cao, các trường điểm.

Tiêu chí 4: “Cập nhật điểm ngay khi kiểm tra” được CBQL và giáo viên là “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,00; y = 3,15) và “hiệu quả” (x = 2,9; y = 3,24). Tìm hiểu thực tế tại các trường THPT huyện Bắc Sơn cho thấy: việc cập nhật điểm ngay khi kiểm tra vào sổ điểm chính theo quy định của Bộ GD&ĐT đã được thực hiện. Tuy nhiên, việc này đôi khi chưa kịp thời và chưa đạt hiệu quả tối đa. Nguyên nhân của tình trạng này là do giáo viên chỉ được sử dụng sổ điểm cá nhân để ghi điểm hàng ngày, sổ điểm chính do bộ phận hành chính của nhà trường quản lý và chỉ cho giáo viên mượn khi có sự chỉ đạo của Hiệu trưởng hoặc PHT phụ trách chuyên môn nên giáo viên không thể thực hiện việc vào điểm ngay khi có kết quả kiểm tra hoặc vào điểm hàng ngày theo quy định. Việc này dẫn đến những khó khăn trong công tác quản lý điểm của học sinh, có thể dẫn đến việc nâng điểm, sửa điểm một các tuy tiện vì chạy theo thành tích hoặc các tiêu cực khác. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Tiêu chí 5: “Quản lý điểm bằng phần mềm” được đánh giá là “thỉnh thoảng” đến “thường xuyên” (ĐTB: x = 2,53; y = 2,65), hiệu quả ở mực độ “vừa” (ĐTB: x = 2,58; y = 2,84). Qua tìm hiểu thực tế tại các trường THPT huyện Bắc Sơn cho thấy: các trường đã tổ chức nhập điểm và xử lý điểm theo đúng quỵ định của Bộ GĐ&ĐT. Công cụ này hỗ trợ đắc lực cho giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm trong việc tính điểm, xếp loại học sinh và giúp Hiệu trưởng quản lý chặt chẽ việc cho điểm tránh tình trạng cấy điểm, sửa điểm không đúng quy định. Ngoài ra nó còn giúp cho Hiệu trưởng thống kê được một cách nhanh chóng kết quả hai mặt GD của học sinh, chất lượng học tập văn hoá từng môn, từng lớp và báo cáo kịp thời cho các cấp quản lý GD. Đây là một ưu điểm trong công tác quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập đối với học sinh của Hiệu trưởng. Tuy nhiên, vấn đề này cũng gặp một số khó khăn nhất định như: một số trường thiếu giáo viên chuyên trách phụ trách nhập liệu, xử lý điểm.

Tiêu chí 6: “Theo dõi kết quả học tập các chủ đề tự chọn của HS, tổng kết, xếp loại chủ đề, xếp loại và ghi kết quả học tập của HS theo quy định” được hai nhóm khách thể đánh giá “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,21; y = 3,04) và “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,19; y = 3,09). Tìm hiểu thực tế tại các trường THPT Bắc Sơn cho thấy, Hiệu trưởng rất quan tâm đến việc dạy học các chủ đề tự chọn và hiệu quả của loại hình này mang lại. Đồng thời việc ghi nhận kết quả các chủ đề, đánh giá, xếp loại cũng được thực hiện đúng quy chế 40/2006/QĐ-BGDĐT ban hành ngày 05 tháng 10 năm 2006 về đánh giá, xếp loại học sinh. Tuy vậy, do điều kiện CSVC thiếu thốn dẫn đến việc thực hiện chủ yếu là chủ đề bám sát nên kết quả chưa phản ánh hết được mặt tích cực của HĐDH các chủ đề tự chọn.

Tiêu chí 7: “Tổ chức xử lý các trường hợp vi phạm quy chế” thể hiện đánh giá của CBQL là “thường xuyên” và hiệu quả ở mức độ “vừa” (ĐTB: 2,91 và 2,79), đánh giá của giáo viên là “thường xuyên” và “hiệu quả” (ĐTB: 3,06 và 3,16). Như vậy các trường đã quản lí khá tốt việc thực hiện tiêu chí này. Việc xử lí các trường hợp vi phạm nội qui kiểm tra, thi (cả GV lẫn HS) đều được cho kết quả đánh giá rất tốt nhưng vẫn còn một CBQL và giáo viên thấy rằng cần xử lí nghiêm khắc hơn với các trường hợp vi phạm nội qui của giáo viên lẫn học sinh. Nếu vấn đề này thực hiện không triệt để sẽ làm hạn chế trong công tác quản lý của Hiệu trưởng về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Hệ luỵ của vấn đề này là việc đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh không đúng dẫn đến tâm lý ỷ lại, lười học, không phấn đấu để vươn lên. Cho nên chỉ có việc đổi mới công tác thi cử, đổi mới việc kiểm tra đánh giá thì mới nâng cao được chất lượng Giáo dục.

2.4.5. Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy học các chủ đề tự chọn

  • Bảng 2.24. Thực trạng điều kiện CSVC phục vụ dạy học các chủ đề tự chọn

Kết quả khảo sát ở bảng 2.24 cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Tiêu chí 1: “Tăng cường khai thác các trang thiết bị và phương tiện phục vụ cho HĐDH các chủ đề tự chọn“: Có 79,1% CBQL cho biết Hiệu trưởng đã thường xuyên và rất thường xuyên thực hiện việc này và điểm trung bình là 2,88; và 84,8% giáo viên cũng đánh giá Hiệu trưởng đã thường xuyên và rất thường xuyên thực hiện việc này và điểm trung bình là 3,00. Đồng thời việc đánh giá kết quả thực hiện cũng rõ ràng, điểm trụng bình từ mức độ khá (x = 2,91; y = 3,00). Như vậy các trường đã quản lý khá tốt việc thực hiện tiêu chí này. Tại các trường THPT đã được trang bị về CSVC, trường lớp đẹp hơn, khang trang hơn, các phương tiện và thiết bị dạy học ở các trường đã quản lí tốt nhưng còn thiếu rất nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc đổi mới PPDH do nguồn kinh phí đầu tư trang bị CSVC, phương tiện và thiết bị dạy học ở các trường còn hạn chế. Đây cũng là nỗi bức xúc của Hiệu trưởng mặc dù đã có kế hoạch trình cấp trên sửa chữa, trang bị CSVC, phương tiện và thiết bị dạy học cho phù hợp với việc đổi mới GD hiện nay nhưng chưa được đáp ứng kịp thời. Các giáo viên không có điều kiện, thời gian để tự làm các ĐDDH cho bài dạy. Máy móc, thiết bị cho công tác giảng dạy còn thiếu thốn. Các giáo viên còn chưa được tiếp cận nhiều với công nghệ mới trong nghiên cứu và giảng dạy. Bên cạnh đó, một số giáo viên đã không thực hiện nghiêm túc việc sử đụng đồ dùng, phương tiện dạy học trên lớp. Lý do được đưa ra là, giáo viên quá bận bịu – không có thời giờ chuẩn bị; hoặc do các trường đều không có phòng học bộ môn mà chỉ có các phòng học thường, vì thế việc di chuyển các phương tiện dạy học đến phòng học thường làm cho giáo viên ngán ngại, mất thời gian. Nhưng những trường hợp như vậy đã chưa được Hiệu trưởng kiểm tra, xử lí nghiêm túc mà thường chỉ là nhắc nhở rút kinh nghiệm.

Tiêu chí 2: “Lập sổ theo dõi và kiểm tra việc mượn thiết bị dạy học phục vụ cho các chủ đề tự chọn” được đánh giá mức độ “thường xuyên” (ĐTB: x = 3,12; y = 3,16), kết quả thực hiện là “hiệu quả” (ĐTB: x = 3,09; y = 3,10). Điều này chứng tỏ lãnh đạo nhà trường xem trọng việc sử dụng ĐDDH. Tuy nhiên, một số ít đơn vị còn phàn nàn việc giáo viên chưa tích cực cập nhật sổ theo dõi và kiểm tra việc mượn thiết bị mà chỉ thực hiện để đối phó khi có kiểm tra nhưng chưa có biện pháp xử lý nào cụ thể nào đối với những trường hợp vi phạm, thường cũng chỉ là nhắc nhở.

Tiêu chí 3: “Bố trí thời gian hợp lý cho HĐDH các chủ đề tự chọn” nhận được ý kiến đánh giá về mức độ “thường xuyên” (ĐTB x = 3,42; y = 3,18) và hiệu quả đạt được với ĐTB là x = 3,28; y = 3,04, có nghĩa là công tác này được thực hiện “thường xuyên” và “hiệu quả“. Việc bố trí hợp lý của hiệu trưởng sẽ giúp giáo viên sử đụng CSVC phục vụ dạy học các chủ đề tự chọn đạt hiệu quả cao, học sinh tham gia các lớp học này sẽ có cơ hội tiếp cận được các phòng học chức năng, tham gia được các buổi thí nghiệm thực hành. Bên cạnh đó, việc bố trí thời gian hợp lý giúp học sinh phân phối việc học một cách khoa học, cải thiện được kết quả học tập của các em. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Tiêu chí 4: “Huy động nguồn kinh phí cho HĐDH các chủ đề tự chọn“: Có 48,9% GBQL cho biết HT đã TX và RTX thực hiện việc này và điểm trung bình là 2,14; và 45,6% giáo viên cũng đánh giá Hiệu trưởng đã thường xuyên và rất thường xuyên thực hiện việc này và điểm trung bình là 2,19. Đồng thời việc đánh giá kết quả thực hiện cũng rõ ràng, điểm trung bình từ mức độ “ít hiệu quả” (ĐTB: x = 2,09; y = 2,28). Như vậy các trường đã quản lí chưa thật tốt việc thực hiện tiêu chí này. Việc phối hợp phụ huynh học sinh và vận động các lực lượng xã hội khác hỗ trợ về CSVC, thiết bị giảng dạy chưa được Hiệu trưởng làm tốt. Trong điều kiện hiện nay, việc huy động tài chính từ các nguồn ngoài ngân sách, nhất là từ các quý phụ huynh rất khó khăn. Mặt khác, nguồn quỹ Hội Cha mẹ học sinh trong nhà trường nếu huy động được cũng chỉ đủ hỗ trợ cho các hoạt động khuyến học như trao học bỗng, trợ cấp khó khăn cho đối tượng học sinh nghèo hiếu học, không đủ để hỗ trợ cho hoạt động chuyên môn khác. Do vậy, kết quả phản ánh như trên là đúng với tình hình thực tế.

Tiêu chí 5: “Đẩy mạnh công tác xã hội hóa GD trong việc xây dựng CSVC, đầu tư trang thiết bị dạy học các chủ đề tự chọn” được 51,2% CBQL cho rằng Hiệu trưởng đã Thường xuyên và rất thường xuyên thực hiện việc này và ĐTB là 2,49 và 59,5% giáo viên cho rằng Hiệu trưởng đã Thường xuyên và rất thường xuyên thực hiện việc này và ĐTB là 2,62. Đồng thời việc đánh giá kết quả thực hiện ở mức độ trung bình (ĐTB: x = 2,44; y =2,65).

Qua xem xét thực tế tại các trường THPT huyện Bắc Sơn, việc huy động các nguồn kinh phí dành cho HĐDH các chủ đề tự chọn chưa được quan tâm nhiều, phần lớn chỉ dựa vào kinh phí chung của nhà trường. Điều này dẫn đến việc hỗ trợ nhằm động viên giáo viên tham gia dạy học các chủ đề chưa được thực hiện và việc tổ chức tham quan học tập của học sinh không thực hiện được thường xuyên. Công tác xã hội hoá được đẩy mạnh, huy động sự hỗ trợ của nhân dân trong xây dựng CSVC. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế của nhân dân nông thôn miền núi nên nguồn huy động chưa đáp ứng được các yêu cầu về đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy học nói chung và dạy học các chủ đề tự chọn nói riêng.

Tóm lại, qua kết quả điều tra, khảo sát thực trạng cho thấy: Hiệu trưởng các trường THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đều có chỉ đạo thực hiện các mặt trong công tác quản lý HĐDH theo các chủ đề tự chọn từ việc xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện kê hoạch với các nội đúng quản lý cụ thể như hướng dẫn qui trình, duyệt kế hoạch, kiểm tra, giám sát và điều chỉnh quá trình thực hiện kế hoạch cho đến việc quản lý các lực lượng tham gia và các điều kiện hỗ trợ cho HĐDH các chủ đề tự chọn. Trong đó, vấn đề được quan tâm nhất, được thực hiện ở mức độ thường xuyên nhất là việc quản lý đội ngũ, lựa chọn, phân công giáo viên dạy bồi dưỡng cũng như việc theo dõi kiểm tra việc thực hiện đúng qui chế về nội dung dạy học các chủ đề tự chọn của giáo viên. Điều này khẳng định được nghiệp vụ quản lý của CBQL là đáp ứng khá tốt với nhu cầu quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn trong xu thế GD hiện nay. Kết quả cụ thể được chứng minh qua kết quả xếp loại học lực cuối năm của học sinh.

2.5. Nguyên nhân của thực trạng trong công tác quản lý hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Qua khảo sát thực trạng cho thấy các trường THPT huyện Bắc Sơn đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện dạy học chủ đề tự chọn theo quy định của Bộ GD&ĐT và đạt được một sổ kết quả ban đầu rất khả quan nhưng vẫn còn nhiều hạn chế mà các trường cần nỗ lực nhiều hơn nữa. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành trưng cầu ý kiến của CBQL và GV về nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả ghi nhận được như sau:

2.5.1. Nguyên nhân của những ưu điểm trong hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn

Khảo sát ý kiến đánh giá về nguyên nhân của những kết quả đạt được trong công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn, chúng tôi đưa ra 4 mức độ như sau:

  • Điểm 4: mức độ rất nhiều – Điểm 3: mức độ nhiều
  • Điểm 2: mức độ ít – Điểm 1: mức độ không Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 2.25

Bảng 2.25. Nguyên nhân kết quả đạt được trong công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở trường THPT

Khảo sát ý kiến đánh giá nguyên nhân những kết quả đạt được của công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn chúng tôi nhận được sự thống nhất cao về các yếu tố đã tạo nên những điều kiện thuận lợi cho HĐDH các chủ đề tự chọn như sau:

  • Nguyên nhân chủ quan

Nhận thức về nội dung quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn của Hiệu trưởng“, kết quả cho thấy có 58,1% số ý kiến của CBQL và 44,3% số ý kiến của giáo viên cho rằng nhận thức về nội dung quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn của Hiệu trưởng có tác động rất nhiều đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở trường THPT. Có 41,9% và 50,6% số ý kiên của CBQL và giáo viên cho rằng nhận thức về hoạt động này của Hiệu trưởng có một số tác động đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Số ý kiến cho rằng nhận thức của Hiệu trưởng ít ảnh hưởng và không ảnh hưởng là không đáng kể (số ý kiến của CBQL là 0% và GV lần lượt là 2,5% và 2,5%). Điểm trung bình ở mức độ cao (x = 3,58; y = 3,37). Như vậy đa số đều cho rằng nhận thức của Hiệu trưởng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả của công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Nhận thức đúng đắn, đầy đủ của Hiệu trưởng về hoạt động này sẽ góp phần đạt được mục đích đề ra. Ngược lại, sẽ làm hạn chế cho hoạt động này. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

  • Tính đồng bộ và phù hợp với điều kiện của nhà trường với biện pháp quản lý của HT“.

Kết quả khảo sát cho thấy: ý kiến đánh giá của CBQL “rất nhiều” là 39,5% và “nhiều” là 51,2% (ĐTB: 3,30), ý kiến của giáo viên “rất nhiều” là 25,3% và “nhiều” là 64,6% (ĐTB: 3,14), chứng tỏ tác động giữa tính đồng bộ và phù hợp với điều kiện của nhà trường với biện pháp quản lý của Hiệu trưởng là rất lớn. Bởi vì, khi Hiệu trưởng đề ra các nội dung chỉ đạo thực hiện mà điều kiện thực tế của nhà trường không đáp ứng được như CSVC, trang thiết bị, tình hình tài chính,… thì rất khó để thực hiện đôi khi không thể thực hiện. Do vậy, yếu tố này rất cần được Hiệu trưởng cũng như các nhà quản lý quan tâm.

Lãnh đạo nhà trường xem trọng công tác dạy học các chủ đề tự chọn” là yếu tố được đánh giá ở mức cao nhất trong các nguyên nhân của kết quả đạt được. Có 67,4% ý kiến của CBQL, 58,2% ý kiến của giáo viên đồng ý với mức độ “rất nhiều“, 27,9% ý kiến của CBQL, 36,7% ý kiến của giáo viên đồng ý với mức độ “nhiều“, ĐTB (x = 3,63; y = 3,53) phản ánh mức độ từ nhiều đến rất nhiều. Tìm hiểu thực tế ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tác giả nhận thấy khi lãnh đạo nhà trường nào có quan tâm chỉ đạo, xem HĐDH các chủ đề tự chọn là một nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung thì họ sẽ phân đầu phải thực hiện đạt hiệu quả để khẳng định uy tín và vị thế của nhà trường. Vậy, kết quả khảo sát này có độ tin cậy cao.

Năng lực và phẩm chất của đội ngũ GV thực hiện HĐDH các chủ đề tự chọn“: có 60,5% và 46,8% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên thực hiện HĐĐH các chủ đề tự chọn tác động rất nhiều đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở trường THPT. Có 34,9% và 51,9% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên thực hiện HĐDH các chủ đề tự chọn tác động đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở trường THPT ở mức độ vừa phải. Điểm trung bình là (x = 3,56; y = 3,56). Thực tế ở một số trường chúng tôi đến khảo sát, lãnh đạo nhà trường đều cho biết việc lựa chọn và phân công giáo viên có kinh nghiệm dạy học các chủ đề tự chọn là một khâu quan trọng được thực hiện thận trọng và khoa học. Do vậy, kết quả khảo sát như trên là sát với thực tế.

  • Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Có đến 88,3% CBQL (ĐTB 3,19, mức độ “nhiều” và “rất nhiều”) và 91,2% GV (ĐTB 3,25, mức độ “nhiều” và “rất nhiều”) ý kiến cho rằng sự chỉ đạo sâu sát từ Bộ GD&ĐT đến các cấp QLGD về HĐDH các chủ đề tự chọn đã tạo động lực lớn cho việc triển khai thực hiện HĐDH các chủ đề tự chọn ở trường THPT.

Sự phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện cho HĐDH các chủ đề tự chọn” có kết quả khảo sát là 23,3% và 17,7% số ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng sự phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường đã có nhiều tác động đến hiệu quả quản lý HĐDH các chủ đề đề tự chọn. Có 42,2% và 44,3% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng chỉ có tác động ở mức độ vừa phải. Có 32,6% và 35,4% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng tác động là ít và có 2,5% ý kiến của giáo viên cho rằng không ảnh hưởng. Từ kết quả này cho thấy sự phối hợp giữa các lực lượng GD được quan tâm ở mức độ vừa. Điểm trung bình (x = 2,91; y = 2.77).

Sự quan tâm của gia đình HS“: có 32,6% và 32,9% số ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng sự quan tâm của gia đình học sinh có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Có 32,6% và 25,3% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng tác động ở mức độ vừa. Có 30,2% và 39,2% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng ít tác động. Có 4,7% và 2,5% ý kiến của CBQL và GV cho rằng không tác động. Điểm trung bình ở mức độ này là vừa (x = 2,93; y = 2,89).

Sự quan tâm, yêu thích của lực lượng học sinh“: có 51,2% và 43,0% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng sự quan tâm, yêu thích của lực lượng học sinh có tác động rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Có 32,6% và 39,2% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng mức độ tác động ở mức vừa phải. Có 11,6% và 16,5% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng ít có tác động. Có 4,7% 1,3% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng không tác động. Điểm trung bình tác động ở mức độ vừa (x = 3,30; y = 3,24).

2.5.2. Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động dạy học theo các chủ đề tự chọn Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Khảo sát ý kiến đánh giá về nguyên nhân của những kết quả đạt được trong công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn, chúng tôi ghi nhận được qua bảng 2.30 như sau:

2.5.2.1 Nguyên nhân chủ quan

Nhận thức chưa đồng bộ của các lực lượng GD trong nhà trường về HĐDH các chủ đề tự chọn” được đánh giá cụ thể là: có 29,1% và 35,6% ý kiến của GBQL và GV cho rằng nhận thức chưa đồng bộ của các lực lượng GD trong nhà trường về HĐDH các chủ đề tự chọn có tác động rất nhiều đến hiệu quả quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Có 48,4% và 45,1% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng có tác động ở mức độ vừa. Có 21,5% và 18,2% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng có tác động ít. Có 1,1% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng không thể tác động. Điểm trung bình động ở mức độ phản ánh ở mức độ “nhiêu” (x = 3,05; y = 3,15). Thực tế cho thấy, HĐDH các chủ đề tự chọn chỉ đạt được mục đích nếu có sự nhận thức sâu sắc về mục tiêu, ý nghĩa của nó. Ngược lại, sẽ không mang lại hiệu quả nếu vẫn còn suy nghĩ “không cần thiết” hoặc “có cũng được không cũng được” khi hỏi về hoạt động này mà kết quả khảo sát cũng đã ghi nhận được.

  • Bảng 2.26. Nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở trường THPT

Chất lượng học tập của học sinh chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu học các chủ đề tự chọn“. Kết quả khảo sát là: có 2,3% và 3,8% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng chất lượng học tập của học sinh chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu học các chủ đề tự chọn có tác động rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Có 62,8% và 49,4% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng có tác động vừa phải. Có 27,9% ý kiến của CBQL và 35,4% ý kiến của giáo viên cho rằng ít tác động. Có 7,0% và 11,4% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng không có tác động. Điểm trung bình tác động ở mức độ vừa (ĐTB: x = 2,60; y = 2,46).

Như vậy, chất lượng học tập của học sinh đã tác động đến HĐDH này. Phỏng vấn một số giáo viên thì được biết rằng chất lượng đầu vào chưa đều, hoàn cảnh của học sinh gặp khó khăn đã làm cho hiệu quả của HĐDH các chủ đề tự chọn nói riêng và HĐDH nói chung đạt chất lượng chưa cao. Dẫu biết rằng chỉ có thầy giỏi mới có trò giỏi nhưng với đặc điểm là khu vực miền núi, đời sống kinh tế không ổn định thì rất khó để cha mẹ học sinh toàn tâm toàn ý quan tâm đến việc học của các em.

2.5.2.2. Nguyên nhân khách quan. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Quá tải của chương trình môn học” được đánh giá cụ thể như sau: có 23,3% và 29,1% ý kiến của CBQL và GV cho rằng việc “quá tải” của chương trình có tác động rất nhiều đến hiệu quả quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Có 37,2% và 26,6% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng có tác động ở mức độ vừa. Có 34,9% và 32,9% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng ít có tác động. Có 4,7% và 11,4% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng tác động của vấn đề này là không thể. Điểm trung bình tác động ở mức độ vừa (x = 2,79; y = 2,73). Qua kết quả này cho thấy, khi đưa thêm chương trình dạy tự chọn vào trường THPT thì thời khoá biểu của các em lại tăng thêm 2 tiết. Bên cạnh đó, do điều kiện CSVC thiếu nên thời khoá biểu thường xuyên có 5 tiết một buổi và liên tục 6 buổi một tuần đã gây tâm lý mệt mỏi cho học sinh.

CSVC, điều kiện, phương tiện, trang thiết bị chưa đủ đáp ứng cho HĐDH các chủ đề tự chọn” có 51,2% và 32,9% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng CSVC, điều kiện, phương tiện, trang thiết bị chưa đủ đáp ứng cho HĐDH các chủ đề tự chọn có tác động rất nhiều đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Có 32,6% và 39,2% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng yếu tố này có tác động vừa phải. Có 16,3% và 17,7% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng ít có tác động. Có 10,1% ý kiến của giáo viên cho rằng yếu tố này không có tác động đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT. Điểm trung bình tác động ở mức độ nhiều (x = 3,35; y = 2,95). Bên cạnh đó “Kinh phí dành cho HĐDH các chủ đề tự chọn hạn chế” có kết quả khảo sát là 32,6% và 35,4% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng kinh phí dành cho HĐDH các chủ đề tự chọn hạn chế đã tác động rất nhiều đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Có 41,9% và 34,2% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng yếu tố này có tác động vừa phải. Có 23,3% và 19,0% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng ít tác động. Có 2,3% ý kiến của CBQL và đến 11,4% ý kiến của giáo viên cho rằng yếu tố này không tác động đến hiệu quả của hoạt động. Điểm trung bình tác động ở mức độ nhiều (x = 3,05; y = 2,94). Kinh phí là một vấn đề nan giải trong quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT. Qua phỏng vấn trực tiếp Hiệu trưởng các trường THPT, chúng tôi nhận được hầu hết ý kiến đều cho rằng đang gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề kinh phí đầu tư cho HĐDH các chủ đề tự chọn. Hiện nay chưa có một quy định cụ thể nào về kinh phí phục vụ cho loại hình dạy học này mà kinh phí hoạt động chủ yếu được khoán chung trong mục hoạt động phí do ngân sách Nhà nước cấp. Các trường có vận động được nguồn kinh phí từ công tác xã hội hoá GD nhưng vẫn còn hạn chế và thường sử dụng vào công tác chung của nhà trường. Vì vậy hoạt động tham quan học tập, tổ chức dã ngoại là một hoạt động hiếm hoi đối với các trường THPT. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Nhận thức chưa đồng bộ của các lực lượng GD ngoài nhà trường về HĐDH các chủ đề tự chọn” được đánh giá như sau: có 36,0% ý kiến của CBQL và 23,3% ý kiến của giáo viên cho rằng nhận thức chưa đồng bộ của các lực lượng GD ngoài nhà trường về HĐDH các chủ đề tự chọn là có tác động rất nhiều đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở trường THPT. Có 45,5% và 53,1% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng có tác động ở mức độ nhiều. Có 16,4% và 22,5% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng ít có tác động. Có 2,2% và 1,1% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng tác động là không thể. Điểm trung bình tác động ở mức độ nhiều (x = 3,15; y = 3,00). Như vậy, HĐDH các chủ đề tự chọn cũng không thể đạt được hiệu quả cao khi thiếu đi sự đồng tình, hỗ trợ của gia đình, của xã hội.

Các hoạt động nghiên cứu khoa học, báo cáo các đề tài sáng kiến kinh nghiệm chưa quan tâm đến các chuyên đề về dạy học các chủ đề tự chọn” có kết quả khảo sát như sau: có 26,1% và 17,5% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng các hoạt động nghiên cứu khoa học, báo cáo các đề tài sáng kiến kinh nghiệm chưa quan tâm đến các chuyên đề về dạy học các chủ đề tự chọn có tác động rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THCS. Có 32,6% và 35,1% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng yếu tố này có tác động vừa phải. Có 39,1% và 43,0% ý kiến của CBQL và giáo viên cho rằng ít có tác động. Có 2,2% ý kiến của CBQL và 4,4% ý kiến của giáo viên cho rằng yếu tố này không tác động đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn. Điểm trung bình tác động ở mức độ vừa (x = 2,83; y = 2,66). Kết quả này hoàn toàn sát với thực tế. Những năm gần đây, hoạt động này mới bước đầu có chuyển biến ở các trường THPT. Mỗi năm các đơn vị trường học đêu có tổ chức báo cáo đề tài sáng kiến kinh nghiệm và đã có nhiều đề tài được công nhận cấp trường tiếp tục gửi về cấp trên thẩm định để làm căn cứ xét công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và các danh hiệu thi đua cao hơn. Nhưng qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy đề tài vê quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn hay sáng kiến kinh nghiệm dạy học chủ đề tự chọn, môn học tự chọn chưa được các CBQL và giáo viên quan tâm nghiên cứu. Các hoạt động hội thảo, hội nghị chuyên đề, tập huấn chuyên môn,..; do cấp trên tổ chức vẫn chưa quan tâm nhiều đến chuyên đề về công tác dạy học các chủ đề tự chọn. Chính vì thế những tồn tại trong công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT chậm được cải thiện và cơ sở để đạt hiệu quả như mục tiêu đề ra là chưa vững chắc.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

Qua phân tích thực trạng cũng như các yếu tố tác động đến hiệu quả công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn ở các trường THPT ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn chúng tôi nhận thấy như sau:

  • Ưu điểm:

Nhìn chung Hiệu trưởng các trường THPT đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn thể hiện qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để thực hiện nhiệm vụ dạy học các chủ đề tự chọn.

Biện pháp quản lý việc phân công dạy học cho giáo viên và sắp xếp thời khoá biểu; quản lý giờ dạy và hồ sơ chuyên môn của Hiệu trưởng có nhiều ưu điểm. Ngoài ra ở từng nội dung quản lý HĐDH các chủ đề tự chọn, Hiệu trưởng đã xây dựng được một sổ biện pháp quản lý cụ thể, có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dạy học các chủ đề tự chọn.

Mặc dù đây là một loại hình dạy học mới, các nghiên cứu về thực tiễn chưa nhiều, tài liệu chưa phong phú nhưng các trường THPT ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã nắm khá vững các quy định về nội dung chương trình, hình thức tổ chức, PPDH, kiểm tra đánh giá các chủ đề tự chọn và có cố gắng thực hiện tốt và phù hợp với giả thuyết khoa học.

  • Nguyên nhân của những ưu điểm:

Hầu hết đội ngũ Hiệu trưởng của các trường THPT ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đều được chọn lọc, đề bạt từ lực lượng giáo viên giỏi và đã trải qua quá trình quản lý từ tổ chuyên môn, các đoàn thể trong nhà trường và đều được tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý trường học.

Sự chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra của các cấp quản lý GD về công tác quản lý HĐDH nói chung và dạy học các chủ đề tự chọn nói riêng, sự hỗ trợ của các lực lượng GD đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hiệu trưởng trong công tác quản lý. Song song đó, việc quan tâm đầu tư về CSVC của trên cũng giúp cho công tác quản lý, điều hành của hiệu trưởng ngày đạt hiệu quả cao hơn.

  • Hạn chế:

Công tác chỉ đạo và kiểm tra của một số Hiệu trưởng đối với việc thực hiện kế hoạch của giáo viên chưa được tiến hành thường xuyên, sâu sát và còn mang tính hình thức.

Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy các chủ đề đề tự chọn chưa được các Hiệu trưởng quan tâm đúng mức nên chất lượng của giờ dạy các chủ đề tự chọn còn hạn chế.

Sinh hoạt tổ chuyên môn còn nặng tính hành chính, chưa đưa ra được những biện pháp, những sáng kiến mới có tính đột phá trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học các chủ đề tự chọn. Hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm, tham luận về HĐDH các chủ đề tự chọn chưa được đầu tư đúng mức.

Đo điều kiện kinh tế khó khăn, một số phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến con em dẫn đến chất lượng hai mặt GD nói chung va chất lượng dạy học các chủ đề tự chọn nói riêng chưa đạt hiệu quả cao.

  • Nguyên nhân của những hạn chế:

Do một số Hiệu trưởng chưa có sự dầu tư đúng mức về công tác quản lý HĐDH nói chung và HĐDH các chủ đề tự chọn nói riêng, chưa thấy hết được mối quan hệ tác động qua lại giữa các nội dung, các biện pháp quản lý.

Công tác tuyên truyền đến giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và xã hội về mục đích, ý nghĩa dạy học tự chọn, hướng dẫn học sinh lựa chọn môn học, chủ đề tự chọn cho phù hợp còn hạn chế dẫn đến việc nhận thức không đầy đủ về tầm quan trọng của HĐDH loại hình này.

Điều kiện CSVC, trang thiết bị thiếu thốn ảnh hưởng đến việc áp dụng PPDH mới phù hợp với đặc trưng của HĐDH các chủ đề tự chọn. Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
casino plus bonus
casino plus bonus
2 tháng trước

Luận văn: Thực trạng dạy học theo chủ đề tự chọn ở Trường THPT

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537