Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng ảnh hưởng của TTXH và GDĐĐ học sinh trong các trường THPT tỉnh Kạn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu và khảo sát thực trạng

2.1.1. Khái quát về điều kiện kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Kạn.

Tỉnh Bắc Kạn được tái thành lập từ 1997, nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Toàn tỉnh gồm có 7 huyện và 1 thành phố, với 122 xã, phường, thị trấn. Diện tích tự nhiên: 4857,21 km2, dân số khoảng 30 vạn người và có 7 dân tộc chính: Tày, Kinh, Dao, Nùng, Sán Chay, Mông, Hoa (dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ hơn 80%).

Nền kinh tế tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2019-2023 đạt tốc độ tăng trưởng khá; đến năm 2023, tổng sản phẩm GRDP của tỉnh đạt trên 7.603 tỷ đồng, tăng hơn 3.482 tỷ đồng so với năm 2018; GRDP bình quân đầu người ước đạt trên 24.4 triệu đồng. Tuy nhiên chất lượng phát triển kinh tế còn thấp so với mặt bằng chung của toàn quốc, chưa bền vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu phát triển của tỉnh, thu nhập bình quân đầu người vẫn thấp so với khu vực và bình quân cả nước; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2024-2030 còn chiếm 41,4% (29,4% hộ nghèo, 12% hộ cận nghèo).

2.1.2. Vài nét về tình hình giáo dục tỉnh Bắc Kạn

Công tác GD&ĐT tỉnh có nhiều chuyển biến, tiến bộ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Mạng lưới giáo dục phát triển đến tận các thôn bản, hầu hết các xã có trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trung tâm học tập cộng đồng; 100% các huyện, thành phố có trường THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề. Đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy và học trong giai đoạn hiện nay. Chất lượng giáo dục, đào tạo ngày càng được nâng cao; tỷ lệ huy động trẻ, học sinh đến lớp đúng độ tuổi tăng qua các năm; tỷ lệ tốt nghiệp THPT hàng năm đều đạt trên 90% và đỗ vào các trường đại học, cao đẳng năm sau cao hơn năm trước; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng dần theo từng năm; công tác xã hội hóa GD&ĐT ngày càng được quan tâm và đạt hiệu quả.

Tuy nhiên, GD&ĐT còn nhiều khó khăn, tồn tại, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới như: chất lượng GD&ĐT còn thấp; đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập, hạn chế; cơ sở vật chất của các trường trong những năm qua đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn tình trạng xuống cấp chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu hiện nay.

2.1.3. Khái quát v mục đích, đối tượng, ni dung, phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

  • a. Mục đích khảo sát 

Nhằm phát hiện thực trạng mức độ sử dụng mạng xã hội của học sinh, giáo viên, phụ huynh để đánh giá khách quan và đề xuất những biện pháp hiệu quả trước tác động của TTXH trong GDĐĐ học sinh.

  • Địa bàn và quy mô kho sát
  • Địa bàn khảo sát: Trường THPT Chợ Đồn, THPT Bắc Kạn và THPT Chuyên Bắc Kạn.

Đối tượng khảo sát:

  • Trường THPT Chợ Đồn: GV và cán bộ QL: 52, Học sinh: 50 khối 10 và khối 12, phụ huynh: 50.
  • Trường THPT Bắc Kạn: GV và cán bộ QL: 53, Học sinh: 50 khối 10 và khối 12, phụ huynh: 50.
  • THPT Chuyên Bắc Kạn: GV và cán bộ QL: 57, Học sinh: 50 khối 10 và khối 12, phụ huynh: 50.

Ni dung kho sát

Mức độ nhận thức, các biểu hiện, vai trò công tác quản lý trước tác động của TTXH trong các nhà trường hiện nay.

  • Phương pháp khảo sát, s lý s liu, đánh giá * Phương pháp khảo sát:

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Chúng tôi đã thiết kế 03 mâu phiếu khảo sát cho 03 nhóm đối tượng khảo sát. Khảo sát học sinh: Phụ lục 01; khảo sát CBQL và giáo viên: Phụ lục 02; khảo sát phụ huynh: Phụ lục 02.

Khảo sát trên CBQL và giáo viên để biết được thực trạng công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh trước tác động của TTXH (Phụ lụ 02). Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Khảo sát trên đối tượng học sinh để biết thực trạng tác động của TTXH hiện nay ảnh hưởng đến hình thành phát triển nhân cách của học sinh để làm căn cứ cho việc đề xuất biện pháp ở chương 3.

Khảo sát đối tượng phụ huynh học sinh để biết được thực trạng nhận thức, đánh giá, quản lý con em trước tác động của TTXH.

  • Phương pháp phỏng vấn
  • Phương pháp Quan sát
  • Phương pháp phân tích số liệu:

Chúng tôi xử lý số liệu bằng phương pháp toán thống kê, Excel để tính %, giá trị trung bình…

  • Phương pháp đánh giá

Tổng hợp số liệu các phiếu điều tra, các thông tin, ý kiến thông qua phỏng vấn, trao đổi với CBQL, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh, thể hiện qua các bảng biểu số liệu. Từ đó đánh giá mức độ nhận thức, mức độ thực hiện và đề ra các biện pháp quản lý hiệu quả ảnh hưởng của TTXH đến giáo dục đạo đức cho học sinh.

2.2. Đặc điểm tình hình giáo dục của các trường nghiên cứu Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

2.2.1. Về cơ sở vật chất và phương tiện

Nhìn chung cơ sở vật chất và phương tiện dạy học theo tiêu chuẩn ở cả 3 nhà trường đều còn thiếu. Về thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học được cấp đủ nhưng không đủ điều kiện phát huy, ngoại trừ trường THPT chuyên Bắc Kạn được đầu tư xây mới đồng bộ gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, hai trường còn lại còn thiếu khá nhiều cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy học. Mặt khác các nhà trường không có kí túc xá cho học sinh ở xa trọ học nên việc quản lí học sinh ngoài giờ học chưa thực hiện được.

2.2.2. Về học sinh

Trường THPT Chợ Đồn: có xấp xỉ 80% học sinh là phải trọ học xa gia đình và trên 62% học sinh trọ tại các lán trại tạm bợ thiếu người quản lí. Học sinh trường THPT Bắc Kạn có tỉ lệ học sinh trọ học xa gia đình thấp hơn do điều kiện đường xá thuận lợi. Học sinh trường THPT chuyên đa số cũng đến từ các huyện trong tỉnh, tuy nhiên so với học sinh của hai trường Chợ Đồn và Bắc Kạn, học sinh trường chuyên có độ tự chủ tốt hơn.

2.2.3. Về chất lượng giáo dục

Trường THPT Chợ Đồn: Chất lượng giáo dục ở mức trung bình khá, học sinh có học lực trung bình chiếm xấp xỉ 50% số lượng học sinh toàn trường, còn có học sinh có học lực yếu kém và hạnh kiểm trung bình, yếu. Học sinh vi phạm điều lệ trường phổ thông còn khá phổ biến.

Trường THPT Bắc Kạn: Trường THPT Bắc Kạn có chất lượng giáo dục mức khá, nhà trường đã được đầu tư xây dựng mới, cùng với sự quan tâm của phụ huynh và các cấp ngành trên địa bàn thành phố chất lượng giáo dục ngày càng được khẳng định và nâng cao qua từng năm học.

Trường THPT chuyên: Chất lượng giáo dục của nhà trường đứng đầu trong tỉnh, hàng năm tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt từ 92% trở lên, học sinh đạt giải học sinh giỏi hàng năm chiếm 65-70% số giải của toàn tỉnh, có nhiều em đạt giải trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia. Bên cạnh hoạt động dạy và học nhà trường còn thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các phong trào thể dục thể thao, các hoạt động từ thiện, nhân đạo… để phát triển toàn diện nhân cách học sinh.

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng

2.3.1. Thc trng nhn thc v vai trò ca các lực lượng trong GDĐĐ cho hc sinh THPT ca CBQL, giáo viên, ph huynh, hc sinh. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

  • a) Thực trạng nhận thức của học sinh

Thực trạng nhận thức của học sinh về về vai trò của các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh THPT được xử lý qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.1: Nhận thức của học sinh về vai trò của các lực lượng giáo dục trong GDĐĐ học sinh THPT

Qua bảng 2.1 có thể thấy học sinh đánh giá rất cao vai trò của cha mẹ, người thân, bạn bè, cá nhân mỗi học sinh. Đây là những lực lượng, những tác nhân quan trọng trong GDĐĐ học sinh dưới góc nhìn của học sinh. Có thể thấy lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi mà tự ý thức đã phát triển mạnh, sự tự ý thức về cái tôi cá nhân cũng như xu hướng tự đánh giá cao bản thân cũng có thể là lý do khiến cho học sinh đánh giá yếu tố “Tự bản thân” mình là quan trọng nhất trong giáo dục học sinh. Việc học sinh tự đánh giá bản thân học sinh có vai trò quan trọng cũng là một thuận lợi cho công tác GDĐĐ học sinh.

Bên cạnh đó GVCN dù có thứ bậc đứng thứ 4 nhưng giá trị trung bình không thấp hơn các yếu tố xếp thứ bậc cao hơn. Điều này chứng tỏ học sinh cũng đánh giá cao vai trò của thầy, cô trong việc giáo dục định hình và hoàn thiện nhân cách cho các em.

Cộng đồng dân cư là lực lượng được đánh giá là có vai trò quan trọng thấp nhất, và giá trị trung bình cũng rất thấp nằm trong ngưỡng không quan trọng và ít quan trọng. Để có thể có quá trình giáo dục học sinh được thống nhất, bền vững thì cộng đồng địa phương cũng chính là một lực lượng quan trọng để theo dõi, giúp đỡ và tạo ra môi trường thuận lợi cho các hành vi đạo đức của học sinh được thể hiện. Tuy vậy, việc đánh giá thấp lực lượng này cũng là một yếu tố cần cân nhắc đến khi muốn nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

  • b) Thực trạng nhận thức của giáo viên: Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Thực trạng nhận thức của giáo viên về về vai trò của các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh THPT được xử lý qua bảng dưới đây.

  • Bảng 2.2: Nhận thức của Giáo viên về vai trò của các lực lượng giáo dục

Dựa vào bảng trên có thể thấy, giáo viên đánh giá cao vai trò của tất cả các lực lượng giáo dục thông qua giá trị trung bình của các nội dung được hỏi. Trong đó yếu tố cha mẹ, người thân học sinh được giáo viên đánh giá là quan trọng nhất trong quá trình giáo dục học sinh. Có thể thấy, nền tảng giáo dục gia đình có vai trò vô cùng quan trọng cho mỗi học sinh trên hành trình trở thành người trưởng thành. Nền tảng giáo dục gia đình giúp cho giáo dục nhà trường trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều. Việc giáo viên đánh giá cao vai trò của gia đình là một đánh giá hợp quy luật tâm lý; thể hiện vai trò to lớn của gia đình trong GDĐĐ học sinh.

Sau yếu tố “Cha mẹ, người thân”, giáo viên đánh giá “Tự bản thân học sinh” có vai trò quan trọng thứ 2 với GTTB = 2,98. Điều này cũng cho thấy giáo viên THPT kỳ vọng vào sự tự ý thức, tự giáo dục của mỗi học sinh để các em trưởng thành hơn. Trên thực tế, lứa tuổi học sinh THPT đã lớn nhưng kinh nghiệm xã hội còn ít, các em luôn mong muốn được thể hiện mình khi có điều kiện, vì vậy nếu có nhiều cơ hội để giáo dục chính mình các thầy cô đều mong muốn học sinh của mình có cơ hội để thể hiện và tự trưởng thành.

Giáo viên cũng đánh giá cao vai trò của GVCN trong GDĐĐ học sinh. Vì vậy, trong thực tiễn GDĐĐ trong các trường THPT Bắc Kạn nếu phát huy tốt vai trò của đội ngũ GVCN thì chất lượng giáo dục có thể sẽ có sự chuyển biến tích cực.

Giáo viên có đánh giá cao hơn học sinh về vai trò của “Cộng đồng dân cư tại địa phương” trong GDĐĐ học sinh. Điều này chứng tỏ giáo viên trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã nhận thức rất đúng đắn về vai trò của các lực lượng phối hợp quan trọng trong GDĐĐ học sinh. Cần phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng này để nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

  • c) Thực trạng nhận thức của phụ huynh:

Thực trạng nhận thức của phụ huynh về vai trò của các lực lượng trong GDĐĐ học sinh THPT được thể hiện qua bảng dưới đây.

  • Bảng 2.3: Nhận thức của phụ huynh về vai trò của các lực lượng giáo dục

Qua bảng trên nhận thấy, phụ huynh có đánh giá cao về vai trò quan trọng của các lực lượng tham gia vào GDĐĐ học sinh trong đó GVCN được đánh giá là có vai trò quan trọng cao nhất. Điều này thể hiện sự kỳ vọng của các gia đình khi gửi gắm các con đến trường.

Có thể thấy giáo viên là những người có ảnh hưởng lớn đến học sinh, từ hành vi, tình cảm, thói quen… đều tác động trực tiếp hàng ngày đến học sinh. Đối với học sinh THPT nhiều thầy cô là thần tượng của các em, chính vì vậy việc các thầy cô mẫu mực, hành động đúng sai trong mọi hoàn cảnh đều có tác động lớn đến các em học sinh. Cùng với sự tin tưởng của cha mẹ học sinh vào thầy cô giáo, trên thực tế các thầy cô bao giờ cũng được gia đình và các em học sinh trông cậy nhất. Điều này vừa là một niềm vinh dự nhưng cũng là một áp lực lên vai giáo viên, bởi sự mong đợi càng nhiều thì rất dễ dẫn đến những áp lực khi giáo viên có những sơ xuất nào đó.

  • So sánh nhận thức chung của học sinh, phụ huynh và giáo viên về vai trò của các lực lượng GDĐĐ học sinh THPT

Để có cái nhìn đầy đủ về nhận thức của phụ huynh, giáo viên và học sinh về vai trò quan trọng của các lực lượng giáo dục tổng hợp số liệu qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.4: So sánh nhận thức của học sinh, giáo viên và phụ huynh về vai trò của các lực lượng giáo dục

Qua bảng so sánh có thể nhận thấy, học sinh có xu hướng tự đánh giá cao vai trò của bản thân trong quá trình GDĐĐ; giáo viên đánh giá cao vai trò của cha mẹ, người thân; phụ huynh đánh giá cao vai trò của thầy cô. Thời gian gần đây, mạng xã hội lan truyền rất nhanh chóng rất nhiều những hiện tượng tiêu cực như học sinh đánh nhau được quay video đưa lên mạng xã hội; cha mẹ có những hành vi không tôn trọng giáo viên như bắt giáo viên quỳ gối xin lỗi ngay trong sân trường…; giáo viên đi ô tô trong trường đâm gẫy chân học sinh… Rất nhiều những hiện tượng xảy ra gây bức xúc trong dư luận tạo nên những tiêu cực không nhỏ trong ngành giáo dục.

Trước những biến đổi nhanh, mạnh mẽ của TTXH, cần thiết có sự chung tay của các lực lượng giáo dục; sự thống nhất, đồng lòng quyết tâm của gia đình, nhà trường, bản thân mỗi học sinh để quá trình GDĐĐ học sinh được hiệu quả hơn; tránh tình trạng bắt chước, a dua theo các hiện tượng tiêu cực trong ứng xử giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, phụ huynh với giáo viên…

2.3.2. Thc trng s dng mng xã hi ca học sinh dưới góc nhìn ca hc sinh, giáo viên và ph huynh Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

  • Thực trạng sử dụng mạng xã hội của học sinh dưới góc nhìn của học sinh

Trước thực tế là hiện nay mạng xã hội phát triển rất nhanh chóng, có rất nhiều mạng xã hội có những chức năng riêng để tiếp cận đến người dùng; mỗi mạng xã hội cũng có những ảnh hưởng khác nhau đến tình cảm, niềm tin, kỹ năng học tập; thị hiếu thẩm mĩ, thói quen… của người dùng. Đặc biệt là với học sinh THPT, là đối tượng cần phải được học tập, giáo dục đầy đủ cách ứng xử trong cuộc sống thục cũng như cách sử dụng mạng xã hội sao cho có hiệu quả nhất. Để biết học sinh sử dụng thường xuyên và yêu thích mạng xã hội nào, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi số 2.

  • Dưới đây là 5 mạng xã hội phổ biến được học sinh biết đến và sử dụng nhiều nhất.

5 mạng xã hội được học sinh trường THPT Chợ Đồn biết, có sử dụng và thích sử dụng là: Facebook, ZingMe, Youtube, Instagram; Zalo mạng xã hội được học sinh trường THPT Bắc Kạn biết, có sử dụng và thích sử dụng là: Facebook, Youtube, ZingMe, Instagram; Slide Share.

5 mạng xã hội được học sinh trường THPT Chuyên Bắc Kạn biết, có sử dụng và thích sử dụng là: Facebook, ZingMe, Youtube, Instagram; Zalo.

Đây đều là những mạng xã hội có số lượng người sử dụng lớn nhất trên thế giới và tại Việt Nam. Học sinh THPT là những người trẻ tuổi, có xu hướng thích những cái mới lạ và có nhiều tiện ích. Việc học sinh thích sử dụng các mạng xã hội với tỷ lệ cao cũng là phù hợp với tỷ lệ người dùng các mạng xã hội này.

Về việc sử dụng mạng xã hội, học sinh trường THPT Bắc Kạn và trường THPT Chuyên Bắc Kạn có tỷ lệ thích dùng mạng xã hội cao hơn học sinh trường THPT Chợ Đồn, điều này có thể do xuất phát từ vấn đề kinh tế, khi còn có nhiều học sinh ở Chợ Đồn có hoàn cảnh khó khăn. Với xuất phát điểm thấp từ kinh tế gia đình, còn nhiều em chưa có điều kiện để tiếp cận với các phương tiện TTXH thường xuyên. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Facebook là mạng xã hội có tỉ lệ học sinh thích dùng cao nhất, học sinh cũng thường sử dụng mạng xã hội này để chia sẻ, bày tỏ quan điểm, học tập, giao lưu và kết bạn. Facebook đã rút ngắn khoảng cách giữa con người với con người; đặc biệt với học sinh THPT, là lứa tuổi thích giao lưu, kết bạn. Việc sử dụng mạng xã hội đã giúp cho mỗi học sinh có nhiều bạn hơn, kết bạn dễ dàng hơn, từ đó cũng đặt ra nhiều vấn đề trong quản lý học sinh hiện nay.

Trên thực tế, mạng xã hội cho phép người dùng có thể kết bạn thoải mái mà không có tiêu chí nào, việc liên kết đa phương đã khiến cho tất cả mọi người sử dụng mạng xã hội có thể trở thành bạn của nhau. Điều này đã tạo nên rất nhiều lỗ hổng trong công tác quản lý, giáo dục con em của phụ huynh và giáo viên do không thể quản lý hết được con em, học sinh của mình.

Trên mạng xã hội, hiện tượng sử dụng tài khoản ảo không phải là một vấn đề xa lạ, tuy nhiên học sinh THPT lại chưa có nhiều kinh nghiệm ứng xử xã hội tích lũy cho bản thân chính vì vậy việc phân biệt thật – giả, tốt – xấu, đúng – sai là khó cho mỗi học sinh. Rất nhiều học sinh bị người lạ mặt dụ dỗ qua mạng xã hội, nhiều học sinh trở nên yêu thích một vài người nào đó trên mạng xã hội mà không biết người ta đến từ đâu, gốc tích, lai lịch ra sao. Điều này đặt lên vai cha mẹ và giáo viên những áp lực không nhỏ trong việc giáo dục và quản lý con cái. Việc nắm được con cái, học sinh quen ai, thân thiết với ai trên mạng xã hội hẳn sẽ là một khó khăn với cha mẹ và giáo viên, đặc biệt là với cha mẹ và giáo viên không sử dụng mạng xã hội.

  • Thực trạng hiểu biết của giáo viên và phụ huynh về các mạng xã hội học sinh đang sử dụng

Để có thể nắm bắt được việc giáo viên và cha mẹ hiểu biết con mình đang sử dụng các mạng xã hội nào, tôi lập bảng so sánh dưới đây: Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

  • Bảng 2.5: Thực trạng hiểu biết của giáo viên và phụ huynh về các mạng xã hội học sinh đang sử dụng

Qua bảng số liệu chúng tôi nhận thấy, học sinh có t ỷ lệ biết, có sử dụng và thích sử dụng mạng xã hội cao hơn rất nhiều so với đánh giá của giáo viên và phụ huynh. Học sinh biết và sử dụng nhiều mạng xã hội, trong khi giáo viên và cha mẹ nghĩ rằng học sinh không biết và không sử dụng mạng xã hội đó. Trong QLGD con cái và học sinh rõ ràng là nếu cha mẹ và thầy cô hiểu biết về học sinh và con cái nhiều hơn, sẽ dễ dàng tiếp cận, chia sẻ và đồng cảm cũng như có những tác động phù hợp hơn.

2.3.3. Thc trng s dng mng xã hi ca hc sinh, giáo viên, ph huynh

  • a) Thực trạng sử dụng mạng xã hội của học sinh

Để biết được rõ hơn học sinh sử dụng mạng xã hội để làm gì, chúng tôi đã nghiên cứu và tổng hợp được các thông tin về việc học sinh sử dụng mạng xã hội để làm gì, sử dụng như thế nào.

Khi được hỏi học sinh có sử dụng mạng xã hội hay không, 100% các học sinh tham gia trả lời phiếu hỏi đều sử dụng mạng xã hội. Kết quả trung bình của các nội dung được hỏi thể hiện qua bảng 2.6.

Học sinh sử dụng mạng xã hội để chat với bạn bè là nội dung có điểm trung bình cao nhất, các nội dung đều có điểm trung bình khá cao qua đó có thể thấy tần suất học sinh sử dụng mạng xã hội và khai thác hết các tiện ích là phổ biến. Việc này dễ dẫn đến chứng “nghiện” sử dụng mạng xã hội nói chung và các phương tiện TTXH nói riêng. Từ thực tế chúng tôi đi tìm hiểu việc học sinh có thường hay chia sẻ các thông tin biết được trên mạng xã hội hay không, kết quả cho thấy học sinh cũng có xu hướng chia sẻ nhanh những thông tin mình biết, mình thấy dù chưa được kiểm chứng.

  • Bảng 2.6: Mức độ học sinh sử dụng trang mạng xã hội

Thực tiễn cho thấy, tâm lý dễ dãi và sự nặc danh được che đậy khiến hiện tượng một bộ phận giới trẻ nói chung nhận thức phương tiện TTXH là không gian có thể thỏa sức làm mọi thứ mình muốn, nên hành xử vô tội vạ khi tương tác, vô tư và vô tâm khi sử dụng phương tiện TTXH để nhân lên những lối sống, suy nghĩ, tình cảm, hành vi lệch lạc, phản cảm, thiếu văn hóa, sử dụng những ngôn từ thóa mạ, thô tục, bôi nhọ người khác, mạo danh, lừa đảo, vu khống, cờ bạc,… biến nhiều không gian phương tiện TTXH, diễn đàn thành mớ bòng bong hỗn độn của những lời nói, hành vi dung tục, vô bổ; những “thông tin đen” đó lại nhanh chóng bị phát tán bởi tâm lý đám đông, hiếu kỳ của giới trẻ. Hành xử ảo nhưng hậu quả thật, nhiều hệ lụy đã xảy ra hết sức đau lòng và gây bất bình trong xã hội, được các phương tiện truyền thông đại chúng liên tục phản ánh.

  • b) Thực trạng sử dụng mạng xã hội của giáo viên Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Để tìm hiểu giáo viên có sử dụng mạng xã hội hay không, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu qua câu hỏi số 4 và số 5 của phiếu điều tra. Kết quả cho thấy 100% giáo viên của các nhà trường có sử dụng mạng xã hội. Con số này cho thấy, đây là điều kiện cần thiết cho việc giáo viên có thể có những tác động giáo dục hiệu quả trong việc sử dụng truyền thông để GDĐĐ học sinh.

  • Bảng 2.7: Thực trạng sử dụng mạng xã hội của giáo viên

Giáo viên sử dụng mạng xã hội để đọc tin tức, cập nhật tin tức thường xuyên, bên cạnh đó giáo viên cũng sử dụng mạng xã hội để quản lý con cái và học sinh của mình. Với những nội dung được thể hiện qua bảng trên có thể nhận thấy hầu hết các giáo viên đều sử dụng mạng xã hội và khai thác các chức năng nội trội của mạng xã hội. Việc giáo viên sử dụng mạng xã hội cũng là cần thiết bởi trong giai đoạn hiện nay, cần có cách tiếp cận học sinh nói riêng và thế hệ trẻ nói chung qua sự hỗ trợ của các phương tiện điện tử.

Giáo viên sử dụng mạng xã hội một phần để đáp ứng những nhu cầu cá nhân, tuy nhiên với trách nhiệm xã hội của mình, giáo viên cũng có thể sử dụng mạng xã hội để có những ảnh hưởng nhất định đến học sinh.

Câu hỏi số 6 giúp tìm hiểu xem giáo viên quan niệm học sinh sử dụng mạng xã hội như thế nào từ đó có thể nhận biết những tác động nhất định của giáo viên đến học sinh. Kết quả được thể hiện qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.8: Đánh giá của giáo viên về học sinh sử dụng mạng xã hội

Các nội dung được đưa ra hỏi ý kiến được đánh giá với điểm trung bình khá cao. Giáo viên cho rằng học sinh sử dụng mạng xã hội để “Chat với bạn bè” là việc làm có tính thường xuyên nhất. Tiếp sau đó là việc học sinh sử dụng mạng xã hội thường “Chia sẻ ngay một thông tin nào đó mà không cần kiểm chứng”. Đây cũng là một lưu ý trong công tác giáo dục học sinh trong việc sử dụng mạng xã hội. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Giáo viên cho rằng học sinh cũng thường hay chia sẻ ảnh/hình ảnh của cá nhân điều này cũng đồng nhất với việc học sinh tự đánh giá mình hay “Chia sẻ hình ảnh của bản thân” với điểm trung bình cao. Các nội dung đưa ra hỏi ý kiến giáo viên đều có liên quan đến việc chia sẻ thông tin. Điều này có thể nhận thấy là các thông tin rất dễ được lan truyền nhanh khi được học sinh tiếp cận. Đây cũng là một điều cần lưu ý trong công tác giáo dục học sinh làm thế nào để có thể phát huy được việc truyền đạt thông tin một cách nhanh nhất và cần tránh lan truyền những thông tin xấu, những thông tin mang tính “giật gân”, thu hút sự chú ý của công chúng nhằm những mục đích khác.

Tất cả các nội dung được giáo viên đánh giá ở mức độ thường xuyên đến rất thường xuyên, chứng tỏ giáo viên cũng cho rằng mạng xã hội cũng có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của các em học sinh.

  • c) Thực trạng sử dụng mạng xã hội của phụ huynh

Tìm hiểu thực trạng sử dụng mạng xã hội của phụ huynh, trong số 150 phụ huynh được hỏi thì 54% (27/50) phụ huynh học sinh trường THPT Chợ Đồn, 82% (41/50) phụ huynh trường THPT Bắc Kạn, 66% (33/50) phụ huynh trường THPT Chuyên Bắc Kạn sử dụng mạng xã hội. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Thực trạng sử dụng mạng xã hội của phụ huynh được thể hiện qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.9: Thực trạng sử dụng mạng xã hội của phụ huynh

Phụ huynh sử dụng mạng xã hội để “Chat với bạn bè”, “Giải trí”, “Kết nối và giữ liên lạc với bạn bè” là những nội dung có điểm trung bình cao nhất. Bên cạnh đó việc sử dụng mạng xã hội để theo dõi, quản lý con cái cũng có điểm trung bình và thứ bậc cao. Tuy nhiên trong việc quản lý con cái bằng mạng xã hội, với câu hỏi mở số 6 và thông qua phỏng vấn 1 số phụ huynh, nhiều phụ huynh cho rằng việc quản lý con cái qua mạng xã hội là rất khó do không thể quản lý được thời gian của các con, cũng như không có cách thức và sự hiểu biết phù hợp để tiếp cận với công nghệ hiện đại. Dù có thể việc quản lý con cái có nhiều người cho rằng nên để các con tự lập, bố mẹ cần tạo điều kiện và tin tưởng vào các con, nhưng dưới góc độ nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng cần phải quản lý con cái cũng như cách sử dụng mạng xã hội của con cái một cách hợp lý.

So với các thầy cô giáo, phụ huynh sử dụng mạng xã hội có điểm trung bình thấp hơn. Vì vậy rất có thể trong giáo dục học sinh, giáo viên có thể có thuận lợi hơn trong việc tiếp cận học sinh trước các tác động từ mạng xã hội, do việc sử dụng mạng xã hội của giáo viên thường xuyên hơn và khai thác được nhiều chức năng hơn.

Bên cạnh việc tìm hiểu phụ huynh sử dụng mạng xã hội để làm gì, chúng tôi cũng tiếp tục tìm hiểu về việc phụ huynh có quan điểm như thế nào về cách sử dụng mạng xã hội của con em mình. Dưới đây là kết quả tổng hợp:

  • Bảng 2.10: Đánh giá của phụ huynh về sử dụng mạng xã hội của các con

Cũng giống với giáo viên, phụ huynh cho rằng học sinh sử dụng mạng xã hội để “Chat với bạn bè” là việc làm thường xuyên nhất. Việc cả thầy cô và cha mẹ cùng quan điểm như vậy trong cách nhìn nhận, đánh giá học sinh một mặt nói lên việc có thể học sinh đã sử dụng thời gian vô bổ vào việc không cần thiết nhưng cũng có thể là một cái nhìn áp đặt dẫn đến những trách mắng gây nên ức chế tâm lý cho học sinh. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Dưới góc nhìn của cha mẹ, phụ huynh cũng nhận thấy học sinh “Chia sẻ, cập nhật tin tức của bản thân” với mức độ thường xuyên cao. Trong thực tế, tác giả nhận thấy có sự mâu thuẫn trong cách sử dụng mạng xã hội của người trẻ với các bậc cha chú. Trong khi người lớn ít chia sẻ hình ảnh, tin tức cá nhân trên mạng xã hội thì tuổi trẻ lại thích chia sẻ mọi điều: từ ăn mặc, đi lại, du lịch hay thậm chí có xu hướng thích thu hút sự chú ý từ cộng đồng mạng xã hội. Sự mâu thuẫn trong quan niệm của các thế hệ nên được giải quyết để tìm ra hướng giúp cho học sinh được thoải mái sẻ chia nhưng biết tạo ra những “hành lang an toàn” cho chính bản thân học sinh và gia đình.

2.3.4. Thc trng cm nhn ca hc sinh, giáo viên, ph huynh khi s dng mng xã hi

Để có thêm những thông tin giúp cho việc đưa ra những giải pháp hiệu quả trong GDĐĐ học sinh, chúng tôi tiếp tục tiến hành tìm hiểu về cảm nhận khi sử dụng mạng xã hội của học sinh, giáo viên, phụ huynh. Kết quả được thể hiện qua bảng dưới đây:

  • a) Cảm nhận của học sinh

Những cảm nhận của học sinh khi sử dụng mạng xã hội được thể hiện qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.11: Đánh giá của học sinh về sử dụng mạng xã hội

Học sinh cho rằng “Mạng xã hội là công cụ hữu hiệu để kết nối mọi người với nhau”. Đây là nội dung có giá trị trung bình cao nhất trong các quan điểm được đưa ra để trưng cầu ý kiến của học sinh. Ngày nay bên cạnh giao tiếp trực tiếp, giao tiếp qua mạng xã hội là một phần của cuộc sống của giới trẻ. Tuy nhiên cũng như đã phân tích ở các nội dung trên việc giao tiếp trên mạng xã hội nhiều dễ dẫn đến việc học sinh xa rời cuộc sống thực tiễn, sống mờ nhạt lý tưởng, tự huyễn hoặc bản thân bởi hình ảnh “lung linh”qua các phần mềm hỗ trợ; hoặc thậm chí không biết xử lý những rắc rối trong cuộc sống thực dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng gây nên những vụ bạo lực học đường nghiêm trọng. Việc học sinh sử dụng mạng xã hội quá nhiều cũng cần người người lớn can thiệp, định hướng để điều chỉnh các em có những hành vi phù hợp với cuộc sống thực.

Học sinh cũng “cảm thấy hạnh phúc khi được chia sẻ và kết nối qua mạng xã hội”, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tâm lý của tuổi trẻ khi có thêm càng nhiều bạn càng vui. Với vốn kinh nghiệm xã hội ít, việc lựa chọn bạn chơi không phải học sinh nào cũng ý thức được nên người lớn cũng cần có những định hướng nhất định cho học sinh biết “chọn bạn mà chơi”.

Một trong những nhận định mà chúng tôi quan tâm đến khi thực hiện nghiên cứu là vấn đề giáo viên định hướng và giáo dục học sinh như thế nào trên mạng xã hội. Thông qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy học sinh ghi nhận việc giáo viên có định hướng và giáo dục học sinh thông qua mạng xã hội. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Ở đây có thể nhận thấy, giáo viên có “hướng dẫn học sinh cách sử mạng xã hội hiệu quả” và “thường xuyên giáo dục học sinh của mình thông qua tương tác trên các mạng xã hội”. Tuy nhiên, giá trị trung bình của các nhận định này thấp cũng đồng nghĩa với việc học sinh ít ghi nhận những việc làm này của giáo viên. Như vậy, trong mỗi nhà trường, cần có những giúp đỡ, định hướng, giáo dục học sinh một cách đậm nét hơn, hướng đến những kết quả rõ ràng hơn trong nhận thức và hành vi của học sinh.

Qua điều tra nghiên cứu, chúng tôi cũng nhận thấy các giáo viên dưới 35 tuổi có sự định hướng và giáo dục học sinh qua mạng xã hội tốt hơn; đây cũng là đối tượng giáo viên trẻ, sự cập nhật và thuần thục trong việc sử dụng các phương tiện điện tử hiện đại có thuận lợi hơn so với các giáo viên lớn tuổi. Vì vậy cần phát huy tốt hơn nhóm đối tượng giáo viên này trong hướng dẫn học sinh sử dụng mạng xã hội; đồng thời kết hợp với những giáo viên có kinh nghiệm để có thể tác động giáo dục học sinh hiệu quả nhất.

  • b) Cảm nhận của giáo viên

Tiếp tục tìm hiểu xem giáo viên sử dụng mạng xã hội như thế nào,chúng tôi thu được những thông tin theo bảng dưới đây:

  • Bảng 2.12: Đánh giá của giáo viên về sử dụng mạng xã hội

Qua bảng số liệu có thể nhận thấy các nhận định của giáo viên có giá trị trung bình cao hơn so với học sinh. Trong đó giáo viên nhận định rằng, trong các nội dung được hỏi, nội dung “thường xuyên giáo dục học sinh của mình thông qua tương tác trên các mạng xã hội” là nội dung có giá trị trung bình cao nhất với  = 2,54. Đối với giáo viên, chúng tôi có bổ sung thêm nội dung “Đồng nghiệp của đồng chí thường xuyên hướng dẫn học sinh cách sử dụng mạng xã hội hiệu quả”, qua kết quả trả lời cũng nhận thấy các giáo viên có ghi nhận sự tác động từ phía đồng nghiệp tới các học sinh.

Nội dung “Hiện nay nhờ liên lạc qua các mạng xã hội nên việc gặp gỡ ngoài đời là không cần thiết” có giá trị trung bình thấp nhất có nghĩa là không đồng ý với nhận định trên. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

2.3.5. Thc trng qun lý giáo dục đạo đức hc sinh trước tác động ca truyn thông xã hi

2.3.5.1. Nhn thc ca giáo viên, hc sinh, ph huynh v thc trng tác động của TTXH đối vi GDĐĐ hc sinh

  • Bảng 2.13: Nhận thức của học sinh về thực trạng tác động của TTXH đối với GDĐĐ học sinh

Qua số liệu ở bảng trên cho thấy, TTXH có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề nhận thức trong GDĐĐ học sinh hiện nay. Trên cơ sở nội dung khảo sát thực trạng trên, chung tôi thấy mạng TTXH có tác động đến cả hai khía cạnh đó là tác động tích cực và tiêu cực. Hầu hết những vấn đề được đặt ra để hỏi thì các đối tượng trả lời trung bình ở 3 mức độ rất đồng ý, cơ bản đồng ý và đồng ý cơ bản chiếm tỷ lệ cao. Bên cạnh đó, tỷ lệ không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Với những ảnh hưởng tích cực cần được các lực lượng giáo dục tiếp tục phát huy, nhân rộng thì những hạn chế, mặt tiêu cực của ảnh hưởng TTXH cũng cần được nhìn nhận, đánh giá một các khách quan, đúng thực tế và có những biện pháp nhằm làm giảm thiểu để hoạt động giáo dục được hiệu quả, nhất là giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.

Ngoài những phiếu hỏi và kết quả phân tích nêu trên, chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu thực trạng qua quan sát, trao đổi tại cộng đồng khu dân cư có nhiều học sinh xa nhà trọ học và ở với gia đình. Hầu hết các học sinh sử dụng điện thoại thông minh và sử dụng chúng với nhiều mục đích khác nhau rất khó kiểm soát. Vấn đề này cũng có những mặt ảnh hưởng tích cực đối với học sinh đó là việc liên kết trao đổi thông tin, truy cập những trang mạng có ý nghĩa tích cực để có thêm kiến thức hỗ trợ học tập và tu dưỡng, rèn luyện. Tuy nhiên, nó cũng ảnh hưởng không ít đến kinh tế, thời gian học tập, sức khỏe, thậm trí truy cập vào những địa chỉ đen, xấu, độc dẫn đến không làm chủ được bản thân nên có những biểu hiện trái với thuần phong, mỹ tục và quy định của pháp luật, nội quy nhà trường. Vậy chúng ta khẳng định rằng TTXH có ảnh hưởng rất lớn đến GDĐĐ cho học sinh, qua phân tích ở trên cho thấy nó ảnh hưởng đến cả nhận thức, thái độ và hành vi. Do vậy rất cần sự quan tâm của các lực lượng giáo dục để nâng cao hiệu quả GDĐĐ học sinh trước tác động của TTXH hiện nay. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Từ những nhận định trên, chúng tôi trực tiếp phỏng vấn 09 học sinh tại các trường trong phạm vi nghiên cứu (mỗi trường 03 học sinh). Câu hỏi đưa ra phỏng vấn chung cho học sinh các trường (Tại sao em thích sử dụng mạng xã hội ? Khi sử dụng mạng xã hội em thích nhất là để làm gì ? Sử dụng mạng xã hội em thấy có ảnh hưởng đến giá trị hành vi đạo đức ?).

Với những câu hỏi phỏng vấn trên, hầu hết các em học sinh đều trả lời rằng: Mạng xã hội rất phong phú, đa dạng, cập nhật tất cả những vấn đề trền toàn thế giới, nhu cầu của con người thì cần cập nhập những thông tin, chia sẻ thông tin, kết bạn, trao đổi kinh nghiệm, tìm hiểu kiến thức…; Tuy vậy, khi sử dụng mạng xã hội cũng cần phải đúng lúc, đúng nơi, truy cập những trang mạng xã hội tích cực, bổ ích cho học tập và rèn luyện. Nếu sử dụng không đúng mục đích sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực gây hậu quả khó lường. Trong thực tế cho thấy, đã có những bạn trẻ sử dụng mạng xã hội không làm chủ được bản thân, luôn tìm tòi khám phá những trang mạng xấu, độc và chia sẻ câu khách hoặc học tập đua đòi những hình ảnh, clíp xấu để thực hiện theo dẫn đến có những hành vi vi phạm đạo đức lối sống trong nhà trường, xã hội.

Trước thực trạng trên, chúng tôi cũng trực tiếp trao đổi, phỏng vấn đối với một số cán bộ quản lý cấp trường thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu. Trong đó có đặt vấn đề dưới góc độ vai trò, trách nhiệm của nhà quản lý trong nhà trường trước ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ cho học sinh hiện nay. Nội dung trao đổi, phỏng vấn tập trung vào thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức; việc lập kế hoạch quản lý GDĐĐ; việc quản lý các nội dung hoạt động GDĐĐ; hoạt động quản lý công tác kiểm tra, đánh giá GDĐĐ… Hầu hết cán bộ quản lý được trao đổi cho rằng: Trong thực tế hiện nay, trước thực trạng trên, nhà trường đều nhận thức được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục, đặc biệt là vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh. Từ những vấn đề đó, trường cũng đã có những giải pháp, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở góc độ định hướng, tuyên truyền, nhắc nhở thông qua các buổi sinh hoạt là chủ yếu; chưa có những biện pháp đi sâu để giáo dục thực sự hiệu quả; ít có những văn bản chỉ đạo, quy định cụ thể; các hoạt động cũng ít lồng ghép nội dung này; chưa phát huy được vai trò của các lực lượng giáo dục đề nâng cao hiệu quả chất lượng GDĐĐ cho học sinh.

2.3.5.2. Thc trng qun lý giáo dục đạo đức học sinh trước tác động ca TTXH

  • Thực trạng quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trước tác động của TTXH

Bảng 2.14: Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trước tác động của TTXH Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Số liệu bảng 2.14 cho thấy hiệu trưởng các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã triển khai khá đồng bộ các chương trình, kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH. Tuy nhiên điểm số trung bình hầu hết các nội dung <3.25 cho thấy hiệu quả các biện pháp này là chưa cao.

Việc quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH cần phải được làm tốt hơn trong giai đoạn tới.

  • Thực trạng quản lý đội ngũ thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH

Bảng 2.15: Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý đội ngũ thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH

Số liệu bảng 2.15 cho thấy công tác quản lý đội ngũ thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trước tác động của TTXH của các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã được chú trọng, điểm đánh giá mức độ thực hiện công tác này là tốt (>3.25). Như vậy có thể thấy các nội dung được thực hiện tương đối đều nhau.

  • Thực trạng quản lý tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh trước tác động của TTXH

Bảng 2.16: Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh trước tác động của TTXH

Kết quả cho thấy việc quản lý thực hiện các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trước tác động của TTXH được thực hiện với mức độ khác nhau, điểm trung bình dao động trong khoảng từ 1.37 đến 2.91. Như vậy trong nội dung này, việc “Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch theo chương trình và thời gian biểu” có điểm trung bình thấp nhất, điều này được thể hiện công tác tổ chức hoạt động còn chưa được thực hiện hiệu quả và theo dúng kế hoạch đề ra. Việc “Kiểm tra các sản phẩm hoạt động (sổ sách, hồ sơ…)” được thực hiện có điểm trung bình cao nhất thể hiện việc kiểm tra còn nặng về hành chính hóa, chưa tập trung nhiều đến thiết kế, tổ chức các hoạt động trong thực tiễn.

  • Thực trạng đánh giá mức độ giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH

Bảng 2.17: Mức độ thực hiện các biện pháp đánh giá mức độ giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH

Số liệu bảng 2.17 cho thấy các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác đánh giá đạo đức học sinh đều được chứ trọng, mức độ thức hiện tốt với điểm trung bình từ 2.72 đến 3.72. Hoạt động “Quản lý giáo viên đánh giá học sinh theo đặc trưng tâm lý lứa tuổi để có những điều chỉnh kịp thời trong kế hoạch giáo dục” có điểm trung bình thấp nhất, và “Quản lý giáo viên đánh giá học sinh thường xuyên trong các hoạt động hàng ngày” có điểm trung bình cao nhất.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Trường THPT Chợ Đồn, Bắc Kạn và Chuyên Bắc Kạn được lựa chọn để điều tra nghiên cứu trên các đối tượng học sinh, giáo viên và phụ huynh. Đại đa số các ý kiến có sự tương đồng trong quan điểm nhận thức về vai trò của mạng xã hội và vai trò của GDĐĐ học sinh trước tác động TTXH. Đánh giá về vai trò của các lực lượng giáo dục trong GDĐĐ học sinh trước ảnh hưởng của các phương tiện TTXH, học sinh đánh giá cao vai trò của chính cá nhân mình; giáo viên đánh giá cao vai trò của cha mẹ học sinh; phụ huynh đánh giá cao vai trò của giáo viên.

Ngày nay, học sinh biết và sử dụng nhiều mạng xã hội khác nhau, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi là thích tìm tòi khám phá và trải nghiệm những cái mới. Tuy nhiên giáo viên và phụ huynh chưa thể tiếp cận được hết với những mạng xã hội mà các con em mình sử dụng. Có nhiều mạng xã hội học sinh đã biết, đã sử dụng nhưng giáo viên và phụ huynh lại cho rằng con em mình không biết, không sử dụng. Chính vì vậy, các nội dung điều tra việc sử dụng mạng xã hội của giáo viên và phụ huynh là rất cần thiết, qua đó để biết được các đối tượng sử dụng như thế nào có cùng chung mục đích hay không. Việc điều tra sử dụng mạng xã hội của giáo viên và học sinh để có các cơ sở đề xuất những biện pháp quản lý học sinh sử dụng mạng xã hội hiệu quả hơn. Như vậy, trong GDĐĐ học sinh thì giáo viên và phụ huynh cần sử dụng mạng xã hội như một kênh thông tin, đặt mình vào giới trẻ để kịp thời, định hướng, uốn nắn trước phát triển, tác động quá nhanh của công nghệ thông tin, TTXH.

Đánh giá của học sinh, giáo viên cũng có những điểm tương đồng khi sử dụng mạng xã hội, bên cạnh đó cũng đặt ra vấn đề giáo viên cần có những định hướng cho học sinh sử dụng hiệu quả mạng xã hội; đồng thời có những tác động giáo dục cụ thể trước những ảnh hưởng của TTXH đến học sinh. Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD.

Quản lý giáo dục đạo đức học sinh trước các tác động của TTXH đã được các nhà trường thực hiện với các mức độ khác nhau, có nội dung các nhà trường đã thực hiện tốt nhưng có nội dung chưa thực hiện tốt. Do đó trong thời gian tiếp theo, các nhà trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn cần phát huy các nội dung đã thực hiện tốt đồng thời khắc phục, điều chỉnh những nội dung chưa thực hiện tốt để công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH mang lại hiệu quả cao hơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537