Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường Trung học cơ sở Hồng Đức dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về trường THCS Hồng Đức

Trường THCS Hồng Đức được thành lập từ năm 1967. Nhìn lại chặng đường 46 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, trường cũng có những năm tháng thăng trầm cùng với lịch sử của dân tộc. Song với tình yêu nghề, quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ của các thầy giáo, cô giáo và tinh thần hiếu học của các em học sinh, thầy và trò trường THCS Hồng Đức ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong ngành giáo dục, đạt được những thành tích rất đáng tự hào.

Trải qua 50 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, từ mái trường THCS Hồng Đức thân yêu đã có biết bao thế hệ học trò trưởng thành, thành đạt trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, … Trong những học trò thành đạt đó tiêu biểu là đ/c Nguyễn Mạnh Hiển bí thư Tỉnh ủy Hải Dương. Có những học trò đã phát huy truyền thống hiếu học của quê hương tiếp tục theo học và trở thành tiến sĩ trong nhiều lĩnh vực như tiến sĩ kĩ thuật Nguyễn Phú Linh hiện đang công tác ở Viện vũ khí tổng cục công nghệ quốc phòng. Có những học trò nay là những doanh nhân thành đạt như anh Dương Văn Nhân anh Nguyễn Văn Thu, …. Nhiều người trong số học trò của nhà trường đã giữ vị trí, trọng trách cao trong các cơ quan Nhà nước như anh Tạ Văn Đôi – Phó giám đốc kho bạc nhà nước Tỉnh Lai Châu và nhiều học trò khác. Bên cạnh những học sinh đã thành đạt ở các lĩnh vực khác nhau, còn có những học sinh đã anh dũng hi sinh bảo vệ tổ quốc góp phần tô thắm thêm trang sử vẻ vang anh hùng của dân tộc.

Trong 4 năm học vừa qua từ năm 2021 – 2025 nhà trường đã từng bước khẳng định được vị thế của mình cụ thể:

  • Về kết quả học sinh

Tuyển sinh hằng năm đạt 100% trở lên so với số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học. Học sinh lên lớp sau kiểm tra lại trong hè đạt 100%. Học sinh lớp 9 tốt nghiệp THCS đạt 100%. Tỉ lệ học sinh thi đỗ vào trường THPT công lập và học các hệ đạt 90% đứng tốp đầu trong huyện. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

  • Về giáo viên

Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên gồm 24 đồng chí (22 trong biên chế, 02 hợp đồng: Trong đó: 01 giáo viên Ngữ văn, 01 giáo viên Toán – Tin )

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trẻ với tuổi đời trung bình là 35,5 tuổi, nhiệt tình, có trách nhiệm, gắn bó với công việc, biết chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công tác. Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên đồng đều đáp ứng tốt được yêu cầu đổi mới giảng dạy.

  • Về phổ cập giáo dục THCS

Tuyển sinh vào lớp 6 hàng năm đạt 100%. Duy trì tốt sĩ số học sinh.

Xã hoàn thành tốt công tác phổ cập giáo dục THCS năm 1999, từ đó đến nay luôn giữ vững xã đạt chuẩn PCGD – XMC với chất lượng cao.

Các đoàn thể trong trường

  • Chi bộ Đảng: Hàng năm chi bộ đều đạt chi bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu.
  • Công Đoàn: Hàng năm đều đạt vững mạnh.
  • Liên đội: Hàng năm đều đạt xuất sắc cấp tỉnh, được Trung ương đoàn tặng bằng khen.

Thư viện đạt chuẩn từ năm 2006 và được công nhận thư viện tiên tiến năm 2020 và xuất sắc năm 2025. Từ năm 2000 đến năm 2025 trường luôn đạt danh hiệu trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc, đặc biệt năm học 2024 – 2025 trường đạt danh hiệu tập thể LĐXS đạt là cờ đầu trong ngành GD huyện Ninh Giang, được chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen.

2.2. Những vấn đề chung về khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Tiến hành khảo sát để nhận định đánh giá thực trạng việc quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS Hồng Đức, tổ chức thực hiện đánh giá kết quả việc phát triển VHTC, điều kiện và các nhân tố ảnh hưởng trong mối tương quan giữa nhận thức và mức độ thực hiện của CBQL, CBGV, NV và HS. Trên cơ sở đó thu thập, phân tích số liệu, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu làm cơ sở để đưa ra những biện pháp quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS Hồng Đức – huyện Ninh Giang – tỉnh hải Dương

2.2.2. Nội dung khảo sát

Nội dung khảo sát tập trung vào các vấn đề nhận thức của CBQL, GV và NV về văn hóa, văn hóa tổ chức, việc quản lý phát triển văn hóa tổ chức trong trường học, vai trò và những tác động của văn hóa tổ chức đến các thành viên trong nhà trường, những ảnh hưởng của VHTC đến mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường.

2.2.3. Đối tượng và phạm vi khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát ở 3 nhóm đối tượng: 6 CBQL, 24 cán bộ GV, NV và 320 học sinh của trường THCS Hồng Đức huyện Ninh Giang – tỉnh Hải Dương

2.2.4. Phương pháp khảo sát và phương pháp xử lý kết quả khảo sát

  • Phương pháp khảo sát

Đề tài sử dụng 2 mẫu phiếu dành cho CBQL và GV ( mẫu phiếu phụ lục…..) ; 2 mẫu phiếu chỉ dành cho giáo viên ( mẫu phiếu phụ lục…..); 2 mẫu phiếu dành cho học sinh ( mẫu phiếu phụ lục…..) và 01 mẫu phiếu dành cho phụ huynh học sinh ( mẫu phiếu phụ lục…..), đồng thời phối hợp sử dụng các phương pháp phỏng vấn, quan sát để đánh giá thực trạng quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS Hồng Đức.

  • Phương pháp xử lý kết quả khảo sát

Quá trình phân tích, xử lý số liệu được tiến hành bằng phương pháp định lượng ( phần mềm Excel) và định tính ( phỏng vấn). Bên cạnh đó tác giả sử dụng thang đo 5 bậc tương ứng với thang đo điểm 5 để phân tích các số liệu thu được trong quá trình khảo sát, luận giải các thông số .

2.2. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS Hồng Đức.

2.2.1. Nhận thức và mức độ thực hiện quản lý phát triển văn hóa tổ chức Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

  • Nhận thức của cán bộ quản giáo viên về văn hóa, văn hóa tổ chức.

Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý về văn hóa, văn hóa tổ chức trong trường THCS Hồng Đức, câu hỏi thứ nhất mà chúng tôi chưng cầu ý kiến là: “ Thầy (cô) hiểu văn hóa là gì? ( Câu 1- phụ lục 1). Trong 3 đáp án đưa ra có 14 GV và CBQL ( 58,3%) hiểu đúng, còn lại 10 GV và CBQL ( 41,7%) hiểu chưa đầy đủ về văn hóa. Chúng tôi đạt câu hỏi tương tự như vậy để đánh giá thực trạng nhận thức của GV và CBQL về văn hóa tổ chức trường học: “Thầy(cô) hiểu văn hóa tổ chức trường học là gì? Trong 3 đáp án đưa ra có 12 GV và CBQL ( 50%) hiểu đúng khái niệm về văn hóa tổ chức trường học. Qua phỏng vấn VG và CBQL, hầu hết các thầy cô đều đưa ra những nội dung về văn hóa, văn hóa tổ chức trường học đúng, nhưng chưa có nhận định khái quát dẫn đến hiểu sai về khái niệm. Kết quả thể hiện ở bảng 2.1

  • Bảng 2.1. Nhận thức về văn hoá, văn hoá tổ chức ở trường THCS.
  • Nhận thức của CBQL, GV,về vai trò của phát triển văn hóa tổ chức

Để tìm hiểu hiệu quả thực chất của cuộc vận động này và thực trạng công tác phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức, tôi đã dùng phiếu trưng cầu ý kiến của 6 CBQL ( gồm Hiệu trưởng, PHT, các tổ trưởng, tổ phó) , 18 giáo viên, 320 học sinh về mức độ cần thiết có các nội dung phát triển VHTC tại thời điểm tháng 11 năm 2025. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.2

  • Bảng 2.2. Đánh giá mức độ nhận thức của CBQL, GV về vai trò của văn hóa tổ chức
  • Một số nhận xét: Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Qua bảng tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL, GV mức độ nhận thức là khác nhau nhưng đa số cán bộ quản lý, giáo viên đều cho rằng vai trò của VHTC là rất cần và cần. Cụ thể: Số CBQL (chiếm 100%), giáo viên (chiếm 77,7%).

Như vậy 100% CBQL trường THCS Hồng Đức nhận thức rằng văn hóa tổ chức trường học là cần thiết phải có trong một trường học. Để so sánh kết quả từ đó có những đánh giá chung nhất, chúng tôi phỏng vấn 2 Hiệu trưởng trường THCS An Đức và THCS Vạn Phúc ( trong cụm) bằng câu hỏi: “Thầy hãy đánh giá mức độ cần thiết của VHTC trường học trong đơn vị của thầy”? chúng tôi có câu trả lời là rất cần thiết .

Có thể nói rằng, hiện tại văn hóa tổ chức mà cụ thể là một số loại văn hóa cơ bản đang tồn tại trong các nhà trường đang bị mai một, nó thể hiện ra bên ngoài mà các nhà quản lý cũng đã nhìn ra, họ cho rằng cần thiết phải phát triển văn hóa tổ chức.

Tuy nhiên vẫn còn 22,2% số giáo viên cho rằng không cần thiết, có thể đánh giá những giáo viên này có thể nhận thức chưa rõ khái niệm văn hóa tổ chức trường học hoặc có thể là sự bất cần hay họ cho rằng “có phát triển cũng thế thôi”. Như vậy là người quản lý trước tiên phải có biện pháp thay đổi nhận thức của bộ phận giáo viên này.

Chúng tôi còn sử dụng câu hỏi số 4 ( phụ lục 1): “ Thầy ( cô) cho biết ý kiến về vai trò của phát triển văn hóa tổ chức trong trường THCS Hồng Đức”? để khảo sát 18 GV và 6 CBQL trong trường. Kết quả thể hiện bảng 2.3 như sau:

2.3. Nhận thức của CBQL, GV về vai trò của phát triển văn hóa tổ chức Bảng 2.3. Nhận thức về vai trò của phát triển VHTC ở trường THCS

Nội dung bảng trên cho thấy hầu hết cán bộ GV và CBQL đánh giá cao vai trò của phát triển VHTC, với 95,83% GV và CBQL cho rằng: “Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong nhà trường góp phần phát triển môi trường giáo dục trong nhà trường”; 91,67% . GV và CBQL nhất trí cao: “Phát triển VHTC góp phần bồi dưỡng hứng thú, tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động giảng dạy và học tập, là yếu tố đảm bảo chất lượng giảng dạy và học tập” 91,67% GV và CBQL đồng ý: “Phát triển VHTC tác động tích cực đến việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh”…Đây là một điều rất có ý nghĩa, thể hiện mối quan tâm cũng như vai trò, tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, giáo viên trong việc phát triển văn hóa tổ chức trường THCS Hồng Đức. Với kết quả bảng trên, thể hiện tính khách quan về nhận thức của GV, CBQL, bên cạnh đó cũng khẳng định tính chính xác việc xác định vai trò của phát triển VHTC.

2.3.1. Thực trạng nhận thức và mức độ thực hiện của cán bộ quản lý về tác động của công tác phát triển văn hóa tổ chức. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

THCS Hồng Đức đang tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng “Nhà trường văn hóa, thầy giáo mẫu mực, học sinh thanh lịch” và thực hiện khẩu hiệu “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Để tìm hiểu hiệu quả thực chất của cuộc vận động này và thực trạng công tác xây dựng VHTC ở trường THCS. Tôi đã dùng phiếu trưng cầu ý kiến của 6 CBQL ở trường THCS Hồng Đức về mức độ cần thiết và mức độ thực hiện các nội dung xây dựng VHTC vào tháng 11 năm 2025. Kết quả thu thể hiện ở bảng 2.4

  • Bảng 2.4. Nhận thức và mức độ thực hiện của cán bộ quản lý về tác động của công tác phát triển VHTC
  • Một số nhận xét:

Nhìn vào bảng tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ nhận thức của CBQL về công tác xây dựng VHTC ở trường THCS Hồng Đức cho thấy:

Đa số CBQL đều đánh giá cao mức độ rất cần thiết cần phải xây dựng VHTC.

Với nội dung: Hâm nóng bầu không khí chung bằng nụ cười, câu chào hỏi cởi mở làm cho mọi người cảm thấy hạnh phúc khi được làm việc trong nhà trường, số CBQL đánh giá mức độ rất cần thiết cần phải có việc làm này chiểm tỷ lệ khá cao (66,7%). Qua tìm hiểu đa số người được hỏi cho rằng: Bầu không khí khi làm việc là một yếu tốt rất quan trọng, khi tâm lý làm việc thoải mái, cởi mở thì người lao động sẽ hăng say, nhiệt tình làm việc và hiệu quả công việc sẽ tăng lên.

Tuy vậy, vẫn còn 1 CBQL ( 16,7%) có ý kiến cho rằng không cần phải xây dựng nội dung này vì họ quan niệm rằng trong môi trường giáo dục cần phải nghiêm túc, thực hiện theo mệnh lệnh quyết định. Cũng từ nhận thức chưa sâu nên tỉ lệ CB đánh giá mức độ thực hiện trung bình chiếm 66,7%. Do vậy, đây cũng là công tác mà nhà trường cần phải có định hướng rõ ràng.

Có tới 66,7% số CBQL cho rằng: thu thập thông tin, trợ giúp các thành viên tham gia quá trình tự quản là rất cần thiết vì hiện nay ở thời đại 4K, các thành viên trong tổ chức có nhiều mối quan hệ khác nhau, lượng thông tin lớn tác động nhiều chiều nên việc thu thập thông tin, trợ giúp thành viên là một việc làm đầy ý nghĩa. Nhưng vẫn còn 1 CBQL cho rằng công tác này là không cần thiết. Số CBQL nhận thức mức độ cần thiết và rất cần thiết nhưng khi bắt tay vào thực hiện thì chưa tốt hay ở mức trung bình, thể hiện ở 33,3% CB cho rằng việc thu thập thông tin, trợ giúp các thành viên tham gia quá trình tự quản của nhà trường thực hiện ở mức độ trung bình vì ý thức tự giác của mỗi thành viên chưa cao.

66,7% số CB nhận thức được rằng: Kích thích nhu cầu cống hiến xã hội và nhu cầu tự khẳng định của bản thân là rất cần thiết; 33,3% cho rằng cần thiết. Về mức độ thực hiện thì chỉ ở mức độ trung bình chiếm 50%, tốt chiếm 33,3 %, chưa tốt chiếm 16,7%. Vì sự cống hiến phải đi liền với chính sách đãi ngộ, phải đảm bảo quyền lợi cho họ, sự cống hiến của mỗi con người sẽ trở nên giảm sút khi không có sự đãi ngộ tương ứng với công sức mà họ bỏ ra. Do đó, để tạo động lực tốt cho những giáo viên làm việc tốt thì nhà trường cần có chính sách cả về vật chất và tinh thần cho họ. Công tác đãi ngộ với sự cống hiến của trường THCS Hồng Đức nói riêng và các trường THCS trong huyện nói chung còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong công tác bồi dưỡng học sinh mũi nhọn. Giáo viên bồi dưỡng các đội tuyển HSG rất vất vả, nhưng cái họ nhận được không tương xứng với công sức họ bỏ ra, nên những năm gần đây kết quả mũi nhọn của Nhà trường nói riêng, của huyện nói chung thấp.

GV nhận thức được giá trị và tầm quan trọng của việc đạt được mục tiêu đổi mới và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó là một việc làm rất cần thiết chiếm 66,7%, nó giúp cho người GV định hướng được việc làm của mình một cách rõ ràng và cái đích cần đi tới là gì. Tuy nhiên trong thực tế thời gian vừa qua công tác này thực hiện chỉ ở mức độ trung bình chiếm 50% là do trong thời gian qua, nhà trường mới chỉ có vài buổi tập huấn, tổng kết rút kinh nghiệm vào đợt đầu năm học và cuối năm chứ chưa có những buổi học, đợt tập huấn định kỳ cho GV nhận thức đúng đắn, đầy đủ về công việc này.

Như vậy: Qua kết quả điều tra thực trạng mức độ nhận thức và mức độ thực hiện của CBQL về công tác phát triển VHTC ở trên chúng ta có thể đánh giá tóm tắt như sau: Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Về mặt nhận thức, nhà trường đã có những đánh giá cao việc phải để phát triển VHTC. Tuy nhiên khi bắt tay vào thực hiện thì hiệu quả không cao, chỉ đạt được ở mức độ trung bình, đôi khi còn chưa tốt. Điều đó cho thấy, lãnh đạo nhà trường chưa có những chỉ đạo quyết liệt, chưa triệt để, chưa có những biện pháp đồng bộ dẫn tới hiệu quả xây dựng thấp không đạt được kết quả mong muốn, điều này cũng chỉ ra rằng BGH nhà trường đứng đầu là Hiệu trưởng cần có những định hướng rõ ràng hơn, có những chỉ đạo quyết liệt hơn, những biện pháp quản lý đồng bộ hơn để công tác phát triển VHTC đạt được hiệu quả tốt nhất.

2.3.2. Thực trạng nhận thức của CBQL và giáo viên về các mối quan hệ giữa các thành viên nhà trường trong công tác phát triển văn hóa tổ chức

VHTC có ảnh hưởng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường. Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên về các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường trong công tác phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức hiện nay, chúng tôi đã đặt câu hỏi cho 24 CBQL và giáo viên là: “Xin đồng chí cho biết quan hệ giữa giáo viên – giáo viên, giữa lãnh đạo với nhân viên, giữa thầy và trò là quan hệ như thế nào”.

  • Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.5

Bảng 2.5. Tổng hợp kết quả nhận thức của CBQL, GV về các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường trong công tác phát triển VHTC

  • Qua bảng tổng hợp kết quả trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ, khích lệ GV-HS dạy tốt, học tốt, quan hệ được hầu hết GV quan tâm hơn cả chiếm 83,3%. Vì trong nhà trường sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ GV-HS sẽ là nguồn lực giúp cho GV dạy tốt, HS học tốt tạo ra mối quan thân thiện, cởi mở, trao đổi thẳng thắn giữa GV-HS.

75% số GV nhận thức: Người quản lý biết tôn trọng tập thể, vì tập thể mà phát huy tính dân chủ trong các hoạt động của nhà trường. Đây cũng chính là một giá trị VH tốt đẹp tạo nên hệ thống chuẩn mực trong Nhà trường. Nếu người quản lý biết tôn trọng tập thể, vì tập thể thì sẽ nhận được sự ủng hộ của các thành viên trong nhà trường, các thành viên sẽ phát huy được tinh thần dân chủ, lòng nhiệt tình trong các hoạt động của nhà trường.

25% số GV cho rằng: đó là quan hệ mang tính chất quản lý, thiếu tinh thần dân chủ, cởi mở. Khi được hỏi số GV này trả lời: Nhà trường quản lý GV theo giờ chính, giờ đến trường, thời gian ra vào lớp, thực hiện các hoạt động giáo dục khác…quản lý và kiểm tra các loại hồ sơ thường xuyên, đột xuất.. Điều này sẽ tạo ra tâm lý không thoải mái, làm việc không hiệu quả.

Tỷ lệ nhỏ GV cho rằng: Đó là quan hệ mang tính chất độc đoán của người quản lý với cấp dưới, của thầy với trò chiếm 4,17%; nhưng có tới 20,83% GV cho rằng đó là sự đố kỵ ghen ghét giữa các đồng nghiệp, gây mất đoàn kết nội bộ.

Như vậy, qua kết quả đã được phân tích ở bảng 5 ta thấy: đa số GV nhận thức được trong nhà trường phải có sự đoàn kết, gắn bó với nhau, người quản lý biết tôn trọng tập thể, vì tập thể, mình vì mọi người thì mọi người mới vì mình. Tuy nhiên còn một tỷ lệ nhỏ GV thấy rằng đó là quan hệ mang tính quản lý, độc đoán, thiếu tinh thần dân chủ, sự mất đoàn kết nội bộ. Trách nhiệm đó thuộc về CBQL, đó là sự mất công bằng trong sự phân công nhiệm vụ giữa các GV và quyền lợi mà họ được hưởng. Do đó, lãnh đạo nhà trường cần phải thay đổi phong cách làm việc và nhìn nhận được thực chất vấn đề khi giao nhiệm vụ một cách thỏa đáng để tránh ghen ghét, mất đoàn kết nội bộ trong nhà trường.

Về đánh giá mức độ mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường mà chủ thể chính là CBQL, GV và HS. Chúng tôi đưa ra câu hỏi cho 24 CBQL và GV là “Đồng chí hãy đánh giá mức độ mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường”, kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.6.

  • Bảng 2.6. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường của GV

Qua bảng tổng hợp kết quả trên tác giả thấy: Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

  • Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được đa số GV đánh giá là tốt, tỷ lệ đánh giá mối quan hệ đó chưa tốt, hay không rõ là rất ít.
  • Về bầu không khí tâm lý, đạo đức trong tập thể nhà trường có 83,33% số GV đánh giá tốt, tuy nhiên có có tới 12,5% số GV đánh giá mối quan hệ đó ở mức độ bình thường 4,17% cho rằng chưa tốt.

Bầu không khí tâm lý, đạo đức tác động lớn đến chất lượng dạy và học, đến phẩm chất đạo đức của HS. Không thể nói đến chất lượng dạy học, GD có hiệu quả một khi nền nếp kỷ cương trong trường lỏng lẻo, thiếu quy củ thiếu cự đồng thuần từ BGH nhà trường tới các thầy cô giáo và HS, trong đó vai trò của BGH nhà trường là đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy, những trường có bầu không khí tốt có nề nếp dạy học tốt, kỷ cương, chuẩn mực sư phạm được giữ vững, tinh thần dân chủ được phát huy đều có một BGH mạnh (đoàn kết, quản lý giỏi,  ) được GV, HS của trường “tâm phục, khẩu phục”.

Về quan hệ giữa GV với nhau trong đó có mối quan hệ với BGH nhà trường có 75% số các GV đánh giá mối quan hệ này ở mức độ tốt 12,5% đánh giá ở mức độ bình thường; số GV đánh giá mối quan hệ này chưa tốt chiếm 4,17%. Do đó nhà trường cần phải đặc biệt quan tâm đến quan hệ này.

Vì đây là mối quan hệ hợp tác tin cậy, giúp đỡ nhau trong chuyên môn, chia sẻ, cảm thông với những hoàn cảnh riêng tư của nhau, tôn trọng cá tính của nhau. Cùng bàn bạc dân chủ, tạo ra sự đồng thuận cao trong tập thể để giải quyết những vấn đề về dạy học và giáo dục HS một cách có hiệu quả nhất. Một tập thể GV đoàn kết bao giờ cũng có “hạt nhân” là BGH mà người Hiệu trưởng đóng vai trò quyết định. Thực tế cho thấy ở những trường mà tập thể GV mất đoàn kết, BGH thiếu mẫu mực, uy tín thấp đối với GV thì tất yếu là nền nếp, kỉ cương sẽ rối loạn, chất lượng dạy học và giáo dục học sinh sẽ thấp kém.

Về quan hệ giữa GV với HS chiếm 66,7% số GV đánh giá ở mức độ tốt, GV đánh gia mối quan hệ này ở mức độ bình thường là 16,7%; số GV đánh giá mối quan hệ này ở mức chưa tốt là 8,33%; Số GV không biết rõ mối quan hệ này chiếm 8,33%. Quan hệ giữa thầy giáo và HS trong quá trình dạy học và GD thể hiện rõ rệt nhất trong VH ứng xử giữa thầy và trò có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới quá trình dạy học và quá trình GD. Điều đáng buồn là trong thực tế nhà trường hiện nay, hiện tượng GV đối xử thiếu công bằng với HS đang diễn biến phức tạp. Nguyên nhân của hiện tượng này bao gồm cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng rõ ràng là hình ảnh người thầy thiếu mẫu mực, thiếu tình yêu thương HS để lại dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí HS. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Có một thực tế là không ít HS hiện nay thiếu lễ phép với thầy cô có những biểu hiện về thái độ hành vi xúc phạm tới thầy cô, … Tất cả những điều nói trên cho thấy quan hệ giữa thầy cô giáo với HS hiện nay cần được quan tâm từ nhiều phía với nhiều hình thức, biện pháp tác động khác nhau để mối quan hệ thầy trò thực sự tốt đẹp với truyền thống “tôn sư trọng đạo” – một nét đẹp VH của dân tộc Việt Nam ta.

66,7% số GV đánh giá về mối quan hệ HS với HS ở mức độ tốt, số GV đánh giá ở mức độ bình thường chiếm 20,83%; 8,33% số GV cho rằng mối quan hệ này chưa tốt; số GV không rõ về mối quan hệ này chiếm 4,17%.

Đây là mối quan hệ đoàn kết tác, giúp đỡ nhau trong học tập, xây dựng tình bạn trong sáng, tôn trọng lẫn nhau, … là nét đẹp đáng tôn trọng của “văn hóa nhà trường”. Nhưng tại sao lại có hiện tượng chưa tốt về mối quan hệ này? Điều đáng tiếc là hiện nay trong mối quan hệ giữa HS với nhau có nhiều biểu hiện thiế VH: văng tục, chửi bậy, mất đoàn kết, thậm chí còn gây gổ đánh nhau ngay trong nhà trường  Rõ ràng là việc GD đạo đức cho HS trong nhà trường hiện nay cần được các nhà GD quan tâm nhiều hơn nữa. Trên thực tế, một số thành viên của nhà trường thường tập trung vào hoạt động dạy học để đối phó với các kỳ thi …. mà có phần buông lỏng hoạt động giáo dục, phẩm chất đạo đức cho HS.

Như vậy, phát triển VHTC lành mạnh hướng tới sự phát triển bền vững, thực chất là xây dựng bầu không khí tâm lý, đạo đức, xây dựng nền nếp, kỉ cương, dân chủ trong mọi hoạt động của nhà trường, xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy – trò, giữa trò – trò, giữa thầy – thầy (trong đó có các nhà QLGD) theo các chuẩn mực chung của XH và những quy định riêng của ngành GD. Mặt khác cần lên án, loại bỏ những biểu hiện phi VH trong nhà trường để môi trường văn hóa luôn sạch. Đó cũng chính là mục tiêu của cuộc vận động “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.

2.3.3. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về nội dung phát triển văn hóa tổ chức. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Trong những năm gần đây, GD nước ta đang đứng trước nhiều vấn đề bức xúc. XH hết sức lo lắng về sự xuống cấp của chất lượng GD, rồi lại đến những tiêu cực trong GD, để mong có một nền GD với chất lượng đích thực mà ít ai quan tâm đến việc làm thế nào để xây dựng VHTC – một yếu tố cơ bản để GD phát triển mạnh, đúng hướng.

Chúng ta đưa ra câu hỏi: “Xin đồng chí cho biết, trong phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức hiện nay nội dung nào cần quan tâm số một hoặc cần coi là yếu tố then chốt” Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.7

  • Bảng 2.7. Nhận thức của CBQL và GV về nội dung phát triển văn hóa tổ chức

Qua kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.7. Tôi nhận thấy mức độ nhận thức về các nội dung phát triển VHTC giữa CBQL và GV có khác nhau nhưng nổi bật có 4 nội dung xếp thứ bậc cao từ 1 đến 4.

83,3% số CBQL và 50% GV nhận thức VH ứng xử trong nhà trường là nội dung cần quan tâm hàng đầu. Vì chúng ta vẫn thường nghĩ trong nhà trường là nội dung cần quan tâm hàng đầu. Vì chúng ta thường nghĩ trong nhà trường, quan hệ giữa thầy giáo với thầy giáo, giữa lãnh đạo với GV, giữa thầy cô và học trò phải tràn đầy những ứng xử mang tính chất sư phạm, mô phạm. Tiếc thay, không phải trường nào cũng được như vậy, khi được hỏi, số GV cho rằng quan hệ này mang tính quản lí theo tinh thần dân chủ, cởi mở thậm chí có cá sự trù úm, độc đoán của người quản lí với cấp dưới, của thầy với trò và cả sự đố kỵ, ghen gét giữa các đồng nghiệp.

Biết rằng, nhà trường là một môi trường sư phạm, việc ứng xử của từng con người trong môi trường đó cũng phải hết sức mô phạm. Nếu cả thầy và trò đều làm được như vậy thì chắc chắn nhà trường đó phát triển vững mạnh và xây dựng được cho mình những nét VH trong nhà trường.

Văn hóa dạy cũng được 33,3% số CBQL và 61,1% GV quan tâm, thực tế cho thấy hiện nay số GV dạy nhiều giờ trong tuần chiếm đa số dẫn đến chất lượng dạy không cao. GV thường có tâm trạng mệt mỏi khi đứng lớp do dạy quá nhiều; chưa có phương pháp dạy học tích cực hiện đại do số GV phần lớn tốt nghiệp không phải trong các trường sư phạm nên cách thức truyền đạt có phần không sư phạm.

Văn hóa giáo dục được 50% số CBQL và 11,1% GV quan tâm; VH thi cử được 66,7% số CBQL và 16,67% số GV quan tâm vì hiện nay số HS sử dụng tài liệu trong phòng thi không chịu học hành, chỉ lo quay cóp, cho bạn coi bài chiếm tỷ lệ khá lớn. Có thể nói tình trạng gian dối trong học tập, thi cử, khá phổ biến. Tình trạng quay cóp, sử dụng phao thi của người học đã trở thành những nét đen khó tẩy xóa, khó chữa trị trong nhà trường, nét phổ biến trong VH thi cử là sự gian dối thiếu trung thực gây nên nỗi bất bình ở các em học sinh không làm điều này. Nhà trường coi đó là một trong những vấn đề cần loại bỏ để không làm hư hỏng đạo đức học trò. Sự gian lận trong thi cử cùng với thái độ coi thường chất lượng GD đã biến đạo học, đạo thi thành hư hỏng biết bao lớp học trò. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Về phong cách, lối sống, ăn mặc, VH đánh giá, VH ngôn ngữ giao tiếp của HS trong nhà trường cũng là vấn đề đáng quan tâm, đòi hỏi lãnh đạo nhà trường cần kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực và bệnh thành tích trong GD, chống lại những hiện tượng phản VH để môi trường VH nhà trường thật sự trong sạch, lành mạnh.

2.3.4. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh các nội dung giáo dục văn hóa tổ chức.

Để thấy được thực trạng nhận thức CBQL, GV, HS về các nội dung GD VHTC. Chúng tôi đã đặt ra câu hỏi cho 6 CBQL, 18 GV, 320 HS: “Trong các nội dung giáo dục VHTC, nội dung nào quan trọng nhất”: Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.7

  • Bảng 2.8 . Nhận thức của CBQL, GV, HS về nội dung giáo dục văn hóa tổ chức
  • Qua bảng 2.8 chúng tôi nhận thấy

Nội dung GD kĩ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm được đa số CBQL quan tâm (chiếm 83,3%), tiếp đến là nội dung: GD truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo (chiếm 33,3%), nội dung GD đạo đức (chiếm 50% và cuối cùng là GD nếp sống văn minh, sống có VH (chiếm 16,7%)

Đối với GV thì nội dung: GD truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo chiếm vị trí hàng đầu (chiếm 83,3%), nội dung GD đạo đức chiếm 22,2%, GD kĩ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm chiếm 16,67%, GD nếp sống văn minh, sống có VH chiếm 5,56%

192 HS chiếm 60% cho rằng GD đạo đức là nội dung quan trọng nhất trong nội dung GD VHTC, tiếp đến là GD nếp sống văn minh, sống có VH chiếm 21,3%, GD truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo chiếm 15,6%, GD kỹ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm chiếm 9,4%

Như vậy qua kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 2.8 tôi nhận thấy các nội dung GD VHTC được các chủ thể nhận thức ở mức độ khác nhau: CBQL thì cho rằng GD kĩ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm là quan trọng nhất. nhưng GV lại cho rằng GD truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo là quan trọng nhất, HS thì cho rằng nội dung GD đạo đức là quan trọng nhất.

2.3.5. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về các con đường giáo dục văn hóa tổ chức Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Để thấy được thực trạng nhận thức về các con đường GD VHTC ở trường THCS Hồng Đức. Chúng tôi tiến hành điều tra 6 CBQL, 18 GV, 320 HS. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.8.

  • Bảng 2.9. Nhận thức của CBQL, GV, HS về các con đường giáo dục văn hoá tổ chức

Qua kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 2.9, tôi thấy 66,7% số CBQL và 61,9% HS cho rằng nhà trường là con đường GD quan trọng nhất; 77,78% số GV cho rằng gia đình là con đường GD quan trọng nhất; 15% số HS cho rằng: Cá nhân tự học tập, rèn luyện là con đường GD VHTC.

Qua đó ta thấy rằng VHTC ở trường THCS Hồng Đức hình thành tự phát, chủ yếu thu nhận thông qua các hoạt động giáo dục của nhà trường, phần nữa là thông qua các hoạt động chính thống như môn học, ngành học, …..

2.3.6. Thực trạng văn hóa giảng dạy và học tập trong trường THCS Hồng Đức

  • Thực trạng văn hóa giảng dạy của CBQL, GV trường THCS Hồng Đức

Để đánh giá thực trạng mức độ hài lòng của 24 CBQL và GV về các hoạt động giảng dạy trong trường THCS Hồng Đức, tác giả sử dụng câu hỏi 11 (phụ lục 1), với 5 mức độ đánh giá để khảo sát và quy đổi ra điểm như sau:

  • Hoàn toàn hài lòng: 5 điểm; Hài lòng: 4 điểm; Bình thường: 3 điểm; Không hài lòng: 2 điểm; Hoàn toàn không hài lòng: 1 điểm Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.
  • Tính giá trị trung bình để tìm ý nghĩa cho từng nội dung, với giá trị khoảng cách là 0,8 tác giả xác định có 5 mức độ đánh giá:
  • Mức độ V ( 4,2<X<5): Hoàn toàn hài lòng Mức độ IV ( 3,4<X<4,2): Hài lòng
  • Mức độ V ( 2,6<X<3,4): Bình thường Mức độ V ( 1,8<X<2,6): Không hài lòng
  • Mức độ V ( 1<X<1,8): Hoàn toàn không hài lòng

Bảng 2.10. Đánh giá của CBQL, GV về văn hoá giảng dạy ở trường THCS Hồng Đức

Nội dung bảng trên cho thấy, phần lớn GV và CBQL hoàn toàn hài lòng về các hoạt động giảng dạy trong trường THCS Hồng Đức. Điểm trung bình đánh giá về mức độ hài lòng là 4,282 ( mức độ V ). Tuy nhiên mức độ hài lòng ở mỗi nội dung có khác nhau. Có 6 nội dung được các thầy cô đánh giá hoàn toàn hài lòng gồm: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và nghiên cứu khoa học của giáo viên; Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ giảng dạy và ghi chép sổ sách theo quy định; Thực hiện dạy theo đúng thời khóa biểu, lịch làm việc, trực ban, có thông báo khi đổi lịch; Đảm bảo ra vào lớp đúng giờ, đủ thời gian tiết dạy, buổi dạy; Không sử dụng điện thoại di động, làm việc riêng gây ảnh hưởng đến tiết dạy và học sinh; Có kiến thức vững vàng giúp HS nắm vững kiến thức trọng tâm, giải đáp thắc mắc một cách thỏa đáng. Kết quả trên là hợp lý bởi lẽ trong môi trường THCS, với mục tiêu dạy học và giáo dục các em ở lưa tuổi phát triển mạnh về nhân cách nên các thầy cô cũng luôn chấp hành tốt nội quy, quy chế chuyên môn của nhà trường.

Có 4 nội dung các thầy cô đánh giá ở mức độ hài lòng, mà thực ra đôi lúc chưa hài lòng về nội dung: có thái độ thân thiện, tôn trọng và khuyến khích ý kiến phát biểu, câu hỏi của học sinh trong giờ học; sử dụng hiệu quả phương tiện, đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học, giúp HS phát huy tính tích cực phát triển được các năng lực của HS; thực hiện kiểm tra đúng chương trình, đủ các bài, chấm trả bài, nhận xét bài kiểm tra chi tiết, công bằng với tất cả học sinh; Giảng dạy khoa học, rõ ràng,dễ hiểu, sinh động nội dung bài học, tạo hứng thú hoc tập cho học sinh.

Phát triển văn hóa tổ chức nhà trường dựa trên nhiều yếu tố , song văn hóa dạy học trong nhà trường là một trong những yếu tố cơ bản, nền tảng quyết định sự thành công của một nhà trường. Qua kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy: các trường đều xác định tầm quan trọng và quan tâm đầu tư đúng mực cho lĩnh vực này.

  • Thực trạng văn hóa học của HS trường THCS Hồng Đức

Để đánh giá thực trạng mức độ hài lòng của 24 CBQL và GV về các hoạt động giảng dạy trong trường THCS Hồng Đức, tác giả sử dụng câu hỏi 6 ( phụ lục 3), với 5 mức độ đánh giá để khảo sát và quy đổi ra điểm như sau:

  • Hoàn toàn hài lòng: 5 điểm; Hài lòng: 4 điểm; Bình thường: 3 điểm; Không hài lòng: 2 điểm; Hoàn toàn không hài lòng: 1 điểm Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.
  • Tính giá trị trung bình để tìm ý nghĩa cho từng nội dung, với giá trị khoảng cách là 0,8 tác giả xác định có 5 mức độ đánh giá:
  • Mức độ V ( 4,2<X<5): Hoàn toàn hài lòng Mức độ IV ( 3,4<X<4,2): Hài lòng
  • Mức độ V ( 2,6<X<3,4): Bình thường Mức độ V ( 1,8<X<2,6): Không hài lòng
  • Mức độ V ( 1<X<1,8): Hoàn toàn không hài lòng

Bảng 2.11. Đánh giá của HS về văn hoá học ở trường THCS Hồng Đức.

Nội dung bảng trên cho thấy, phần lớn học sinh được hổi đánh giá về quá trình học tập tại trường đạt mức độ hài lòng. Điểm trung bìnhđánh giá về mức độ hài lòng là 3,81 ( mức độ IV ). Tuy nhiên mức độ hài lòng đối với từng nội dung có khác nhau. Với 9 nội dung trong bảng trên chúng tôi thấy có 7 nội dung đạt hài lòng mức độ IV và 2 nội dung chỉ đạt mức độ III.

Động cơ và thái độ học tập được học sinh đánh giá cao ( X = 3,88). Điều này thể hiện gia đình và bản thân các em học sinh đã xác định rõ mục đích của việc học tập tại trường ngoài việc hoàn thành chương trình giáo dục trung học mà còn có được kiến thức cơ bản nhất để sau khi tốt nghiệp có thể học tiếp THPT hoặc làm các nghề phổ thông. Bên cạnh đó vẫn còn có nội dung được đánh giá thấp: Nội dung số 5 ( sự chủ động tích cực học tập và nghiên cứu khoa học) được đánh giá thấp nhất, chỉ đạt X = 2,98); nội dung 8 ( Có phương pháp học tập khoa học X = 3,24 )

Để kiểm tra lại kết quả kết quả này, chúng tôi kết hợp phỏng vấn thêm giáo viên. Qua đánh giá của giáo viên, được biết một bộ phận học sinh trường THCS Hồng Đức lười học nhất là các môn cần học thuộc, một số học sinh thiếu sự trung thực trong học tập, thi cử và sự chủ động tích cực tự học. Từ thực tiễn vấn đề trên cho thấy thực trạng tạo hứng thú cho học sinh khi giảng dạy là nội dung phải được giáo viên quan tâm.

2.3.7. Thực trạng văn hóa ứng xử trong trường THCS Hồng Đức Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

  • Đánh giá về văn hóa ứng xử của GV CBQL trường THCS Hồng Đức

Để tìm hiểu đánh giá của GV và CBQL về văn hóa ứng xử trong trường THCS Hồng Đức, chúng tôi sử dụng câu hỏi 15 ( phụ lục 1 ) với 5 mức độ đánh giá để khảo sát và quy đổi ra điểm như sau:

  • Hoàn toàn hài lòng: 5 điểm; Hài lòng: 4 điểm; Bình thường: 3 điểm; Không hài lòng: 2 điểm; Hoàn toàn không hài lòng: 1 điểm
  • Tính giá trị trung bình để tìm ý nghĩa cho từng nội dung, với giá trị khoảng cách là 0,8 tác giả xác định có 5 mức độ đánh giá:
  • Mức độ V ( 4,2<X<5): Hoàn toàn hài lòng Mức độ IV ( 3,4<X<4,2): Hài lòng
  • Mức độ V ( 2,6<X<3,4): Bình thường Mức độ V ( 1,8<X<2,6): Không hài lòng
  • Mức độ V ( 1<X<1,8): Hoàn toàn không hài lòng Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.12. Đánh giá của GV và CBQL về văn hóa ứng xử ở trường THCS Hồng Đức

Văn hóa ứng xử trong trường Trung học cơ sở được các giáo viên và cán bộ quản lí đánh giá với kết quả như trên. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng trong văn hóa tổ chức. Văn hóa ứng xử là các mối quan hệ ứng xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cấp dưới với lãnh đạo, giữa các đồng nghiệp với nhau, giữa giáo viên với học sinh, giữa con người với công việc đều được xây dựng trên những giá trị chung.

Với kết quả khảo sát như bảng nói trên cho thấy các giáo viên và cán bộ quản lí đánh giá cao về văn hóa ứng xử trong trường Trung học cơ sở. Điểm trung bình đánh giá của giáo viên và cán bộ quản lí về mức độ hài lòng đạt X=3,971. Sự chênh lệch giữa các nội dung đánh giá về mức độ hài lòng không lớn (0,84 điểm). Điều này thể hiện sự đồng nhất cao của giáo viên và cán bộ quản lí về những nội dung chúng tôi đưa ra. Với 20 câu hỏi cho 5 nhóm văn hóa ứng xử trong nhà trường có 8 nội dung đạt mức độ V, còn lại đạt mức độ IV. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Ứng xử với cấp trên: Mục đích các câu hỏi nhằm đánh giá văn hóa ứng xử giữa giáo viên, nhân viên đối với cán bộ quản lí. Có hai nội dung đạt mức độ V (hoàn toàn hài lòng) đó là “Chấp hành nghiêm túc các chỉ đạo, mệnh lệnh, nhiệm vụ được phân công” và “Thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ theo quy định”. Trong hai nội dung đạt mức độ IV (hài lòng) thì nội dung “Trung thực, thẳng thắn trong báo cáo, đề xuất, tham gia ý kiến với cấp trên” đạt mức độ thấp hơn. Theo đánh giá của giáo viên và cán bộ quản lí, chúng tôi được biết việc đề xuất và tham gia ý kiến với cấp trên ở các trường còn nhiều hạn chế.

Ứng xử với cấp dưới: Trong văn hóa ứng xử giữa lãnh đạo các trường với giáo viên, nhân viên và học sinh trong trường Trung học cơ sở, chúng tôi thu được kết quả rất khả quan. Nội dung 1 “Gương mẫu cho cấp dưới học tập, noi theo về mọi mặt” được đánh giá ở mức V (hoàn toàn hài lòng). Ba nội dung còn lại được đánh giá ở mức độ IV nhưng thang điểm rất cao.

Ứng xử với đồng nghiệp: Văn hóa ứng xử giữa giáo viên, nhân viên với nhau trong trường Trung học cơ sở được giáo viên và cán bộ quản lí đánh giá ở 4 nội dung. Trong đó, nội dung số 1 (Thấu hiểu, chia sử khó khăn trong công tác và cuộc sống với đồng nghiệp) được đánh giá đạt mức độ V. Điều này thể hiện sự đoàn kết gắn bó trong công việc và cuộc sống trong đội ngũ giáo viên của các trường. Ba nội dung còn lại đều được đánh giá ở mức độ IV. Trong đó nội dung số 4 (Tác phong lịch sự, ngôn ngữ trong sáng trong sinh hoạt, giao tiếp) đạt điểm trung bình (X) thấp nhất. Qua trao đổi với một số giáo viên, chúng tôi nhận được những ý kiến cho rằng: một bộ phận nhỏ giáo viên đặc biệt trong đội ngũ giáo viên trẻ mới vào nghề cần phải được rèn luyện hơn nữa về những chuẩn mực nhà giáo.

Ứng xử với học sinh: Về thái độ ứng xử giữa giáo viên và cán bộ quản lí với học sinh được đánh giá với 2 nội dung và đạt ở mức độ V( hoàn toàn hài lòng), còn lại đạt mức độ IV (hài lòng). Điều này thể hiện công tác giáo dục học sinh trong trường Trung học cơ sở rất được chú trọng. Đối với học sinh, được sống và học tập trong một môi trường luôn được thầy cô tôn trọng, được quan tâm, chia sẻ … các biểu hiện tích cực của văn hóa ứng xử có tác động tạo ra một bầu không khí học tập tích cực. Học sinh cảm thấy tự tin, thoải mái, vui vẻ, ham học, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm thấy mình có giá trị. Từ đó học sinh thấy rõ trách nhiệm của mình, tích cực khám phá và tích cực tương tác với giáo viên, nhóm bạn nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất, tạo ra môi trường thân thiện, an toàn, cởi mở, tôn trọng và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau của học sinh. Tất cả những biểu hiện tích cực đó sẽ góp phần đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh (phi văn hóa) trong nhà trường.

Ứng xử với công việc và môi trường: Văn hóa ứng xử với công việc trong trường Trung học cơ sở được giáo viên và cán bộ quản lí đánh giá Với 5 nội dung đưa ra khảo sát, kết quả có 3 nội dung đạt mức độ IV (hài lòng) và 2 nội dung đạt mức độ V (rất hài lòng). Qua trao đổi với giáo viên và cán bộ quản lí, một số trường chúng tôi cho rằng: văn hóa ứng xử với công , trước hết dù là lãnh đạo hay giáo viên, nhân viên trong nhà trường thì thái độ ứng xử trong công việc đều là phải tôn trọng công việc của mình. Chỉ khi đó mới có thể làm việc hiệu quả và mới tìm thấy niềm vui trong công việc. Thể hiện thái độ tôn trọng công việc bằng sự nghiêm túc, kỷ luật, tinh thần trách nhiệm với công việc. Hãy nhận trách nhiệm khi mắc lỗi bằng cách làm việc tích cực hơn, đảm bảo điều sai lầm sẽ không xảy ra nữa. Hãy thực hiện công việc được giao theo đúng kế hoạch với sự sáng tạo và nỗ lực để đạt hiệu quả cao nhất. Thái độ tôn trọng với công việc còn thể hiện ở khía cạnh: tôn trọng giờ giấc làm việc, không lãng phí thời gian làm việc và thực hiện đúng quy định làm việc trong công sở. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Qua kết quả khảo sát giáo viên và cán bộ quản lí về thực trạng văn hóa ứng xử trong trường Trung học cơ sở, chúng tôi nhận thấy: Văn hóa ứng xử trong nhà trường ảnh hưởng trực tiếp đến các thành viên trong nhà trường. Những biểu hiện tích cực của văn hóa ứng xử tạo dựng và nuôi dưỡng “bầu khí quyển” cởi mở, dân chủ, hợp tác, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. Mỗi cán bộ, giáo viên đều biết rõ công việc mình phải làm, hiểu rõ trách nhiệm, luôn có ý thức chia sẻ trách nhiệm, tích cực tham gia vào việc dạy và học. Coi trọng con người, cổ vũ sự nỗ lực hoàn thành công việc và công nhận sự thành công của mỗi người. Nhà trường có những chuẩn mực để luôn luôn cải tiến, vươn tới; sáng tạo và đổi mới; khuyến khích hợp tác, làm việc nhóm; chia sẻ kinh nghiệm và trao đổi chuyên môn. Xây dựng mối quan hệ ứng xử tốt đẹp, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò đã và đang trở thành nét đẹp trong tập thể mỗi nhà trường.

  • Thực trạng các hành vi văn hóa vi phạm chuẩn mực và nội quy nhà trường (ở người học)

Để thấy được mức độ biểu hiện của các hành vi VH vi phạm chuẩn mực và nội quy nhà trường (ở người học), tôi tiến hành khảo sát 320 học sinh trường THCS Hồng Đức về các biểu hiện hành vi và mức độ nhận thức của họ về VHTC. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.13:

Bảng 2.13. Biểu hiện, mức độ vi phạm văn hóa tổ chức của HS trong trường THCS Hồng Đức

  • Đánh giá bảng 2.13.

Một số biểu hiện HS tự đánh giá có tính chất thường xuyên như: Quay cóp sử dụng tài liệu trái phép (chiếm 13,1%), vi phạm về nội quy phòng học (chiếm 19,1%), sử dụng Internet chơi games, phim ảnh xấu (chiếm 17,19%), Cho bạn coi bài (chiếm 12,5%), vi phạm kỉ luật ( chiếm 9,2%) Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Trừ biểu hiện: Đã từng sử dụng ma túy (ít nhất 1 lần) , hút thuốc lá, uống rượu, các biểu hiện có tính chất thường xuyên vi phạm còn lại chiếm tỷ lệ ít, không đáng kể.

Các biểu hiện “Đôi khi vi phạm” chuẩn mực, nội quy nhà trường chiếm tỷ lệ khá cao. Số HS khống đến thư viện đọc sách (chiếm 43,12%); quay cóp, sử dụng tài liệu trái phép khi kiểm tra (chiếm 22,8%); vi phạm kỉ luật (từ phê bình trước lớp trở lên) chiếm 34,61%; sử dụng Internet, chơi games (chiếm 69,69%), vi phạm nội qui phòng học ( chiếm 29,5%), các biểu hiện còn lại chiếm tỷ lệ không đáng kể.

Như vậy, vẫn còn một tỷ lệ HS tự đánh giá các biểu hiện hành vi VH vi phạm các chuẩn mực XH và nội quy nhà trường có tính chất thường xuyên ở mức khá cao.

Dù chỉ khảo sát những hành vi VH vi phạm các chuẩn mực XH và nội quy nhà trường song cũng cho thấy một phần của “phần nổi” của VHTC ở trường THCS Hồng Đức còn nhiều “vấn đề” cần được quan tâm nghiên cứu.

Vậy có hay không tồn tại một mối quan hệ nhất định giữa các biểu hiện hành vi VH trên đây với các kết quả giáo dục – dạy học, với tỷ lệ HS loại trung bình, yếu kém về học tập (27,2%) và hạnh kiểm (8,07%) hiện còn cao, tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường THPT công lập chưa cao ( 52,6 %). Có thể tìm ra các nguyên nhân từ đâu? (Xem bảng 2.14)

  • Bảng 2.14. Chất lượng giáo dục những 3 năm học gần đây .

2.3.8. Thực trạng các hoạt động phát triển văn hóa tổ chức trong trường THCS Hồng Đức

Để có thông tinh đánh giá hiệu quả các hoạt động phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS Hồng Đức chúng tôi sử dụng câu hỏi ….( phụ lục….) cho CBQL, GV trường THCS Hồng Đức, kết quả thể hiện ở bảng 2.15 như sau:

  • Bảng 2.15. Đánh giá của GV và CBQL về hiệu quả các hoạt động phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức

Nội dung bảng trên cho thấy trong trường Trung học cơ sở, các hoạt động VHTC được tổ chức thực hiện rất đa dạng và phong phú. Thông qua sự đánh giá để có sự lựa chọn và điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp, phát huy các hoạt động được đánh giá có hiệu quả cao như: Các phong trào thi đua văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao (84,3%); kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội quy, quy chế trong nhà trường (75,8%); biểu dương, vinh danh cá nhân, tập thể thi đua xuất sắc (74,2%); khiển trách, kỷ luật những cá nhân, tập thể có hành vi thiếu văn hóa, gây ảnh hưởng đến cá nhân khác và tập thể (70,8%); làm đẹp cảnh quan, môi trường sư phạm trong nhà trường (68,2%)

Bên cạnh đó, một số các hoạt động VHTC hiệu quả thấp, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu để tìm hiểu vấn đề và nhận được những ý kiến phản hồi như sau:

Hoạt động tổ chức, mở lớp bồi dưỡng, tọa đàm, diễn đàn kỹ năng sống; nói chuyện chuyên đề về VHTC là những nội dung rất quan trọng trong giáo dục VHTC, song hiệu quả lại rất thấp (25,4%). Để lý giải vấn đề này, tìm hiểu sâu chúng tôi được biết, các giáo viên và cán bộ quản lí đánh giá cao tầm quan trọng của các hoạt động này nhưng chưa đánh giá được hiệu quả vì các hoạt động trên còn rất mới mẻ với các trường. Hầu hết các trường chưa thực hiện hoặc thực hiện mang tính hình thức.

Hoạt động xây dựng môi trường VHTC trong trường cũng chưa được các trường thực sự quan tâm. Chúng tôi được biết, hầu hết các trường đều có nội dung lớp học, nhưng việc kiểm tra đôn đốc không thường xuyên. Đặc biệt chưa xây dựng những quy định về nề nếp, tác phong, ý thức cụ thể trong công việc mà chỉ có những văn bản quy định chung chung trên cơ sở luật công chức.

2.3.9. Thực trạng hoạt động của Hiệu trưởng trong quản lý phát triển văn hóa tổ chức Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Tôi đặt ra câu hỏi cho các CBQL&GV: “Xin đồng chí cho biết hoạt động của Hiệu trưởng trong việc quản lý phát triển văn hóa tổ chức là gì?

Chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.16.

  • Bảng 2.16. Thực trạng hoạt động của Hiệu trưởng trong việc quản lý phát triển văn hóa tổ chức

Qua bảng 2.16 cho thấy:

Hiệu trưởng đã có những việc làm nhất định trong công tác quản lý phát triển VHTC cũng như hoàn thành trách nhiệm của người lãnh đạo cao nhất, tuy nhiên mức độ hoạt động ở từng nội dung khác nhau:

Có 50% số CBQL cho rằng hoạt động: đánh giá các ảnh hưởng của VH đối với sự phát triển đội ngũ (CBNV, HS) và sự đồng ý lực lượng ngoài nhà trường (XH) là nội dung quan trọng nhất, tiếp đến là nội dung: đánh giá các giá trị VH tích cực, tiêu cực của CBGV, sự thay đổi của tổ chức, cơ cấu quản lý, quá trình giao tiếp và ra quyết định (33,3%).

Có 55,56% số giáo viên cho rằng hoạt động: Đánh giá các giá trị cá nhân, các giá trị VH hiện tại trong nhà trường là nội dung số một cần được quan tâm. Nội dung: đánh giá các ảnh hưởng của VH đối với sự phát triển đội ngũ (CBNV, HS) và sự đồng ý của lực lượng bên ngoài nhà trường (XH) chiếm 33,33%, tiếp đến là nội dung: Đánh giá các giá trị VH tích cực, tiêu cực của CBGV (chiếm 22,2%). Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng mặc dù mức độ nhận thức của CBQL và GV có khác nhau nhưng tất cả đều thấy được hoạt động của Hiệu trưởng trong việc quản lý phát triển VHTC là rất cần thiết và bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực.

  • Nhận xét đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS Hồng Đức

Các giá trị VH tích cực của nhà trường được phản ánh trong cuộc sống hàng ngày của nhà trường, trong quá trình xây dựng mục tiêu, kế hoạch hành động, quá trình chỉ đạo, quá trình thực hiện và đánh giá kết quả, đó là sự hưởng tới lợi ích của HS, đặt lợi ích của các em lên hàng đầu. Các giá trị và các hành vi VH còn được thể hiện trong các giao tiếp hàng ngày của các thành viên của nhà trường.

  • Ưu điểm:

Đa số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên có nhận thức về văn hóa tổ chức, phát triển văn hóa tổ chức, hiểu và biết được các nội dung phát triển văn hóa tổ chức trong trường học.

Đa số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thực hiện tốt các nội dung nhằm phát triển văn hóa tổ chức trường học.

  • Nhược điểm:

Một số cán bộ giáo viên, nhân viên nhận thức chưa đầy đủ về văn hóa tổ chức trường học, phát triển văn hóa tổ chức trong trường THCS là phát triển những nội dung gì, bản thân mình cần làm tốt nội dung gì ?

Một số giáo viên, nhân viên thực hiện không tốt các nội dung để phát triển văn hóa tổ chức trường học như việc ứng xử với các thành viên trong Nhà trường; việc đảm bảo giờ giấc; việc soạn giảng; việc báo cáo; việc tham mưu hay cùng nhau giải quyết một vấn đề.

Đa số học sinh chưa nhận thức được các vấn đề về văn hóa tổ chức và phát triển văn hóa tổ chức trong Nhà trường. Một bộ phận học sinh thực hiện không nghiêm túc các nội dung để phát triển văn hóa tổ chức Nhà trường.

Kế hoạch và biện pháp của Hiệu trưởng để quản lý phát triển VHTC chưa đầy đủ và rõ ràng, chưa đưa ra được nội dung phát triển VHTC mang tính hệ thống, tính bền vững. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

  • Phân tích các nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS Hồng Đức

Qua điều tra thực trạng công tác quản lý phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức như đã được nêu ở trên, chúng tôi đã có những nhận xét, đánh giá: Đa số CBQL, GV, HS nhà trường đều nhận thức được sự cần thiết phải phát triển VHTC. Tuy nhiên từ nhận thức đến thực trạng còn nhiều yếu kém của biểu hiện VH còn là một khách cách khá xa.

Vậy nguyên nhân do đâu? Kết quả này theo tôi là bởi các nguyên nhân khách quan và chủ quan.

  • Các nguyên nhân khách quan

Do việc bổ nhiệm Hiệu trưởng mới trường công tác nên việc tiếp nhận và xây dựng một môi trường VHTC chưa phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường vì tư duy theo mô hình cũ – mới còn chưa thống nhất, sự thay đổi cơ cấu tổ chức, phong cách lãnh đạo cũng là nguyên nhân chủ yếu để thực hiện công tác xây dựng VHTC có hiệu quả hay không?

  • Cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy học vẫn còn gặp khó khăn:
  • Các nguyên nhân chủ quan.

Nội dung phát triển VHTC chưa được cụ thể hóa, kế hoạch đề ra chưa rõ ràng dẫn đế khi bắt tay vào thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng, hiệu quả đạt được không cao.

  • Hoạt động của Hiệu trưởng trong việc quản lý phát triển VHTC được thể hiện trong bối cảnh giao thời giữa Hiệu trưởng cũ, Hiệu trưởng mới, kinh phí cho hoạt động này còn thiếu thốn, …
  • Nhà trường chưa có những buổi tập huấn, buổi nói chuyện về VH để cho CBGV, HS nhận thức được những công việc cần phải làm và phải có những việc làm thiết thực để cho môi trường VHTC luôn trong sạch.
  • Việc thực hiện chức năng quản lý của BGH nhà trường trong công tác xây dựng VHTC chưa cao, còn cứng nhắc, đôi khi gây ra sự gò bó cho CBGV dẫn đến làm việc không hiệu quả.
  • Công tác kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ và không thường xuyên.
  • Công tác động viên, kích thích hoạt động xây dựng VHTC của người lãnh đạo còn hạn chế.
  • Sự tự giác, nỗ lực, tích cực của mỗi thành viên trong nhà trường chưa được cao.

Trong các nguyên nhân chủ quan, về phía QLGD đó là chưa có sự sát sao của GV trong giảng dạy, kỉ luật nhà trường còn lỏng lẻo, chưa có sự răn đe đủ mạnh và còn biểu hiện che dấu vì thành tích. Có ý kiến cho rằng: Trước đây khi GV lên lớp có thể phát hiện ra những dấu hiệu bất thường của HS về tâm trạng lo lắng hay vui buồn, về sức khỏe hay các biểu hiện tâm lý …. điều này thể hiện quan hệ thầy – trò rất gắn bó mật thiết. Nhưng hiện nay, phần lớp GV ít có thời gian và điều kiện để quan tâm đến từng HS .

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

Công tác quản lý phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức là một nhiệm vụ, mỗi nội dung quan trọng trong kế hoạch giáo dục đào tạo của nhà trường. Để thực hiện nhiệm vụ này các GV, các nhà QLGD đã tiến hành các hoạt động tổ chức GD thông qua các môn học, ngành học và thông qua các hoạt động GD văn hóa khác. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy việc quản lý phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Điều này được thể hiện ở mức độ cần thiết phải quản lý phát triển VHTC, nhưng khi thực hiện thì chỉ dừng lại ở mức độ trung bình hoặc chưa tốt. Điều này được phản ánh ở nội dung, cách thức thực hiện công việc. Nội dung dành cho các mảng công việc trong công tác quản lý phát triển VHTC còn ít, các hình thức tổ chức còn đơn điệu. Thực trạng đó còn được phản ánh ở sự phối hợp giữa các đoàn thể và GV chủ nhiệm chưa được phát huy đầy đủ. Trong khi đó mỗi thành viên trong nhà trường lại chưa thực sự tích cực, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động có tính chất phát triển VHTC ở cơ sở mình.

Việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý phát triển VHTC ở trường THCS tạo cơ sở, tiền đề cho việc đề xuất một số biện pháp quản lý phát triển VHTC ở trường THCS Hồng Đức. Luận văn: Thực trạng phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537