Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khát quát đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội địa phương

  • Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Thị xã Tân Uyên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2020 theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2019 của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên. Thị xã Tân Uyên với diện tích 19.175,72 ha, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Dương, dân số đến ngày 02/5/2025 là 369.321 người với 130.610 hộ, trong đó dân số tạm trú chiếm 64, 96 % trên tổng dân số của địa bàn.

Thị xã Tân Uyên có 12 xã – phường, bao gồm 06 phường (Uyên Hưng, Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Thạnh Phước, Tân Hiệp, Khánh Bình) và 06 xã (Hội Nghĩa, Vĩnh Tân, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp, Thạnh Hội, Bạch Đằng) với 71 khu, ấp. Địa giới hành chính của thị xã Tân Uyên: phía Đông giáp huyện Vĩnh Cửu – tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp Thành phố Thủ Dầu Một và thị xã Bến Cát, phía Nam giáp thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và Thành phố Biên Hòa, phía Bắc giáp huyện Bắc Tân Uyên. Là một địa phương nằm trong vùng Chiến khu Đ, thị xã Tân Uyên có bề dày cách mạng với nhiều địa danh anh hùng đã đi vào lịch sử. Những năm gần đây, thị xã Tân Uyên có tốc độ tăng trưởng cao, thu hút nhiều dự án đầu tư trong nước và ngoài nước vào các khu, cụm công nghiệp; giá trị sản xuất công nghiệp và thu ngân sách đạt cao.

  • Tình hình phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh

Ngoài phát triển kinh tế công nghiệp, thương mại – dịch vụ, nông – lâm nghiệp – nông thôn mới, tài nguyên môi trường theo các mục tiêu Nghị quyết của Hội đồng nhân dân đề ra, thị xã Tân Uyên còn đầu tư phát triển quy hoạch và phát triển đô thị, đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài phấn đấu công nhận đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Tổng thu ngân sách Nhà nước đến nay ước thực hiện 2.099 tỷ đồng và tổng chi ngân sách ước thực hiện 777 tỷ đồng. Trong 9 tháng đầu năm 2025, thị xã Tân Uyên tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng trưởng khá, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng, thương mại dịch vụ tăng, một số chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết HĐND giao năm 2025.

Đến nay, trên địa bàn thị xã Tân Uyên có 169 doanh nghiệp đầu tư trong nước được UBND tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tăng 108 doanh nghiệp so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký 1.100,89 tỷ đồng và 14 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được UBND tỉnh Bình Dương cấp giấy phép đầu tư mới, giảm 04 doanh nghiệp so với cùng kỳ với tổng vốn đăng ký 72 triệu USD. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định và giữ vững, tình hình giao thông, đi lại được thông suốt. Đặc biệt, công tác an sinh, phúc lợi xã hội, đền ơn đáp nghĩa được thực hiện chu đáo. Chất lượng giáo dục năm học 2024-2025 tiếp tục được nâng lên, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo, dịch bệnh được kiểm soát, các lễ hội được tổ chức chu đáo, nhiều hình thức nội dung phong phú đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn (UBND Thị xã Tân Uyên, 2025).

2.1.2. Tình hình GDMN trên địa bàn thị xã Tân Uyên

Tính đến thời điểm tháng 6/2025, GDMN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, hiện tại có 143 cơ sở GDMN (trong đó công lập: 13 trường, ngoài công lập: 24 trường và 106 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo).

Nhóm/ lớp: 539, trong đó nhà trẻ 140 nhóm, mẫu giáo 399, riêng lớp mẫu giáo 5 tuổi 125 lớp (Công lập: nhà trẻ 8 nhóm và MG 116, ngoài công lập: nhà trẻ 132 nhóm và 283 lớp). So với cùng kỳ năm trước tăng 39 nhóm, lớp (trong đó 17 nhóm trẻ và 22 lớp MG), riêng 5 tuổi giảm 10 lớp.

  • Tỷ lệ huy động trẻ:
  • Số trẻ ra lớp: 15.381 trẻ, trong đó nhà trẻ 2.851, MG 12.530 trẻ.
  • Tỷ lệ huy động: nhà trẻ 36,36 % (690/4743), MG 81,71 % (8.051/9853), riêng trẻ 5 tuổi 100% (4.207/4.207).

Tăng số trường MG thành trường MN công lập 9/13, tiếp tục giữ vững tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp, tăng tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ ra lớp cao hơn so với cùng kỳ năm trước 9,9%, nhưng giảm tỷ lệ trẻ mẫu giáo ra lớp 6,94% .

Về đội ngũ CBQL và GV: Số lượng đội ngũ CBQL, GV tăng hàng năm, công lập tương đối đáp ứng nhu cầu hiện nay, ngoài công lập ưu tiên cho các lớp mẫu giáo 5 tuổi, các lớp dưới 5 tuổi phải có bảo mẫu do tăng số cơ sở GDMN. Chất lượng chưa cao một phần thiếu kinh nghiệm, chưa mạnh dạn triển khai vận dụng chỉ đạo các cấp lãnh đạo, chưa linh hoạt, sáng tạo khi thực hiện chương trình GDMN; Đội ngũ thiếu, không ổn định (ngoài công lập).

Về thuận lợi: Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư CSVC cho các CSGDMN ngày càng đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình GDMN tại cơ sở; Tăng cường công tác kiểm tra nắm tình hình các cơ sở GDMN (công lập và ngoài công lập), đã kiểm tra khoản 50% các cơ sở, sau kiểm tra tổ chức rút kinh nghiệm về việc thực hiện chương trình GDMN phù hợp từng loại hình. Tổ chức lớp nói chuyện chuyên đề và cử đội ngũ tham gia các lớp tập huấn Luật trẻ em năm 2022 giúp đội ngũ cập nhật kiến thức vận dụng trong quá trình tổ chức chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tại cơ sở nhằm ngăn ngừa những trường hợp đáng tiếc xảy ra do thiếu thông tin theo quy định. Các cơ sở GDMN ngoài công lập được cấp phép thành lập và hoạt động giáo dục được tăng hàng năm vừa đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục vừa đa dạng hóa các loại hình trường lớp tại địa phương, vừa giúp cho cấp học giảm tải trong việc huy động trẻ trong độ tuổi, đặc biệt là trẻ 5 tuổi ra lớp đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình GDMN và Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Về khó khăn: Trong năm học, xảy ra 2 trường hợp không an toàn cho trẻ, mặc dù các đơn vị có nhiều cố gắng trong việc tổ chức thực hiện an toàn mọi nơi mọi lúc. Đội ngũ CBQL, GV tuy được bồi dưỡng kịp thời nhưng một phần chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng khi điều hành quản lý, thực hiện chương trình GDMN (công lập); Đội ngũ không ổn định, thiếu kinh nghiệm, đôi lúc còn thiếu, số trẻ đông,… vì vậy ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (ngoài công lập). Việc giải quyết theo yêu cầu của các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo đủ điều kiện lên trường để phát triển bền vững thời gian chậm.

Với tình hình GDMN của thị xã Tân Uyên như trên, mặc dù cơ bản đảm bảo các điều kiện ND-CS-GD trẻ trong độ tuổi MN nhưng không thể không tiềm ẩn các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cho trẻ. Vì vậy cần phải nghiên cứu thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe và QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN để có những biện pháp cụ thể nhằm CSSK cho trẻ trong giai đoạn hiện nay (Phòng Giáo dục và Đào tạo, 2025).

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động CSSK và QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.2.1. Nội dung khảo sát

Nhận thức về hoạt động CSSK: Chúng tôi tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động CSSK, các nội dung của hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN.

Thực trạng hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN: Thông qua phỏng vấn, khảo sát ý kiến CBQL, GV, NV và CMT chúng tôi tìm hiểu hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, việc thực hiện các nội dung của hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN.

Thực trạng QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: Thông qua khảo sát ý kiến CBQL, GV, NV và CMT chúng tôi tìm hiểu QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN về các mặt: nhận thức về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, kết quả thực hiện các nội dung QL hoạt động CSSK cho trẻ. Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập thuộc địa bàn thị xã Tân Uyên, qua đó xác định nguyên nhân của thực trạng.

2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng là phiếu hỏi dành cho CBQL, GV, NV và CMT (phụ lục 1, phụ lục 2). Chúng tôi cũng phỏng vấn các đối tượng là Hiệu trưởng trường MN ngoài công lập thuộc địa bàn thị xã Tân Uyên với các nội dung đã xác định trong câu hỏi phỏng vấn (phụ lục 3)

Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS (IBM SPSS Statistics) for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý thông tin trong phiếu điều tra.

2.2.3. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach đã được tích hợp sẵn trong phần mềm SPSS, cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1. Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach

Hệ số tin cậy đo được là 0.867. Theo các nhà thống kê, hệ số tin cậy từ 0.70 trở lên là thang đo dùng được. Ở đây hệ số tin cậy là 0.867 cho phép kết luận độ tin cậy đạt mức tốt.

2.2.4. Tổ chức điều tra, khảo sát

Mẫu 1: Đối tượng khảo sát chính của đề tài bao gồm 250 CBQL, GV và NV công tác tại trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trong đó, HT là 13 (5.2%); phó hiệu trưởng là 22 (8.8%); tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là 87 (34.8%); GV là 80 (32%); NV là 48 (19.2%). Tất cả các phiếu phát ra đều thu về đủ. Như vậy, chúng tôi đã thu thập được ý kiến của toàn bộ đối tượng khảo sát. Đặc điểm của đối tượng khảo sát trình bày ở bảng 2.2 như sau:

  • Bảng 2.2. Khái quát về đối tượng khảo sát chính Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Về giới tính, do đặc trưng của GDMN cả nước nói chung và thị xã Tân Uyên nói riêng đều là nữ, có vài người nam làm công tác quản lý và nhân viên bảo vệ nên đối tượng khảo sát phần lớn là nữ. Lý do này xuất phát từ tính khách quan nên vẫn đảm bảo đầy đủ nguyên tắc nghiên cứu khoa học. Cụ thể, nữ chiếm 90.8% và nam 9.2%.

Về thâm niên trong ngành GD: CBQL, GV, NV công tác dưới 5 năm là 47 người, chiếm 18.8%, từ 5 đến 10 năm là 64 người, chiếm 337.6%; có 42 CBQL, GV có kinh nghiệm từ 10 đến 20 năm, chiếm 28.4% và có 18 người có kinh nghiệm trên 20 năm, chiếm 15.2%. Tỷ lệ này đảm bảo các nguyên tắc chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học.

Về trình độ chuyên môn: CBQL, GV, NV có trình độ sơ cấp chiếm 4.4%, trình độ trung cấp là 23.6%, trình độ cao đẳng chiếm 22.0%, trình độ đại học chiếm 22.8% và có 68 người có trình độ khác (27.2%).

Về chức vụ trong nhà trường: hiệu trưởng có 13 người (5.2%), phó hiệu trưởng là 22 người (8.8%), tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là 87 người (34.8 %), GV là 80 người (32.0%) và NV là 48 người (19.2%).

Về kinh nghiệm làm công tác QL: có 140 người (chiếm 51.2%) chưa có kinh nghiệm làm công tác QL. Có 110 người có kinh nghiệm QL như: dưới 5 năm là 50 người (chiếm 18.8%), kinh nghiệm từ 5 đến dưới 10 năm là 64 người (chiếm 25.6%), kinh nghiệm từ 10 đến dưới 20 năm là 10 người (chiếm 4.0%) và có kinh nghiệm QL từ 20 năm trở lên có 05 người (chiếm 0.4%).

Về tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL, chúng tôi thu được kết quả có 63 người (25.2%) có tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL và có 187 người (74.8%) chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL.

Mẫu 2: Khảo sát 215 CMT ở 13 trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2.2.5. Qui ước thang đo

Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, tỷ lệ phần trăm.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (5-1)/5 = 0.8, nên ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng như sau (theo nội dung câu hỏi trong bảng khảo sát): 1.00 – 1.80 (kém, hoàn toàn không đồng ý, không quan trọng, không thuận lợi, không khó khăn); 1.81 – 2.60 (yếu, không đồng ý, ít quan trọng, ít thuận lợi, ít khó khăn); 2.61 – 3.40 (trung bình, có một phần đồng ý, bình thường, khá thuận lợi, khá khó khăn); 3.41 – 4.20 (khá, đồng ý, quan trọng, thuận lợi, khó khăn); 4.21 – 5.00 (tốt, hoàn toàn đồng ý, rất quan trọng, rất thuận lợi, rất khó khăn). Cụ thể trong bảng sau:

  • Bảng 2.3. Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

2.3.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động CSSK cho trẻ, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.4 dưới đây:

  • Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.4 cho thấy: Tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường MN được CBQL, GV, NV đánh giá cao, tổng tỷ lệ lựa chọn ở mức độ “quan trọng” và “rất quan trọng” chiếm 64%, trong khi cả 3 mức độ: “không quan trọng”, “ít quan trọng” và “bình thường” ở mức 36% (tức < 50%). Cũng công tác này qua bảng cho thấy CMT đánh giá khá cao, bởi hiện nay số lượng con trong các gia đình rất hiếm hoi (chỉ có một con hoặc hai con), tỷ lệ lựa chọn mức độ “rất quan trọng” chiếm đến 88.8% với ĐTB = 4.47 ở mức “rất quan trọng”. Nếu tính tổng tỷ lệ lựa chọn của 2 mức độ “quan trọng” và “rất quan trọng” thì tầm quan trọng của công tác CSSK cho trẻ trong trường MN được CMT đánh giá cao hơn CBQL, GV, NV là 24.8%. Điều này có thể kết luận CBQL, GV, NV và CMT rất xem trọng công tác CSSK cho trẻ.

Đối với tầm quan trọng của công tác khám sức khỏe định kỳ cho trẻ trong trường MN được đánh giá cao, ĐTB = 3.51 và tổng tỷ lệ lựa chọn của 2 mức độ: “quan trọng” và “rất quan trọng” chiếm 58%, trong khi đó lựa chọn cả 3 mức độ: “bình thường”, “ít quan trọng” và “không quan trọng” chỉ chiếm 42%. Đây là nội dung quan trọng trong công tác ND, CS trẻ tại trường MN, bởi CBQL, GV, NV có ý thức cao về sức khỏe thì sẽ ND, CS trẻ khỏe mạnh và phát triển toàn diện.

Tương tự, nghiên cứu tầm quan trọng của công tác tuyển dụng NV cấp dưỡng vào công tác trong trường MN qua bảng, chúng tôi thấy lựa chọn ở mức độ “quan trọng” và “rất quan trọng” của CMT khá cao, chiếm 64.2% với ĐTB = 3.63, trong khi tỷ lệ lựa chọn của CBQL, GV, NV trong trường MN là 53.6% với ĐTB = 3.20 (mức bình thường). Đáng chú ý hơn là cả hai tỷ lệ lựa chọn mức độ “không quan trọng” khá cao, CBQL, GV, NV là 30.8% và CMT là 26.5%. Với tỷ lệ này, chúng tôi nhận thấy một bộ phận không nhỏ trong số CBQL, GV, NV và CMT chưa xem trọng công tác tuyển dụng NV cấp dưỡng vào làm việc trong trường MN – người có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với CBQL, GV trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu báo cáo tổng kết của các năm học tại các trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tác giả nhận thấy công tác CSSK cho trẻ đều được các trường thực hiện tốt. Khi phỏng vấn, QLT1 chia sẻ: đa số CBQL, GV, NV nhận thức được tầm quan trọng của công tác CSSK cho trẻ trong trường MN, tuy nhiên vẫn còn có GV, NV chưa thực sự xem đây là công tác quan trọng hàng đầu, còn phó thác cho sự may rủi trong quá trình ND- CS-GD trẻ. Đều đáng lưu tâm hơn đó là vẫn còn nhiều CMT chưa thực sự quan tâm và phối hợp cùng với nhà trường và GV trong công tác CSSK cho trẻ. Như vậy, có thể thấy tuy đa số CBQL, GV, NV và CMT có ý kiến cho rằng công tác CSSK cho trẻ trong trường MN có tầm quan trọng rất lớn nhưng công tác này chưa được sự quan tâm đầy đủ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ của cả GV, NV và CMT. Đây là điều mà các CBQL cần phải đặc biệt quan tâm, chỉ khi nhận thức được điều này GV, NV và CMT mới thực sự sâu sát và có phối hợp chặt chẽ với nhau nhằm đảm bảo sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

2.3.2. Thực trạng hoạt động khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Để nghiên cứu thực trạng công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.5 như sau:

  • Bảng 2.5. Ý kiến của CBQL, GV, NV về hoạt động khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN

Hoạt động GDMN là một hoạt động hết sức đặc trưng. GDMN không chỉ dạy mà còn dỗ, không chỉ giáo dục mà còn nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ khỏe mạnh và phát triển toàn diện. Kết quả nghiên cứu về thực trạng công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường cho thấy: Tuy có thứ hạng khác nhau, nhưng ĐTB của việc thực hiện các nội dung công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN cho trẻ đa số ở mức “khá” tức ĐTB từ 3.42 đến 3.69, riêng nội dung thứ hạng 7 có ĐTB = 3.36 (Kết quả thực hiện giải pháp can thiệp), nội dung thứ 8 có ĐTB = 3.09 (Ý kiến đề xuất giải pháp can thiệp tình trạng dinh dưỡng cho trẻ) và nội dung thứ hạng 9 với ĐTB = 2.99 (Đề xuất cải tiến các giải pháp cần thiết) ở mức “trung bình”. Điều này cho thấy, theo đánh giá của CBQL, GV, NV thì được thực hiện ở mức tương đối “khá” theo quy định. Cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Xếp ở các thứ hạng 1, 2, 3, 4, 5, 6 tuy được CBQL, GV, NV thực hiện khá với ĐTB >=3.41, ở vào mức độ “khá”, nhưng tổng tỷ lệ lựa chọn mức độ “khá” và “tốt” rất thấp, đa số <50%. Điều này cho thấy đa số các nội dung khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN được thực hiện ở mức “trung bình, khá”.

Đặc biệt quan tâm hơn đối với thứ hạng 7, 8, 9, bởi các nội dung nếu xem xét kỹ sẽ thấy sự liên quan chặt chẽ với nhau khi GV, NV thật sự quan tâm đến sức khỏe của trẻ từ việc căn cứ kết quả thực hiện giải pháp can thiệp cho đến việc kiến nghị đề xuất giải pháp can thiệp tình trạng dinh dưỡng cho trẻ và đề xuất cải tiến các giải pháp cần thiết tuyên truyền công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ đến từng CMT hoặc người CS trẻ hiểu để cùng phối hợp. Qua bảng

2.5 cho thấy, nội dung kết quả thực hiện giải pháp can thiệp đối với công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN ở mức từ “kém” đến “trung bình” chiếm tổng tỷ lệ 62%; nội dung GV, NV có ý kiến đề xuất giải pháp can thiệp tình trạng dinh dưỡng cho trẻ ở mức “yếu” và “trung bình” chiếm tổng tỷ lệ 70.97% và tổng tỷ lệ về nội dung đề xuất cải tiến các giải pháp cần thiết ở mức từ “kém” đến “trung bình” chiếm 75.2%. Theo phân tích trên, cho thấy 03 nội dung này có liên quan chặt chẽ với nhau, nếu thực hiện tốt nội dung này thì sẽ thực hiện tốt nội dung kia và ngược lại. Tuy nhiên, trong nuôi dưỡng trẻ MN cần phải có nhận thức đúng đắn để thực hiện có hiệu quả công tác CSSK cho trẻ.

Để đánh giá toàn diện và khách quan hơn về thực trạng hoạt động khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CMT thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ 2.1 sau:

  • Biểu đồ 2.1 Ý kiến của CMT về thực trạng HĐ khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN

Qua biểu đồ 2.1 cho thấy, CMT có sự lựa chọn cao hơn CBQL, GV, NV. Tuy nhiên, vẫn ở mức “trung bình” và “khá” và vẫn có lựa chọn mức độ “kém” ở thứ hạng 4. Chúng ta nhận thấy:

Xếp hạng đầu tiên là “Được tuyên truyền về công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trên các phương tiện khác (loa phát thanh của trường, bảng tuyên truyền nhóm/lớp)”, CMT có sự lựa chọn ở mức “khá”, với tổng tỷ lệ lựa chọn của 2 mức độ “khá” và “tốt” 69.3%, ĐTB = 3.85.

Xếp thứ hạng 2, 3 là nội dung: “Đánh giá kỹ năng cân đo và theo dõi tình trạng sức khỏe trẻ của giáo viên” và “Được tuyên truyền, phổ biến và thống nhất các nội dung khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ” có tổng tỷ lệ lựa chọn của 2 mức độ “khá” và “tốt” <50%, tuy không có lựa chọn mức độ thực hiện kém nhưng lựa chọn mức độ thực hiện “trung bình” khá cao từ 38.6% đến 45.1%, riêng nội dung 3 có lựa chọn mức độ thực hiện “yếu” (9.3%).

Xếp cuối cùng là nội dung “Đánh giá cách thức tuyên truyền, phối hợp với CMT theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ”. Đây là nội dung có lựa chọn mức độ thực hiện “trung bình” với ĐTB= 3.05 và có tổng tỷ lệ lựa chọn mức độ thực hiện “kém, trung bình” cao chiếm 59.1%.

Như vậy, CMT có các lựa chọn tuy có cao hơn CBQL, GV, NV nhưng tỷ lệ lựa chọn ở mức độ “tốt” rất thấp và có sự lựa chọn mức độ “yếu”. Qua kết quả nghiên cứu cho phép kết luận rằng: công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN ở thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thực hiện ở mức “trung bình-khá”. Nội dung này là một trong những điều kiện quan trọng trong công tác nuôi dưỡng trẻ MN phát triển toàn diện về thể chất.

2.3.3. Thực trạng hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Nghiên cứu về thực trạng hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.6 như sau:

  • Bảng 2.6. Ý kiến của CBQL, GV, NV về hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN

Bảng 2.6 cho thấy, trong số 05 nội dung thực hiện hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN. Trong đó, có 4 nội dung CBQL, GV, NV không đánh giá ở mức độ “tốt”, riêng nội dung ở thứ hạng 3 được đánh giá 0.4% mức độ “tốt”, với ĐTB từ 3.20 – 3.42. Tuy nhiên, cả 5 nội dung đều không có lựa chọn ở mức “kém”. Kết quả nghiên cứu cho thấy CBQL, GV, NV thực hiện ở mức “trung bình-khá” các nội dung.

Ở thứ hạng 1 với nội dung về “Sự phối hợp với CMT về hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ” có ĐTB = 3.42 ở mức độ thực hiện “khá”. Các nội dung còn lại từ thứ hạng 2 đến thứ hạng 5 có ĐTB từ 3.20 – 3.35 tức nằm ở mức độ thực hiện “trung bình”. Đây là nội dung rất quan trọng mà các nhà QLGD cần phải quan tâm trong công tác ND trẻ trường MN, là một hoạt động cần phải được quan tâm hàng đầu, bởi nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của trẻ.

Khi khảo sát ý kiến của 215 CMT về thực trạng hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở biểu đồ 2.2: Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

  • Biểu đồ 2.2. Ý kiến của CMT về thực trạng hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN

Biểu đồ 2.2 cho thấy cả 06 nội dung CMT hoàn toàn không lựa chọn ở mức “kém”, các thứ hạng từ 1 đến 3 được lựa chọn ở mức “khá” với ĐTB từ 3.82 đến 4.13 và các thứ hạng từ 4 đến 6 có lựa chọn mức độ thực hiện “trung bình” với ĐTB từ 3.07 đến 3.16. Điều này cho thấy CMT có sự tin tưởng vào việc thực hiện các nội dung chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN. Hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN là nội dung quan trọng trong công tác ND trẻ tại trường MN nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện cho trẻ. Trao đổi về vấn đề này, QLT2 cho biết: Trẻ MN hoàn toàn không thể nhận biết được tầm quan trọng của việc ăn uống, thậm chí trẻ còn không quan tâm đến việc ăn gì, có trẻ còn không thèm ăn, uống nếu như không có sự quan tâm của người lớn. Vì thế, chính những người lớn trong trường MN, đặc biệt nhất là GV phải tận tâm, chu đáo trong việc tạo tâm thế, thái độ tích cực và có những kỹ năng cần thiết nhằm tạo cho trẻ hứng thú, hào hứng tham gia bữa ăn một cách tích cực, đảm bảo khẩu phần ăn, nhu cầu dinh dưỡng và lượng nước cần thiết vào cơ thể trẻ. Bên cạnh đó GV, NV phải có nhận thức đúng đắn về nhu cầu về dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ.

Như vậy, cả CBQL, GV, NV và CMT đều có sự lựa chọn đánh giá mức độ thực hiện các nội dung về hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN. Điều này, đáng để các nhà QLGD quan tâm và tìm ra giải pháp giúp đội ngũ được trang bị, bồi dưỡng và trau dồi thêm các kỹ năng cần thiết để chăm sóc bữa ăn cho trẻ đạt hiệu quả cao đáp ứng yêu cầu chăm sóc nuôi dưỡng và tăng cường sức khỏe cho trẻ trong trường MN.

2.3.4. Thực trạng hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ

Giấc ngủ là một hiện tượng ức chế mang tính chất phòng chống hay bảo vệ thần kinh trên võ não. Giấc ngủ tạo sự thăng bằng giữa hoạt động và nghỉ ngơi giúp cơ bắp và thần kinh được phục hồi sau những vận động trước đó. Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ bản ngăn ngừa tình trạng quá mệt mỏi của hệ thần kinh và của cơ thể. Để tìm hiểu thực trạng về hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.7 như sau:

  • Bảng 2.7. Ý kiến của CBQL, GV, NV về hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN

Qua bảng 2.7 cho thấy: Trong số 08 nội dung đề tài đề cập đến trong thực trạng hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN, có 2 nội dung được đánh giá ở mức độ thực hiện “khá”, với ĐTB từ 3.55 đến 3.60; có 6 nội dung được đánh giá ở mức “trung bình” với ĐTB từ 3.11 đến 3.39. Cụ thể là 06 nội dung theo thứ tự: 3,4,5,6, 7, 8. Tuy vậy, tổng tỷ lệ lựa chọn ở mức độ từ “trung bình” đến “tốt” ở mức từ 82% – 96.4%, đa phần không có tỷ lệ “kém”. Điều này cho thấy một số nội dung CSSK chưa được quan tâm đúng mức tại trường MN. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Qua khảo sát nghiên cứu, các nhà QLGD cần phải lưu tâm nâng cao hơn nữa chất lượng CSSK cho trẻ tại trường MN để khống chế hẳn các tỷ lệ yếu, kém và hạn chế tỷ lệ trung bình, đồng thời nâng cao tỷ lệ khá, tốt trong công tác CSSK cho trẻ. Khảo sát nội dung này với 215 CMT về thực trạng CSSK cho trẻ trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ 2.3, như sau:

  • Biểu đồ 2.3. Ý kiến của CMT về thực trạng hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN

Kết quả trong biểu đồ 2.3 cho thấy: Xếp ở thứ hạng 1 được CMT đánh giá “tốt” là trong công tác “đánh giá về thái độ của GV trong thời gian tổ chức giấc ngủ cho trẻ” với ĐTB = 4.31 và tổng tỷ lệ “khá, tốt” chiếm 93.5%, không có tỷ lệ “yếu, kém” và mức độ trung bình được đánh giá không đáng kể (6.5%). Kết quả cho thấy, nội dung này được đánh giá giáo viên có thái độ tích cực trong thời gian tổ chức giấc ngủ cho trẻ.

Xếp hạng 2 và 3 là các nội dung được CMT đánh giá ở mức “khá” với ĐTB >=4.17 và tổng tỷ lệ “khá, tốt” chiếm từ 87.4% – 89.3%, không có lựa chọn mức độ “kém” riêng hạng 3 có lựa chọn mức “yếu” nhưng không đáng kể (0.5) ở nội dung “đánh giá kỹ năng tổ chức hoạt động nhẹ cho trẻ khi ngủ dậy”. Kết quả này cũng cho thấy, CMT đánh giá cao kỹ năng của GV trong công tác chăm sóc giấc ngủ và kỹ năng tổ chức hoạt động nhẹ cho trẻ khi ngủ dậy theo quy định.

Xếp thứ 4 và 5 là các nội dung được CMT đánh giá ở mức “trung bình” với ĐTB từ 2.85 đến 3.00. Với các nội dung của các thứ hạng này, CMT không có sự lựa chọn ở mức “kém” nhưng có sự lựa chọn ở mức “yếu, trung bình” khá cao từ 70.2% – 77.2%. Kết quả của sự lựa chọn này cho thấy, CMT chưa đánh giá cao kỹ năng chuẩn bị giấc ngủ và việc đảm bảo yêu cầu cần thiết đối với giấc ngủ cho trẻ tại nhóm/lớp.

Nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học 2024 – 2025 của các trường MN ngoài công lập tại thị xã Tân Uyên, tác giả nhận thấy 100% trẻ được chăm sóc giấc ngủ tốt, không có nội dung đánh giá việc chăm sóc giấc ngủ của trẻ ảnh hưởng đến công tác CSSK cho trẻ. Khi phỏng vấn, QLT3 chia sẻ: đa số CBQL, GV, NV nhận thức được tầm quan trọng của công tác chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN, do vậy trẻ đa số trẻ được chú ý chăm sóc giấc ngủ trong trường mầm non. Tuy nhiên vẫn còn một vài GV chưa phát huy được tính chủ động linh hoạt và chưa chú trọng công tác tuyên truyền, phối hợp với CMT dẫn đến việc chưa thống nhất các biện pháp chăm sóc giấc ngủ cho trẻ (Phòng Giáo dục và Đào tạo, 2025).

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương đối trong đánh giá giữa CBQL, GV, NV và CMT, tuy CBQL, GV, NV có sự lựa chọn cao hơn nhưng không nhiều. Điều này cho thấy các nhà QL cần quan tâm nhiều đối với công tác chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong các trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên.

2.3.5. Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Trong trường MN, chăm sóc và giáo dục trẻ luôn là hai nhiệm vụ song song. Trẻ em độ tuổi MN chưa có khả năng tự CSSK cho bản thân, trẻ khó có thể thích nghi với những thay đổi bất thường của thời tiết, đặc biệt là khi thời tiết thay đổi, trẻ rất dễ nhiễm bệnh và mầm bệnh phát triển rất nhanh, khả năng lây nhiễm rất cao. Muốn thực hiện được Chương trình GDMN thì trước hết phải đảm bảo trẻ thật khỏe mạnh trong bất kỳ thời tiết nào. Xử lý phiếu khảo sát ý kiến chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.8 như sau:

  • Bảng 2.8. Ý kiến của CBQL, GV, NV về hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN

Từ bảng số liệu 2.8 có thể nhận thấy, có 05 nội dung hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN. Đây đều là những nội dung cơ bản trong công tác CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 1/5 nội dung thực hiện hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi được CBQL, GV, NV đánh giá ở mức độ “khá”, có ĐTB = 3.54, các thứ hạng 2, 3, 4, 5 được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 3.24 đến 3.29. Cụ thể:

Xếp ở thứ hạng 1 là nội dung “công tác phối hợp giữa GV, cán bộ y tế và CMT”, ĐTB = 3.54, thực hiện ở mức độ “khá”. Mặc dù nội dung này được các ý kiến đánh giá thực hiện ở mức độ “khá” nhưng vẫn có ý kiến đánh giá thực hiện ở mức từ “kém” đến “trung bình” chiếm tỷ lệ 50.8%. Điều này chứng tỏ rằng công tác phối hợp giữa GV, cán bộ y tế và CMT còn hạn chế.

Xếp thứ hạng 2, 3, 4, 5 là các nội dung được đánh giá ở mức “trung bình”. Trong đó, đáng lưu tâm là nội dung “kỹ năng xử trí của GV và cán bộ y tế khi phát hiện trẻ ốm”, mặc dù không có lựa chọn mức độ thực hiện kém nhưng mức độ thực hiện “yếu, trung bình” khá cao (66.4%) trong khi tổng tỷ lệ mức độ thực hiện “khá, tốt” chỉ đạt 33.6% và nội dung “kỹ năng của GV trong CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi” với tổng tỷ lệ mức độ thực hiện từ “kém” đến “trung bình” chiếm 59.6%, trong đó mức độ thực hiện “kém” chiếm 1.6% và “yếu” chiếm 14.4%. Qua trao đổi QLT4 cho biết: Công tác CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN còn nhiều hạn chế, nguyên nhân chính là hầu hết các trường MN ngoài công lập không có nhân viên y tế, mặc khác đội ngũ GV chưa có kinh nghiệm, công tác không ổn định, gắn bó với nghề chủ yếu là vì mưu sinh, chưa thật sự tâm huyết với nghề, do đó kỹ năng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ còn nhiều bất cập; QLT5 có ý kiến: “Đa số CMT là công nhân nên phó thác tất cả việc chăm sóc trẻ cho GV và trường MN”. Thực tế hiện nay cho thấy, tất cả các trường MN ngoài công lập đều không có nhân viên y tế, quan tâm chủ yếu nhất của chủ trường MN chính là kinh tế, rất ít người có tâm huyết chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ vì mục tiêu GDMN. Số liệu này đặt ra cho nhà QLGD vấn đề phải xem xét tìm ra giải pháp tích cực hơn trong công tác CSSK cho trẻ. Khảo sát ý kiến CMT về thực hiện hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả ở biểu đồ 2.4 sau: Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Biểu đồ 2.4. Ý kiến của CMT về thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN

Kết quả nghiên cứu theo biểu đồ 2.4, ta thấy CMT có 02 mức độ lựa chọn trong 05 nội dung được khảo sát đó là mức độ “trung bình” và “khá” với ĐTB thấp nhất là 3.02 và cao nhất là 3.44 và tổng tỷ lệ lựa chọn mức độ thực hiện từ “kém” đến “trung bình” rất cao (từ 56.8% đến 77.2%). Với mức lựa chọn đánh giá này, có thể thấy công tác CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN ở mức độ trung bình. Nội dung này cần được các nhà QLGD quan tâm.

2.3.6. Thực trạng công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch

Chúng ta biết rằng, cơ thể trẻ MN phát triển rất nhanh nhưng hết sức non nớt, sức đề kháng rất yếu so với người lớn, trẻ rất dễ mắc các bệnh do ảnh hưởng của môi trường, do phòng bệnh phòng dịch kém. Sự phát triển lệch lạc của trẻ trong lứa tuổi mầm non sẽ để lại hậu chứng về sau khó có thể khắc phục được. Để tìm hiểu thực trạng về công tác công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN, chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV thông qua bảng hỏi. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.9 như sau:

Bảng 2.9. Ý kiến của CBQL, GV, NV và CMT về công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch trong trường MN

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.9 cho thấy, có 3/5 nội dung được đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.75 – 3.79, xếp thứ hạng từ 1 đến 3. 03 nội dung này được CBQL, GV, NV đánh giá khá cao mức độ thực hiện “khá, tốt”, nằm trong khoảng từ 61.6 % – 72.4%. Tuy nhiên, vẫn có sự lựa chọn ở mức độ “trung bình” lẫn mức độ “yếu” và mức độ “kém”, cụ thể:

  • Ở nội dung xếp thứ hạng 1: “Công tác đảm bảo vệ sinh phòng học sạch sẽ, thoáng mát, tránh gió lùa” với ĐTB = 3.79, có lựa chọn mức độ thực hiện “khá, tốt” cao (72.4%), nhưng vẫn có lựa chọn mức độ thực hiện “kém” (1.2%).
  • Ở nội dung xếp thứ hạng 2 và 3, tuy không có lựa chọn mức độ thực hiện “kém” nhưng tổng tỷ lệ lựa chọn mức độ từ “yếu” đến “trung bình” chiếm từ 35.2% đến 38.4%. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Như vậy, chứng tỏ công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch trong trường MN cho trẻ chưa được thực hiện tốt.

Kết quả nghiên cứu trên cũng cho thấy 2/5 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 3.22 – 3.27. Các nội dung này CBQL, GV, NV đánh giá các mức độ từ “kém” đến “trung bình” khá cao. Chúng ta thấy ở nội dung “Đảm bảo vệ sinh sân trường, nhà vệ sinh, hố rác sạch sẽ” (65.6%); “Đảm bảo vệ sinh nguồn nước sử dụng và nguồn nước uống tại đơn vị” (67.6%). Rõ ràng các nội dung này cho thấy vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch trong trường MN còn nhiều hạn chế, cần quan tâm nhiều hơn.

Cùng nội dung này được khảo sát ý kiến CMT, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ 2.5 như sau:

Biểu đồ 2.5. Ý kiến của CMT về thực trạng công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN

Biểu đồ 2.5 cho thấy có 4/5 nội dung được CMT đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.42 – 4.26, xếp thứ hạng từ 1 đến 4 và 1/5 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB = 3.40 xếp thứ hạng cuối cùng. Các số liệu nghiên cứu cho thấy CMT đánh giá cao về công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN.

2.4. Kết quả khảo sát thực trạng QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

2.4.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Qua xử lý thông tin từ phiếu hỏi ý kiến về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua bảng 2.10 sau:

Bảng 2.10. Ý kiến của CBQL, GV, NV về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 2.10 cho thấy CBQL, GV, NV đều nhận thức tốt về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, với ĐTB từ 3.52 đến 4.44 tương ứng với mức độ biểu hiện nhận thức “quan trọng” và “rất quan trọng”. Kết quả phỏng vấn QLT6 cho biết: “Công tác CSSK cho trẻ là công tác được xem là quan trọng hàng đầu trong trường MN, nếu không CSSK được cho trẻ tốt thì khó có thể thực hiện được các nhiệm vụ quan trọng tiếp sau”. QLT7 cũng đồng ý với ý kiến đánh giá này: “Tất cả các trường MN đều phải xem công tác CSSK cho trẻ là công tác quan trọng hàng đầu bởi không thể thực hiện được các hoạt động nào khác nếu trẻ không khỏe mạnh”

Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của các cấp QL, chúng ta nhận thấy trong công tác CSSK cho trẻ trong trường MN được chỉ đạo cụ thể và liên tục. Cùng nội dung này được khảo sát ý kiến CMT, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ 2.6 sau:

Biểu đồ 2.6. Ý kiến của CMT về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu thể hiện ở biểu đồ 2.6 cho thấy CMT cũng có nhận thức cao về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, với ĐTB từ 4.51 đến 4.84 tương ứng với mức độ biểu hiện nhận thức “quan trọng” và “rất quan trọng”.

Chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt đánh giá về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN theo các nhóm khách thể và kết quả thể hiện trong bảng 2.11 sau:

Bảng 2.11. So sánh đánh giá về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN theo các nhóm khách thể

Với trị số Sig từ 0.00 đến 0.02 < 0.05 cho thấy kết quả kiểm nghiệm T và Anova có sự khác biệt ý nghĩa giữa một số các nhóm khách thể trong nhận định về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN.

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi kết luận rằng các nhóm khách thể đều có nhận thức khá về tầm quan trọng của QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, đây là điều rất quan trọng để thực hiện công tác ND-CS- GD trẻ theo Chương trình GDMN. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

2.4.2. Thực trạng QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ

Việc đảm bảo hoạt động khám, đánh giá, theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN có ý nghĩa rất quan trọng nhằm phát hiện một số bệnh thường gặp ở trẻ để có sự can thiệp sớm, tránh những ảnh hưởng cho sự phát triển về sau. Do đó, QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN là một hoạt động QL cần thiết trong công tác ND-CS-GD trẻ. Qua khảo sát ý kiến của 250 CBQL, GV và NV, chúng tôi ghi nhận được kết quả ở bảng 2.12 như sau:

Bảng 2.12. Ý kiến của CBQL, GV, NV về quản lý hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe cho trẻ trong trường MN

Căn cứ các số liệu ở bảng 2.12, có thể nhận thấy 8 nội dung QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN. Đây đều là những nội dung cơ bản trong công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN. Như vậy, CBQL các trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã thực hiện những nội dung này như thế nào? Thực hiện đúng quy định, hiệu quả hay dừng lại ở mặt đối phó. Nghiên cứu các số liệu theo bảng 2.12, chúng tôi nhận thấy như sau:

Tương ứng với mức độ thực hiện thì kết quả các nội dung liên quan đến việc QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN với mức độ thực hiện “khá”, ĐTBC = 3.72 (nằm trong khoảng 3.41 – 4.20), thể hiện sự tương đồng. Cụ thể, có 7/8 nội dung được các CBQL, GV, NV đánh giá là thực hiện ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.42 đến 3.97; 1/8 nội dung được các CBQL, GV, NV đánh giá là thực hiện ở mức độ “trung bình” đó là “đề xuất giải pháp theo dõi và chăm sóc sức khỏe trẻ”, nội dung này ĐTB của CBQL = 3.37, ĐTB của GV, NV= 3.18 và ĐTB của cả CBQL, GV, NV = 3.27. Tuy vị trí công tác khác nhau nhưng giữa CBQL và GV, NV đều có sự đánh giá tương đồng nhau. Điều này, có thể thấy công tác QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN được thực hiện theo quy định nhưng chưa đạt kết quả tốt.

Với mức độ đánh giá này cho thấy công tác QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN còn mang nặng hình thức đối phó, hiệu quả và chất lượng CSSK cho trẻ chưa cao.

Qua phỏng vấn QLT8 cho biết: “Thực tế giáo viên các trường MN ngoài công lập thường xuyên thay đổi, nên việc tập huấn, cung cấp kiến thức cho GV về cân đo, chấm biểu đồ tăng trưởng cho trẻ thường gặp nhiều khó khăn, có khi vừa tập huấn xong GV xin nghỉ việc, trường phải tuyển GV mới”. QLT9 cho rằng: “Công tác phối hợp với cơ sở y tế tại địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho trẻ còn nhiều bất cập và hạn chế, cơ sở y tế địa phương có biên chế rất ít, việc nhiều. Mặc khác, có nhiều cơ sở GDMN ngoài công lập cùng tổ chức hoạt động trên địa bàn nên việc phối hợp CSSK cho trẻ với nhiều cơ sở GDMN ngoài công lập khó thể thực hiện được”. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Biểu đồ 2.7. Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu qua biểu đồ 2.7 cho thấy, công tác QL hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe cho trẻ trong trường MN có 4/5 nội dung được CMT đánh giá mức độ “khá” ĐTB từ 3.47 đến 4.15 và 1/5 nội dung được CMT đánh giá mức độ “trung bình” với ĐTB = 3.04.

Chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt đánh giá về QL hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe cho trẻ trong trường MN theo các nhóm khách thể và kết quả thể hiện trong bảng 2.13:

Bảng 2.13. So sánh đánh giá về QL hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe cho trẻ theo các nhóm khách thể

Qua bảng 2.13 cho thấy, nhóm khách thể có sự khác biệt trong đánh giá là xét theo giới tính: Kết quả kiểm nghiệm T cho ra trị số Sig = 0.04<0.05 cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ ở những nhóm khách thể có giới tính khác nhau. Đánh giá cao nhất (ĐTB = 3.74) thuộc về nhóm khách thể là nữ, điều này cũng dễ hiểu bởi là phụ nữ, sự quan tâm đến trẻ sẽ sát sao hơn, kỹ hơn so với nam giới.

Ở các bình diện còn lại (thâm niên công tác, chức vụ, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD) tất cả trị số Sig >0.05 (xem phụ lục) chứng tỏ không có sự khác biệt ý nghĩa diễn ra ở đây. Như vậy, CBQL, GV, NV cho dù họ có thâm niên công tác nhiều năm hay ít năm, chức vụ ra sao, đã có bằng cấp gì, đã tham gia bồi dưỡng QLGD hay chưa đều không ảnh hưởng đến nhận xét về QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ.

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi kết luận rằng các hai nhóm khách thể đều có đánh giá “khá” về QL hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe cho trẻ trong trường MN. Điều này cho thấy công tác QL hoạt động khám – đánh giá tình trạng sức khỏe cho trẻ trong trường MN chưa được quan tâm đúng mức.

2.4.3. Thực trạng QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Sự phát triển của trẻ ở giai đoạn từ 0-6 tuổi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó vấn đề tổ chức bữa ăn cho trẻ giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Thức ăn, các chất dinh dưỡng làm vật liệu xây dựng cơ thể. Các vật liệu này thường xuyên đổi mới và thay thế thông qua quá trình hấp thụ và chuyển hóa các chất trong cơ thể. Ngược lại, khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển bình thường và đó là nguyên nhân gây ra bệnh tật như suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu do thiếu sắt… Để tìm hiểu thực trạng QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 250 CBQL, GV và NV trường MN ngoài công lập trên địa thị xã Tân Uyên, kết quả thu được thể hiện trong bảng 2.14 như sau:

Bảng 2.14. Ý kiến của CBQL, GV, NV về quản lý hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN

Kết quả ở bảng 2.14 cho thấy các nội dung phản ánh các khía cạnh khác nhau của công tác QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN.

Nội dung được xếp hạng 1 là “công tác kiểm tra, đánh giá tư vấn và chấn chỉnh hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ” được CBQL, GV, NV đánh giá thực hiện ở mức “khá” (ĐTB= 3.75), các nội dung còn lại từ thứ hạng 2 đến thứ hạng 5 được CBQL, GV, NV đánh giá thực hiện ở mức “trung bình” (ĐTB từ 3.06 đến 3.25). ĐTBC của cả 5 nội dung là 3.28 tức ở mức “trung bình”. Đây là con số mà các nhà QLGD phải quan tâm, bởi thực tế cho thấy khi cơ thể trẻ không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển bình thường và đó là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ.

Kết quả phỏng vấn QLT10 cho biết: “Thực tế tổ chức ăn uống cho trẻ trong các trường MN ngoài công lập hiện nay còn phụ thuộc rất nhiều vào “cái tâm” của các chủ đầu tư, các CBQL hầu hết là những người làm thuê và không có quyền quyết định mọi việc kể cả việc ăn uống của trẻ”.

Từ phiếu hỏi ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN, chúng tôi thu được kết quả ở biểu đồ 2.8 như sau: Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Biểu đồ 2.8. Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN.

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 2.8 cho thấy, có 3/6 nội dung được CMT đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3.67 – 4.12 và có 3/6 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 2.95 đến 3.39. Số liệu nghiên cứu này cho thấy CMT đánh giá khá tốt về công tác QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ trong trường MN.

2.4.4. Thực trạng QL hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ

Một giấc ngủ tốt vừa là một trong những điều kiện căn bản, vừa là một trong những dấu hiệu sức khỏe của trẻ. Một giấc ngủ trưa của trẻ càng quan trọng hơn rất nhiều, thời gian dành cho giấc ngủ tuy chỉ chiếm bằng 1/5 thời gian giấc ngủ đêm, song nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt đối với cơ thể trẻ. QL hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN là một công tác vô cùng quan trọng trường MN phải thực hiện. Khảo sát hoạt động này chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 2.15 sau:

Bảng 2.15. Ý kiến của CBQL, GV, NV về quản lý hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN

Kết quả ở bảng 2.15 cho thấy, ĐTBC của 5 nội dung được đánh giá ở mức “trung bình” (ĐTBC = 3.38) với độ lệch chuẩn rất thấp là 0.55, cụ thể:

Xếp ở thứ hạng 1 và 2 đó là: “điều kiện tổ chức giấc ngủ của trẻ: phòng ngủ, giường, chiếu, nệm” và “triển khai quán triệt các văn bản quy định về tổ chức giấc ngủ cho trẻ” với ĐTB từ 3.57 – 3.83 ở mức “khá” .

Xếp ở thứ hạng 3 là “Công tác bồi dưỡng, tạo điều kiện cho đội ngũ trau dồi kiến thức về hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ MN” có ĐTB = 3.40 ở mức “trung bình”. Tuy nhiên, CBQL có lựa chọn đánh giá ở mức “khá” (ĐTB=3.48) trong khi GV, GV có lựa chọn đánh giá ở mức “trung bình” (ĐTB=3.32).

Xếp ở thứ hạng 4 và 5 đó là nội dung “Công tác kiểm tra, đánh giá, tư vấn, chấn chỉnh những hạn chế của đội ngũ về hoạt động tổ chức giấc ngủ cho trẻ” và “hoạt động tổ chức giấc ngủ cho trẻ” có lựa chọn đánh giá ở mức “trung bình” với ĐTB từ 2.92 – 3.06. Điều này cần phải được các nhà QLGD quan tâm QL hiệu quả hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN.

Kết quả phỏng vấn QLT11 về nội dung này cho thấy: “Công tác bồi dưỡng, tạo điều kiện cho đội ngũ trau dồi kiến thức về hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ MN còn nhiều hạn chế, bởi phải phụ thuộc nhiều yếu tố như: tâm huyết của chủ đầu tư, nhận thức và trình độ nhận thức của của đội ngũ CBQL, giáo viên, bảo mẫu…Do đó hiệu quả về công tác này luôn gặp nhiều khó khăn”. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Cùng nội dung này được khảo sát ý kiến CMT, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ 2.9 sau:

Biểu đồ 2.9. Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN

Biều đồ 2.9 cho thấy có 1/4 nội dung được CMT đánh giá ở mức độ “khá” với ĐTB = 3.49, có 3/4 nội dung được đánh giá ở mức độ “trung bình” với ĐTB từ 3.08 – 3.38. Các số liệu nghiên cứu theo biểu đồ cho thấy CMT chưa đánh giá tốt công tác QL hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ trong trường MN.

2.4.5. Thực trạng QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi

Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN. Chúng tôi tiến hành khảo sát và thu được kết quả sau:

Bảng 2.16. Ý kiến của CBQL, GV, NV về quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN

Kết quả nghiên cứu trong bảng 2.16 cho thấy: có 4/7 nội dung được đánh giá thực hiện ở mức độ “khá” (ĐTB từ 3.48 đến 3.66), còn lại 3/7 nội dung được đánh giá thực hiện ở mức “trung bình” (ĐTB từ 3.28 đến 3.40). Với ĐTBC= 3.49, cho thấy công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN được thực hiện ở mức “khá”.

Qua tiếp xúc, chúng tôi được QLT12 chia sẻ: “Hiện nay, trên địa bàn thị xã Tân Uyên, hầu hết các trường MN ngoài công lập đều không có nhân viên y tế, việc CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi hoàn toàn phụ thuộc vào kiến thức và kinh nghiệm của GV. Tuy nhiên, GV lại thiếu kiến thức về y tế nên việc CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi khó thể thực hiện tốt. Chủ yếu là trả trẻ về cho gia đình trẻ chăm sóc”. QLT13 cho biết: “Đa số các trường hợp trẻ bệnh nhà trường đều thông báo cho cha/mẹ trẻ đón về và chăm sóc tại nhà”. QLT14 cho rằng: “Việc tuyển dụng nhân viên y tế làm việc trong trường MN ngoài công lập là việc hiếm thấy, các nhà đầu tư thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và họ giảm mọi chi phí mà họ cho là không cần thiết, việc CSSK của trẻ các chủ đầu tư cho rằng đó là việc của CBQL mà họ thuê và GV phải trực tiếp CSSK cho trẻ”.

Chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 215 CMT ở các trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ sau: Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Biểu đồ 2.10. Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN

Nhìn vào biểu đồ 2.10 cho thấy, có 3/6 nội dung được CMT đánh giá ở mức “Tốt”, với ĐTB từ 4.34 đến 4.68 và có 1/6 nội dung được nhận định ở mức “khá” với ĐTB = 4.13, có 2/6 nội dung được nhận định ở mức “trung bình”, với ĐTB từ 3.20 đến 3.40. Kết quả nghiên cứu này cho thấy CMT đánh giá thấp công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN.

Kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi kết luận rằng các CBQL, GV, NV đều nhận thức được thực trạng công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN, đây là điều rất quan trọng để thực hiện chương trình GDMN hiện nay.

2.4.6. Thực trạng QL công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ

Môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và trạng thái sức khỏe của trẻ. Khi môi trường ô nhiễm, hoạt động của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều bị ảnh hưởng. Khảo sát ý kiến của 250 CBQL, GV và NV trường MN ngoài công lập trên địa thị xã Tân Uyên về nội dung này, chúng tôi thu được kết quả theo bảng 2.17 sau:

Bảng 2.17. Ý kiến của CBQL, GV, NV về quản lý vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch trong trường MN

Trong 9 nội dung được đề tài liệt kê liên quan tới công tác QL về VSMT, PBPD trong trường MN, có 5/9 nội dung được đánh giá thực hiện với kết quả “khá” (ĐTB từ 3.46 đến 3.78), có 4/9 nội dung được đánh giá thực hiện với kết quả “trung bình” (ĐTB từ 2.80 đến 3.32). Ở lứa tuổi MN sức đề kháng với bệnh tật còn kém, do vậy nhu cầu về một môi trường lành mạnh cho trẻ là rất cao vì cơ thể trẻ đang lớn và đang phát triển nhanh trong điều kiện cơ quan hô hấp chưa hoàn thiện, lồng ngực chưa phát triển, cơ hô hấp yếu, lượng khí qua phối thấp, hiệu quả trao đổi khí thấp. Với ĐTBC= 3.37, nằm trong khoảng 2.61 – 3.40, mức độ thực hiện “trung bình”, cho thấy công tác QL VSMT, PBPD trong trường MN được thực hiện ở mức “trung bình”, CBQL và GV, NV đều có lựa chọn đánh giá mức độ thực hiện như nhau.

Chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 215 CMT tại các trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, kết quả thu được: Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Biểu đồ 2.11. Ý kiến của CMT về thực trạng QL vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN

Nhìn vào biểu đồ 2.11 cho thấy, trong 6 nội dung được khảo sát ý kiến của CMT có 3/6 nội dung được lựa chọn đánh giá ở mức độ “khá” (ĐTB từ 3.73 đến 4.12) và 3/6 nội dung được đánh giá mức độ “trung bình” (ĐTB từ 3.11 đến 334). Kết quả đánh giá này cho thấy CMT chưa đánh giá cao công tác QL vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN. Chúng tôi tiến hành so sánh kết quả đánh giá về QL vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch theo các nhóm khách thể, kết quả thể hiện như bảng sau:

Bảng 2.18. So sánh đánh giá về QL vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch theo các nhóm khách thể

Qua bảng 2.18 cho thấy, xét theo chức vụ công tác: Kết quả kiểm nghiệm Anova cho ra trị số P= 0.00<0.05 cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ đánh giá công tác QL vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN theo các nhóm khách thể khác nhau. Nhận thức cao nhất (ĐTB = 3.80) thuộc về nhóm khách thể hiệu trưởng, thấp nhất là nhóm khách thể TT/TPCM (ĐTB = 3.30).

Xét theo nhóm khách thể bồi dưỡng QLGD: Kết quả kiểm nghiệm T cho ra trị số P= 0.01<0.05 cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ đánh giá công tác QL vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN ở những nhóm khách thể khác nhau. Nhóm khách thể đã tham gia bồi dưỡng QLGD có nhận thức cao hơn (ĐTB = 3.51) so với nhóm khách thể chưa tham gia bồi dưỡng QLGD (ĐTB = 3.33).

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi kết luận rằng các CBQL, GV, NV đều nhận thức được thực trạng công tác QL vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN, đây là điều rất quan trọng để thực hiện chương trình GDMN hiện nay.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cụ thể theo bảng 2.19 dưới đây:

Bảng 2.19. Ý kiến của CBQL, GV, NV về các yếu tố thuận lợi trong công tác QL hoạt động CCSK cho trẻ tại trường MN

Trong 7 yếu tố thuận lợi của công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, có 6/7 yếu tố được đánh giá ở tầm ảnh hưởng “thuận lợi” (ĐTB từ 3.58 đến 3.77). Đứng ở vị trí đầu tiên được các CBQL, GV, NV đánh giá ở mức độ ảnh hưởng thuận lợi là yếu tố “Có đầy đủ các văn bản hướng dẫn” (ĐTB = 3.77). Đối với GDMN ngoài công lập, việc có đầy đủ các văn bản hướng dẫn là một trong những điều kiện thuận lợi nhất trong công tác CS-ND-GD trẻ. Yếu tố được xếp ở thứ hạng cuối cùng đó là nội dung “Định hướng, mục tiêu CSSK cho trẻ phù hợp, đúng đắn” với ĐTB = 3.32 nằm trong khoảng 2.61-3.40 mức độ “bình thường”.

Như vậy, có thể thấy vẫn còn tồn tại một số ít CBQL, GV, NV chưa quan tâm tích cực cho sự phát triển chung, thể hiện qua bảng vẫn còn có sự lựa chọn mức độ “không thuận lợi” và “ít thuận lợi”. Đây là những yếu tố cần quan tâm nếu muốn nâng cao hiệu quả tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN và nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN trong giai đoạn hiện nay.

Khảo sát mức độ hài lòng khi gửi con ở trường MN trên 215 CMT tại các trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, kết quả thu được thể hiện trong biểu đồ 2.12 sau:

Biểu đồ 2.12. Ý kiến của CMT về mức độ hài lòng trong công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Nhìn vào biểu đồ 2.12 cho thấy, trong 10 nội dung được khảo sát ý kiến của CMT có 2/10 nội dung được lựa chọn đánh giá ở mức mức “rất hài lòng” với ĐTB từ 4.40 – 4.53; có 7/10 nội dung được lựa chọn đánh giá ở mức mức “hài lòng” với ĐTB từ 3.51 đến 3.98 và 1/10 nội dung được đánh giá mức độ “bình thường” với ĐTB =3.33. Chứng tỏ mức độ hài lòng của CMT đối với công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN chỉ ở mức “hài lòng”. Với kết quả nghiên cứu này càng thêm khẳng định kết quả nhận định trên của tác giả là đúng.

Bảng 2.20. Ý kiến của CBQL, GV, NV về khó khăn trong QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Qua bảng 2.20, ta thấy có 8/8 yếu tố khó khăn được đánh giá mức độ ảnh hưởng “bình thường” với ĐTB từ 3.00 đến 3.20. Qua tiếp xúc và phỏng vấn CBQL các trường MN ngoài công lập, chúng tôi ghi nhận một số ý kiến QLT15 cho biết: “Thực tế trong công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ tại trường MN, chúng tôi gặp nhiều khó khăn nhất là việc thiếu chỉ đạo thống nhất từ trên xuống, điều này phụ thuộc hoàn toàn vào chủ đầu tư, CBQL không thể chỉ đạo và thực hiện các hoạt động khi chủ đầu tư không thống nhất. Mặt khác, năng lực, trình độ nghiệp vụ chuyên môn và kiến thức CSSK cho trẻ của GV còn hạn chế, chưa tích cực, tự giác và thể hiện tinh thần trách nhiệm trong CSSK cho trẻ”. QLT14 cho biết; “Ở một khía cạnh khác, các CBQL của các trường MN ngoài công lập chỉ thực hiện các yêu cầu của chủ đầu tư, nếu chủ đầu tư có chuyên môn GDMN và thực sự “có tâm” thì sẽ chỉ đạo và chấp hành nghiêm túc các quy định, các chỉ đạo của các cấp QL và ngược lại. Đa số các chủ đầu tư và CBQL các trường MN ngoài công lập chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế mà họ thu được từ CMT”.

Song song đó, chúng tôi cũng khảo sát mức độ không hài lòng CMT tại các trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, kết quả thu được: Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Biểu đồ 2.13. Ý kiến của CMT về mức độ không hài lòng trong công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 2.13 cho thấy: trong 6 nội dung về mức độ không hài lòng được lấy ý kiến khảo sát của CMT đối với công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, có 1/6 nội dung, đó là “công tác kiểm tra, tư vấn, định hướng và cải tiến tình trạng dinh dưỡng cho trẻ được đánh giá ở mức độ “Rất không hài lòng” với ĐTB từ 3.83; có 2/6 nội dung được đánh giá ở mức độ “không hài lòng”, ĐTB từ 2.84 đến 3.04 với nội dung: “CSVC, trang thiết bị CSSK cho trẻ còn hạn chế” và “trình độ, năng lực chuyên môn, kiến thức CSSK cho trẻ của đội ngũ CBQL, GV, NV”; có 3/6 được đánh giá ở mức độ “bình thường”, ĐTB từ 2.27 đến 2.52. Số liệu này cho thấy, sự không hài lòng của CMT theo phân tích trên là hoàn toàn có căn cứ. Đây là điều mà các nhà QLGD cần lưu tâm đề ra các giải pháp cụ thể trong công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập giúp trẻ phát triển toàn diện.

2.6. Nhận định chung về QL hoạt động CSSK cho trẻ trong các trường MN

Qua điều tra thực trạng QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi rút ra một số nhận định sau đây:

2.6.1. Ưu điểm

CBQL, GV, NV và CMT nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của công tác CSSK cho trẻ cũng như công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN. CBQL, GV, NV và CMT trong các trường MN ngoài công lập đã thực hiện đầy đủ các nội dung liên quan đến hoạt động CSSK cho trẻ như: công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ, công tác chăm sóc bữa ăn cho trẻ, công tác chăm sóc giấc ngủ cho trẻ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi và công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ.

Trong quá trình QL và chỉ đạo thực hiện công tác CSSK cho trẻ trong các trường MN, các CBQL đã nhận thức được về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ, từ đó đã chỉ đạo thực hiện đầy đủ các nội dung về QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ, QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ, QL hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ, QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi và QL công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN.

Khảo sát những thuận lợi, khó khăn trong công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN các CBQL, GV, NV xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn. Chứng tỏ đa số CBQL, GV, NV nhận thức được các yếu tố làm ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN.

2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Đối với nội dung QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ: Kết quả khảo sát cho thấy công tác QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ trong trường MN chưa được thực hiện tốt còn mang nặng hình thức đối phó, hiệu quả và chất lượng CSSK cho trẻ chưa cao và chưa được quan tâm đúng mức.

Đối với nội dung QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ: Đa số các nội dung về QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ tại các trường MN ngoài công lập chưa được đảm bảo và quản lý tốt.

Đối với nội dung QL hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ chưa được các nhà QLGD quan tâm đúng mức, chưa chỉ đạo thực hiện các nội dung một cách thống nhất và triệt để.

Đối với nội dung QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi: Đa số các nội dung được khảo sát về QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi trong trường MN ngoài công lập chưa được các nhà QLGD quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt.

Đối với nội dung QL công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ trong trường MN: Hầu hết các nội dung được khảo sát về QL công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ đều chưa thực hiện tốt, đặc biệt nhất ở các nội dung: “Chỉ đạo thực hiện lồng ghép giáo dục trẻ những hiểu biết cần thiết trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, phòng bệnh, phòng dịch”, “Phối hợp chặt chẽ với CMT phòng bệnh, phòng dịch, giữ gìn vệ sinh ở gia đình nhằm nâng cao hiệu quả phòng bệnh, phòng dịch”, “Kiểm tra, đánh giá, tư vấn xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn – thân thiện, đảm bảo phòng bệnh, phòng dịch tại đơn vị”.

Khảo sát những thuận lợi trong QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN cho thấy vẫn còn tồn tại một số ít CBQL, GV, NV cho rằng “bình thường” và “ít thuận lợi” trong công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, đặc biệt nhất ở nội dung quan trọng đó là “Định hướng, mục tiêu CSSK cho trẻ phù hợp, đúng đắn”với mức độ đánh giá từ “bình thường”. Điều này cho thấy một số CBQL, GV, NV chưa nhận thức sâu sắc về công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN.

Tương tự, khảo sát những khó khăn trong QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN cho thấy đa số CBQL, GV, NV cho rằng “không khó khăn”, “ít khó khăn” và “bình thường” đến công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ở tất cả các nội dung được khảo sát. Điều này càng khẳng định một số CBQL, GV, NV chưa nhận thức sâu sắc về công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Khảo sát mức độ hài lòng của CMT đối với công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN có thể nhận thấy mức độ “ít hài lòng” được CMT đánh giá ở nhiều nội dung. Điều này cho thấy CMT nhận thức chưa sâu sắc về công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN và chưa có sự phối hợp tích cực trong công tác CSSK cho trẻ.

Khảo sát mức độ không hài lòng của CMT đối với công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN, chúng ta đã nhận thấy vẫn còn nhiều CMT đánh giá “không hài lòng” ở tất cả các nội dung khảo sát và đánh giá mức độ “rất không hài lòng” ở các nội dung như: “công tác kiểm tra, tư vấn, định hướng và cải tiến tình trạng dinh dưỡng cho trẻ”, “CSVC, trang thiết bị CSSK cho trẻ còn hạn chế trẻ”, “Trình độ, năng lực chuyên môn, kiến thức CSSK cho trẻ của đội ngũ CBQL, GV, NV”. Với kết quả nghiên cứu này càng thêm khẳng định chất lượng QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN chưa đạt theo yêu cầu và chưa đạt mục tiêu GDMN.

2.6.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế

  • Nguyên nhân khách quan

Công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN được các cấp lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung cụ thể cho từng hoạt động.

CMT chưa quan tâm đúng mức và chưa phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong công tác CS-ND-GD trẻ.

Công tác tập huấn bồi dưỡng kiến thức về CSSK cho trẻ chưa được tổ chức thường xuyên và rộng rãi cho tất cả các đối tượng GV, NV dẫn đến việc thiếu kiến thức về công tác khám – đánh giá và theo dõi sức khỏe cho trẻ, chăm sóc giấc ngủ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ khi thời tiết thay đổi tại trường MN. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

  • Nguyên nhân chủ quan

Hầu hết CBQL, GV, NV nhà trường đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác CSSK cho trẻ trong trường MN. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo, điều hành còn thiếu đồng bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát chưa thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện công tác CS-ND-GD trẻ dẫn đến hoạt động CSSK cho trẻ còn nhiều hạn chế.

Công tác phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với CMT thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm CSSK cho trẻ vẫn còn một số CBQL chưa quan tâm đúng mức và chưa được CMT tích cực phối hợp.

Mục đích thực hiện nhiệm vụ GDMN của chủ đầu tư, CBQL các trường MN ngoài công lập dẫn đến chất lượng CS-ND-GD trẻ.

Đội ngũ CBQL thực hiện nhiệm vụ GDMN theo sự chỉ đạo và điều hành của chủ đầu tư.

Đội ngũ GV, NV được tuyển dụng vào công tác trong trường MN ngoài công lập thường xuyên không ổn định, kinh nghiệm và năng lực chuyên môn thấp.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

Kết quả nghiên cứu thực trạng QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cho thấy:

Thực trạng QL hoạt động khám, đánh giá và theo dõi sức khỏe được CBQL, GV, NV và CMT đánh giá thực hiện các nội dung ở mức độ “khá”.

Thực trạng QL hoạt động chăm sóc bữa ăn cho trẻ được đánh giá thực hiện các nội dung ở mức độ “trung bình”.

Thực trạng QL hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ được CBQL, GV, NV và CMT đánh giá mức độ thực hiện các nội dung ở mức “trung bình”.

Thực trạng QL hoạt động CSSK cho trẻ khi thời tiết thay đổi: được CBQL, GV, NV và CMT đánh giá thực hiện các nội dung ở mức độ “khá” tuy nhiên vẫn còn một số nội dung đánh giá ở mức độ thực hiện “trung bình”.

Thực trạng QL công tác vệ sinh môi trường, phòng bệnh phòng dịch cho trẻ được CBQL, GV, NV đánh giá thực hiện một số nội dung ở mức độ “khá”, tuy nhiên vẫn còn không ít nội dung được đánh giá thực hiện ở mức độ “trung bình”.

Nhìn chung, công tác QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trường MN ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã được thực hiện ở mức trung bình-khá”. Theo kết quả khảo sát, công tác này có nhiều mặt hạn chế. Từ đó cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp QL chặt chẽ và đồng bộ để QL hoạt động CSSK cho trẻ trong các trường MN ngoài công lập, đảm bảo quyền trẻ em và giúp trẻ phát triển toàn diện trong môi trường GDMN. Những biện pháp đề xuất sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL chăm sóc sức khỏe cho trẻ trường MN

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537