Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội, giáo dục thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội

  • a./. Điều kiện tự nhiên

Thủ Dầu Một là thành phố tỉnh lỵ tỉnh Bình Dương, Việt Nam. Thành phố Thủ Dầu Một hiện là đô thị loại I, là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị của tỉnh Bình Dương và một trong những trung tâm kinh tế của vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Thủ Dầu Một cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km về phía bắc, có vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện, thị trong tỉnh và cả nước qua quốc lộ 13.

Thành phố Thủ Dầu Một được thành lập ngày 2 tháng 5 năm 2012 theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2012

  • b/. Tình hình kinh tế-xã hội

Thành phố Thủ Dầu Một cùng với thành phố Dĩ An và Thuận An là những đô thị nằm ở phía Nam của tỉnh có nền kinh tế phát triển mạnh nhất. Tổng thu ngân sách nhà nước của thành phố năm 2025 đạt 5.600 tỷ đồng, là một trong những thành phố trực thuộc tỉnh có mức thu ngân sách hàng năm trong top đầu cả nước.

Định hướng phát triển kinh tế của thành phố Thủ Dầu Một từ nay đến năm 2026 là dịch vụ – công nghiệp và nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng là 60,89% – 39,07 – 0,04%, trước mắt thành phố tích cực phối hợp với các sở, ngành của tỉnh đẩy nhanh triển khai các dự án đầu tư theo hình thức xã hội hóa, đối tác tư – công; tiếp tục kêu gọi nhà đầu tư xây dựng chợ Thủ Dầu Một, chợ Hàng Bông và chợ Bình Điềm theo hướng văn minh, hiện đại. (Wikipedia, 2026)

2.1.2. Tình hình giáo dục phổ thông ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương có 09 Trường THPT, gồm 05 trường THPT công lập và 04 Trường THPT dân lập. Trường THPT công lập gồm các trường: 01 trường THPT chuyên Hùng Vương và 04 trường THPT là trường Võ Minh Đức, An Mỹ, Nguyễn Đình Chiểu, Bình Phú. Trường THPT dân lập gồm các Trường: TH-THCS-THPT Ngô Thời Nhiệm, THCS-THPT Nguyễn Khuyến, TH-THCS-THPT Việt Anh, Trung-Tiểu học PéTrus-Ký.

Chất lượng giáo dục ở TP Thủ Dầu Một có sự phát triển vượt trội, thể hiện qua kết quả các kỳ thi quan trọng cấp quốc gia. Năm học 2024-2025, tại kỳ thi học sinh (HS) giỏi quốc gia, có 29 HS đạt giải, trong đó có 1 giải nhất, 4 giải nhì; kỳ thi THPT quốc gia năm 2025, có 98,65 % HS THPT đỗ tốt nghiệp, điểm trung bình chung các môn thi xếp hạng thứ 4 cả nước, tỷ lệ điểm trung bình của 8/9 môn thi được xếp trong tốp 10 các tỉnh, thành trong cả nước.

Sở giáo dục Đào tạo tỉnh Bình Dương hằng năm tổ chức cuộc thi KHKT cấp tỉnh, cá trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một đã đạt được những kết quả như sau:

  • Năm học 2025-2026::1 giải nhất- chuyên Hùng Vương. 1 giải nhì -chuyên
  • Hùng Vương. 1 giải 3 –An Mỹ. 2 giải khuyến khích –Hùng Vương, Võ Minh Đức.
  • Năm 2024-2025: 1 giải nhất –chuyên Hùng Vương
  • Năm 2023-2024: 1 giải nhất, 1 giải nhì –chuyên Hùng Vương, 1 giải ba – Võ Minh Đức.
  • Năm 2022-2023: 1 giải nhất, 1 giải nhì , 1 giải ba–chuyên Hùng Vương.

Các trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một tham gia kì thi KHKT cấp quốc gia đã đạt những thành tích sau đây:

  • Năm học 2025-2026: 1 giải tư –Chuyên Hùng Vương
  • Năm học 2024-2025: 1 giải nhì -–Chuyên Hùng Vương
  • Năm học 2023-2024: 1 giải nhì, 1 giải ba- –Chuyên Hùng Vương
  • Năm học 2022-2023: 1 giải nhì, 1 giải ba, 1 giải khuyến khích –Chuyên Hùng Vương.

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

2.2.1. Nội dung khảo sát

  • Nhận thức của CBQL, GV, HS về hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Thực trạng công tác quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng trong đề tài này là các bảng hỏi trưng cầu ý kiến (phụ lục 1.1, 1.2), các câu hỏi phỏng vấn (phụ lục 1.3), phiếu khảo nghiệm những biện pháp đề xuất (phụ lục 1.4). Trong đó, phiếu hỏi trưng cầu ý kiến đóng vai trò chủ đạo, bao gồm phiếu trưng cầu ý kiến dành cho CBQL/GV và học sinh về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Bên cạnh đó, người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu đối tượng là CBQL (05), GV (05), HS (05) của 05 trường THPT nhằm thu thập các thông tin định tính hỗ trợ cho kết quả nghiên cứu khảo sát để làm minh chứng rõ ràng trong phân tích định lượng cho thực trạng đề tài. Phiếu phỏng vấn được thực hiện với một số đối tượng là CBQL, GV và HS gồm: CBQL được mã hóa bằng ký hiệu CBQL01, CBQL02, CBQL03, CBQL04, CBQL05; GV được mã hóa bằng ký hiệu GV01, GV02, GV03, GV04, GV05; HS được mã hóa bằng ký hiệu HS01, HS02, HS03, HS04, HS05.

Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lý; kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh có liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2010 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ bảng khảo sát, phỏng vấn), chúng tôi tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

2.2.3. Tổ chức điều tra, khảo sát Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Chúng tôi sử dụng 02 mẫu khảo sát:

  • Mẫu 1: Dành cho CBQL, GV của 05 trường THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 1)
  • Mẫu 2: Dành cho HS của 05 trường THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 2)

Để tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT và công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Cụ thể trình bày ở bảng 2.1

  • Bảng 2. 1: Thống kê số lượng cần phải khảo sát

Chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của 100% CBQL (67/67), 47% GV (210/449) và 6,3 % HS (374/5897) của 05 trường THPT trên địa bàn để tìm hiểu thực trạng công tác nghiên cứu khoa học của học sinh. Đặc điểm của đối tượng khảo sát như sau:

Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát

  • Bảng 2. 2: Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát

Theo kết quả thống kê bảng 2.2 cho thấy, các thông tin về đặc điểm mẫu khảo sát là GV và CBQL bao gồm:

Giới tính: Số lượng tham gia khảo sát là Nữ chiếm 50,5 %, Nam có tỷ lệ tương đồng, chiếm 49,5% trong tổng số 277 người tham gia khảo sát.

Độ tuổi: Số lượng từ 30 đến dưới 40 chiếm tỉ lệ cao 48.8%, trên 50 tuổi là 14,4%, từ 40 đến dưới 50 tuổi chiếm 28,5% và dưới 30 tuổi chiếm tỉ lệ thấp 7,2%. Vị trí công tác: Hiệu trưởng trong 5 trường được tham gia đầy đủ với 1,8%,

Hiệu phó là 4 %, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là 18,4%, số lượng giáo viên tham gia chiếm đa số 75,8% (210/277).

Thâm niên công tác: Từ 5 đến dưới 10 năm có tỷ lệ cao nhất chiếm 43%, tiếp theo từ 10 đến 20 năm có tỉ lệ tương đương là 42,6%, số lượng trên 20 năm và dưới 5 năm thâm niên chiếm tỉ lệ thấp là 7,2%.

Thâm niên quản lý: số lượng CBQL có thâm niên từ 10 đến dưới 20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 49,8%, theo đó là từ 5 đến dưới 10 năm chiếm 35,7%, từ 20 trở lên và dưới 5 năm đều là 7,2%.

Trình độ chuyên môn: số lượng giáo viên và các bộ quản lý có trình độ cử nhân chiếm 83%, trong đó trình độ thạc sĩ chiếm 15,5%, bên cạnh đó số lượng có trình độ tiến sỹ, nghiên cứu sinh chiếm tỉ lệ thấp 1,4%.

Đặc điểm học sinh được khảo sát

  • Bảng 2. 3: Đặc điểm HS được khảo sát Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Theo kết quả bảng 2.3 cho thấy các thông tin về đặc điểm 374 mẫu khảo sát là học sinh bao gồm:

Giới tính: có tỉ lệ nam và nữ tương đương nhau trong đó nam chiếm 52,7 % (197/374) và nữ chiếm 47,3% trong 100% tổng số khảo sát.

Khối lớp: học sinh lớp 11 chiếm tỉ lệ nhiều nhất với 40,1%, tiếp theo đó học sinh lớp 10 chiếm 30,2% và thấp hơn là lớp 12 chiếm 29,7% trong tổng số mẫu khảo sát.

Đòan viên: tỉ lệ học sinh là đoàn viên chiếm đa số là 69,8%, tỉ lệ học sinh không là đoàn viên chiếm tỉ lệ thấp 30,2% trong tổng số mẫu khảo sát.

Nhìn chung, đặc điểm đối tượng khảo sát học sinh đa dạng về các đối tượng, trình độ tham gia khảo sát.

2.2.4. Qui ước thang đo

Thang đo sử dụng trong 02 phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %,…Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức độ.

Giá trị trung bình = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8

Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng sau:

Bảng 2. 4: Quy ước mức đánh giá, phân tích số liệu

Những quy ước này sẽ được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát thực trạng.

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về hoạt động nghiên cứu khoa học

2.3.1.1 Nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng hoạt động nghiên cứu khoa học

Chúng tôi đã tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng cũng như vị trí, vai trò của hoạt động NCKH trong trường THPT.

Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động NCKH: Kết quả thống kê thực trạng nhận thức của đội ngũ CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của hoạt động NCKH cho HS tại các trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu một, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong biểu đồ 2.1 như sau: Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

  • Biểu đồ 2. 1: Nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng hoạt động nghiên cứu khoa học

Qua biểu đồ 2.1 cho chúng ta thấy CBQL, GV, HS đều thống nhất cho rằng hoạt động NCKH của học sinh là quan trọng và rất quan trọng. Điều đó chứng tỏ việc thực hiện NCKH của các trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương rất được chú trọng.

2.3.1.2 Hiểu biết của CBQL, GV và HS về hoạt động nghiên cứu khoa học

Nhận thức về ý nghĩa và mục tiêu của hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh là rất quan trọng, đặc biệt với những người làm công tác quản lý giáo dục ở nhà trường nói chung, trường THPT nói riêng. Nếu CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh có nhận thức đúng đắn về hoạt động NCKH thì đó chính là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức, tiến hành các hoạt động giáo dục ở nhà trường và gia đình, xã hội có liên quan đến giáo dục NCKH cho học sinh THPT hiện nay.

Khảo sát nhận thức của CBQL giáo dục, giáo viên và HS về nhận thức của CBQL, GV và HS về hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT, chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2. 5: Ý kiến của CBQL, GV; HS về việc xác định hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

Qua kết quả thống kê từ bảng 2.5 cho thấy, phần lớn cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, học sinh tham gia khảo sát đồng ý với các nội dung về việc xác định hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT. Cụ thể là:

Nội dung “Thực hiện đề tài nghiên cứu về một vấn đề chuyên ngành” có điểm trung bình (ĐTB) chung trong đánh giá của GV, CBQL và HS là 3,35 chỉ đồng ý một phần; “Thực hiện đề án nghiên cứu về một vấn đề chuyên ngành” có điểm trung bình chung 3,43 ; “Hội trại khoa học như ngày hội Stem, đêm hội Stem” có điểm là 3,47. “Thực hiện chương trình nghiên cứu về một vấn đề chuyên ngành.” với điểm trung bình chung là 3,52.“Tham gia vào các cuộc thi sáng tạo KHKT các cấp, cuộc thi sáng tạo trẻ, các hoạt động trải nghiệm, giáo dục stem..” có điểm trung bình là 3,53, theo HT5,GV5 thì đây là nội dung quan trọng nhất.“ Hoạt động các câu lạc bộ như robocon, những ngưởi yêu khoa học, các nhà khoa học nhí….”. có điểm ĐTB chung là 3,5.“Thực hiện dự án nghiên cứu về một vấn đề chuyên ngành” có điểm ĐTB chung 3,56 .“ Viết sách, tài liệu tham khảo, Viết bài báo khoa học đăng trên các tạp chí trong nước”. Có điểm ĐTB chung là 3,93, theo CBQL03, GV03 thì đầy là nội dung quan trọng nhất. Đa số cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh nhận thức về việc xác định hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT ở mức chung, nhiều giáo viên và học sinh chưa phân biệt sự khác nhau và chưa tìm hiểu mức độ thực hiện của các nội dung của hoạt động NCKH ở trường THPT như thế nào (GV02, CBQL02, CBQL04, HS04). Đây là hạn chế cần được quan tâm tại các trường THPT, các trường cần có biện pháp giúp GV, CBQL và HS hiểu biết đầy đủ các hoạt động này trong hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT. Đặc biệt giúp họ nhận thức việc xác định cụ thể được hoạt động có ý nghĩa quan trọng giúp GV, HS định hướng và có kiến thức cơ bản cho hoạt động nghiên cứu KH một cách bài bản và lâu dài.

Để hoạt động NCKH của HS ở trường THPT đạt hiệu quả cao thì HS có thể tranh thủ nhiều nguồn lực, do đó việc xác định đối tượng cần liên hệ hợp tác là rất quan trọng nên chúng tôi đã đưa ra bảng khảo sát HS về việc xác định đối tượng mà các em có thể hợp tác trong quá trình NCKH. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

  • Bảng 2. 6: Ý kiến của CBQL, GV; HS về việc xác định đối tượng mà các em có thể hợp tác trong quá trình NCKH

Theo kết quả bảng khảo sát thì “Phụ huynh” có điểm trung bình là 3,07 chỉ đồng ý một phần ý kiến. Trong khi đó, “Giáo viên hướng dẫn” với ĐTB là 3,6 ; “ Ban giám hiệu nhà trường” có điểm TB 3,75. Điểm TB trong các trường hợp đều ở mức đồng ý hoặc đồng ý một phần, tức là còn một số đối tượng chưa nhận thức được hoặc nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa của việc liên hệ, hợp tác với các đối tượng trong các nội dung trên. Các nội dung trên đều là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của việc tìm hiểu ý tưởng, quá trình nghiên cứu và thực thi ý tưởng đó. Qua đó, các trường THPT cần quan tâm, có kế hoạch tạo gắn kết giữa trường phổ thông với các trường cao đẳng, đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức khoa học công nghệ (sở khoa học và công nghệ; Liên hiệp các hội khoa học-kỹ thuật, các doanh nghiệp khoa học công nghệ; các trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm khoa học – kỹ thuật) để tranh thủ được nhiều nguồn lực của các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ sở khoa học công nghệ về người hướng dẫn, các nhà khoa học chuyên ngành, cơ sở vật chất, thiết bị, phòng thí nghiệm, kinh phí… tạo nhiều cơ hội trong hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh.

Việc NCKH của HS trong trường THPT là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển tri thức, kĩ năng của HS và HS biết vận dụng NCKH vào giải quyết vấn đề thực tiễn khi ngồi ở ghế nhà trường. Bên cạnh đó, NCKH cũng tạo điều kiện cho GV hướng dẫn nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân cũng như thúc đẩy giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường (theo CBQL01, GV01, GV02) Ngoài ra, việc NCKH còn góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh các cơ sở giáo dục trung học. Hoạt động còn có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển văn hóa trong trường trung học gắn với đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục cho phù hợp với sự phát triển công nghệ của thời đại. Do đó, chúng tôi đưa ra bảng khảo sát về mục đích của hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh.

  • Bảng 2. 7: Ý kiến của CBQL, GV; HS về mục đích của hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Kết quả bảng khảo sát có 5 nội dung đồng ý và một nội dung ‘Hiểu rõ bản chất của hoạt động NCKH của học sinh’’ là đồng ý một phần. Theo bảng khảo sát thì nội dung “Hiểu rõ được sự thành công của hoạt động NCKH của học sinh dựa vào ba trụ cột Gia đình – nhà trường – chuyên gia” có ĐTB là 3,49. Nội dung “Hiểu rõ bản chất của hoạt động NCKH của học sinh” với ĐTB là 3,4 có mức đánh giá là đồng ý một phần. Nội dung “Nhận thức được vấn đề hướng dẫn HS nghiên cứu KH có ảnh hưởng rất lớn với việc nâng cao chất lượng giáo dục đối với bản thân” có ĐTB là 3,48. Nội dung “Rèn luyện và phát triển các kỹ năng cho học sinh THPT để giải quyết các vấn đề thực tiễn.” có ĐTB là 3,67, còn nội dung “Nhận thấy tầm quan trọng của NCKH trong nhà trường trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay.” được đánh giá là cao nhất với ĐTB là 3,73. Theo bảng khảo sát thì đa số CBQL, GV và HS đều nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động NCKH của HS trong trường THPT có ý nghĩa trong việc phát triển kỹ năng cho HS để giải quyết vấn đề thực tiễn và việc thành công của đổi mới giáo dục.

2.3.2. Thực trạng về nội dung nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Để phong trào NCKH của học sinh hoạt động và phát triển mạnh thì nhà quản lý phải quan tâm đến nội dung của hoạt động này. Nội dung đa dạng, phong phú phù hợp với đối tượng HS sẽ thu hút HS đến với NCKH. Qua khảo sát, chúng tôi thu được kết quả đánh giá thực trạng về thực hiện nội dung giáo dục hoạt động NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương như sau:

  • Bảng 2. 8: Ý kiến của CBQL, GV; HS về thực trạng thực hiện nội dung hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Kết quả bảng khảo sát thì có 6 nội dung đều được đánh giá mức độ thực hiện đa số là ở mức thỉnh thoảng, trong đó nội dung “Tham gia vào các cuộc thi sáng tạo KHKT các cấp, cuộc thi sáng tạo trẻ, các hoạt động trải nghiệm, giáo dục stem.,…” có ĐTB cao nhất là 3,7. Cũng nội dung này được đánh giá ở mức độ đạt cao nhất trong bảng đánh giá với nội dung ĐTB 3,93. Nội dung “Nghiên cứu các đề tài, đề án thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội hành vi” có ĐTB thấp nhất là 3,25. Nội dung này mức độ đạt được cũng đánh giá thấp nhất có ĐT là 3,51. Theo CBQL05, GV05 khả năng trình bày dự án của HS còn hạn chế. Còn xảy ra tình trạng GV ôm đồm làm cả dự án, HS chỉ việc “diễn sâu” những gì được hướng dẫn mà không thực sự nghiên cứu, trải nghiệm.

Nội dung ‘Liên kết NCKH với các trường đại học trong và ngoài tỉnh’’ được đánh giá với 3,66 điểm trung bình, mức độ đạt được là 3,7 điểm. Theo CBQL03, GV03 thì nhà trường có tổ chức cho học sinh tham quan các công trình nghiên cứu công nghệ sản xuất của trường đại học Thủ Dầu Một, tuy nhiên việc NCKH chỉ dừng ở mức tham quan mà chưa phát triển ở các giai đoạn học tập liên kết, liên hệ với các nhà khoa học, để có những hỗ trợ, chia sẻ, hướng dẫn nhằm giúp cho việc NCKH của học sinh đạt kết quả tốt nhất. Theo CBQL01 nhiều HS cũng không có sự chủ động để xin tư vấn từ các nhà khoa học trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Bản thân các em tự mày mò nên nhiều khi đi sai định hướng cần nghiên cứu ban đầu hoặc trong quá trình thực nghiệm gặp khó khăn nên không đạt được hiệu quả.

Theo khảo sát HS03, CBQL03, GV03 ở trường THPT thì thực trạng nội dung hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh thực hiện thỉnh thoảng 2 tháng/1 lần, các sản phẩm NCKH tuy ít nhưng đạt ở mức khá. Hằng năm, sở giáo dục và đào tạo tỉnh có tổ chức cuộc thi KHKT cấp tỉnh, các trường tham gia đầy đủ, phong phú, có những sản phẩm có chất lượng cao. Tuy nhiên, các NCKH hầu hết tập trung vào lĩnh vực khoa học tự nhiên mà rất ít đầu tư vào lĩnh vực khoa học xã hội hành vi.

2.3.3. Thực trạng về sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của học sinh sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Quản lý nội dung giáo dục hoạt động NCKH cho học sinh THPT là nhiệm vụ chính của CBQL mà GV và HS là người thực hiện các nội dung trên. Trong đó, người quản lý phải nắm được các hình thức NCKH vì đó là một yếu tố thể hiện sự phát triển hay không của hoạt động NCKH. Qua khảo sát, tác giả thu được kết quả đánh giá thực trạng về hình thức giáo dục hoạt động NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương như sau

  • Bảng 2. 9:Ý kiến của CBQL, GV; HS về thực trạng thực hiện hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Kết quả bảng khảo sát thì có 8 nội dung đều được đánh giá mức độ thực hiện đa số là ở mức thường xuyên, trong đó nội dung Ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo, tổ chức các cuộc thi sáng tạo trẻ, hội thi ý tưởng,” có ĐTB cao nhất là 4,08. Nội dung ‘Tổ chức diễn đàn” có ĐTB thấp nhất là 3,35. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Ở bảng khảo sát trong mức độ đạt được đa số được đánh giá ở mức khá trong đó nội dung “Phối kết hợp với chính quyền, gia đình, các tổ chức chính trị- xã hội trong và ngoài nhà trường về vấn đề NCKH” có ĐTB cao nhất là 4,04 và nội dung “Giảng dạy tích hợp, lồng ghép”có ĐTB thấp nhất là 3,56.

Nội dung “Tổ chức diễn đàn” được đánh giá ở mức khá, công việc này được thức hiện trong các diễn đàn thanh niên tuy nhiên khi phỏng vấn HS01, GV01 nhận định hoạt động này chưa thường xuyên, chưa tập trung vào các vấn đề cụ thể chuyên sâu của NCKH chỉ mới hình thức có nội dung định kì theo tháng.

Nội dung “Thông qua công tác tuyên truyền dưới cờ” ở các trường cũng đã thức hiện tuy nhiên chỉ tuyên truyền theo một chiều với không gian rộng lớn nên các em khó tập trung vào vấn đề NCKH.

Nội dung “Liên kết NCKH với các trường đại học trong và ngoài tỉnh” theo phỏng vấn của CBQL02, GV02 thì có tổ chức liên kết với các trường đại học với hình thức giao lưu, nhưng hoạt động này chưa thường xuyên và chưa phối họp chặt chẽ với các bộ phận.

Nội dung “Giảng dạy tích hợp, lồng ghép” có điểm TB khảo sát thấp nhất, do chỉ thực hiện với một số môn học trong nhà trường như Vật lý, Tin học, Công nghệ. Theo CBQL04, GV04, HS04 nhận định việc tích hợp này chưa mở rộng với nhiều bộ môn khác trong nhà trường, chưa đa dạng với những hình thức thực hiện lồng ghép.

Nội dung “Bố trí phòng sinh hoạt các câu lạc bộ và hoạt động câu lạc bộ kỹ năng” được thực hiện ở trường THPT thường tích hợp ở phòng Đoàn thanh niên, kết hợp với máy tính, thiết bị đơn giản. Nhận định ở các trường THPT chưa đầu tư cao cho việc hình thành các phòng kĩ năng chuyên biệt ( theo GV04, CBQL04, HS04)

Nội dung “Phối kết hợp với chính quyền, gia đình, các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường về vấn đề NCKH.” được đánh giá ở mức cao nhất cho thấy nhà trường thực hiện khá công tác này. Tuy hiên qua phỏng vấn của CBQL05, GV05, HS05 thì các tổ chức bên ngoài nhà trường chủ yếu hỗ trợ về mặt kinh phí, có tổ chức tham quan cho HS quan sát dây chuyền sản xuất ở địa phương, mà chưa cho HS tìm hiểu sâu về các quy trình NCKH.

Nội dung “Tuyên truyền, triển lãm thành tựu NCKH của học sinh trong và ngoài nhà trường” các trường THPT đã thực hiện tổ chức cho HS tham dự các gian hàng triển lãm KHKT cấp tỉnh hằng năm, tham dự triễn lãm NCKH ở các trường đại học trong tỉnh.Tuy nhiên, việc tham dự này cũng không thường xuyên nên không đi vào chiều sâu, HS khó tiếp cận các thành tựu của NCKH (theo CBQL02, GV02). Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Nội dung “Ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo, tổ chức các cuộc thi sáng tạo trẻ, hội thi ý tưởng” cũng được các trường THPT quan tâm. Thường năm, các trường THPT tổ chức cho HS tham gia ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo. Tuy nhiên, hoạt động trên được nhận định là đơn giản, HS chỉ được nhìn qua, chưa được tìm hiểu sản phẩm mà các em cần quan tâm ( theo GV05, HS05).

Vì vậy, nhận xét về thực trạng thực hiện hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT ở các trường trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một có thực hiện, có tổ chức, có tham gia nhưng mới ở mức cơ bản, đơn giản, không đi sâu vào vấn đề NCKH mà HS quan tâm.

2.3.4. Thực trạng hình thức nghiên cứu khoa học của học sinh sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Để tạo một sản phẩm NCKH thì GV hướng dẫn phải hướng dẫn các em những phương pháp NCKH, đồng thời các em phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu ấy áp dụng vào NCKH của mình. Do đó, các phương pháp NCKH là vô cùng quan trọng trong quá trình nghiên cứu, nên chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng phương pháp nghiên cứu khoa học của học sinh THPT với kết quả khảo sát như sau.

  • Bảng 2. 10:Ý kiến của CBQL, GV; HS về thực trạng phương pháp thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Theo kết quả bảng khảo sát ở bảng 2.9 thì nội dung đều được đánh giá ở mức khá, trong đó “Phương pháp khoa học thực nghiệm” được đánh giá cao nhất với ĐTB là 3,94, và “Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm” có điểm TB thấp nhất là 3,47.Trong đó mức độ đạt được “Phương pháp lịch sử” được đánh giá cao nhất là 3,95, “Phương pháp điều tra” đánh giá thấp nhất là 3,5. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp lý thuyết” mức độ thực hiện là thường xuyên và mức độ đạt được là khá (ĐTB 3,7). Thực tế cho thấy HS thường dựa trên sự phân tích nền tảng lý thuyết đã được học và đã nghiên cứu để tổng hợp chúng lại, xây dựng thành một lý thuyết khoa học mới. Đây là hướng NCKH có logic nên sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên, thực tế là HS vẫn chưa phát triển nghiên cứu của mình thành lý thuyết mới mà chỉ dừng ở mức vận dụng những lý thuyết đã được công bố ( theo GV01, HS01)

Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm” mức độ thực hiện là thường xuyên (ĐTB 3,47) và mức độ đạt được là khá (ĐTB 3,7). Thực tế cho thấy HS thường thực hiện nghiên cứu của mình dựa trên thành quả của hoạt động nghiên cứu trong thực tiễn quá khứ, sau đó rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn. Tuy nhiên, thực tế việc tổng kết kinh nghiệm chỉ ở mức đơn giản, một vài lĩnh vực, một vài tài liệu nghiên cứu, không chuyên sâu nên chưa có cái nhìn tổng quát.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn” có mức độ thực hiện với ĐTB là 3,66, mức độ đạt được có ĐTB là 3,7 được đánh giá là thường xuyên thực hiện (theo GV03, HS03).

Phương pháp chuyên gia” có mức độ thực hiện là thường xuyên (ĐTB 3,51) và mức độ đạt được là khá (ĐTB 3,73). Nhưng trên thực tế, HS chỉ tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn có trình độ chuyên môn khoa học nhất định, không chuyên sâu. Do đó, hoạt động NCKH tạo ra các sản phẩm khoa học chỉ dừng ở mức độ cơ bản ( theo GV01, CBQL01, HS01)

Phương pháp lịch sử” có mức độ thực hiện là thường xuyên (ĐTB 3,65) và mức độ đạt được là khá (ĐTB 3,95), được đánh giá là thường xuyên có thực hiện. Nhưng trên thực tế, HS chỉ tìm hiểu những nghiên cứu mà các nhà khoa học đã thực hiện đến đâu, nhưng chưa tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển để từ đó rút ra kết luận.

Phương pháp quan sát khoa học” được đánh giá mức độ thực hiện là thường xuyên và đạt được là khá với ĐTB lần lượt là 3,65 và 3,73. HS thực hiện nghiên cứu có mục đích, có kế hoạch, có thu thập thông tin đơn giản. Trên thực tế, việc thực hiện kế hoạch chưa có hệ thống, chưa có quá trình tổng hợp thông tin, kiểm tra, đối chứng lý thuyết (theo GV04, HS04)

Phương pháp điều tra” có điểm TB 3,77 là ở mức độ thực hiện là thường xuyên và mức độ đạt được là khá với 3,5 điểm.

Phương pháp thực nghiệm khoa học” có mức độ đạt được là 3,94 điểm, hoạt động này được HS thực hiện diễn ra thường xuyên và mức độ đạt được là 3,65 điểm. Trên thực tế, HS có tiến hành thực nghiệm để nghiên cứu khoa học nhưng hoạt động này chưa có hệ thống, chưa khoa học nên kết quả đạt được chưa cao (theo CBQL02, GV02, HS02).

Qua khảo sát nhận thấy HS có thực hiện các phương pháp nghiên cứu trong hoạt động NCKH nhưng chỉ ở mức đơn giản, chưa có hệ thống, chưa khoa học và chuyên sâu.

2.3.5. Kết quả nghiện cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một trong những năm học gần đây Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Kết quả cuộc thi KHKT cấp tỉnh, các trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một đã đạt được những kết quả như sau:

  • Năm học 2025-2026::1 giải nhất- chuyên Hùng Vương. 1 giải nhì -chuyên Hùng Vương. 1 giải 3 –An Mỹ. 2 giải khuyến khích –Hùng Vương, Võ Minh Đức.
  • Năm 2024-2025: 1 giải nhất –chuyên Hùng Vương
  • Năm 2023-2024: 1 giải nhất, 1 giải nhì –chuyên Hùng Vương, 1 giải ba – Võ Minh Đức.
  • Năm 2022-2023: 1 giải nhất, 1 giải nhì , 1 giải ba–chuyên Hùng Vương.

Các trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một tham gia kì thi KHKT cấp quốc gia đã đạt những thành tích sau đây:

  • Năm học 2025-2026: 1 giải tư –Chuyên Hùng Vương Năm học 2024-2025: 1 giải nhì -–Chuyên Hùng Vương
  • Năm học 2023-2024: 1 giải nhì, 1 giải ba- –Chuyên Hùng Vương
  • Năm học 2022-2023: 1 giải nhì, 1 giải ba, 1 giải khuyến khích –Chuyên Hùng Vương.

2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2.4.1. Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Nhận thức đúng tầm quan trọng của việc quản lý giáo dục NCKH của học sinh THPT sẽ đảm bảo được các kế hoạch và nội dung thực hiện đạt hiệu quả cao. Qua khảo sát ý kiến của CBQL và GV, tác giả thu được thông tin trình bày ở biểu đồ 2.2 như sau:

  • Biểu đồ 2. 2: Ý kiến của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Qua kết quả khảo sát CBQL và giáo viên cho rằng, quản lý hoạt động giáo dục NCKH của học sinh THPT rất quan trọng chiếm 71,5%; 21,3% các thầy cô cho rằng ở mức quan trọng, chỉ có 7,2% cho rằng ít quan trọng. Đây là dấu hiệu tích cực cần được phát huy đồng bộ trong các trường trường THPT trên địa bàn, vì khi chúng ta xác định được những lợi ích từ công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH của học sinh trong nhà trường THPT, chúng ta sẽ chủ động hơn và có những kế hoạch tổ chức thực hiện hiệu quả về hoạt động giáo dục kỹ năng này. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

2.4.2. Thực trạng lập về xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý. Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với sự lựa chọn mục tiêu, quyết định các chiến lược, các chính sách, kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu trong quản lý hoạt động NCKH của HS.

  • Bảng 2. 11: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Theo kết quả bảng khảo sát 2.10 về thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đa số được đánh giá ở mức trung bình, trong đó nội dung “Lên kế hoạch đảm bảo nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh.” và “Lập kế hoạch đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị các phòng thí nghiệm phục vụ NCKH’’ được đánh giá cao nhất với ĐTB là 3,57, và nội dung “Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và các đoàn thể trong trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục NCKH cho HS” có điểm TB thấp nhất là 2,57.

Công tác lập kế hoạch đều được các trường THPT thực hiện lập kế hoạch về nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực, bước đầu lập kế hoạch nâng cấp cơ sở vật chất, phòng thiết bị vì các nhà quản lý nhận thấy đây là yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động giáo dục KHKT của học sinh.

Nội dung “Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và các đoàn thể trong trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục NCKH cho HS.” Được đánh giá là yếu với ĐTB 2,57. Hầu như các trường THPT chưa thực hiện xây dựng cơ chế phối hợp các tổ chức trong nhà trường, thiếu sự liên kết, hỗ trợ giữa các tổ chức trong nhà trường (theo GV03, CBQL03, GV04, CBQL04). Đây là một hạn chế mà các nhà quản lý cần có giải pháp để khắc phục.

Nội dung “Lập kế hoạch liên kết học tập với các trường đại học, gặp gỡ các chuyên gia.” được đánh giá mức trung bình vì các trường thường tự thân vận động trong hoạt động NCKH, chưa thường xuyên liên hệ với các trường đại học, cao đẳng (CBQL03, GV03). Chưa thực hiện ký kết, hợp tác với các trường đại học, do đó chưa tận dụng những tiềm năng có sẵn của các trường đại học. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Kế hoạch thành lập ban kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục học sinh NCKH ở trường THPT” được đánh giá mức độ trung bình có điểm số TB là 3,29. Các trường đã có sự phân công và thành lập ban kiểm tra đánh giá, nhưng việc kiểm tra đánh giá chỉ theo dõi mà chưa đánh giá hoạt động.

Nội dung “Xác định và hình thành ý tưởng, mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh.” Được đánh giá mức độ trung bình. Theo CBQL04, GV04 thì nhà trường chưa xây dựng chính xác mục tiêu hoạt động của NCKH của nhà trường.

Các đối tượng khảo sát đánh giá mức độ trung bình đối với việc “Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong NCKH.” Theo CBQL05, GV05 thì công tác này trong nhà trường chủ yếu chỉ đạo giáo viên các môn khoa học tự nhiên nâng cao kiến thức giúp đỡ các em trong quá trình NCKH. Hầu như chưa tạo điều kiện cho GV được đào tạo bài bản qua các lớp bồi dưỡng và phát triển kiến thức.

Lập kế hoạch tổ chức sân chơi cho HS tham gia NCKH.” được đánh giá mức độ khá. Theo CBQL01, GV01 thì nhà quản lý chỉ đạo Đoàn thanh niên tổ chức các sân chơi cho HS hoạt động NCKH.

Kế hoạch thành lập ban chỉ đạo hoạt động giáo dục học sinh NCKH ở trường THPT.” Được đánh giá mức khá. Các trường đều ra các văn bản thành lập ban chỉ đạo thực hiện hoạt động NCKH cho HS đầy đủ.

Đánh giá khá còn có nội dung “Lên kế hoạch đảm bảo nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh..” theo CBQL02, GV02 thì đây là những yếu tố quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý vì để đảm bảo được hoạt động giáo dục này thành công thì phải đảm bảo những yêu cầu nguồn nhân lực, tài lực, trí lực của từng trường.

Lập kế hoạch đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị các phòng thí nghiệm phục vụ NCKH” cũng được đánh giá mức khá vì nhà quản lý nhận thấy tầm quan trọng của cơ sở vật chất trong việc NCKH của HS.

Qua bảng khảo sát CBQL và GV về thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh, chúng tôi nhận thấy cán bộ quản lý ở các trường THPT đã tiến hành lập kế hoạch để thực hiện hoạt động NCKH trong nhà trường, tuy nhiên các nội dung chỉ đánh giá ở mức cơ bản, đơn giản, hình thức, chưa tận dụng được những tiềm năng có sẵn và phát huy những mặt mạnh trong quá trình thực hiện NCKH.

2.4.3. Thực trạng về thực hiện kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Để triển khai việc NCKH của học sinh đi vào hoạt động thì công tác tổ chức của nhà quản lý có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong các chức năng quản lý. Hoạt động NCKH có hiệu quả hay không là việc tổ chức các hoạt động này cụ thể như thế nào. Do đó, chúng tôi đã khảo sát CBQL, GV về thực trạng công tác tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh như sau:

  • Bảng 2. 12: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng công tác tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Theo bảng khảo sát 2.11 gồm có 13 nội dung, trong đó có hai nội dung được đánh giá là yếu (nội dung 1 và 2). Có 7 nội dung được đánh giá trung bình từ nội dung thứ 3 cho đến thứ 9. Nội dung thứ 10 đến 13 được đánh giá là khá.

Nội dung ‘Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các thành tựu NCKH của học sinh trong tỉnh, ngoài tỉnh, trên thế giới.” có điểm TB thấp nhất là 2,57. Việc tuyên truyền, phổ biến thành tựu NCKH còn rất hạn chế. Theo CBQL02, GV02 thì công tác này thường thực hiện 1 lần /năm, khi có công văn chỉ đạo thì mới tổ chức hoạt động.

Tổ chức, chỉ đạo học tập NCKH cho HS với các trường đại học, HS có cơ hội tiếp xúc với các chuyên gia’’ được đánh giá là yếu với ĐTB là 2,57. Nhà trường có liên kết với các trường đại học nhưng ở mức độ tham quan học tập 1 lần /năm. HS và giáo viên chưa có cơ hội tiếp xúc với các chuyên gia để tìm hiểu, học tập thêm về NCKH.

Hình thành các tập thể nghiên cứu mạnh dưới sự dẫn dắt của các giáo viên cốt cán khoa học đầu đàn’’ Nhà trường đã tiến hành thông báo, kêu gọi GV khuyến khích HS tham gia. Thực tế, theo CBQL01, GV01 hoạt động này được đa số các GV giảng dạy bộ môn khoa học tự nhiên hướng dẫn, khuyến khích HS tham gia và rất hạn chế ở các môn khoa học xã hội. Theo bảng khảo sát thì được đánh gia ở mức trung bình với điểm số 2,71.

Với nội dung “Tổ chức cho giáo viên, học sinh tham gia các lớp tập huấn về NCKH’’ được đánh giá trung bình với 2,86 điểm. Trên thực tế, sở giáo dục và các tổ chức đoàn thể rất ít tổ chức các lớp tập huấn riêng về NCKH cho GV và HS trong trường THPT. Do đó, việc tham gia vào các lớp trên là rất ít.

Thành lập ban chỉ đạo hoạt động giáo dục NCKH của HS ở trường THPT’’ được đánh giá trung bình với điểm số 3,29. Nhà trường có ra quyết định thành lập ban chỉ đạo hoạt động, nhưng chỉ dừng ở mức hành chính như hướng dẫn các bộ phận hoạt động, triển khai theo nội dung phân công. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Lập ban kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục NCKH của HS ở trường THPT’’ được đánh giá trung bình, công tác này chưa được thực hiện đầy đủ.

Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị, các phòng thí nghiệm phục vụ NCKH’’ được đánh giá trung bình với ĐTB là 3,29. Các trường THPT có tổ chức nhưng thực hiện không đầy đủ vì không có kinh phí. Cũng như công tác “tổ chức, chỉ đạo duyệt kinh phí, bố trí thời gian, thời điểm thực hiện hợp lí’’ thực hiện hông đầy đủ việc bố trí thời gian gặp khó khăn vì đa số các trường thực hiện học hai buổi/ngày. Nội dung nay cũng được đánh giá trung bình với ĐTB là 3,29.

Tổ chức các cuộc thi trong nhà trường như ‘hội thi ý tưởng’’, “sáng tạo trẻ’, , có kế hoạch nhưng chưa được thực hiện thường xuyên.

Nhà trường xác định nội dung giáo dục cho học sinh NCKH’’ các trường tập trung chủ yếu bộ môn khoa học tự nhiên như Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, mà ít chú trọng đến bộ môn xã hội và các sản phẩm thiếu tính mới và ứng dụng không cao. Công tác này được đánh giá ở mức khá với ĐTB là 3,5.

Hình thành các câu lạc bộ như robocon, olimpia, văn học, …tạo điều kiện cho HS có sân chơi bổ ích’’ đa số các nhà quản lý ở các trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một đều có hình thành các câu lạc bộ. Tuy nhiên, hình thức hoạt động của các câu lạc bộ chưa phong phú. Theo CBQL01, GV01 do lịch học và dạy của HS, GV dày đặc nên việc sắp xếp để sinh hoạt câu lạc bộ theo kế hoạch khó thực hiện được. Thông thường, các câu lạc bộ sinh hoạt 2 tháng/lần.

Tổ chức, chỉ đạo cho các đoàn thể, các tổ chuyên môn về nội dung, thời gian, địa điểm hoạt động của các câu lạc bộ, các hội thi liên quan đến NCKH trong nhà trường’’ được đánh giá là khá với điểm TB 3,57. Nhà trường chỉ đạo Đoàn thanh niên thành lập các bộ phận phân công theo dõi hoạt động của các câu lạc bộ, nhưng việc làm đó không thường xuyên.

Tổ chức cho giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch các đề tài, dự án.’’ Có điểm đánh giá là trung bình với 3,58 điểm, mức độ đánh giá là khá. Nhà trường có tổ chức phân công nhiệm vụ rõ ràng, nhưng việc thực hiện còn sơ sài, chưa khoa học.

Qua kết quả bảng khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy thực trạng công tác tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đã hình thành các câu lạc bộ, có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động NCKH, có chỉ đạo các đoàn thể, các tổ chuyên môn trong nhà trường về nội dung, hình thức cũng như thời điểm, địa điểm. Tuy nhiên, mọi công tác tổ chức chỉ ở mức cơ bản, không chuyên sâu, thiếu tính khoa học. Đây cũng là những mặt mà nhà quản lý cần những biện pháp để khắc phục để hoạt động NCKH của học sinh phát triển.

2.4.4. Thực trạng về công tác chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một

Một trong những yếu tố thành công của công tác quản lý là công tác chỉ đạo thực hiện. Nếu việc chỉ đạo sâu sát, cụ thể, khoa học, thường xuyên thì hoạt động quản lý giáo dục NCKH của học sinh mới có kết quả cao. Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh qua bảng 2.13

  • Bảng 2. 13: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Qua bảng khảo sát bảng 2.13 khảo sát 9 nội dung, trong đó có 6 nội dung được đánh giá trung bình gồm nội dung số 1 đến 6. Ba nội dung 7,8,9 được đánh giá ở mức độ khá. Kết quả đánh giá cao nhất là nội dung “Tuyên dương khen thưởng cá nhân tập thể thực hiện tốt hoạt động NCKH.’’ với ĐTB là 3,58, nội dung “Hướng dẫn cụ thể HS hoạt động NCKH ở các câu lạc bộ’’ được đánh giá thấp nhất với điểm TB là 2,71. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Nội dung “Hướng dẫn cụ thể HS hoạt động NCKH ở các câu lạc bộ.’’ được đánh giá mức trung bình, các nhà quản lý các nhà trường có tổ chức thành lập các câu lạc bộ mục đích cho học sinh NCKH, tuy nhiên việc hướng dẫn chi tiết những hoạt động của câu lạc bộ thì chưa thực hiện được.

Theo CBQL01, GV01 thì việc chỉ đạo nội dung “Phối hợp với gia đình, các doanh nghiệp để hỗ trợ về kinh phí thực hiện dự án.’’ hầu như ít thực hiện, do đó việc trao đổi với phụ huynh và tranh thủ sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, phụ huynh về tài lực, trí lực rất hạn chế. Nội dung này được đánh giá trung bình với 2,79 điểm.

Nội dung “Thường xuyên kiểm tra, rút kinh nghiệm’’ được đánh giá trung bình với 3,22. Công tác này ít được thực hiện, thường sau 1 năm các nhà quản lý tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm qua các báo cáo tổng kết cuối năm.

Theo CBQL02, GV02 với nội dung “Phân công các tổ chuyên môn, cán bộ giáo viên tìm hiểu tài liệu, các nghiên cứu về các lĩnh vực đề tài, dự án NCKH, chuẩn bị các điều kiện thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH’’ thì ở các nhà trường có bước chỉ đạo khuyếnh khích các tổ chuyên môn tìm hiểu và nghiên cứu các đề tài NCKH, chủ yếu là tập trung đối với bộ môn khoa học tự nhiên. Với những chỉ đạo cơ bản như thế nên nội dung này cũng được đánh giá mức trung bình có điểm TB 3,29.

Hiệu trưởng ra quyết định thành lập ban quản lý hoạt động NCKH của học sinh.’’ thì ở một số trường chưa thực hiện đồng bộ. Theo CBQL01, GV01 có quyết định thành lập ban tổ chức hoạt động NCKH, cón CBQL02, GV02, CBQL03, GV03, CBQL04, GV04 thì nội dung này vẫn chưa thực hiện được. Do đó, nội dung trên được đánh giá ở mức trung bình với điểm TB là 3,29.

Nội dung “Chỉ đạo tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, kinh phí, thời gian và hỗ trợ kinh phí triển khai NCKH, khen thưởng kịp thời.’’ thực hiện không thường xuyên vì thiếu nguồn kinh phí để đầu tư về cơ sở vật chất, kinh phí, khen thưởng cho hoạt động NCKH. Nội dung này cũng được đánh giá 3,29 điểm ở mức trung bình.

Với nội dung “Hiệu trưởng ra quyết định tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi ý tưởng, sáng tạo trẻ…’’được thực hiện thường xuyên hơn. Nhà quản lý đã ra quyết định tổ chức các cuộc thi như sáng tạo, cuộc thi ý tưởng, hoạt động trải nghiệm….01 lần/năm. Theo CBQL01, GV01 hằng năm nhà trường đều ra quyết định cho HS tham gia các kì thi sáng tạo trẻ các cấp. Tuy nhiên, theo CBQL02, GV02 khi tổ chức các hoạt động trãi nghiệm chỉ tập trung cho HS cuối cấp và ở mức độ tham quan học hỏi. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Nội dung “Chỉ đạo giáo viên các bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học, Tin học, các môn xã hội thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp’’ được chỉ đạo trong các cuộc họp hội đồng, tuy nhiên theo kết quả phỏng vấn đối với GV03, HS03 thì hoạt động lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH trong giảng dạy chỉ ở mức chỉ đạo, còn việc thực hiện thì thỉnh thoảng vì không sắp xếp được thời gian và lịch học của HS dày đặc.

Nội dung “Tuyên dương khen thưởng cá nhân tập thể thực hiện tốt hoạt động NCKH.’’được đánh giá ở mức khá với ĐTB 3,58. Hoạt động này được thực hiện tuyên dương kịp thời sau mỗi khi tập thể hay cá nhân có những thành tích tốt trong hoạt động NCKH, được tổ chức trong dịp sinh hoạt dưới cờ hoặc tổng kết học kì hay cả năm ( theo CBQL04, GV04).

Qua kết quả bảng khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một có chỉ đạo các tổ chuyên môn và các giáo viên tự nhiên lồng ghép NCKH trong giảng dạy, tổ chức các hội thi sáng tạo trẻ, thực nghiệm trải nghiệm sáng tạo.., có khen thưởng kịp thời.Tuy nhiên, việc chỉ đạo các nội dung khác chưa sâu sắc và đầy đủ. Dựa vào thực trạng của trên các nhà quản lý tìm những biện pháp tốt để khắc phục để đưa hoạt động NCKH trở thành một trong những lá cờ đầu của nhà trường.

2.4.5. Thực trạng về công tác kiểm tra, giám sát thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một

Công tác kiểm tra, giám sát là một khâu không thể thiếu được trong công tác quản lý NCKH, qua công tác kiểm tra nhà quản lý phát hiện ra những hạn chế, thiếu sót của hoạt động NCKH so với yêu cầu đề ra, phân tích những nguyên nhân chủ quan, khách quan của những hạn chế, thiếu sót. Ngoài ra, qua công tác kiểm tra có thể cung cấp cho nhà quản lý những thông tin cần thiết để đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH trong nhà trường. Thực trạng công tác kiểm tra hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một” qua bảng 2.14 như sau:

  • Bảng 2. 14: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng công tác kiểm tra hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Qua kết quả bảng khảo sát 2.14 chúng tôi khảo sát 9 nội dung, trong đó các nội dung 1,2,3,4 được đánh giá là yếu. Các nội dung 5,6,7,8 được đánh giá là trung bình. Được đánh giá cao nhất là nội dung “Trưng bày các sản phẩm và ứng dụng của sản phẩm vào phòng truyền thống.” với 3,21 điểm và nội dung ‘Kiểm tra các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH” được đánh giá mức yếu thấp nhất với 2,36 điểm.

Trong nhóm các nội dung được đánh ở mức yếu gồm các nội dung “Kiểm tra các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH”, “Kiểm tra các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH”, “Liệt kê và đánh giá sản phẩm các bài báo, sản phẩm NCKH, báo cáo chuyên đề , hội thảo cấp trường, số lượng các đề tài, sản phẩm đạt giải trong các kỳ thi” với ĐTB là 2,43 ,“Đánh giá ứng dụng kết quả NCKH và công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.” Với ĐTB là 2,50, “Đánh giá hoạt động liên kết NCKH với các trường đại học, liên kết với các chuyên gia” có ĐTB 2,57, ở các trường THPT hầu như không thực hiện sau một năm học. Thường các nhà quản lý chỉ nắm số lượng hoạt động tốt trong NCKH để báo cáo cuối học kì hoặc cuối năm, chưa có quá trình kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện hoạt động NCKH. Do đó, các nhà quản lý đã bỏ qua giai đoạn nắm bắt được những thông tin kịp thời của GV, HS, của hoạt động NCKH.Việc điều chỉnh những khó khăn, vướng mắc để đáp ứng với yêu cầu đề ra là chưa kịp thời.

Với nội dung “Kiểm tra việc thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp” được đánh giá ở mức trung bình với 2,78 điểm. Theo phỏng vấn CBQL03, GV03 thì hoạt động này ít thực hiện, chỉ kiểm tra khi có công văn kiểm định chất lượng nhà trường hoặc 1 lần/ năm. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Công tác “Kiểm tra hoạt động NCKH ở các câu lạc bộ” được đánh giá trung bình với 2,78. Công tác kiểm tra hoạt động của các câu lạc bộ trong nhà trường thường được giao cho Đoàn thanh niên thực hiện, thiếu kiểm tra đánh giá mức độ hoạt động của các câu lạc bộ. Theo CBQL01, GV01 có tham gia câu lạc bộ một năm một lần vào những dịp câu lạc bộ tổ chức hội thi sáng tạo KHKT hay Robocon.

Công tác “Đánh giá ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi ý tưởng, sáng tạo trẻ…” được đánh giá trung bình với 2,86 điểm. Hoạt động này thực hiện không thường xuyên, chỉ dừng ở mức đánh giá kết quả sau mỗi lần tổ chức hoạt động trãi nghiệm cho HS”

Với nội dung “Điều chỉnh kế hoạch, phương thức tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục NCKH cho HS cho phù hợp” thì hầu như ít thực hiện, các kế hoạch về hoạt động được áp dụng như mọi năm, ít có sự thay đổi kế hoạch.

Nội dung “Trưng bày các sản phẩm và ứng dụng của sản phẩm vào phòng truyền thống.” được đánh giá mức trung bình với 3,21 điểm. Theo CBQL01, GV01 nhà trường có tổ chức trưng bày sản phẩm thành tựu các sản phẩm đoạt giải trong kì thi KHKT cấp quốc gia hằng năm, tuy nhiên chỉ một số ít sản phẩm được trưng bày. Trong khi đó CBQL02, GV02, CBQL03, GV03 thì hầu như bỏ qua hoạt động này với lý do các sản phẩm NCKH và các ứng dụng của các trường thì rất ít.

Qua việc phân tích bảng hỏi khảo sát CBQL, GV về thực trạng công tác kiểm tra hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh chúng tôi nhận thấy công tác này còn rất nhiều điểm yếu, hoạt động kiểm tra đánh giá hầu như không đạt yêu cầu, không thực hiện. Do vậy, việc đánh giá mặt mạnh, mặt yếu để từ đó có bước điều chỉnh kế hoạch đáp ứng mục tiêu đặt ra trong việc NCKH của học sinh là chưa đạt. Đây cũng là những vấn đề mà nhà quản lý cần phải đưa ra những biện pháp để khắc phục.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Hoạt động NCKH trong nhà trường THPT là một lĩnh vực rất mới trong nhà trường THPT, không những thế hoạt động còn góp phần tích cực vào việc đổi mới giáo dục, đổi mới phổ thông theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học. Để quản lý hoạt động giáo dục NCKH trong trường THPT, cần quản lý tốt các điều kiện phục vụ hoạt động NCKH của học sinh ở các trường THPT. Kết quả khảo sát CBQL, GV về các điều kiện phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh thể hiện qua bảng 2.15 như sau:

  • Bảng 2. 15: Kết quả khảo sát CBQL, GV về các yếu tố ảnh hưởng hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Theo bảng khảo sát của bảng 2.15 chúng tôi nhận thấy có một nội dung ảnh hưởng trung bình, sáu nội dung ảnh hưởng khá, năm nội dung có mức rất ảnh hưởng. Trong đó nội dung khảo sát được nhiều người đồng ý cao nhất là “Kiến thức, năng lực của cán bộ quản lý, giáo viên” với ĐTB là 4,5. Nội dung cho rằng ít ảnh hưởng nhất là ‘Đặc điểm về tâm sinh lí của HS” với 3,36 điểm.

Từ kết quả thống kê ở bảng 2.15 cho thấy, phần lớn các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý NCKH cho HS tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một được đánh giá mức rất ảnh hưởng như: “ Nhận thức của các bộ quản lý và giáo viên nhà trường (ĐTB 4,21); Nguồn lực tài chính cho hoạt động giáo dục NCKH của HS (ĐTB 4,35); Sự hội nhập và giao lưu học tập với các trường đại học, các đơn vị (ĐTB 4,36); Kiến thức, năng lực của cán bộ quản lý, giáo viên (ĐTB 4,36). Trong đó, nội dung khảo sát được nhiều người đồng ý cao nhất là “Kiến thức, năng lực của cán bộ quản lý, giáo viên” về mức độ ảnh hưởng, bởi lẻ đây là yếu tố về con người sẽ kéo theo những kế hoạch chiến lược, khơi gợi được sự đầu tư khác từ các nguồn lực cũng như các chế độ chính sách … Chính vì vậy, nhà trường cần có những biện pháp khai thác sử dụng triệt để những thế mạnh của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, đảm bảo các điều kiện cho hoạt động giáo dục NCKH cho HS đáp ứng yêu cầu theo xu thế phát triển xã hội.

Các yếu tố được đánh giá mức ảnh hưởng khá với những nội dung sau : Xu hướng chọn nghề của HS (ĐTB 3,5) ; Nội dung, chương trình các môn học trong nhà trường THPT (ĐTB 3,57); Sự phát triển của Khoa học công nghệ (ĐTB 4,0); Sự quan tâm, giúp đỡ, động viên về vật chất, tinh thần của gia đình (ĐTB 4,07); Chế độ, chính sách, khen thưởng với HS và giáo viên hướng dẫn (ĐTB 4,14); Hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục và dạy học( ĐTB 4,14). Đây là những yếu tố khách quan tác động đến hoạt động giáo dục NCKH ở nhà trường, nhận thấy nếu nhà trường hoàn thiện tốt những yếu tố này thì cũng sẽ là động lực để phát triển hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh của các trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một.

Một yếu tố chủ quan đó là “tâm sinh lý của học sinh’’ được đánh giá ở mức ảnh hưởng trung bình đến hoạt động NCKH vì được cho rằng việc NCKH dành cho đối tượng học sinh, nhưng thực chất sự phát triển sớm NCKH ở lứa tuổi HS trong nhà trường THPT là có ý nghĩa rất quan trọng trong sự đổi mới của giáo dục.

Các yếu tố trên đều tác động một cách chủ quan hoặc khách quan, từng phần hoặc toàn bộ đến công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh của các trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Qua quá trình tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh của các trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Tác giả xác định những ưu và nhược điểm cũng như nguyên nhân của công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh.

2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Đa số CBQL, GV đều nhận thức được quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh của các trường THPT là rất quan trọng, mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Mục tiêu hoạt động phòng tránh XHTD cho học sinh được xác định rõ ràng, cụ thể.

Trong quá trình thực hiện, nhà trường luôn có sự quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhà trường đã hình thành các câu lạc bộ khoa học trong nhà trường mục đích phát triển NCKH cho HS. Huy động được sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Có hoạt động tổ chức, chỉ đạo các tổ chức trong nhà trường, xây dựng kế hoạch cho các đề tài nghiên cứu cho giáo viên hướng dẫn. Nhà trường đã thực hiện lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát công tác NCKH của học sinh.

CBQL có sự quan tâm, chỉ đạo thực hiện việc giáo dục NCKH cho HS trong nhà trường thông qua việc tổ chức các hoạt động trãi nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi ý tưởng, sáng tạo trẻ…, tổ chức cho giáo viên xây dựng lồng ghép trong kế hoạch bài học, tuyên dương khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể thực hiện tốt hoạt động NCKH.

2.6.2. Hạn chế

Nhà trường đã tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, kinh phí, thời gian và hỗ trợ kinh phí triển khai NCKH, tổ chức tuyên truyền, phổ biến các thành tựu NCKH của học sinh trong tỉnh, ngoài tỉnh, trên thế giới, tổ chức học tập NCKH cho HS với các trường đại học nhưng chưa thường xuyên và chưa hiệu quả. Hoạt động của câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn giáo viên thiếu tính đồng bộ, chưa sâu rộng và mang tính đơn điệu.

Nhà trường đã phân công các tổ chuyên môn, cán bộ giáo viên tìm hiểu tài liệu, các nghiên cứu về các lĩnh vực đề tài, dự án NCKH, chuẩn bị các điều kiện thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH song hoạt động chưa cụ thể và chưa có chiều sâu, chưa mang lại hiệu quả cao.

Công tác kiểm tra, đánh giá về các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH, ứng dụng kết quả NCKH và công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, hoạt động liên kết NCKH với các trường đại học, liên kết với các chuyên gia chưa được quan tâm. Đặc biệt, CBQL vẫn chưa tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh. Từ đó, CBQL chưa cải tiến nội dung, cách thức thực hiện cho các năm học kế tiếp.

Chưa phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường. Chưa thường xuyên kết hợp với các trung tâm, các trường đại học, chuyên gia để giáo dục NCKH cho học sinh.

Công tác bố trí, chuẩn bị cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh có quan tâm. Tuy nhiên, việc đầu tư để đảm bảo các yêu cầu là chưa đảm bảo để phát triển hoạt động NCKH của HS trong nhà trường.

2.6.3. Nguyên nhân

Với những hạn chế nêu trên, việc xác định rõ nguyên nhân nhằm đưa ra những biện pháp thực hiện là yêu cầu đặt ra đối với các nhà trường. Có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho HS ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đó là: việc đầu tư tài lực, vật lực cho hoạt động NCKH trong nhà trường chưa được đầu tư thỏa đáng; kiến thức, năng lực của CBQL, GV, sự kết hợp quản lý giáo dục nhà trường với các trường đại học và chuyên gia chưa được phát huy. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Bên cạnh đó, với việc bố trí thời gian học văn hóa ở các trường quá nhiều nên học sinh ít phân bổ thời gian cho NCKH. CBQL và giáo viên chưa được thông qua các lớp đạo tạo, liên kết để nâng cao trình độ về cách thức NCKH.

Ngoài ra, kiến thức và năng lực của CBQL và GV có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý giáo dục NCKH cho học sinh. Nếu CBQL, GV có tầm nhìn tốt, chịu khó học hỏi, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sẽ thuận lợi rất nhiều trong công tác tổ chức, triển khai và hỗ trợ học sinh.

Tiểu kết chương 2

Thủ Dầu Một là một thành phố trung tâm của tỉnh với định hướng phát triển thương mại dịch vụ chất lượng cao và phát triển công nghiệp. Trên địa bàn có 05 trường THPT có thành tích giáo dục hàng đầu trong toàn tỉnh. Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn và phân tích các kế hoạch, hồ sơ quản lý, hồ sơ giảng dạy của giáo viên, chúng tôi đã khảo sát thực trạng hoạt động NCKH cho HS các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một. Kết quả khảo sát cho thấy, nhận thức của CBQL, GV về hoạt động NCKH, việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát đã được các trường quan tâm nhưng chưa thường xuyên. Một số công tác chỉ được thực hiện mang tính chất hình thức và thủ tục. Chưa thật sự quan tâm đến sự phát triển NCKH đối với các bộ môn khoa học xã hội.

Năng lực tổ chức, điều hành của CBQL, GV cần được cải thiện. Công tác kiểm tra, giám sát thực sự trở thành vấn đề cần phải quan tâm. Ngoài ra, các nguồn lực về nhân lực, vật lực và tài lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động giáo dục.

Khi xét các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì vai trò nhận thức của CBQL và GV, nguồn lực tài chính, hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục và dạy học sự hội nhập và giao lưu học tập với các trường đại học có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả giáo dục, Sự quan tâm, giúp đỡ, động viên về vật chất, tinh thần của gia đình. Điều này cho thấy, hiểu rõ được sự thành công của hoạt động NCKH của học sinh dựa vào ba trụ cột Gia đình – nhà trường – chuyên gia. Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Kết quả khảo sát thực trạng ở chương 2 sẽ là căn cứ để tác giả đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong chương 3 của luận văn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537