Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội, giáo dục thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Thị xã Tân Uyên được thành lập năm 2021 theo Nghị quyết số 136/NQ- CP ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Chính Phủ (Thị xã Tân Uyên, 2025). Việc thành lập thị xã thị xã Tân Uyên đòi hỏi phải lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội phục vụ công tác chỉ đạo điều hành và quản lý nhà nước của thị xã trên địa bàn.
Thị xã Tân Uyên nằm ở khu vực đô thị trung tâm của tỉnh Bình Dương, có vị trí địa lý và mối quan hệ lãnh thổ thuận lợi với các khu vực xung quanh, tạo nhiều thuận lợi cho quy hoạch phát triển của thị xã Tân Uyên. Phía Bắc giáp huyện Bắc Tân Uyên; Phía Nam giáp thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An; Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai; Phía Tây giáp thành phố Thủ Dầu Một. Nằm tiếp giáp với thị xã Bến Cát, đặc biệt là các khu công nghiệp – đô thị Mỹ Phước, tạo nhiều thuận lợi trong phát triển dịch vụ, thu hút đầu tư, hình thành mối liên kết với các địa phương trong phát triển công nghiệp, dịch vụ. Cách trung tâm TP.HCM khoảng 35 km, thuận lợi trong thu hút đầu tư, đặc biệt thu hút đầu tư vào thị trường bất động sản, phát triển dịch vụ, công nghiệp.
Điều kiện tự nhiên: Thị xã Tân Uyên có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên so với các địa phương khác của tỉnh Bình Dương. Thị xã Tân Uyên có sông Đồng Nai chảy qua tạo lợi thế trong vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy, phát triển hệ thống cảng và các dịch vụ logistics, phát triển du lịch đường sông. Thị xã Tân Uyên có 2 cù lao đẹp nhất của tỉnh Bình Dương tạo lợi thế trong phát triển du lịch sinh thái là cù lao Rùa thuộc xã Thạnh Hội và cù lao Bạch Đằng thuộc xã Bạch Đằng.
Thị xã Tân Uyên có vị trí, vai trò quan trọng trong phát tiển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2025 thị xã Tân Uyên sẽ trở thành trung tâm đô thị – công nghiệp – dịch vụ thương mại – nông nghiệp của tỉnh Bình Dương, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của tỉnh.
Phát triển công nghiệp thành ngành kinh tế chủ lực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của tỉnh Bình Dương và thị xã Tân Uyên.
Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2023 – 2020 tăng bình quân 11 – 13%/năm, giai đoạn 2021 – 2025 tăng bình quân 12- 14%/năm. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Giáo dục mầm non: Cơ sở vật chất ngành giáo dục mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên thời gian qua được tập trung đầu tư, bao gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa. Năm học 2024 – 2025 trên địa bàn thị xã Tân Uyên có 30 trường, trong đó 6 trường mẫu giáo công lập (có 1 trường được lầu hóa), 5 trường mầm non công lập, 19 trường mầm non tư thục. Đã có 11/12 đơn vị cấp xã phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục (PCGD) mầm non trẻ 5 tuổi. Tổng diện tích đất xây dựng trường bậc mầm non công lập là 5,51 ha. Hiện tại có 9 xã, phường có trường mầm non, đang đầu tư xây dựng 2 trường mầm non ở Phú Chánh và Bạch Đằng và lập dự án xây dựng 2 trường ở Thạnh Phước và Tân Hiệp. Như vậy mạng lưới trường mầm non được mở rộng và phân bố đến hầu hết các xã, phường đáp ứng phần lớn nhu cầu về chăm sóc và giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non. Các cơ sở giáo dục mầm non đang ngày càng được kiên cố, không còn các lớp học tạm. Số lượng trẻ đi học mầm non ngày càng tăng. Số trẻ bán trú bình quân một lớp trên địa bàn thị xã Tân Uyên là tương đối cao so với quy định.
- Theo định hướng phát triển về giáo dục đào tạo đến năm 2025 thì:
Dự báo số lượng trẻ mầm non: Dự báo đến năm 2020 có khoảng 7.710 trẻ mầm non, đến năm 2025 có khoảng 12.510 trẻ mầm non.
Dự báo nhu cầu trường, lớp, giáo viên: Thị xã Tân Uyên cần khoảng 257 lớp học vào năm 2020 và 417 lớp vào năm 2025; với tỷ lệ giáo viên đứng lớp là 2,2 giáo viên/lớp, đến năm 2020 thị xã Tân Uyên cần 565 giáo viên, năm 2025 cần 917 giáo viên. Về trường mầm non, giai đoạn 2023 – 2020 xây dựng thêm 8 trường mầm non, giai đoạn 2021 – 2025 xây dựng thêm 8 trường mầm non.
Định hướng: Giữ vững chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục mầm non trẻ 4 tuổi, nâng cao chuẩn giáo dục phổ cập mầm non các năm tiếp theo; Bảo đảm hầu hết trẻ em từ 3-5 tuổi được đến lớp, được chăm sóc và giáo dục về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, nhằm bảo đảm chất lượng cho trẻ vào lớp 1. (Thị xã Tân Uyên, 2025)
2.2 Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng QL HĐBD chuyên môn GVMN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
2.2.1 Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất biện pháp quản lý loạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.2.2 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.2.3.1 Đối với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mẫu khảo sát
Khảo sát với 104 đối tượng là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Tổ trưởng tổ khối, GVMN thị xã Tân Uyên, Bình Dương.
Mẫu khảo sát được chọn theo kỹ thuật lấy mẫu “Phân tầng không theo tỷ lệ” (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2018, trang 29), 6 trường được chọn khảo sát là:
Trường MN Huỳnh Thị Chấu (mã hóa: A), Trường MN Hoa Hướng Dương (mã hóa: B), Trường MN Hội Nghĩa (mã hóa: C); Trường MG Hoa Mai (mã hóa: D); Trường MG Vĩnh Tân (mã hóa: E), Trường MG Hoa Huệ (mã hóa: F)
Mẫu khảo sát với đối tượng là CBQL gồm 16 người là Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng tại 6 trường Mầm Non và mẫu giáo; Tổ trưởng: 18 người tổ trưởng khối mầm, chồi, lá mỗi trường có 3 người.
- Bảng 2.1. Cơ cấu đội ngũ CBQL theo chức vụ của mẫu khảo sát
- Bảng 2.2. Cơ cấu đội ngũ GV của mẫu khảo sát
Thiết kế bảng hỏi Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Để tìm hiểu thực trạng QL HĐBDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, chúng tôi đã xây dựng bảng hỏi dựa trên cơ sở lý luận về HĐBDCM GVMN đã được xây dựng ở chương I.
Bảng hỏi dành cho CBQL, GVMN (Phụ lục 1) gồm 8 câu hỏi, bao gồm 2 phần:
Phần I. Thực trạng về HĐBDCM GVMN gồm 05 câu hỏi liên quan về: Tầm quan trọng, nội dung bồi dưỡng chuyên môn, hình thức, phương pháp, thời gian hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Phần II. Thực trạng QL HĐBDCM GVMN gồm 3 câu hỏi liên quan về: tầm quan trọng, các hoạt động QL HĐBDCM GVMN (quản lý thực hiện mục tiêu; quản lý việc phân công giáo viên tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn; quản lý thực hiện nội dung chương trình; quản lý thực hiện hình thức, phương pháp; quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn; quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non); các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QL HĐBDCM GVMN.
2.2.3.2. Đối với phương pháp phỏng vấn
- Mẫu khảo sát
Thực hiện phỏng vấn trên nhóm đối tượng GV và CBQL và chuyên viên phòng giáo dục. Mẫu khảo sát gồm 01 phó phòng, 01 chuyên viên phòng, 12 CBQL và 12 GV đã được chọn nghiên cứu.
- Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn
Chúng tôi xây dựng bảng hỏi gồm:
Đối với GVMN có 5 câu hỏi với các nội dung là: GVMN có được tham gia bồi dưỡng nội dung xây dựng mối quan hệ hợp tác với cha mẹ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và kết quả đạt được; thực trạng tổ chức GV giao lưu trao đổi kinh nghiệm; công tác tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn tại đơn vị; việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng theo giai đoạn; tạo điệu kiện động viên, khuyến khích giáo viên thực hiện tự bồi dưỡng chuyên môn. (Phụ lục 2.1)
Đối với CBQL có 9 câu hỏi với các nội dung là: việc sử dụng ngoại ngữ, tin học của đội ngũ GV trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em; thực trạng việc tổ chức dự giờ thăm lớp lẫn nhau tại đơn vị; vấn đề tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu của đội ngũ GV; việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn theo giai đoạn; việc phân công đội ngũ GV tham gia bồi dưỡng chuyên môn; tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn và tạo điều kiện động viên khuyến khích GV tự bồi dưỡng; việc xác định các nguồn lực cho thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp bồi dưỡng chuyên môn; việc dự giờ các tổ chuyên môn; tổ chức thực hiện bảo quản trang thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn (Phụ lục 2.2).
Đối với Phó phòng và chuyên viên phòng giáo dục có 2 câu hỏi với nội dung là: việc thực hiện bồi dưỡng thường xuyên theo quy định của Bộ, Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo; việc tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN (Phụ lục 2.3)
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
2.2.4.1 Xây dựng thang đo
Về cách tính trị trung bình và ý nghĩa của trị trung bình:
Giá trị khoảng cách: (Maximum-Minimun)/n = 0,8. Đối với thang đo Likert bậc 5 sắp theo mức độ tăng dần: Điểm số được quy đổi theo thang bậc 5. Điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5 và chia làm 5 mức, theo đó ta có cách cho điểm như sau:
- 1 điểm: Không thực hiện/ Không quan trọng/ Không ảnh hưởng/ Không phù hợp/ Kém.
- 2 điểm: Ít thực hiện/ Ít quan trọng/ Ít ảnh hưởng/Ít phù hợp/Yếu.
- 3 điểm: Khá thường xuyên/ Khá quan trọng/ Bình thường/Khá phù hợp/ Trung bình.
- 4 điểm: Thường xuyên/ Quan trọng/ Nhiều ảnh hưởng/ Phù hợp/ Khá.
- 5 điểm: Rất thường xuyên/ Rất quan trọng/ Rất nhiều/ Rất phù hợp/ Tốt
2.2.4.2 Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát
Bảng 2.3. Thang đo trị trung bình và mức ý nghĩa
- Phương pháp xử lý số liệu thu được từ bảng hỏi
Trình tự xử lý: Sau khi thu phiếu trưng cầu ý kiến, chúng tôi tiến hành làm sạch dữ liệu, đánh số thứ tự các phiếu trưng cầu ý kiến và sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS 0 (Statistical Package for the Social Sciences) để xử lý số liệu, từ đó đánh giá, nhận xét và rút ra kết luận về thực trạng QL HĐBDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên.
Các chỉ số thống kê được sử dụng bao gồm: Bảng phân bố tần số (Frequencies), tỉ lệ phần trăm (%); trị trung bình (Mean) (TTB); độ lệch chuẩn (Std. Deviation) (ĐLC); số trung vị (Median); số yếu vị (Mode); kiểm định trung bình (T-Test).
- Kiểm định trị trung bình
- Đặt giả thuyết:
H0: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
H1: Có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.
- Kết quả:
Nếu giá trị Sig. (2-tailed) nhỏ hơn 0.05, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1. Nếu giá trị Sig. (2-tailed) lớn hơn hoặc bằng 0.05, ta chấp nhận H0.
- Lưu ý:
Dùng kiểm định One-Way Anova kiểm tra sự khác biệt về mặt ý nghĩa trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa 6 đơn vị trường được chọn khảo sát.
Dùng kiểm định Independent-samples T-test kiểm tra sự khác biệt về mặt ý nghĩa trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa CBQL và GV.
- Phương pháp xử lý số liệu phỏng vấn
Trình tự: Tác giả chọn mẫu, trực tiếp gặp, trao đổi, thu âm và ghi nhận dữ liệu, sau đó so sánh, đối chiếu để có những phân tích phù hợp với thực tế, làm rõ kết quả điều tra về thực trạng QL HĐBDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên.
Xử lý số liệu phỏng vấn: Chúng tôi mã hóa mẫu phỏng vấn của 01 phó phòng tương ứng PP, 01 chuyên viên Phòng giáo dục phụ trách mầm non tương ứng với CV, 12 CBQL theo thứ tự từ CBQL1 đến CBQL12 tương ứng với mỗi trường 2 CBQL thuộc 6 Trường A, B, C, D, E, Mã hóa mẫu phỏng vấn của 12 GV từ GV1 đến GV12, mỗi trường chọn ngẫu nhiên 2 GV được phỏng vấn, mã hóa từ GV1-GV12.
2.3 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.3.1 Thực trạng đội ngũ CBQL, GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.3.1.1 Thông tin đặc điểm đội ngũ cán bộ quản lý
Khảo sát với 34 đối tượng là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Tổ trưởng tổ khối chuyên môn các trường mầm non thị xã Tân Uyên, Bình Dương. Kết quả được thể hiện ở bảng 2.4 sau đây: Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
- Bảng 2.4: Tổng quan về trình độ chuyên môn, tuổi, thâm niên công tác của CBQL
Từ số liệu thống kê ở bảng 2.4 cho thấy CBQL có trình độ chuyên môn đạt chuẩn 100%, tỷ lệ trên chuẩn cao tới 73.5%. Độ tuổi của đội ngũ CBQL nằm trong độ tuổi từ 35 đến 45 chiếm 64.7% và thâm niên quản lý nằm trong khoảng từ 5 đến 10 năm chiếm 55.9%. Đây là độ tuổi với nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý. Đây chính là lợi thế để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.
- Trình độ tin học, ngoại ngữ đội ngũ CBQL
- Biểu đồ 2.1: Trình độ tin học CBQL
Từ biểu đồ 2.1 trên ta thấy rằng trình độ tin học chứng chỉ A (chiếm 85.3%). Bên cạnh đó quan sát đồ thị hình 2.1 ta thấy có dạng hình chuông nhọn với đỉnh hơi lệch về phía phải, có giá trị trung bình là 1.15 có độ lệch chuẩn sig là 0.359. Đây là ưu thế CBQL có thể ứng dụng CNTT trong việc QL hồ sơ sổ sách, sử dụng phần mềm để hỗ trợ công tác quản lý hiệu quả và nhanh chóng hơn.
- Biểu đồ 2.2: Trình độ ngoại ngữ CBQL
Từ biểu đồ 2.2 trên ta thấy rằng trình độ ngoại ngữ chứng chỉ A (chiếm 94.1%). Bên cạnh đó quan sát đồ thị hình 2.2 ta thấy có dạng hình chuông nhọn với đỉnh hơi lệch về phía phải, có giá trị trung bình là 1.06 có độ lệch chuẩn sig là 0.239. Đây là ưu thế CBQL có thể ứng dụng ngoại ngữ trong việc giao tiếp, đọc tài liệu tham khảo nước ngoài nhằm học hỏi, nâng cao kiến thức, trình độ quản lý.
2.3.1.2. Thông tin đặc điểm đội ngũ giáo viên
Khảo sát với 70 đối tượng là GV các trường mầm non thị xã Tân Uyên, Bình Dương. Kết quả được thể hiện ở bảng 2.5 sau đây:
- Bảng 2.5: Tổng quan về trình độ chuyên môn, tuổi, thâm niên công tác của GV
Từ số liệu thống kê ở bảng 2.5 cho thấy 100% GV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, trên chuẩn đạt 65.7%. 70% GV nằm trong độ tuổi từ 25 đến 35 tuổi và thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm tỷ lệ 70%, thấy rằng đội ngũ GV còn rất trẻ. Đây là độ tuổi vàng bởi với đội ngũ GV tuổi còn trẻ với nhiều nhiệt huyết, năng động, sáng tạo, chủ động tiếp thu các kiến thức mới, các phương pháp đổi mới trong giảng dạy trẻ như ứng dụng CNTT vào giảng dạy giúp cho trẻ hứng thú với các bài giảng. Bên cạnh đó, thấy rằng độ tuổi từ 35 đến 45 là độ tuổi với nhiều kinh nghiệm chỉ chiếm 8.6%, điều đó cũng có nghĩa là GV trẻ chiếm ưu thế thì cũng sẽ có một số hạn chế trong việc thiếu kinh nghiệm thực tế trong việc xử lý các tình huống.
- Trình độ tin học, ngoại ngữ đội ngũ GVMN
- Biểu đồ 2.3: Trình độ tin học của GVMN
Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng trình độ tin học chứng chỉ A (chiếm 91.4%). Bên cạnh đó quan sát đồ thị hình 2.3 ta thấy có dạng hình chuông nhọn với đỉnh hơi lệch về phía phải, có giá trị trung bình là 1.09 có độ lệch chuẩn sig là 0.282. Đây là ưu thế GVMN có thể ứng dụng CNTT trong việc QL hồ sơ sổ sách, sử dụng phần mềm để hỗ trợ công tác giảng dạy, thu hút trẻ, giúp trẻ tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
- Biểu đồ 2.4: Trình độ ngoại ngữ của GVMN
Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng trình độ ngoại ngữ chứng chỉ A (chiếm 88.6%). Bên cạnh đó quan sát đồ thị hình 2.4 ta thấy có dạng hình chuông nhọn với đỉnh hơi lệch về phía phải, có giá trị trung bình là 1.17 có độ lệch chuẩn sig là 0.564. Đây là ưu thế GVMN có thể ứng dụng ngoại ngữ trong việc giao tiếp, đọc tài liệu tham khảo học hỏi các phương pháp giáo dục mới nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn.
Như vậy qua nghiên cứu về thực trạng đội ngũ CBQL, GV chúng tôi có kết luận như sau: (1) về đội ngũ CBQL nằm trong độ tuổi từ 35 đến 45, thâm niên quản lý nằm trong khoảng từ 5 đến 10 năm, trình độ chuyên môn trên chuẩn cao 73.5%. Còn GV nằm trong độ tuổi từ 25 đến 35 tuổi và thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm, 100% GV đạt chuẩn. Trình độ tin học, ngoại ngữ đều đáp ứng theo yêu cầu tuy nhiên ứng dụng vào thực tế chưa cao. Như vậy, đối tượng khảo sát là đa dạng, phong phú phản ánh được ý kiến của cán bộ giáo viên các trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
2.3.1.3. Thông tin về số lượng học sinh
Theo số liệu báo cáo của các trường mầm non, thống kê số lớp, số học sinh tại các trường như sau
- Bảng 2.6. Số liệu về số trẻ của các trường mầm non thị xã Tân Uyên, Bình Dương
Qua bảng số liệu thấy rằng số trẻ độ tuổi mẫu giáo này quá cao so với quy định. Qua phỏng vấn CBQL tại 6 trường mầm non thì được CBQL 1, CBQL 2, CBQL 3 đều có chung ý kiến rằng: “Theo quy định lớp mẫu giáo thì 35 trẻ/ lớp mẫu giáo học 2 buổi/ ngày và mỗi GV chỉ quản lý 16 trẻ. Nhưng do đặc thù của tỉnh Bình Dương là tỉnh phát triển nhanh về công nghiệp nên lượng nhập cư vào Bình Dương làm việc rất đông, điều đó kéo theo việc những lao động nhập cư sẽ đưa con em họ đi theo. Dẫn đến tình trạng số lượng trẻ tại các trường mầm non tăng đột biến. Diện tích phòng học và số lượng GV không đủ cho số lượng trẻ vượt quá quy định nhiều đến như vậy”. Đây cũng chính là vấn đề khó khăn cho GV mầm non có thể sắp xếp để tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn
2.3.2 Thực trạng nhận thức về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Để đánh giá thực trạng nhận thức của đội ngũ GV và CBQL về tầm quan trọng của hoạt động BDCM giáo viên ở trường mầm non, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và Kết quả được thể hiện như sau:
- Bảng 2.7. Ý kiến của GV, CBQL về mức độ quan trọng hoạt động BDCM GV ở trường mầm non
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng có đến 45,8% GV và 100% cán bộ QL đánh giá HĐ BDCM GVMN ở mức “rất quan trọng” và “quan trọng”. Tuy nhiên có 24.5% GV đánh giá ở mức “bình thường” và 18.6% GV đánh giá mức “khá quan trọng”. 1.4% đánh giá mức “không quan trọng”. Qua đó cho thấy một số bộ phận nhỏ GV vẫn chưa có nhận thức được tầm quan trọng HĐ BDCM GVMN. Vì thế HT cần phải có những biện pháp để nâng cao nhận thức cho GV về tầm quan trọng HĐ BDCM GVMN.
2.3.3 Thực trạng về mức độ thực hiện và kết quả đạt được nội dung hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Như đã trình bày ở chương 1, nội dung chương trình bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tập trung vào cac tiêu chuẩn của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Để đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của GV trong nội dung hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN. Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và kết quả thể hiện ở bảng 2.8 như sau:
- Bảng 2.8 Ý kiến của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được nội dung hoạt động BDCM GVMN
Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng hầu hết các nội dung được đội ngũ CBQL đánh giá mức độ thực hiện của các nội dung BDCM GVMN tại đơn vị ở mức độ “thường xuyên” (với TTB nhỏ nhất 3.50 và TTB lớn nhất là 4.59) và kết quả của các nội dung đều đạt kết quả “tốt” (TTB thấp nhất là 4.41 và TTB cao nhất là 4.59). Chúng tôi nhận thấy ở mức độ thực hiện có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.500 và kết quả đạt được có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.500 cho thấy có độ tập trung ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này. Điều này cho thấy CBQL đánh giá GVMN thường xuyên tham gia bồi dưỡng chuyên môn như bồi dưỡng nâng cao phẩm chất nhà giáo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc trẻ theo tuần, tháng, năm; bồi dưỡng kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ; GVMN thường xuyên tham gia các lớp bồi dưỡng thực hiện theo chuyên đề; các kỹ năng đảm bảo an toàn cho trẻ, kỹ năng giao tiếp ứng xử với trẻ một cách gần gũi. Ngoài ra GVMN thường xuyên được bồi dưỡng việc lập kế hoạch xây dựng các mối quan hệ gần gũi, tôn trọng, hợp tác với cha mẹ của trẻ; được hỗ trợ kiến thức, kỹ năng thực hiện các quy định về quyền trẻ em đến cha mẹ. GVMN còn được tham gia bồi dưỡng các kỹ năng gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp ứng xử với cha mẹ trẻ và kết quả đạt được mức độ từ tốt.
Tuy nhiên có 2 nội dung 4.3 “Bồi dưỡng cho GVMN tham gia tổ chức, thực hiện việc xây dựng, phát triển mối quan hệ hợp tác với cha, mẹ hoặc người giám hộ trẻ em và cộng đồng để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em” và 5 “Sử dụng ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin, thể hiện khả năng nghệ thuật trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em” được đánh giá mức độ thực hiện “thường xuyên” (với TTB lần lượt là 3.50 và 3.68). Nhưng kết quả đạt được chỉ ở mức “trung bình” (với TTB lần lượt là 2.85 và 2.88). Qua trao đổi phỏng vấn GV1, GV3, GV5, GV7, GV9 có cùng ý kiến “việc xây dựng phát triển mối quan hệ hợp tác với cha, mẹ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em khó đạt được kết quả tốt nguyên nhân do đặc thù GVMN sáng 6h30 bắt đầu đón trẻ đến 17h, đây là thời gian cha mẹ trẻ đưa trẻ đi học và cũng vội vã đi làm nên các thông tin trao đổi được với cha mẹ trẻ thường rất ít, chủ yếu các thông tin mang tính cấp thiết chứ không thể là các thông tin mang tính tuyên truyền vì thế GVMN muốn tuyên truyền hợp tác với cha mẹ chủ yếu qua các bản tin, bản thông báo dán ở lớp”.
Đối với nội dung 5 chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL1, CBQL3, CBQL4, CBQL5 có cùng ý kiến “hàng năm Sở Giáo dục phối hợp Trung tâm ngoại ngữ – tin học và bồi dưỡng nghiệp vụ tỉnh Bình Dương tổ chức các lớp học Anh văn, tin học miễn phí cho tất cả giáo viên chưa đạt chuẩn vào thời gian hè. Và đây cũng là điều kiện để đánh giá viên chức. Vì thế GVMN tham gia các lớp bồi dưỡng tin học, anh văn nhằm củng cố đầy đủ văn bằng chứng chỉ theo yêu cầu. Do đó mang tính đối phó chứ không xuất phát từ nhu cầu cần nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ, chính vì thế mặc dù đã có đủ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo đúng yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo nhưng không sử dụng trong thực tế nên rất dễ nhanh quên, đặc biệt là đối với GVMN độ tuổi từ 40 trở lên thường ngại ứng dụng tin học, ngoại ngữ trong giảng dạy, nhất Anh văn, hầu hết GVMN đều không thể sử dụng tiếng anh để giao tiếp hoặc đọc, hiểu được các tài liệu tiếng anh.” Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
2.3.4 Thực trạng thực hiện hình thức bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Có nhiều hình thức BDCM GVMN, tùy theo nội dung, nhu cầu và các điều kiện hiện mà các trường mầm non sử dụng các hình thức BDCM GVMN phù hợp. Bảng 2.9 trình bày kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV về hình thức BDCMGVMN.
- Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL và GVMN về hình thức BDCM GVMN
Qua bảng số liệu 2.9 ta thấy rằng nội dung “Tổ chức chuyên đề về phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ”, “Tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi học kì, mỗi năm học”, “Bồi dưỡng thường xuyên”, “Bồi dưỡng thay sách” được thực hiện ở mức độ từ “thường xuyên” đến mức “rất thường xuyên” (với TTB thấp nhất 3.55 và TTB cao nhất 4.33). Chúng tôi tiến hành phỏng vấn PP, CV1 (chuyên viên phòng giáo dục) để tìm hiểu vấn đề bồi dưỡng thường xuyên được tổ chức hàng năm cả 2 có cùng ý kiến: “Theo thông tư số 36/2018/TT – BGDĐT ngày 17 tháng 08 năm 2018 đưa ra Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non áp dụng cho tất cả cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, giáo viên đang giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non trong phạm vi toàn quốc. Gồm 3 nội dung (Bồi dưỡng thường xuyên 1 bao gồm nội dung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học cấp học mầm non được áp dụng trong cả nước quy định cụ thể theo từng năm học các nội dung bồi dưỡng về đường lối, chính sách phát triển giáo dục mầm non, các hoạt động giáo dục thuộc Chương trình giáo dục mầm non; Nội dung thường xuyên 2 bao gồm nội dung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục cấp học mầm non theo từng thời kỳ của mỗi địa phương do Sở giáo dục và đào tạo quy định cụ thể theo từng năm học các nội dung bồi dưỡng về phát triển giáo dục mầm non của địa phương, thực hiện chương trình giáo dục mầm non, kiến thức giáo dục địa phương; Nôi dung bồi dưỡng thường xuyên 3 bao gồm các mô đun bồi dưỡng nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên, Sở giáo dục có thể thay đổi thời lượng bồi dưỡng ở từng nội dung bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, kế hoạch giáo dục của địa phương trong từng năm học nhưng không thay đổi tổng số thời gian bồi dưỡng của mỗi giáo viên trong năm học (120 tiết/năm học)”.
Các nội dung “Tổ chức dự giờ, thăm lớp lẫn nhau”, “Tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm”, “Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu” có mức độ thực hiện “khá thường xuyên” có trị trung bình lần lượt là 3.26, 2.71, 2.8. Bên cạnh đó độ lệch chuẩn khá cao điều đó cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá của CBQL và GVMN. Để nâng cao chất lượng chuyên môn của nhà trường thì việc tổ chức cho GV dự giờ, thăm lớp lẫn nhau là rất cần thiết. Tuy nhiên mức độ thực hiện chỉ ở mức “khá thường xuyên” với TTB là 3.26. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL6, CBQL7, CBQL8 có cùng ý kiến “đặc thù của ngành mầm non GVMN phải ở cùng trẻ từ lúc nhận trẻ cho đến lúc ba mẹ trẻ đến đón. Chính vì thế việc GVMN tổ chức dự giờ thăm lớp lẫn nhau rất khó để tổ chức thường xuyên. Chủ yếu thực hiện vào lúc đầu năm học, khi các GV đăng ký thi GV giỏi thì các GV sẽ được Ban giám hiệu sắp xếp lịch dự giờ các GV khác. Do đó số GV phải luân phiên nhau dự giờ, số còn lại giảng dạy tại lớp vì thế việc tổ chức cho GV dự giờ, thăm lớp không diễn ra thường xuyên.” Chúng tôi nhận thấy rằng việc tổ chức tọa đàm, giao lưu, trao đối, học hỏi kinh nghiệm với các trường bạn là một trong những hoạt động cần thiết để nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cho GVMN. Tuy nhiên nội dung “tổ chức cho GV giao lưu, trao đổi kinh nghiệm” chỉ đạt ở mức “khá thường xuyên” với TTB là 2.71. Qua phỏng vấn, các GV từ GV2, GV4, GV6, GV9 đều cho biết: “Mỗi năm nhà trường tổ chức giao lưu với các trường bạn một lần để trao đổi, học tập kinh nghiệm trong đó có kinh nghiệm trong hoạt động BDCM”, riêng GV8 còn cho biết: “Nhà trường khuyến khích các tổ chuyên môn tự chủ động liên hệ và tìm đơn vị giao lưu, học tập kinh nghiệm, nhà trường sẽ hỗ trợ một phần kinh phí”, GV2 còn cho chúng tôi biết thêm: “Nhà trường có nhiều định hướng giúp GV tự bồi dưỡng như: Yêu cầu GV báo cáo chuyên đề BDCM trước tổ chuyên môn, báo cáo tham luận về các lĩnh vực cần thiết tổ chức BDCM; tổ chức các chuyên đề các buổi tọa đàm cấp trường về các nội dung cấp thiết để trao đổi, học tập kinh nghiệm; đưa ra chủ đề và nội dung tự học, tự bồi dưỡng hàng tháng để GV tập trung nghiên cứu, học tập và nhà trường thường xuyên kiểm tra kết quả tự bồi dưỡng của GV thông qua các bài thu hoạch nội dung 3 theo module do Sở, Phòng GD &ĐT yêu cầu”, bên cạnh đó GV12 cho biết: “Nhà trường hầu như không có kế hoạch đào tạo, BDCM GVMN một cách thống nhất trong toàn trường”. Nội dung “bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu” CBQL10, CBQL11 có cùng ý kiến như sau “trong bồi dưỡng thường xuyên nội dung 3, GVMN phải tự nghiên cứu các module do Phòng, Sở GD & ĐT quy định hàng năm. Sau đó sẽ viết bài thu hoạch và nộp cho Ban giám hiệu kiểm tra và cho điểm. Tuy nhiên bài thu hoạch về các module tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu làm còn rất sơ sài, sao chép trên mạng, và sao chép lẫn nhau, chưa có sự đầu tư trong việc nghiên cứu các module. Nguyên nhân do áp lực của GVMN phải đi làm bắt đầu từ 6h30 đến 17h00, tối về còn phải làm đồ dùng dạy học, soạn giảng kế hoạch giáo dục, chăm sóc gia đình, những ngày cuối tuần có một số GV tham gia các lớp học nâng cao trình độ chuyên môn,… vì thế không còn nhiều thời gian đầu tư cho các nội dung bồi dưỡng thường xuyên (nội dung 3)”
Từ thực trạng trên, đòi hỏi hiệu trưởng cần quan tâm đúng mức về hình thức bồi dưỡng chuyên môn và có biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, BDCM cho GVMN.
2.3.5. Thực trạng kết quả đạt được của các phương pháp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Có nhiều phương pháp BDCM GVMN, tùy theo nội dung, nhu cầu và các điều kiện hiện mà các trường mầm non sử dụng các phương pháp BDCM cho GVMN phù hợp. Việc thực hiện các phương pháp, hình thức xen kẽ lẫn nhau, hỗ trợ nhau để đảm bảo chất lượng và hiệu quả là cao nhất.
- Bảng 2.10 Đánh giá của GVMN về phương pháp BDCM GVMN
Qua bảng 2.10 trình bày ở trên chúng tôi thấy rằng, nội dung “Thuyết trình kết hợp luyện tập, thực hành”, “Nêu vấn đề kết hợp thảo luận theo nhóm”, “Nêu vấn đề, giáo viên nghiên cứu tài liệu, trình bày báo cáo” được thực hiện mức độ “tốt” với TTB từ 4.54 đến 4.56 và chúng ta nhận thấy kết quả đạt được có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.500 cho thấy có độ phân tán tập trung ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này. Điều đó cho thấy các báo cáo viên có kết hợp nhiều phương pháp với nhau bao gồm phương pháp thảo luận nhóm, luyện tập thực hành, nghiên cứu tài liệu. Vì thế kết quả đạt được mức “tốt”. Tuy nhiên nội dung “Thuyết trình của báo cáo viên” thì GV nhận xét đạt mức độ “Khá” với TTB 3.67 và nội dung “Kết hợp thuyết trình với hoạt động trải nghiệm thực tế cho GVMN” ở mức độ “TB” với TTB là 3.37. Để tìm nguyên nhân chúng tôi tiến hành phỏng vấn CB1, CB7, CB12 có cùng ý kiến “Mỗi năm Sở GD & ĐT mở lớp bồi dưỡng thường xuyên, mỗi trường sẽ cử cán bộ và giáo viên cốt cán cụ thể là Ban giám hiệu, tổ trưởng tổ khối tập huấn và sau đó họ sẽ là các báo cáo viên tập huấn chuyên môn lại cho các giáo viên của trường. Tuy nhiên các đợt bồi dưỡng chuyên môn thường được tiến hành theo kiểu thuyết trình, thảo luận nhóm, giáo viên sẽ được hướng dẫn nghiên cứu tài liệu, ghi chép, báo cáo viên tranh thủ truyền đạt càng nhiều càng tốt, người nghe cố gắng ghi chép. Trong số nội dung được tập huấn sẽ có một số nội dung mà báo cáo viên chưa hiểu được hết, vì thế sẽ có những nội dung truyền đạt chưa đúng, chưa sát với tinh thần của SGD triển khai. Bên cạnh đó các báo cáo viên cũng chỉ có thực hiện phương pháp thuyết trình, thảo luận nhóm, hướng dẫn giáo viên cách nghiên cứu tài liệu nhưng không có kết hợp với hoạt động trải nghiệm thực tế cho giáo viên. Nguyên nhân là do nhà trường cũng không có kinh phí dành cho hoạt động trải nghiệm thực tế, GVMN cũng không có nhiều thời gian tham gia các lớp hoạt động trải nghiệm thực tế”. GV5 cho biết thêm “Sau đợt bồi dưỡng sẽ thu xếp thời gian nghiên cứu, nhưng rồi công việc cuốn hút, tài liệu mang về để đó, khi mở ra xem lại, thấy nhiều vấn đề chưa hiểu rõ, muốn vận dụng còn lúng túng.” Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
2.3.6. Thực trạng mức độ phù hợp của thời gian bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Để đánh giá mức độ phù hợp về thời gian bồi dưỡng chuyên môn GVMN. Chúng tôi tiến hành khảo sát GVMN và kết quả như sau:
- Bảng 2.11 Ý kiến của GVMN về mức độ phù hợp trong thời gian BDCM GVMN
Qua bảng số liệu 2.11 thì ý kiến của GVMN về mức độ phù hợp trong thời gian BDCM thì thời gian “Rất phù hợp” để thực hiện BDCM cho GVMN là “Trong hè” vì thời gian nghỉ hè là lúc rảnh rỗi, GV có nhiều thời gian để thực hiện BDCM. Thời gian “trước khi vào năm học mới cũng là một thời điểm được GVMN chọn vị trí thứ 2 vì đây là thời điểm chuẩn bị bước vào năm học mới, việc BDCM giúp chuẩn bị tinh thần tốt cho GV. Tiếp theo là nội dung “Tổ chức định kì tập trung theo chuyên đề”, “Tổ chức thường xuyên trong năm học” được xếp vị trí thứ 3 và 4.
Các thời điểm Ngay sau khi kết thúc năm học là thời điểm GV mong muốn dành thời gian dành cho gia đình, nghỉ ngơi sau một năm học vì thế không nên thực hiện bồi dưỡng vào thời gian này. GV tự sắp xếp thì không đồng nhất với nhau nên có thể không thực hiện được. Chính vì vậy các lựa chọn trên được đánh giá là Ít phù hợp.
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Để khảo sát thực trạng QL hoạt động BDCM GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiến hành khảo sát với các nội dung tương ứng. Đồng thời với mỗi nội dung QL chúng tôi khảo sát đánh giá theo hai tiêu chí đó là: mức độ thực hiện và kết quả đạt được của hoạt động QL hoạt động BDCM GVMN.
2.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN thị xã Tân Uyên, Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Để đánh giá nhận thức của CBQL về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả đạt được như sau:
- Bảng 2.12. Đánh giá của CBQL về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Qua bảng phân tích số liệu trên cho thấy rằng: có 17 CBQL chiếm 50% đánh giá mức rất quan trọng và 17 CBQL chiếm 50% đánh giá mức quan trọng. Không có CBQL nào đánh giá mức “khá quan trọng”, “ít quan trọng” và “không quan trọng”. Hơn nữa TTB là 4.50 cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên là rất quan trọng. Hơn nữa ĐLC là 0.508 cho thấy ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL tập trung. Có thể nói đây là điều kiện thuận lợi trong việc triển khai nghiên cứu, cũng như khẳng định được tính cấp thiết và tính giá trị của đề tài nghiên cứu.
2.4.2 Thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Trong công tác quản lý, mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là phương tiện giúp đạt được mục đích giáo dục; làm cơ sở để lập kế hoạch, xây dựng nội dung chương trình và phân bổ các nguồn lực như cơ sở vật chất, kinh phí, nhân sự,…; Thiết lập mục tiêu rõ ràng, cụ thể và đúng hướng sẽ là tiền đề quan trọng để nhà trường tiến hành các công việc cụ thể trong công tác BDCM. Việc chưa thường xuyên định hướng mục tiêu và hiệu quả định hướng không phù hợp, hiệu quả chưa cao có thể dẫn đến chệch hướng công tác BDCM và chất lượng cũng bị tác động không nhỏ. Để đánh giá việc quản lý mục tiêu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN, chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GV. Kết quả thể hiện ở bảng 2.13 như sau:
- Bảng 2.13. Đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của quản lý mục tiêu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL và GV đánh giá việc quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động BDCM GVMN với mức độ thực hiện của nội dung (1), (2), (3), (5), (6), (7.1), (7.2), (7.3) ở mức độ từ “thường xuyên” đến “rất thường xuyên” (với TTB lần lượt TTB nhỏ nhất là 3.41 và TTB lớn nhất là 4.59) và kết quả của những nội dung đều đạt kết quả từ “khá” đến “tốt” (TTB 4.18 và 4.59). Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.500>=0.5; kết quả đạt được có độ lệch chuẩn thấp nhất 0.496 cho thấy có độ phân tán tập trung trong ý kiến đánh giá. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Tuy nhiên với nội dung (4) và (7.4) thì về mức độ thực hiện CBQL và GV đánh mức độ “khá thường xuyên” (với TTB CBQL đánh giá lần lượt là 2.85 và 3.21; TTB GV đánh giá lần lượt là 2.66 và 2.81) và kết quả đạt được là “TB” (với TTB CBQL lần lượt là 3.35 và 3.35; còn đội ngũ GV thì đánh giá lần lượt là 3.34 và 3.27). Thấy rằng TTB của CBQL và GV có sự chênh lệch không đáng kể và chúng tôi thực hiện kiểm định Independent – samples T-Test (Phụ lục 4.2.1.3) với giá trị Sig. (2 – tailed) ở mức độ thực hiện và kết quả đạt được lớn hơn 0.05 cho thấy không có sự khác biệt giữa đội ngũ CBQL và GV.
Việc xây dựng kế hoạch, chương trình BDCM giáo viên mầm non là một khâu cực kỳ quan trọng. Thông qua kế hoạch hóa nhà trường theo dõi tiến độ thực hiện để bố trí nguồn lực hỗ trợ phù hợp, có thể định trước được kết quả cần đạt được của công tác BDCM GVMN. Kết quả khảo sát của nghiên cứu cho thấy đa số các nội dung quản lý công tác xây dựng kế hoạch BDCM GVMN có phần hạn chế. Qua phỏng vấn, CB1 và CB3 cho biết: “Hiệu trưởng rất quan tâm đến việc quản lý kế hoạch và chương trình bồi dưỡng chuyên môn GVMN, ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch và chương trình BDCM trong từng giai đoạn như theo tháng, quý, học kỳ, năm học. Các kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn của các trường đều dựa trên khung kế hoạch chung của bộ GD&ĐT quy định. Tuy nhiên tùy theo mục tiêu của mỗi trường, khả năng, chất lượng GV hiện mà các trường sẽ có kế hoạch BDCM với mức độ chi tiết phù hợp trong từng giai đoạn như theo tháng, quý, học kỳ, năm học, các thành viên trong ban được phân công nhiệm vụ rất cụ thể trong việc xây dựng kế hoạch, ban hành các quy định liên quan đến hoạt động BDCM GVMN, tổ chức triển khai, khuyến khích, hướng dẫn và kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, chương trình BDCM trong nhà trường”, trong khi đó, CBQL2, CBQL4, CBQL5 và CBQL6 lại cho biết: “Hiệu trưởng ít khi thành lập ban chỉ đạo xây dựng chương trình và kế hoạch BDCM; kế hoạch BDCM chỉ được nhắc đến trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học như những nhiệm vụ chuyên môn khác; việc xây dựng chương trình BDCM thường giao cho tổ khối chuyên môn, Ban giám hiệu rất ít khi kiểm tra, ký duyệt kế hoạch cũng như chương trình BDCM của tổ khối chuyên môn và đồng thời ít khi kiểm tra việc thực thực hiện kế hoạch, chương trình của tổ khối chuyên môn”. Các GV2, GV3, GV9 và GV10 cho biết: “Các hiệu trưởng thường ít lập kế hoạch chi tiết từ trước mà thường đến khi phát sinh yếu điểm cần phải bồi dưỡng GV thì lãnh đạo nhà trường mới lập kế hoạch thực hiện trong ngắn hạn, việc lập kế hoạch chỉ đơn giản là lên kế hoạch cho GV tìm hiểu, tham gia một cuộc tập huấn, chưa có sự đầu tư, quan tâm đúng mức. Chính vì vậy hiệu quả thực hiện kế hoạch không được đánh giá cao. Nhà trường giao cho tổ khối chuyên môn xây dựng kế hoạch BDCM và triển khai tới GV để thực hiện”. Điều này cho thấy, việc phân cấp quản lý và thực hiện quản lý xây dựng kế hoạch BDCM GVMN của hiệu trưởng các trường chưa đồng bộ, chưa chặt chẽ.
Như vậy, nội dung quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động BDCM GVMN thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên, còn bộc lộ khá nhiều hạn chế, bất cập, có sự chênh lệch lớn trong quản lý giữa các trường trong thị xã ở các nội dung “Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn theo các giai đoạn: bồi dưỡng cơ bản, bồi dưỡng nâng cao, bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng dài hạn” và nội dung “Đề xuất các điều chỉnh cho sát với tình hình thực tế”. Từ thực trạng trên, đòi hỏi hiệu trưởng các trường cần phải có biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thực hiện nội dung chương trình hoạt động BDCM GVMN, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến biện pháp xây dựng kế hoạch BDCM GVMN và đảm bảo hiệu quả hoạt động.
2.4.3 Thực trạng quản lý việc phân công giáo viên mầm non tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Để đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của CBQL trong quản lý việc phân công GVMN tham gia hoạt động BDCM. Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GVMN và kết quả như sau:
- Bảng 2.14 Ý kiến của CBQL và GVMN về mức độ thực hiện và kết quả đạt được về nội dung quản lý phân công GVMN tham gia hoạt động BDCM Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Qua bảng 2.14, chúng tôi thấy, về mức độ thực hiện, nội dung (1) “Phối hợp với TTCM để lập dự kiến phân công GV tham gia BDCM” và nội dung (2) “Triển khai dự kiến phân công GVMN đến tổ trưởng tổ khối để lấy ý kiến phản hồi từ các tổ trưởng tổ khối và GV” được CBQL và GV được đánh giá ở mức độ từ “Thường xuyên” đến “rất thường xuyên” cụ thể CBQL đánh giá với TTB lần lượt là 4.50 và 3.56; GV đánh giá với TTB lần lượt là 4.49 và 3.94; kết quả đạt được được CBQL và GV đánh giá “tốt”. Nội dung (3) “Điều chỉnh phân công và ra quyết định phân công GVMN tham gia bồi dưỡng chuyên môn” được chỉ được đánh giá ở mức “Khá thường xuyên” cụ thể CBQL và GV đánh giá TTB lần lượt là 3.32 và 3.36; kết quả đạt được mức “Khá” cụ thể CBQL và GV đánh giá với TTB lần lượt là 3.82 và 3.64. Nội dung 7.24 “Ra quyết định phân công GVMN tham gia bồi dưỡng chuyên môn” được CBQL và GV đánh giá mức độ “Khá thường xuyên” với TTB lần lượt là 3.38 và 3.37; kết quả đạt được mức độ “khá” với TTB lần lượt là 3.94 và 3.64.
Tìm hiểu sâu hơn về nội dung (3) chúng tôi nhận thấy bảng kiểm định phương sai đồng nhất Test of Homogeneity of Variances, có sig. là 0.957>0.05, do đó kết luận phương sai giữa các nhóm không có sự khác biệt có sự phân tán lớn trong đánh giá. Thực hiện kiểm định One Way Anova để kiểm tra sự khác biệt giữa các trường là có ý nghĩa hay không có ý nghĩa thống kê, chúng tôi nhận được kết quả ở (phụ lục 4.2.1.4) thấy sig <0.05 chứng tỏ có sự khác biệt giữa Trường A với với các trường B, D, F; giữa trường B với trường A, C, E; giữa trường C với trường B, D, F. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL3, CBQL 7, CBQL11 cho biết: “Hiệu trưởng thực hiện việc ra quyết định phân công và thực hiện điều chỉnh phân công GV tham gia BDCM”; trong khi đó CBQL1, CBQL5, CBQL9 lại cho biết: “Việc phân công GV tham gia BDCM trong nhà trường được đưa về cho tổ chuyên môn tự bố trí, sắp xếp; nhà trường không ra quyết định phân công GV tham gia BDCM và hầu như nhà trường chưa quan tâm đến việc điều chỉnh phân công GV tham gia BDCM”.
Như vậy, nội dung quản lý việc phân công GVMN tham gia BDCM ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã được các Hiệu trưởng thực hiện, tuy nhiên còn một số hạn chế như: Một số trường còn giao hoàn toàn cho các tổ chuyên môn trong việc bố trí, phân công GVMN tham gia BDCM; hiệu trưởng không ra quyết định phân công GVMN tham gia BDCM. Qua thực trạng trên, đòi hỏi hiệu trưởng cần quản lý tốt hơn việc phân công GVMN, cần xác định tổ trưởng tổ khối chỉ tham mưu phân công, BGH cần xem xét, sắp xếp và điều chỉnh phù hợp và phải ra quyết định phân công nhiệm vụ nói chung và phân công GVMN nói riêng để GV thực hiện nhiệm vụ và quyền lợi của bản thân có liên qua đến công việc được phân công.
2.4.4 Thực trạng quản lý nội dung chương trình hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Để đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của CBQL trong quản lý nội dung chương trình hoạt động BDCM GVMN. Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GVMN và kết quả như sau:
- Bảng 2.15 Ý kiến của CBQL và GVMN về mức độ thực hiện và kết quả đạt được về quản lý nội dung chương trình hoạt động BDCM GVMN
Qua bảng phân tích số liệu 2.15 chúng tôi nhận thấy rằng các nội dung (1) “Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn GVMN”, nội dung (2) “Hiệu trưởng phân công, phân nhiệm các bộ phận phụ trách, GVMN tham gia công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN do Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức”, nội dung (5) “Kiểm tra quá trình GVMN tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn” được CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện “thường xuyên” đến “rất thường xuyên” với TTB lần lượt là 3.65, 4.28 và 4.00, có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.540 cho thấy có sự phân tán cao trong đánh giá; kết quả đạt được “tốt” với TTB lần lượt là 4.36, 4.51 và 4.48 có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.502 cho thấy cũng có sự phân tán cao trong mức độ thực hiện.
Tuy nhiên nội dung (3) “Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN: mời chuyên gia, GVMN có kinh nghiệm; tổ chức hội nghị để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao” và nội dung (4) “Tạo điều kiện, động viên khuyến khích GVMN thực hiện tự bồi dưỡng chuyên môn” được CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện từ “ít thường xuyên” đến “khá thường xuyên” với TTB lần lượt là 2.70 và 2.49, kết quả đạt được “TB” với TTB lần lượt là 3.37 và 3.39. Để tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi tiến hành phỏng vấn Phó phòng giáo dục (PP) và chuyên viên phòng giáo dục (CV) có cùng ý kiến “Hàng năm Sở GD& ĐT sẽ tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thì Phòng giáo dục sẽ cử chuyên viên phòng cùng với Ban giám hiệu của các trường đi tập huấn các nội dung trên. Sau đó sẽ về tập huấn lại cho GV tại trường. Khi tập huấn tại Sở GD & ĐT thì tùy vào nội dung, có một số nội dung là Sở GD & ĐT sẽ mời các chuyên gia của trường Đại học Sư Phạm TP.HCM về tập huấn, một số nội dung là do các báo cáo viên của Sở báo cáo. Khi chuyên viên và Ban giám hiệu đi tập huấn có một số nội dung cũng chưa hiểu sâu phần giảng dạy chuyên gia, chưa sát với tinh thần triển khai của Sở. Chính vì thế khi tập huấn lại cho GV sẽ không truyền tải được hết nội dung vì thế hiệu quả đạt được không cao. Bên cạnh đó nội dung bồi dưỡng chuyên môn hàng năm đều do Sở Giáo dục quyết định vì thế các trường chưa chủ động được việc lựa chọn nội dung bồi dưỡng phù hợp với đơn vị của mình”. Ngoài ra CBQL4, CBQL 5, CBQL 7, CBQL 8 có cùng ý kiến “do đặc thù bên mầm non phải luôn đảm bảo số lượng GV giữ trẻ tại lớp, chính vì thế rất khó khăn trong việc tổ chức các hội nghị để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ cho GV trong năm học mà chỉ chủ yếu tổ chức trong hè hoặc đầu năm học. Nhà trường cũng không có kinh phí để mời các chuyên gia trực tiếp đến trường để chia sẻ, hướng dẫn GV nhằm nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ”. Bên cạnh đó GV1, GV4, GV7, GV11 có cùng ý kiến về việc động viên khuyên khích GVMN thực hiện tự bồi dưỡng chuyên môn “nhà trường chưa có những biện pháp động viên, khuyên khích, khen thưởng GV trong việc tự bồi dưỡng chuyên môn, nếu có thì các hình thức khuyến khích còn mang tính hình thức, chưa tạo được nhiều động lực thúc đẩy việc để GV tích cực tham gia vào việc tự bồi dưỡng chuyên môn. Ngoài ra giáo viên nộp các bài thu hoạch các bài Bồi dưỡng thường xuyên nội dung 3 cho Ban giám hiệu kiểm tra, sau khi có kết quả cũng không có khen thưởng những bài thu hoạch mang tính đầu tư cao chính vì thế GV không đầu tư vào việc nghiên cứu nội dung 3 mà chủ yếu là mang tính đối phó như chép trên mạng, chép nội dung của nhau dẫn đến kết quả đạt được thấp.”. Trong khi đó CB1 cho biết: “Nhà trường đặc biệt quan tâm đến công tác tự học, tự BDCM của GV; Ban giám hiệu cũng đồng ý cho GV tự đi học nâng cao trình độ chuyên môn vào các ngày thứ 7 và chủ nhật; GV được phép tham gia vào hoạt động lên kế hoạch, đề xuất mua sắm trang thiết bị phù hợp với hình thức, phương pháp dạy học mới. Vì tự học, tự BDCM là yêu cầu tất yếu và bắt buộc đối với mỗi CBQL, GV đã được đưa vào nghị quyết Chi bộ và Nghị quyết hội nghị công chức đầu năm học. Tùy theo yêu cầu từng thời điểm khác nhau mà nhà trường chỉ đạo công tác tự học với những nội dung và hình thức khác nhau”. Như vậy, quản lý thực hiện nội dung chương trình hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN được thực hiện chưa quan tâm và chưa quản lý tốt, thiếu sự hướng dẫn từ các chuyên gia do đó GV của những trường này chưa có điều kiện nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Bên cạnh đó, việc động viên khen thưởng GVMN thực hiện tự bồi dưỡng chuyên môn chưa được Ban giám hiệu quan tâm, dẫn đến GV chưa có động lực phát huy hơn nữa việc tự BDCM của mình.
2.4.5 Thực trạng quản lý thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Để đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của CBQL trong quản lý việc thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động BDCM GVMN. Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GVMN và kết quả thể hiện ở bảng 2.16 như sau:
- Bảng 2.16 Ý kiến của CBQL và GVMN về mức độ thực hiện và kết quả đạt được quản lý việc thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động BDCM GVMN Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Qua bảng phân tích số liệu 2.16 chúng tôi nhận thấy nội dung (1.1) “Hướng dẫn việc xác định mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng hướng tới bồi dưỡng chuyên môn cho GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN”; nội dung (1.2) “Yêu cầu xác định các giải pháp thực hiện mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng: Đánh giá thực trạng sử dụng PP bồi dưỡng hiện thời, định hướng cho giảng viên về sử dụng các PP bồi dưỡng”; nội dung (2) “Chỉ đạo thực hiện kế hoạch đổi mới PP bồi dưỡng nhằm đạt được mục tiêu bồi dưỡng đã xác định”; nội dung (3) “Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện đổi mới PP bồi dưỡng: Các cấp quản lý căn cứ vào mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng để kiểm tra, đánh giá” được CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện “thường xuyên” với TTB nhỏ nhất là 3.54 và TTB lớn nhất là 3.64 và kết quả đạt được “tốt” với TTB nhỏ nhất 4.46 và TTB lớn nhất 4.54.
Tuy nhiên nội dung (1.3) “Xác định các nguồn lực cho thực hiện mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng” được CBQL và GV đánh giá mức độ “khá thường xuyên” với TTB là 2.80 và kết quả thực hiện “TB”. Đây là nội dung quan trọng trong quản lý thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động BDCM GVM với mức độ thực hiện và kết quả đạt được chưa cao. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL3, CBQL6, CBQL9, CBQL10 có cùng ý kiến “Xác định nguồn lực thực hiện mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng đòi hỏi chọn nguồn nhân lực thật giỏi hay còn gọi là phải lựa chọn đội ngũ GV cốt cán. Theo điều 12 chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non thông tư số 26/2025/TT-BGDĐT ngày 08/10/2025 GV cốt cán phải hội tụ nhiều yếu tố như: có 05 năm kinh nghiệm; được đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp mức khá trở lên; có khả năng thiết kế, triển khai các hoạt động giáo dục mẫu, hội thảo,…; có khả năng sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, khai thác, sử dụng công nghệ thông tin; có nguyện vọng trở thành giáo viên mầm non cốt cán. Tuy nhiên thực trạng thì khó tìm được GV hội tụ đủ các yếu tố đó. Bên cạnh đó việc lựa chọn phương pháp, hình thức BDCM thường do CBQL chỉ định dựa theo kinh nghiệm, mục đích của nhà trường, vì thế mang tính chủ quan không dựa theo nhu cầu, mong muốn của GV. Điều này sẽ tác động đến tâm lý, sự sẵn sàng, hứng thú đối với hoạt động bồi dưỡng của GV, hạn chế chất lượng công tác BDCM của nhà trường”.
2.4.6 Thực trạng quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Tổ chuyên môn là đầu mối để Hiệu trưởng quản lý nhiều mặt, nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chuyên môn. CBQL ở các trường xây dựng kế hoạch, điều hành tổ chức, hoạt động theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình của Sở Giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên giúp GV nâng cao được trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân. Để đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của CBQL về quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN. Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GVMN và kết quả ở bảng 2.17 như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
- Bảng 2.17 Ý kiến của CBQL và GVMN về mức độ thực hiện và kết quả đạt được quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Qua bảng số liệu 2.17, chúng tôi nhận thấy: Về mức độ thực hiện, đa số các nội dung quản lý hoạt động sinh hoạt TCM về công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN đều được đánh giá ở mức từ “Khá thường xuyên” đến “thường xuyên” với TTB từ 3.73 đến 4.49. Về hiệu quả đạt được, tất cả các nội dung đều được đánh giá ở mức “tốt” (TTB từ 4.49 đến 4.59). Riêng nội dung (3) “Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng dự giờ buổi sinh hoạt TCM về bồi dưỡng chuyên môn GVMN” chỉ được đánh giá ở mức “Ít thực hiện” (TTB 2.32) và kết quả đạt được được đánh giá mức “TB”. Độ lệch chuẩn cũng khá cao (ĐLC thấp nhất 0.498, ĐLC cao nhất 0.579), điều này thể hiện có độ tập trung trong ý kiến đánh giá.
Chúng tôi thấy rằng TTB của CBQL và GV có sự chênh lệch không đáng kể và chúng tôi thực hiện kiểm định Independent – samples T-Test (Phụ lục 4.2.1.7) với giá trị Sig. (2 – tailed) ở mức độ thực hiện và kết quả đạt được lớn hơn 0.05 cho thấy không có sự khác biệt giữa đội ngũ CBQL và GV.
Qua phỏng vấn chúng tôi được CBQL1, CBQL3, CBQL4, CBQL5 cho biết: “Vào đầu năm học, BGH có chỉ đạo các tổ khối chuyên môn xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên đề của tổ khối chuyên môn, quy định sinh hoạt chuyên môn 2 tuần/ lần. Trong nội dung sinh hoạt sẽ đặc biệt chú trọng các chuyên đề về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GV tùy theo tình hình thực tế trong tháng và thực hiện ký duyệt kế hoạch sinh hoạt chuyên đề của tổ khối chuyên môn. Tuy nhiên, BGH ít dự giờ sinh hoạt tổ khối chuyên môn về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, các buổi sinh hoạt chuyên đề cấp trường về hoạt động này”, riêng CBQL2, CBQL6 cho biết: “Vào đầu năm học, BGH có chỉ đạo các tổ khối chuyên môn xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên đề của tổ khối chuyên môn, trong đó chú trọng các chuyên đề về công tác bồi dưỡng chuyên môn và thực hiện ký duyệt kế hoạch sinh hoạt chuyên đề của tổ khối chuyên môn. Tuy nhiên, hầu như BGH không kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và không dự giờ hoạt động này”.
Như vậy, nội dung quản lý hoạt động sinh hoạt tổ khối chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN chưa được các trường thực hiện thường xuyên, hiệu quả đạt được còn thấp và còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt đối với nội dung BGH dự giờ buổi sinh hoạt tổ khối chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN. Đầu năm học, hiệu trưởng có chỉ đạo các tổ khối chuyên môn lập kế hoạch sinh hoạt chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn GVMN, có thực hiện ký duyệt kế hoạch của tổ khối chuyên môn. Tuy nhiên, ít kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, đồng thời ít tham gia dự giờ các buổi sinh hoạt chuyên đề của tổ khối chuyên môn để phân tích, góp ý, đánh giá và rút kinh nghiệm. Thực trạng trên, yêu cầu các hiệu trưởng phải có biện pháp để quản lý tốt hơn hoạt động sinh hoạt tổ khối chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy của GV.
2.4.7 Thực trạng quản lý điều kiện phục vụ công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Việc đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất cũng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả bồi dưỡng, do vậy chúng tôi đã tiến hành lấy ý kiến của GVvề mức độ thực hiện và kết quả đạt được trong quản lý các điều kiện phục vụ công tác bồi dưỡng chuyên môn. Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GV kết quả ở bảng 2.18 như sau:
- Bảng 2.18 Ý kiến của CBQL và GVMN về mức độ thực hiện và kết quả đạt được quản lý điều kiện phục vụ công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Qua bảng phân tích số liệu 2.18 chúng ta nhận thấy rằng nội dung (1) “Xây dựng kế hoạch quản lý điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn” được CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả đạt được “tốt” với TTB lần lượt là 3.71 và 4.46. Nội dung (4) “Chỉ đạo phó hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất báo cáo tình hình trang thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn để kịp thời sửa chữa, thay thế.” đội ngũ CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả đạt được “tốt” với TTB lần lượt là 3.63 và 4.53. Nội dung “Kiểm tra việc thực hiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn” đội ngũ CBQL và GV cũng đánh giá mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả đạt được “tốt” với TTB lần lượt là 3.73 và 4.54. Độ lệch chuẩn cũng khá cao (ĐLC thấp nhất 0.501, ĐLC cao nhất 0.700), điều này thể hiện có độ phân tán tập trung trong ý kiến đánh giá.
Tuy nhiên nội dung (2) “Tổ chức thực hiện quản lý chặt chẽ việc sử dụng, bảo quản các trang thiết bị nhằm tận dụng tối đa hiệu quả của chúng và giảm thiểu các chi phí trong quá trình tổ chức hoạt động bồi dưỡng” thì CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện “ít thường xuyên” nhưng kết quả đạt được “khá” với TTB lần lượt là 2.55 và 3.48. Nội dung (3) “Tổ chức họp rút kinh nghiệm trong công tác quản lý điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn” thì CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện “thường xuyên” nhưng kết quả đạt được “TB” với TTB lần lượt là 3.64 và 2.73. Để tìm hiểu nguyên nhân, chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL1, CBQL2, CBQL8, CBQL9, CBQL12 có cùng ý kiến “việc tổ chức quản lý chặt chẽ việc sử dụng các trang thiết bị thì thường đến gần đợt tổ chức tập huấn thì hiệu trưởng khi đó mới phân công cho phó hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất kiểm tra lại các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng vì thế việc tổ chức quản lý ít thường xuyên. Tuy nhiên cơ sở vật chất trang thiết bị, tài liệu sẽ được cung cấp đầy đủ và hoạt động tốt trong quá trình tổ chức thực hiện bồi dưỡng chuyên môn”. CBQL3, CBQL7, CBQL11 có cùng ý kiến về việc họp rút kinh nghiệm trong công tác quản lý phụ vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn “sau mỗi đợt tập huấn hiệu trưởng đều tổ chức các cuộc họp trung tâm để họp rút kinh nghiệm trong công tác quản lý các điều kiện phụ vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn. Tuy nhiên các trang thiết bị, các phòng, bàn ghế khi xuống cấp hoặc hư hỏng đều phải làm tờ trình lên phòng giáo dục để xin cấp mới, sửa chữa. Vì thế chưa được kịp thời dẫn đến kết quả đạt được chưa cao”.
2.4.8 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Qua điều tra thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN thị xã Tân Uyên, Bình Dương, chúng tôi rút ra một số nhận định sau đây:
2.4.8.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
CBQL GV đã nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN cũng như công tác quản lý bồi dưỡng chuyên môn GVMN, xác định được rõ ràng các nội dung bồi dưỡng chuyên môn GVMN. 100% CBQL có nhận thức bồi dưỡng chuyên môn GVMN là cần thiết và rất cần thiết.
Trong việc quản lý bồi dưỡng chuyên môn GVMN thì đội ngũ CBQL đã thiết lập mục tiêu rõ ràng, xác định nguồn lực tham gia thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN hợp lý. Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã thực hiện đủ các chức năng QL (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) trong từng nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN (Quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN; Quản lý việc phân công GVMN tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn; Quản lý thực hiện nội dung chương trình hoạt động bồi dưỡng chuyên môn; Quản lý thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động bồi dưỡng chuyên môn; Quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn; Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN).
2.4.8.2. Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN tại thị xã Tân Uyên còn bộc lộ một số điểm hạn chế sau:
Một số bộ phận GV vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN. Ý thức tự học, tự nghiên cứu các module bồi dưỡng thường xuyên vẫn chưa có sự đầu tư cao. Các báo cáo viên cũng chỉ có thực hiện phương pháp thuyết trình, thảo luận nhóm, hướng dẫn giáo viên cách nghiên cứu tài liệu nhưng không có kết hợp với hoạt động trải nghiệm thực tế cho giáo viên.
Hiệu trưởng các trường mầm non đã thực hiện đủ các chức năng quản lý trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN nhưng hiệu quả quản lý chưa cao. Cụ thể như sau:
Chưa có sự đồng bộ trong thực hiện các nội dung quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN (đã có những nội dung thực hiện tương đối tốt, có nội dung thực hiện chưa tốt cụ thể việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn theo các giai đoạn; chưa đề xuất các điểu chỉnh cho sát với tình hình; chưa có sự đồng bộ giữa các trường).
Phân công, phân nhiệm trong quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn chưa rõ ràng, chưa đồng bộ giữa các trường nên chưa phát huy được hiệu quả. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
CBQL gặp khó khăn trong việc triển khai lại một số nội dung bồi dưỡng chuyên môn
Việc tạo động lực cho GV đã được các trường quan tâm, tuy nhiên còn chưa nhiều, công tác thi đua khen thưởng đôi khi còn chưa kịp thời, công tác xã hội hóa giáo dục còn hạn chế, chưa huy động được mạnh mẽ nguồn kinh phí chăm lo cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Các hình thức tổ chức BD, đào tạo cho GV tham gia bồi dưỡng chuyên môn chưa đa dạng, chưa phong phú; khó khăn trong việc xác định các nguồn lực thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp; HT chưa có nhiều biện pháp để phát huy tốt nhất khả năng tự học, tự BD của GV.
BGH dự giờ sinh hoạt TCM về công tác bồi dưỡng chuyên môn còn rất ít, thậm chí không dự, vì vậy chưa nắm bắt được những hạn chế, tồn tại để kịp thời điều chỉnh đồng thời không phát hiện được những ưu điểm, mặt mạnh để kịp thời phổ biến và nhân rộng trong toàn trường.
Việc sửa chữa, nâng cấp, xin cấp mới các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn còn phụ thuộc vào sự đồng ý từ cấp Phòng và Sở Giáo dục nên đôi khi còn chậm trễ, chưa kịp thời cung cấp các trang thiết bị điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng thường xuyên
2.4.8.3. Nguyên nhân
Tỉnh Bình Dương là tỉnh phát triển nhanh về công nghiệp, có rất nhiều khu công nghiệp dẫn đến lượng nhập cư, di cư đến Bình Dương ngày càng cao. Họ mang theo gia đình, con cái đến ở dẫn đến tỷ lệ trẻ hàng năm không ngừng tăng lên, đội ngũ GV không đáp ứng đủ. Độ tuổi GV còn khá trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. Bên cạnh đó do áp lực của GVMN phải đi làm bắt đầu từ 6h30 đến 17h00, tối về còn phải làm đồ dùng dạy học, soạn giảng kế hoạch giáo dục, chăm sóc gia đình, những ngày cuối tuần có một số GV tham gia các lớp học nâng cao trình độ chuyên môn. Vì thế việc tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn cũng như đầu tư vào tìm hiểu nội dung bồi dưỡng chuyên môn còn hạn chế.
Ngoài ra nhà trường cũng không có kinh phí dành cho hoạt động trải nghiệm thực tế, GVMN cũng không có nhiều thời gian tham gia các lớp hoạt động trải nghiệm thực tế.
Ban giám hiệu rất ít khi kiểm tra, ký duyệt kế hoạch cũng như thực hiện chương trình BDCM của TCM, Ban giám hiệu ít lập kế hoạch chi tiết trước mà chủ yếu lập kế hoạch thực hiện trong ngắn hạn chưa có sự đầu tư, quan tâm đúng mức
Một số trường giao hoàn toàn cho TCM phân công GVMN tham gia bồi dưỡng chuyên môn; HT không ra quyết định phân công GVMN tham gia các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
Có một số nội dung bồi dưỡng cả chuyên viên và Ban giám hiệu cũng chưa hiểu được hết ý nghĩa các nội dung truyền đạt từ chuyên gia. Dẫn đến việc lúng túng trong việc triển khai đến đội ngũ GV. Bên cạnh đó, nội dung công tác tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn đều do Sở quyết định. Vì thế chưa chủ động trong việc lựa chọn nội dung tập huấn cần thiết tại đơn vị.
Kinh phí để chi cho công tác khen thưởng GV tham gia tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn chủ yếu được trích từ kinh phí hoạt động của nhà trường chưa vận động được các nguồn xã hội hóa giáo dục. Bên cạnh đó hiệu trưởng một số trường thiếu quan tâm đến việc động viên, khuyến khích tạo động lực cho giáo viên tham gia quá trình bồi dưỡng chuyên môn.
Để có được đội ngũ giáo viên cốt cán thì đội ngũ giáo viên đó phải hội tụ nhiều các yếu tố theo quy định thông tư 26 của Bộ Giáo dục và Đào quy định. Nhưng từ thực trạng nghiên cứu trên thì việc học, sử dụng ngoại ngữ, tin học và các trang thiết bị hỗ trợ dạy học chỉ được giáo viên sử dụng với hình thức đối phó chứ chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu muốn nâng cao trình độ.
2.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Để tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN tham gia khảo sát. Kết quả xử lý thông tin trong phiếu khảo sát được trình bày ở bảng 2.19 sau đây:
- Bảng 2.19. Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN
Trong số 8 yếu tố chủ quan và khách quan mà đề tài liệt kê, có thể nhận thấy cả 8 yếu tố đều có TTB khá cao (từ 4.18 đến 4.85) và mức ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn là yếu tố “Các văn bản, kế hoạch về chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn (của Bộ GDĐT, Sở GDĐT, Phòng GDĐT)” với TTB là 4.85. Công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của nhà trường được thể hiện bằng các văn bản chỉ đạo thực hiện mục tiêu, nội dung, chuyên đề bồi dưỡng cấp tỉnh; định hướng nội dung sinh hoạt bồi dưỡng chuyên môn, chỉ đạo đổi mới hình thức và phương pháp bồi dưỡng chuyên môn. Có thể nói các văn bản chỉ đạo này chính là kim chỉ nam cho hoạt động của hiệu trưởng. Văn bản chỉ đạo càng rõ ràng, kịp thời bao nhiêu thì công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn càng diễn ra hiệu quả, thống nhất bấy nhiêu.
Yếu tố đứng thứ 2 trong tổng số tất cả các yếu tố là “Năng lực quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn” với TTB là 4.65. Hiệu trưởng là người đứng đầu cơ sở giáo dục, là người chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của nhà trường và chịu trách nhiệm trước cấp trên về mọi sự quản lý đó. Hiệu trưởng là người dẫn dắt thực hiện sứ mệnh cao cả của nhà trường. Do vậy để quản lý được nhà trường, người hiệu trưởng cần có những yêu cầu cơ bản về trình độ, năng lực, được đào tạo quản lý và có nghiệp vụ quản lý nhà trường. Hiệu trưởng có trình độ quản lý thì mới thực hiện được một cách có chất lượng công tác quản lý của mình và thể hiện được những việc đã làm được thông qua hồ sơ, sổ sách và kế hoạch quản lý, mới tạo được niềm tin, uy tín trước cán bộ, GV nhà trường, từ đó dẫn dắt, động viên họ thực hiện một cách tốt nhất các công việc của nhà trường. Chính vì vậy, yếu tố này đã được đánh giá ở thứ hạng cao.
Yếu tố đứng thứ 3 “Tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn của giáo viên đối với hoạt động bồi dưỡng chuyên môn” với TTB 4.74, yếu tố này vẫn được đánh giá là ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn. Tinh thần trách nhiệm và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Khi mỗi giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt thì nhiệm vụ dù khó khăn đến đâu cũng sẽ thực hiện thành công. Tuy vậy, tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết nội bộ và cả năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên đều có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tinh thần, năng lực của hiệu trưởng. Một người quản lý tốt cần khơi gợi, thúc đẩy được tinh thần trách nhiệm, cầu tiến của đội ngũ GV cũng như xây dựng được bầu không khí tâm lý đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ đơn vị của mình. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Tương tự như ở các yếu tố còn lại đều được đánh giá là ảnh hưởng từ “nhiều” đến “rất nhiều” đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN.
Đây là kết quả cần quan tâm trong quá trình xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
Tiểu kết chương 2
Trên cơ sở khái quát về tình hình kinh tế – xã hội, GD-ĐT của thị xã Tân Uyên, luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN và thực trạng Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương:
Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ rõ, trong thời gian qua, Hiệu trưởng các trường mầm non đã sử dụng các biện pháp Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, nhìn chung đã đạt được hiệu quả nhất định trong thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng chuyên môn. Tuy nhiên, mức độ thực hiện và kết quả đạt được còn ở mức độ thấp hơn ở một số nội dung quản lý, việc sử dụng các biện pháp quản lý chưa đồng bộ nên hiệu quả quản lý còn chưa cao. Cụ thể:
Đối với công tác quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động BDCM GVMN thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn theo các giai đoạn của một số trường thực hiện chưa tốt; chưa đề xuất các điều chỉnh cho sát tình hình thực tế.
Đối với với công tác quản lý việc phân công giáo viên tham gia các hoạt động BDCM thì chưa rõ ràng, chưa đồng bộ giữa các trường
Đối với công tác Quản lý thực hiện nội dung chương trình hoạt động bồi dưỡng chuyên môn thì một số hiệu trưởng gặp khó trong công tác triển khai nội dung bồi dưỡng chuyên môn; chưa có kinh phí để mời chuyên gia chuyên về bồi dưỡng chuyên môn để bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên tại đơn vị. Bên cạnh đó việc khuyến khích, khen thưởng nhằm tạo động lực cho đội ngũ GV cũng chưa được thực hiện tốt
Đối với công tác Quản lý thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động BDCM GVMN chưa đa dạng phong phú, gặp khó khăn trong việc xác định các nguồn lực thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp giảng dạy.
Đối với công tác Quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn về công tác BDCM GVMN thì Ban giám hiệu ít dự giờ sinh hoạt tổ chuyên môn.
Đối với công tác Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động BDCM
GVMN thì chưa tự chủ trong việc nâng cấp, sửa chữa, thay mới các điều kiện phục vụ hoạt động BDCM mà còn chờ phê duyệt của Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo.
Nghiên cứu lý luận Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN và kết quả điều tra, phân tích thực trạng là cơ sở gợi mở cho việc đề xuất, hoàn thiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong chương 3 của đề tài này. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

