Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông tại Tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên

Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam và Tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai. Tỉnh Bình Dương hiện có 1 thành phố (Thủ Dầu Một), 4 thị xã (Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên) và 4 huyện (Phú Giáo, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên), bao gồm 91 xã/phường/thị trấn.

Tỉnh Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích 2.695,22 km2, xếp thứ 4 trong vùng Đông Nam Bộ. Địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.

Bình Dương là cửa ngõ giao thương với thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế – văn hóa của cả nước, có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á,… cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10-15 km,… thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội toàn diện.

Hiện nay, tỉnh lỵ của Bình Dương được đặt tại thành phố Thủ Dầu Một. Dự kiến đến năm 2026, Bình Dương là đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 6 quận nội thành, 4 huyện ngoại thành với 112 xã, phường, thị trấn (60 phường, 39 xã, 13 thị trấn). Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

2.1.2. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế – xã hội

Về công nghiệp, hiện nay, Bình Dương có 29 khu công nghiệp với diện tích 12.798 ha và 12 cụm công nghiệp với diện tích 815 ha. Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch các khu công nghiệp đến năm 2026 có 33 khu công nghiệp, với diện tích 14.790 ha. Đây là điều kiện thuận lợi để tỉnh thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ và đô thị trong thời gian tới.

Về nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 22.487 ha, trong đó diện tích lúa là 7.321 ha, diện tích trồng cây lâu năm đạt 142,4 nghìn ha. Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,1%. Tỉnh đã chỉ chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị gia tăng cùng với việc kiểm soát giá vật tư, không để dịch bệnh xảy ra nên sản xuất nông nghiệp tăng trưởng theo chiều hướng phát triển nhanh, mạnh.

Trên địa bàn tỉnh hiện có 607 trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên – kỹ thuật – hướng nghiệp, trường trung cấp chuyên nghiệp. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bình Dương còn có 8 trường đại học, 8 trường cao đẳng, 62 trung tâm, chi nhánh trung tâm và cơ sở dạy nghề, cơ bản đáp ứng việc đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT năm học 2023- 2024 là 97.72%, tăng 11.22% so với năm học 2022-2023.

Ngoài ra, các ngành, địa phương đã tập trung rà soát, xây dựng các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội cấp huyện, quy hoạch ngành, quy hoạch phân khu chức năng. Đến nay, công tác quy hoạch xây dựng cơ bản đã hoàn thành, tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung xây dựng và quy hoạch phân khu đạt 100%, các khu chức năng, các dự án đầu tư xây dựng đều có quy hoạch chi tiết. Tỉnh đã phối hợp và tổ chức các Hội thảo nghiên cứu về xây dựng “Thành phố thông minh”, qua đó có chủ trương, định hướng, lộ trình và giải pháp phù hợp để đầu tư phát triển đô thị Bình Dương theo hướng văn minh, giàu đẹp.

Ngành GDĐT tỉnh Bình Dương đã và đang được Đảng, chính quyền và các cơ quan chuyên môn từ trung ương đến địa phương quan tâm đầu tư phát triển bởi lý do “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” [35], góp phần ươm mầm cho tương lai của đất nước, tạo tiền đề phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững. GDĐT là con đường duy nhất mang đến sự cạnh tranh, thắng lợi của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền. Sự quan tâm đầu tư đến lĩnh vực GDĐT không chỉ được Đảng và Nhà nước cụ thể hóa trong Luật Giáo dục, điều lệ trường học, chế độ, chính sách dành cho đội ngũ CBQL, GV, nhân viên mà điều đó đã được cụ thể hóa trong nội dung mang tính chiến lược của các cấp QL chuyên môn của ngành giáo dục từ Bộ GDĐT, Sở GDĐT tỉnh Bình Dương đến cấp Phòng GDĐT của 9 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Bình Dương. Ngoài ra, công tác QL giáo dục luôn được lãnh đạo nhà trường, kể cả lãnh đạo địa phương các cấp quan tâm thực hiện. Muốn phát triển giáo dục, điều quan trọng nhất đó là sự đồng tâm, hiệp lực, tinh thần quyết thắng của các cấp lãnh đạo mà cụ thể là những người trực tiếp thực hiện công tác QL giáo dục tại đơn vị.

Trong những năm gần đây, công tác phát triển đội ngũ CBQL ở các cấp học đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, mỗi địa phương, tùy thuộc vào điều kiện thực tế, đã có những cách thức thực hiện khác nhau. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ X, nhiệm kỳ 2022 – 2026 khẳng định: Ngành GDĐT tỉnh Bình Dương bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận vẫn còn “một số yếu kém tồn tại nhiều năm vẫn chưa được khắc phục” [12]. Chính vì vậy, Nghị quyết xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục tỉnh Bình Dương là “Chú trọng nâng cao dân trí; bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực” [12], Nghị quyết cũng xác định chương trình đột phá đó là “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ CBLĐ, QL” [12] đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh Bình Dương trong giai đoạn mới.

2.1.3. Thực trạng ngành giáo dục và đào tạo của tỉnh Bình Dương (công lập) Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

2.1.3.1 Quy mô phát triển

  • Số lượng cơ sở giáo dục
  • Bảng 2.1. Thống kê số lượng cơ sở giáo dục từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025
  • Bảng 2.2. Thống kê số lượng lớp học từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025
  • Số lượng học sinh
  • Bảng 2.3. Thống kê số lượng học sinh từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025

2.1.3.2. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên

  • Số lượng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên

Tính đến tháng 10/2024, tổng số CBLĐ, CBQL, GV, nhân viên toàn ngành là 20.833 người (không bao gồm số liệu ngoài công lập). Trong đó, nữ là 16.381 người, chiếm tỷ lệ 78.63%.

Bảng 2.4. Thống kê số lượng CBLĐ, CBQL, GV từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025

  • Trình độ đào tạo của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, giáo viên

Bảng 2.5. Thống kê trình độ CBLĐ, CBQL từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025

Bảng 2.6. Thống kê trình độ GV từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025

  • Đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý theo chuẩn

Bảng 2.7. Kết quả đánh giá, xếp loại HT/giám đốc/phó HT/phó giám đốc theo chuẩn từ năm học 2020-2021 đến năm học 2023-2024 Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

  • Công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển cán bộ quản lý

Bảng 2.8. Thống kê số lượng bổ nhiệm, bổ nhiệm lại từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025

Về công tác luân chuyển CBQL, Sở GDĐT luôn quan tâm và thực hiện công tác luân chuyển CBQL theo định kỳ và khi có biến động về nhân sự. Công tác luân chuyển CBQL trường THPT một mặt giúp cho CBQL có điều kiện thử thách, rèn luyện, mặt khác giúp lãnh đạo ngành GDĐT cân đối, hài hòa về số lượng và năng lực QL của cán bộ. Điểm mới của ngành GDĐT tỉnh Bình Dương đó là luân chuyển không đồng nghĩa với việc giữ vị trí có phụ cấp chức vụ tương đương. Xét về phẩm chất đạo đức, năng lực QL, Giám đốc Sở GDĐT đã tiến hành luân chuyển nhiều CBQL từ chức vụ HT/giám đốc sang chức vụ phó HT/phó giám đốc.

  • đ. Công tác tham mưu chế độ, chính sách cho cán bộ quản lý

Sở GDĐT luôn thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành của Trung ương và các chế độ hỗ trợ của tỉnh Bình Dương.

Vừa qua, Sở GDĐT đã phối hợp với các Sở, ngành có liên quan để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh điều chỉnh một số chế độ, chính sách do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành nhưng không còn phù hợp với tình hình thực tế. Cụ thể là Quyết định số 29/2023/QĐ-UBND ngày 19/8/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về chế độ, chính sách hỗ trợ đối với đơn vị, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên ngành GDĐT và Dạy nghề tỉnh Bình Dương.

Sở GDĐT đã tham gia cùng các Sở, ngành liên quan góp ý đề cương dự thảo Văn bản về chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương sẽ được Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh vào kỳ họp thường kỳ giữa năm 2025 (thay thế nội dung Quyết định số 74/2018/QĐ-UBND ngày 21/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành

Quy định về chính sách thu hút, chế độ hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương).

  • Công tác công tác đào tạo, bồi dưỡng

Trong học kỳ 1 năm học 2024-2025, ngành GDĐT tỉnh Bình Dương đã cử 1.136 CBQL, GV, nhân viên tham gia các lớp, các khóa, các trình độ đào tạo, bồi dưỡng (trong đó có 865 nữ, tỷ lệ 76.14%). Cụ thể: Chuyên môn 174 trường hợp (nữ 147, tỷ lệ 84.48%); lý luận chính trị 67 trường hợp (nữ 43, tỷ lệ 64.17%); QL giáo dục 39 trường hợp (nữ 28, tỷ lệ 71.79%); bồi dưỡng và tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ khác 856 trường hợp (nữ 647, tỷ lệ 75.58%).

2.2. Thực trạng giáo dục trung học phổ thông của tỉnh Bình Dương (công lập) Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

2.2.1. Quy mô phát triển

Hiện nay, toàn tỉnh Bình Dương có 28 trường THPT công lập. Phân bố các trường THPT công lập tại các huyện, thị xã, thành phố như sau: thành phố Thủ Dầu Một (5 trường), thị xã Thuận An (3 trường), thị xã Dĩ An (3 trường), thị xã Tân Uyên (3 trường), thị xã Bến Cát (2 trường), huyện Phú Giáo (4 trường), huyện Dầu Tiếng (4 trường), huyện Bàu Bàng (1 trường), huyện Bắc Tân Uyên (3 trường).

2.2.2. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên

  • Số lượng

Tính đến thời điểm tháng 6/2024, tổng số CBQL, GV trường THPT là 1.893 người. Trong đó có 97 CBQL (HT: 27 người, phó HT: 70 người), GV có 1.796 người. Số liệu cụ thể như sau:

  • Bảng 2.9. Thống kê số lượng CBQL, GV trường THPT
  • Trình độ đào tạo
  • Bảng 2.10. Thống kê trình độ CBQL trường THPT từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025
  • Bảng 2.11. Thống kê trình độ GV trường THPT từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025
  • Cơ cấu cán bộ quản lý
  • Bảng 2.12. Thống cấu độ tuổi, giới tính của CBQL trường THPT

2.2.3. Đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý theo chuẩn

Bảng 2.13. Thống kê kết quả đánh giá, xếp loại HT/phó HT trường THPT theo chuẩn từ năm học 2020-2021 đến năm học 2023-2024

2.2.4. Công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ quản lý

Bảng 2.14. Thống kê kết quả bổ nhiệm, bổ nhiệm lại CBQL trường THPT từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025

2.3. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.3.1. Mục đích khảo sát Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

  • Thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT tại tỉnh Bình Dương.

2.3.2. Nội dung khảo sát

Thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT tại tỉnh Bình Dương về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL; tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL; đánh giá đội ngũ CBQL.

2.3.3. Phương pháp khảo sát

  • Điều tra bằng phiếu hỏi
  • Mẫu điều tra:

Mẫu điều tra bằng phiếu hỏi gồm hai nhóm: Nhóm CBQL trường THPT; nhóm GV.

CBQL trường THPT bao gồm: Bí thư chi bộ, HT, phó HT, chủ tịch Công đoàn, bí thư Đoàn Thanh niên, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, tổ trưởng, tổ phó tổ văn phòng của 5 trường THPT (Số trường khảo sát: 5 trường, tổng cộng: 117 người).

GV của 5 trường THPT công lập trên địa bàn tỉnh Bình Dương: 20 GV/trường (Tổng cộng: 100 người).

  • Cách xử lý số liệu

Từ số liệu điều tra thu thập được, người nghiên cứu tiến hành xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 20. Các chỉ số đánh giá như sau:

  • Số lượng: SL
  • Tỷ lệ phần trăm: TL %
  • Điểm trung bình: ĐTB
  • Độ lệch chuẩn: ĐLC
  • Quy ước về cách xác định mức độ đánh giá theo thang điểm khảo sát như sau:
  • Về điểm trung bình
  • Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng:

Đối với thang đo bậc 4, điểm số được quy đổi theo thang bậc 4 ứng với các mức độ. Điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 4, chia làm 4 mức, theo đó, ta có cách cho điểm như sau: Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

  • 4 điểm cho thường xuyên/tốt/rất quan trọng/rất nhiều/rất mạnh
  • 3 điểm cho thỉnh thoảng/khá/khá quan trọng/khá nhiều/mạnh
  • 2 điểm cho ít khi/đạt/ít quan trọng/ít/trung bình
  • 1 điểm cho không bao giờ/chưa đạt/không quan trọng/không/yếu Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (4-1)/4 = 0.75 Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng:

Về kiểm nghiệm giả thuyết: Bằng cách thức hiện phân tích ANOVA và Independent sample T – Test.

Đặt giả thuyết

  • H0: Không có sự khác biệt về ý nghĩa giữa hai ý kiến đánh giá.
  • H1: Có sự khác biệt về ý nghĩa giữa hai ý kiến đánh giá.

Tính giá trị sig, nếu sig >= 0.05 ta chấp nhận H0, nếu sig < 0.05 , ta bác bỏ H0, chấp nhận H1.

  • Thống kê mẫu khảo sát bằng phiếu hỏi

Bảng 2.15. Thống mẫu khảo sát bằng phiếu hỏi

  • Điều tra bằng phỏng vấn

Mẫu điều tra

Mẫu điều tra bằng phỏng vấn gồm ba nhóm: Nhóm CBLĐ, CBQL Sở GDĐT; nhóm CBQL trường THPT; nhóm GV.

  • Nhóm CBLĐ, CBQL Sở GDĐT bao gồm 3 thầy/cô: Đại diện Ban Giám đốc Sở GDĐT và Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tổ chức cán bộ.
  • Nhóm CBQL trường THPT bao gồm 3 thầy/cô/trường (Số trường phỏng vấn: 4 trường): Bí thư Chi bộ, HT, Phó HT, Chủ tịch Công đoàn, Bí thư Đoàn Thanh niên, Tổ trưởng, Tổ phó chuyên môn, Tổ trưởng, Tổ phó Tổ Văn phòng.
  • Nhóm GV bao gồm 2 thầy/cô/trường (Số trường phỏng vấn: 4 trường).

Cách xử lý

  • Đối với CBLĐ, CBQL: Chúng tôi mã hóa đối tượng phỏng vấn theo thứ tự từ CBQL1 đến CBQL15.
  • Đối với GV: Chúng tôi mã hóa đối tượng phỏng vấn theo thứ tự từ GV1 đến GV8.

Sau phỏng vấn, chúng tôi nghe các đoạn phỏng vấn và viết ra dưới dạng chữ.

Sau đó, chúng tôi đọc các số liệu phỏng vấn dưới dạng văn bản của từng đối tượng phỏng vấn và tìm sự đồng thuận hoặc khác biệt về ý kiến giữa các đối tượng phỏng vấn theo từng nội dung. Chúng tôi tiến hành thống kê tần số các ý kiến đồng thuận và khác biệt và dùng để giải thích bổ sung cho số liệu điều tra bằng bảng hỏi.

  • Thống kê mẫu điều tra bằng phỏng vấn

Bảng 2.16. Thống mẫu điều tra bằng phỏng vấn

2.4. Kết quả khảo sát nhận thức của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và giáo viên về những vấn đề có liên quan đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông

2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò của người cán bộ quản lý trường trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

  • Bảng 2.17. Nhận thức của CBQL GV về vai trò của người CBQL trường THPT

Kết quả bảng 2.17 cho thấy ĐTB của CBQL trường THPT là 3.89, của GV trường THPT là 3.34. Chúng tôi có thể kết luận: Tất cả CBQL, GV đều có sự nhất trí cao khi cho rằng người CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng”. Cụ thể, có đến 88.89% CBQL, 49.0% GV trường THPT cho rằng người CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng”. Tỷ lệ đánh giá “khá quan trọng” của CBQL trường THPT là 11.11%, của GV là 36.0%. Tỷ lệ đánh giá “ít quan trọng” của CBQL trường THPT là 0.0%, của GV là 15%. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan, bởi cùng với CBQL phòng Tổ chức cán bộ thì CBQL trường THPT là những người trực tiếp thực hiện những công việc liên quan đến công tác tổ chức, công tác cán bộ nên đối tượng này nhận thức được tầm quan trọng của người CBQL trường THPT đối với nhà trường. Ngoài ra, tùy thuộc vào từng vị trí công tác, là CBQL hay GV thì mức độ nhận thức về vai trò của người CBQL cũng khác nhau. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận GV cho rằng vai trò của người CBQL là “ít quan trọng”, chiếm 15.0% tổng số GV, chiếm 6.91% tổng số phiếu khảo sát. Mặc dù tỷ lệ này không cao nhưng cũng phần nào ảnh hưởng đến thái độ làm việc của GV tại trường đang công tác.

Phân tích tác động của thâm niên công tác đối với nhận thức về vai trò của người CBQL trường THPT

  • Đối với CBQL

Bảng 2.18. Phân tích tác động của thâm niên công tác của CBQL đối với nhận thức về vai trò của người CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig là 0.145 > 0.05. Như vậy, chúng tôi có thể khẳng định: Việc đánh giá về vai trò của người CBQL trường THPT, không phụ thuộc vào thâm niên công tác của người CBQL. Cụ thể, ĐTB đánh giá của các nhóm thâm niên công tác như sau: “dưới 5 năm” là 3.83, “5 năm đến 10 năm” là 3.89, “11 năm đến 20 năm” là 3.96, “trên 20 năm” là 3.81. Tỷ lệ CBQL cho rằng người CBQL có vai trò “rất quan trọng” thuộc các nhóm thâm niên công tác khác nhau dao động từ 80.95% đến 96.0%, tỷ lệ CBQL cho rằng người CBQL có vai trò “khá quan trọng” thuộc các nhóm thâm niên công tác khác nhau dao động từ 4.0% đến 19.05%, không có ý kiến cho rằng CBQL có vai trò “ít quan trọng” và “không quan trọng”.

  • Đối với GV Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Bảng 2.19. Phân tích tác động của thâm niên công tác của GV đối với nhận thức về vai trò của người CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig là 0.000 < 0.05. Tức là các nhóm thâm niên làm việc khác nhau khi đánh giá về vai trò của người CBQL trường THPT khác nhau. Giá trị trung bình nhóm có thâm niên công tác “dưới 5 năm” là 2.42, thuộc mức “ít quan trọng”, “5 năm đến 10 năm” là 3.11, thuộc mức “khá quan trọng”, của nhóm “11 năm đến 20 năm” và “trên 20 năm” là 4.0, thuộc mức “rất quan trọng”. Cụ thể, nhóm thâm niên công tác “dưới 5 năm” có 42.31% cho rằng CBQL trường THPT có vai trò “khá quan trọng”, 57.69% cho rằng “ít quan trọng”. Nhóm thâm niên công tác “5 năm đến 10 năm” có 10.71% cho rằng CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng”, 89.29% cho rằng “khá quan trọng”. 100% CBQL thuộc nhóm thâm niên công tác “11 năm đến 20 năm” và “trên 20 năm” cho rằng CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng”.

Phân tích tác động của việc tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục đối với nhận thức về vai trò của người CBQL trường THPT

  • Đối với CBQL

Bảng 2.20. Phân tích tác động của việc đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục của CBQL đối với nhận thức về vai trò của người CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA của việc tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục đối với nhận thức của CBQL về vai trò của người CBQL trường THPT với giá trị Sig là 0.745 > 0.05 nên không có sự đánh giá khác nhau của việc đã tham gia hay chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục đến vai trò của người CBQL trường THPT. Điều này chứng minh CBQL trường THPT đã tham gia hay chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục đều cho rằng người CBQL có vai trò “rất quan trọng”. Cụ thể, ĐTB của CBQL đã tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục là 3.87 với 86.96% đánh giá “rất quan trọng”, 13.04% đánh giá “khá quan trọng”. Đối với đối tượng chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục, ĐTB là 3.89 với 89.36% đánh giá “rất quan trọng”, 10.64% đánh giá “khá quan trọng”.

  • Đối với GV

Bảng 2.21. Phân tích tác động của việc đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục của GV đối với nhận thức về vai trò của người CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig là 0.000 < 0.05. Như vậy, chúng tôi có thể khẳng định: Việc đánh giá về vai trò của người CBQL trường THPT phụ thuộc vào yếu tố đã tham gia hay chưa tham gia các lớp học đào tạo, bồi dưỡng về QL giáo dục của người GV. Cụ thể, đối với nhóm GV đã tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “rất quan trọng” chiếm tỷ lệ 100%. Đối với nhóm GV chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “rất quan trọng” chiếm tỷ lệ 40.70%, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “khá quan trọng” chiếm tỷ lệ 41.86%, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “ít quan trọng” chiếm tỷ lệ 17.44%. Về ĐTB, ĐTB đánh giá của GV về vai trò của CBQL trường THPT đối với CBQL đã tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục là 4.0, thuộc mức “rất quan trọng”, ĐTB của nhóm chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục là 3.23, thuộc mức “khá quan trọng”.

2.4.2. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về năng lực thực hiện công việc của cán bộ quản lý trường trung học phổ thông

  • Bảng 2.22. Nhận thức của CBQL về năng lực QL của CBQL trường THPT

Kết quả ở bảng 2.22 cho thấy, nhận thức của CBQL về năng lực thực hiện công việc của CBQL trường THPT là khác nhau. Những nội dung được CBQL đồng ý ở mức cao bao gồm: Năng lực thực hiện nhiệm vụ của HT và Phó HT (Tốt: 75.21% và 71.79%; Khá: 16.24% và 17.95%; Đạt: 8.55% và 10.28%). Ngoài ra, không có CBQL trường THPT nào đánh giá năng lực thực hiện công việc của HT, Phó HT, Tổ trưởng chuyên môn, Tổ phó chuyên môn ở mức “chưa đạt”. Trong 4 đối tượng được đánh giá thì Tổ phó chuyên môn là đối tượng được đánh giá mức “tốt” chiếm tỷ lệ thấp nhất, đạt 48.72%, tỷ lệ “khá” chiếm 26.50% và tỷ lệ “đạt” chiếm 24.78%. Kết quả đánh giá trên cho thấy, phần lớn CBQL trường THPT chưa đánh giá cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của Tổ phó chuyên môn. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Trao đổi với chúng tôi, CBQL2 cho rằng: “Xét về số lượng, Tổ phó chuyên môn thường chiếm số lượng nhiều nhất trong các vị trí CBQL tại trường THPT. Mặt khác, đối tượng này là đối tượng QL có phụ cấp chức vụ thấp nhất trong tất cả phụ cấp của CBQL trường THPT. Do đó, để công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT cần chú ý đến đối tượng Tổ phó chuyên môn”.

2.4.3. Thực trạng nhận thức của giáo viên về mức độ và kết quả thực hiện những nội dung được tham gia có liên quan đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông

Bảng 2.23. Nhận thức của GV về mức độ và kết quả thực hiện những nội dung được tham gia có liên quan đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT

Qua bảng trên ta thấy, nhận thức của GV về mức độ và kết quả thực hiện những nội dung được tham gia có liên quan đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT đạt mức thực hiện là “thỉnh thoảng” và kết quả là “khá”. Cụ thể:

Về nội dung 1, ĐTB mức độ thực hiện của các nội dung thuộc nội dung 1 là 3.20 và ĐTB kết quả thực hiện đạt 3.03. Trong đó, nội dung có ĐTB mức độ thực hiện cao nhất là Giới thiệu nhân sự trong công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại CBQL với ĐTB đạt 3.41; nội dung có ĐTB mức độ thực hiện thấp nhất là Giới thiệu nhân sự trong công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL với ĐTB đạt 2.98. Nội dung có ĐTB kết quả thực hiện cao nhất là Bỏ phiếu tín nhiệm trong công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại CBQL với ĐTB đạt 3.31; nội dung có ĐTB kết quả thực hiện thấp nhất là Tham dự cuộc họp đánh giá, xếp loại HT, Phó HT với ĐTB đạt 2.88.

Về nội dung 2, ĐTB mức độ thực hiện của các nội dung thuộc nội dung 2 là 3.20 và ĐTB kết quả thực hiện đạt 3.14. Trong đó, nội dung có ĐTB mức độ thực hiện cao nhất là Quy trình thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL với ĐTB đạt 3.33; nội dung có ĐTB mức độ thực hiện thấp nhất là Quy trình cử CBQL, GV, viên chức không dạy lớp tham gia đào tạo, bồi dưỡng với ĐTB đạt 3.06. Nội dung Quy trình cử CBQL, GV, viên chức không dạy lớp tham gia đào tạo, bồi dưỡng có ĐTB mức độ thực hiện thấp nhất, tuy nhiên kết quả thực hiện có ĐTB cao nhất, đạt 3.24; nội dung có ĐTB kết quả thực hiện thấp nhất là Quy trình đánh giá CBQL, GV, viên chức không dạy lớp với ĐTB đạt 2.91.

Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu đối với GV. GV8 cho biết: “Vào thời điểm cuối năm học, công việc của CBQL và GV tương đối nhiều, thời gian để CBQL, GV đầu tư vào nội dung bản đánh giá, phân loại, đánh giá, xếp loại và việc sắp xếp thời gian họp để tổ chức đánh giá theo đúng quy trình rất khó khăn. Vì vậy, công tác tự đánh giá và đánh giá vào cuối năm học chưa đạt kết quả như mong muốn”.

Ngoài ra, chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL3 cho biết: “Công tác chọn cử CBQL, GV học tập nâng cao trình độ được thực hiện theo văn bản chỉ đạo của Sở Nội vụ và Sở GDĐT. Tuy nhiên, nhiều CBQL trường THPT không thật sự quan tâm đến quy trình cử CBQL, GV đi học. Điều đó dẫn đến một số trường hợp CBQL, GV có kết quả trúng tuyển kỳ thi sau đại học nhưng không được hưởng chế độ học tập trong ngân sách Nhà nước”.

2.5. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông tại tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

2.5.1. Thực trạng đánh giá về mục tiêu, tầm quan trọng, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông

Thực trạng đánh giá của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về mục tiêu của công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông

  • Bảng 2.24. Đánh giá của CBQL về mục tiêu của công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT

Kết quả bảng 2.24 cho thấy nhận thức của CBQL trường THPT về mục tiêu của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT là khác nhau. Những nội dung được CBQL đánh giá ở mức cao bao gồm: Giúp cho các cấp QL giáo dục có căn cứ để phê duyệt quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL; kế hoạch, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL (chiếm 86.32%); Giúp cho các cấp QL giáo dục chủ động tạo nguồn trong công tác quy hoạch CBQL, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL (chiếm 74.36%); Giúp CBQL nhận biết, phát huy ưu điểm và hạn chế khuyết điểm của bản thân để nâng cao hiệu quả công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT (chiếm 58.97%). Tuy nhiên, CBQL chưa đánh giá cao ở 2 mục tiêu: Xác định được nhu cầu của đội ngũ CBQL trường THPT (chiếm 24.79%); Phấn đấu chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ CBQL, đảm bảo cơ cấu nữ, cơ cấu độ tuổi (chiếm 35.04%). Ý kiến trên cho thấy CBQL chưa được thông tin thật đầy đủ về cơ cấu độ tuổi, cơ cấu về giới tính và tầm quan trọng của việc xác định động cơ phấn đấu của CBQL trong việc thực hiện công tác quy hoạch và bổ nhiệm CBQL tại trường THPT. Do đó, việc nâng cao nhận thức của người CBQL, cập nhật thông tin cần thiết về công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT là điều quan trọng và cần thiết.

Trao đổi với chúng tôi, CBQL1 cho rằng “Việc xác định mục tiêu của công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT rất quan trọng. Trong đó, việc giúp cho lãnh đạo các cấp thực hiện được các chỉ tiêu đề ra trong nghị quyết là rất quan trọng và cấn thiết”.

  • Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Bảng 2.25. Nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT

Kết quả bảng 2.25 cho thấy: ĐTB của CBQL trường THPT là 3.70, GV trường THPT là 3.34 đều thuộc mức “rất quan trọng”. Chúng tôi có thể kết luận: Tất cả CBQL, GV đều có sự nhất trí cao khi cho rằng người công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng”. Cụ thể, có đến 71.79% CBQL, 47.0% GV trường THPT cho rằng công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng”; tỷ lệ đánh giá “khá quan trọng” của CBQL trường THPT chiếm 26.50%, của GV chiếm 40.0%; tỷ lệ “ít quan trọng” của CBQL trường THPT chiếm 1.71%, của GV chiếm 13.0%. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan, bởi cùng với CBQL phòng Tổ chức cán bộ, CBQL trường THPT là những người trực tiếp thực hiện những công việc liên quan đến công tác tổ chức, công tác cán bộ nên đối tượng này nhận thức được tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT đối với nhà trường.

Phân tích tác động của biến thâm niên công tác đối với nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT

  • Đối với CBQL:

Bảng 2.26. Phân tích tác động của thâm niên công tác của CBQL đối với nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig là 0.109 > 0.05. Như vậy, chúng tôi có thể khẳng định: Việc đánh giá về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT không phụ thuộc vào thâm niên công tác của người CBQL. Cụ thể, đối với 4 nhóm thâm niên công tác đã khảo sát, tỷ lệ CBQL cho rằng công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT có giữ vị trí “rất quan trọng” dao động từ 52.63% đến 82.0%, tỷ lệ CBQL cho rằng người CBQL giữ vị trí “khá quan trọng” dao động từ 16.0% đến 42.11%, tỷ lệ CBQL cho rằng người CBQL giữ vị trí “ít quan trọng” dao động từ 0.0% đến 5.26%. Về ĐTB, ĐTB đánh giá của các nhóm thâm niên công tác đều thuộc mức “rất quan trọng”. Trong đó, cao nhất là nhóm có thâm niên công tác “11 năm đến 20 năm” với ĐTB là 3.80, thấp nhất là nhóm có thâm niên công tác từ “5 năm đến 10 năm” với ĐTB là 3.47.

  • Đối với GV:

Bảng 2.27. Phân tích tác động của thâm niên công tác của GV đối với nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig là 0.000 < 0.05. Như vậy, chúng tôi có thể khẳng định: Việc đánh giá về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT phụ thuộc vào thâm niên công tác của người GV. Cụ thể, tỷ lệ GV cho rằng người CBQL có vai trò “rất quan trọng” thuộc các nhóm thâm niên công tác “dưới 5 năm” đạt 100%, ĐTB: 4.0; nhóm “5 năm đến 10 năm” đạt 75.0%, ĐTB: 3.75. Tuy nhiên, nhóm thâm niên công tác “11 năm đến 20 năm” và “trên 20 năm” đánh giá là 0.0%. Về kết quả đánh giá “khá quan trọng”, nhóm thâm niên công tác “5 năm đến 10 năm” đạt 25.0%, nhóm “11 năm đến 20 năm” đạt 100%, nhóm “dưới 5 năm” và “trên 20 năm” đạt 0.0%. Về kết quả đánh giá “ít quan trọng”, nhóm thâm niên công tác “trên 20 năm” đạt 100%, các nhóm còn lại có tỷ lệ 0.0%. Về ĐTB, ĐTB đánh giá của các nhóm thâm niên công tác khác nhau thuộc các mức khác nhau, cao nhất là nhóm có thâm niên công tác “dưới 5 năm” với ĐTB là 4.0 thuộc mức “rất quan trọng, nhóm “5 năm đến 10 năm” có ĐTB là 3.75 thuộc mức “rất quan trọng”, ĐTB của nhóm “từ 11 năm đến 20 năm” là 3.0 thuộc mức “khá quan trọng”, ĐTB của nhóm “trên 20 năm” là 2.0 thuộc mức “ít quan trọng”.

Phân tích tác động của biến tham gia QL giáo dục đối với nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển CBQL trường THPT Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

  • Đối với CBQL:

Bảng 2.28. Phân tích tác động của đào tạo, bồi dưỡng về QL giáo dục của CBQL đối với nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig là 0.015 < 0.05. Như vậy, chúng tôi có thể khẳng định: Việc đánh giá về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT phụ thuộc vào yếu tố đã tham gia hay chưa tham gia các lớp học đào tạo, bồi dưỡng về QL giáo dục của người CBQL. Cụ thể, đối với nhóm CBQL đã tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục, số lượng CBQL cho rằng công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng” chiếm tỷ lệ 52.17%, số lượng CBQL cho rằng “khá quan trọng” chiếm tỷ lệ 43.48%, số lượng CBQL cho rằng “ít quan trọng” chiếm tỷ lệ 4.35%; đối với nhóm CBQL chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục, số lượng CBQL cho rằng công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng” chiếm tỷ lệ 76.60%, số lượng CBQL cho rằng người CBQL có vai trò “khá quan trọng” chiếm tỷ lệ 22.34%, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “ít quan trọng” chiếm tỷ lệ 1.06%. Về ĐTB, ĐTB đánh giá của CBQL về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT đối với CBQL đã và chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục đều thuộc mức “rất quan trọng”. Trong đó, ĐTB của nhóm đã tham gia là 3.48, ĐTB của nhóm chưa tham gia là 3.76.

  • Đối với GV:

Bảng 2.29. Phân tích tác động của đào tạo, bồi dưỡng về QL giáo dục của GV đối với nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển CBQL trường THPT

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig là 0.000 < 0.05. Như vậy, chúng tôi có thể khẳng định: Việc đánh giá về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT phụ thuộc vào yếu tố đã tham gia hay chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng về QL giáo dục của người GV. Cụ thể, đối với nhóm GV đã tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục, số lượng GV cho rằng công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT có vai trò “rất quan trọng” chiếm tỷ lệ rất cao 92.86%, số lượng GV cho rằng “khá quan trọng” chiếm tỷ lệ 7.14%. Đối với nhóm GV chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “rất quan trọng” chiếm tỷ lệ 54.65%, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “khá quan trọng” chiếm tỷ lệ 45.35%, số lượng GV cho rằng người CBQL có vai trò “ít quan trọng”, “không quan trọng” chiếm tỷ lệ 0.0%. Về ĐTB, ĐTB đánh giá của GV về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT đối với GV đã và chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng QL giáo dục đều thuộc mức “rất quan trọng”. Trong đó, ĐTB của nhóm đã tham gia là 3.93, ĐTB của nhóm chưa tham gia là 3.55. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

  • Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông

Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT tại tỉnh Bình Dương là yêu cầu cần thiết vì đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi đề xuất các biện pháp mang tính khả thi và phù hợp với tình hình thực tế của ngành GDĐT tỉnh Bình Dương.

  • Bảng 2.30. Đánh giá của CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT

Kết quả khảo sát ở bảng 2.30 cho thấy: các yêu tố khảo sát được CBQL trường THPT đánh giá ở các mức độ “ít”, “khá nhiều”, “rất nhiều”. ĐTB chung của 7 yếu tố là 3.26, đạt mức “rất nhiều”.

Theo đánh giá của CBQL trường THPT, có 4 yếu tố được đánh giá ở mức “rất nhiều” đó là Sự quan tâm, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương và các cơ quan khác có thẩm quyền của tỉnh về chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức, nhân viên ngành GDĐT (ĐTB: 3.70), Sự quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ GDĐT về luật pháp, điều lệ, chính sách, quy chế, quy định của ngành GDĐT (ĐTB: 3.64), Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL của CBQL trường THPT (ĐTB: 3.51), Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL của GV, nhân viên trường THPT (ĐTB: 3.31). Trong đó có 2 yếu tố thuộc về công tác chỉ đạo của các cấp QL về chuyên môn và QL về hành chính và 2 yếu tố thuộc về nhận thức của CBQL, GV, nhân viên trường THPT. Yếu tố Năng lực của đội ngũ CBQL nhân sự của các cơ quan QL Nhà nước về GDĐT Công tác đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở giáo dục có chức năng đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường THPT được đánh giá ở mức “khá nhiều” (ĐTB: 3.21 và 3.02) và yếu tố Bối cảnh hội nhập quốc tế về GDĐT được đánh giá ở mức “ít” (ĐTB: 2.43).

Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn CBQL5, theo đánh giá của CBQL5, “Những yếu tố ảnh hưởng “rất nhiều” bao gồm các yếu tố Sự quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ GDĐT về luật pháp, điều lệ, chính sách, quy chế, quy định của ngành GDĐT, Sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh Bình Dương và các cơ quan khác có thẩm quyền của tỉnh về chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức, nhân viên ngành GDĐT, Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL của CBQL trường THPT, Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL của GV, nhân viên trường THPT. Trong đó có 2 yếu tố thuộc về công tác chỉ đạo của các cấp QL về chuyên môn và QL về hành chính và 2 yếu tố thuộc về nhận thức của CBQL, GV, nhân viên trường THPT”.

2.5.2. Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về việc thực hiện các nội dung thuộc công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

  • Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ và kết quả thực hiện các nội dung của công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông

Bảng 2.31. Đánh giá của CBQL và GV về mức độ và kết quả thực hiện các nội dung của công tác phát triển đội ngũ CBQL

Bảng 2.31 cho thấy, trong 5 nội dung được đánh giá, nội dung được đánh giá về mức độ thực hiện cao nhất là nội dung Thực hiện đánh giá đội ngũ CBQL. Nội dung được đánh giá về kết quả thực hiện cao nhất là nội dung Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL. Đáng lưu ý là nội dung Thực hiện đánh giá đội ngũ CBQL tuy có ĐTB mức độ thực hiện cao nhất (3.56) thuộc mức “thường xuyên” nhưng ĐTB kết quả thực hiện lại thấp nhất (2.86) thuộc mức “khá”.

Về mức độ thực hiện, có 2 nội dung có sự đánh giá khác nhau giữa CBQL và GV, đó là Tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL (Sig = 0.007) và Thực hiện đánh giá đội ngũ CBQL (Sig = 0.003).

Về kết quả thực hiện, có 3 nội dung có sự đánh giá khác nhau giữa CBQL và GV, đó là Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL (Sig = 0.001), Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL (Sig = 0.001) và Tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL (Sig = 0.000).

  • Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý về mức độ và kết quả thực hiện các nội dung cụ thể của công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông
  • Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý

Bảng 2.32. Đánh giá của CBQL về mức độ và kết quả thực hiện công tác xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT

  • Kết quả ở bảng 2.32 cho thấy:

Về mức độ thực hiện: Tất cả các nội dung thuộc công tác xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL đều được CBQL trường THPT đánh giá ở mức “thường xuyên” (ĐTB: 3.44). Trong đó, một số nội dung được đánh giá cao đó là: Phân tích được thực trạng đội ngũ CBQL các trường THPT (ĐTB: 3.49), Thực hiện dự báo về quy mô phát triển các trường THPT (ĐTB: 3.48), Công tác quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT (ĐTB: 3.48). Nội dung được đánh giá thấp nhất đó là Đề ra mục tiêu phát triển đội ngũ CBQL trường THPT (ĐTB: 3.38).

Về kết quả thực hiện: Tuy các nội dung thuộc công tác xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL đều được CBQL trường THPT đánh giá mức độ thực hiện là “thường xuyên” nhưng kết quả đạt được chỉ đạt mức độ “khá” (ĐTB: 3.10). Trong đó, nội dung Thực hiện dự báo về quy mô phát triển các trường THPT được đánh giá với mức cao nhất (ĐTB: 3.25), nội dung Xác định được các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT được đánh giá thấp nhất (ĐTB: 2.91).

  • Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Bảng 2.33. Đánh giá của CBQL về mức độ và kết quả thực hiện công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL

  • Kết quả ở bảng 2.33 cho thấy:

Về mức độ thực hiện: Tất cả các nội dung thuộc công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL đều được CBQL trường THPT đánh giá ở mức “thường xuyên” (ĐTB: 3.42). Trong đó, nội dung được đánh giá cao nhất đó là: Đảm bảo thực hiện đúng quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL (ĐTB: 3.57), thuộc mức “thường xuyên”. Nội dung được đánh giá thấp nhất đó là Công tác công khai tiêu chuẩn, nguyên tắc, quy trình, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL (ĐTB: 3.18), thuộc mức “thỉnh thoảng”.

Về kết quả thực hiện: Trong 5 nội dung được khảo sát, chỉ có 2 nội dung được đánh giá ở mức “tốt”. Đó là các nội dung Minh bạch kết quả bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL, Đảm bảo thực hiện đúng quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL. Các nội dung còn lại thuộc công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL đều được CBQL trường THPT đánh giá ở mức “khá”, ĐTB chung đạt: 3.13. Trong đó, nội dung Công tác rà soát, thu thập thông tin để thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL được đánh giá với mức cao nhất (ĐTB: 3.17), nội dung Công tác công khai tiêu chuẩn, nguyên tắc, quy trình, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL được đánh giá thấp nhất (ĐTB: 2.86).

  • Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý

Bảng 2.34. Đánh giá của CBQL về mức độ và kết quả thực hiện công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL

  • Kết quả ở bảng 2.34 cho thấy:

Về mức độ thực hiện: Trong các nội dung thuộc công tác Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL, có 3 nội dung được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” đó là Minh bạch kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL (ĐTB: 3.58), Công tác tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư nguyện vọng của đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL để lập kế hoạch thực hiện và lựa chọn hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp (ĐTB: 3.50), Công tác công khai văn bản pháp lý về việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL (ĐTB: 3.42). Có 2 nội dung được đánh giá ở mức độ “thỉnh thoảng”. Đó là Công tác rà soát, thu thập thông tin để thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL (ĐTB: 3.21) và Xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL (ĐTB: 3.01).

Về kết quả thực hiện: Có 2 nội dung được đánh giá ở mức “tốt”, đó là Minh bạch kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL (ĐTB: 3.46) và Công tác công khai văn bản pháp lý về việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL (ĐTB: 3.40). Các nội dung còn lại thuộc công tác Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL được đánh giá ở mức độ “khá”. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Tương ứng với 2 nội dung được đánh giá mức độ thực hiện “thỉnh thoảng” thì kết quả thực hiện của 2 nội dung trên là “khá”. Đáng lưu ý là nội dung Công tác tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư nguyện vọng của đội ngũ CBQL và quy hoạch CBQL để lập kế hoạch thực hiện và lựa chọn hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp được đánh giá mức độ thực hiện là “thường xuyên”. Tuy nhiên, kết quả đạt được là “khá”. Trao đổi với chúng tôi, CBQL1 cho rằng: “Lãnh đạo Sở GDĐT, CBQL phòng Tổ chức cán bộ, CBQL trường THPT rất quan tâm đến hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng của đối tượng tham gia đào tạo, bồi dưỡng. Tuy nhiên, kết quả thực hiện về công tác này còn thực hiện vào nhiều yếu tố khác: cơ sở trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng, thời gian, địa điểm tổ chức bồi dưỡng,…”

  • đ. Tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ cán bộ quản lý

Bảng 2.35. Đánh giá của CBQL về mức độ và kết quả thực hiện công tác tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL

  • Kết quả ở bảng 2.35 cho thấy:

Về mức độ thực hiện: Trong các nội dung thuộc công tác Tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL, có 2 nội dung được đánh giá ở mức độ “thường xuyên”, đó là Việc tạo điều kiện để CBQL trường THPT tham dự tập huấn, hội nghị, hội thảo chuyên đề, học tập kinh nghiệm (ĐTB: 3.52), Xây dựng môi trường làm việc thân thiện, môi trường pháp lý thuận lợi tạo cơ hội để CBQL trường THPT chứng minh năng lực, có điều kiện phát triển sở trường (ĐTB: 3.38). Có 3 nội dung được đánh giá ở mức “thỉnh thoảng”, đó là Việc thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp chức vụ, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu làm việc của CBQL (ĐTB: 3.25), Sự tôn trọng, tín nhiệm đối với phẩm chất, uy tín, năng lực của người CBQL trường THPT (ĐTB: 3.23). Nội dung được đánh giá mức độ thực hiện thấp nhất đó là Minh bạch về chức năng, nhiệm vụ và chế độ chính sách dành cho CBQL trường THPT (ĐTB: 3.21).

Về kết quả thực hiện: Trong 5 nội dung đánh giá về công tác Tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL, chỉ có 1 nội dung được đánh giá ở mức “tốt”, đó là Sự tôn trọng, tín nhiệm đối với phẩm chất, uy tín, năng lực của người CBQL trường THPT (ĐTB: 3.27). Các nội dung còn lại được đánh giá ở mức “khá”, nội dung có ĐTB cao nhất là Việc thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp chức vụ, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu làm việc của CBQL (ĐTB: 3.15), thấp nhất là nội dung Xây dựng môi trường làm việc thân thiện, môi trường pháp lý thuận lợi tạo cơ hội để CBQL trường THPT chứng minh năng lực, có điều kiện phát triển sở trường (ĐTB: 3.02). Trao đổi với chúng tôi về việc không tương ứng giữa các mức độ thực hiện và kết quả thực hiện giữa các nội dung thuộc công tác Tạo môi trường, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL, GV2 cho rằng: “Thực hiện chủ trương của các cấp lãnh đạo ngành GDĐT, các trường THPT tích cực hưởng ứng phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, việc quan tâm, tạo điều kiện để xây dựng môi trường làm việc thân thiện, môi trường pháp lý thuận lợi được nâng cao. Điều đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của CBQL, GV, nhân viên và học sinh. Tuy nhiên, nội dung công tác trên cần tiếp tục thực hiện để mang lại kết quả cao hơn”.

  • Đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Bảng 2.36. Đánh giá của CBQL về mức độ và kết quả thực hiện công tác đánh giá đội ngũ CBQL

  • Kết quả ở bảng 2.36 cho thấy:

Trong 5 nội dung thuộc công tác phát triển đội ngũ CBQL, nội dung Đánh giá đội ngũ CBQL là nội dung có ĐTB kết quả thực hiện thấp nhất (ĐTB: 2.72) và không có sự tương ứng giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện. Cụ thể, nội dung Xác định mục tiêu đánh giá đội ngũ CBQL trường THPT có mức độ thực hiện là “thỉnh thoảng” (ĐTB: 3.21), xếp thứ 5 nhưng kết quả thực hiện lại xếp thứ hạng 1 với ĐTB là 2.97 thuộc mức “khá”. ĐTB chung của nội dung Đánh giá đội ngũ CBQL có mức độ thực hiện là 3.44 thuộc mức độ “thường xuyên”. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chỉ đạt mức “khá”. Trong đó, cao nhất là nội dung Xác định mục tiêu đánh giá đội ngũ CBQL trường THPT (ĐTB: 2.97), thấp nhất là nội dung Công tác rà soát, thu thập thông tin để thực hiện công tác đánh giá đội ngũ CBQL trường THPT (ĐTB: 2.58).

Trao đổi về vấn đề này, CBQL3 cho rằng: “Kết quả thực hiện đánh giá đội ngũ CBQL tại trường THPT hiện nay chỉ đạt ở mức trung bình. Lý do công tác này chưa đạt được kết quả như mong muốn một phần là do năng lực của chuyên viên trực tiếp phụ trách công tác đánh giá đội ngũ CBQL trường THPT của phòng Tổ chức cán bộ – Sở GDĐT còn yếu, công tác tham mưu lãnh đạo và hướng dẫn triển khai thực hiện công tác đánh giá đạt hiệu quả chưa cao”.

Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn CBQL trường THPT về việc công tác đánh giá CBQL trường THPT hiện nay, CBQL4 cho rằng “CBQL trường THPT chưa thật sự quan tâm đến tính chất lượng và tính hiệu quả của công tác đánh giá, phân loại và đánh giá, phân loại tại trưởng THPT, công tác đánh giá tại một số trường còn mang tính hình thức, cảm tính”.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

Qua phân tích thực trạng ngành GDĐT tỉnh Bình Dương, chúng tôi nhận thấy số lượng và trình độ đào tạo của CBQL trường THPT đáp ứng được yêu cầu phát triển ngành GDĐT của tỉnh. Tuy nhiên, số lượng CBQL trường THPT còn thiếu so với định mức biên chế, số lượng CBQL có trình độ trên chuẩn còn thấp so với tỷ lệ CBQL có trình độ trên chuẩn trung bình của toàn tỉnh, tỷ lệ CBQL trường THPT là nữ chiếm 38.14% thấp hơn các cấp học khác. Nguyên nhân của hạn chế nêu trên được xác định đó là “chưa phát huy tính năng động, sáng tạo và quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; công tác QL nhà nước trên một số lĩnh vực còn nhiều bất cập, hiệu lực, hiệu quả chưa cao”, “Khả năng phân tích dự báo và xử lý một số vụ việc phát sinh còn hạn chế. Bên cạnh đó, năng lực, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc.

Theo chỉ đạo của Sở GDĐT về công tác phát triển đội ngũ CBQL, các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương phải thực hiện những nội dung công tác phát triển đội ngũ CBQL và xem đây là những nội dung công việc thực hiện thường xuyên tại nhà trường. Qua kết quả khảo sát thực trạng công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT tại tỉnh Bình Dương, chúng tôi ghi nhận kết quả như sau:

Đa số CBQL và GV đã nhận thức được tầm quan trọng của vai trò người CBQL trường THPT, tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT. Tuy nhiên, tùy vào vị trí công tác, đã tham gia/chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng về QL giáo dục mà nhận thức của CBQL và GV cũng khác nhau. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học.

Trong 5 nội dung tiến hành khảo sát về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện thuộc công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT thì nội dung Đánh giá đội ngũ CBQL được đánh giá kết quả thực hiện thấp nhất (ĐTB: 2.72). Trong 5 nội dung thuộc công tác Đánh giá đội ngũ CBQL thì nội dung đánh giá thấp nhất là Công tác rà soát, thu thập thông tin để thực hiện công tác đánh giá đội ngũ CBQL trường THPT (ĐTB: 2.58, xếp thứ hạng 5).

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537