Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý thiết bị công nghệ thông tin ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Thiết bị CNTT là một trong những phương tiện dạy học không thể thiếu trong điều kiện khoa học phát triển như hiện nay, đòi hỏi chất lượng giáo dục phải đáp ứng với nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội. Trong thời gian qua, các trường THCS tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã được cấp trên quan tâm và trang bị trang bị các thiết bị CNTT cho các trường THCS để phục vụ cho công tác giảng dạy. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, sử dụng còn gặp nhiều khó khăn nên hiệu quả khai thác sử dụng thiết bị CNTT chưa cao.

Qua luận văn này góp phần làm rõ cơ sở lý luận của thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS như: tầm quan trọng của thiết bị CNTT, yêu cầu, đặc điểm, phân loại, nguyên tắc sử dụng thiết bị CNTT, nguyên tắc quản lý thiết bị CNTT. Nghiên cứu quản lý thiết bị CNTT gồm: lập kế hoạch, tổ chức việc thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra quản lý thiết bị CNTT.

Từ nghiên cứu lý luận và kết quả đánh giá thực trạng thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục giai đoạn hiện nay. Tác giả đã đề xuất 5 biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT, đó là: Nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý thiết bị CNTT; Xây dựng kế hoạch khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; Tăng cường tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; Tăng cường công tác xã hội hóa trong trang bị thiết bị CNTT.

Với các biện pháp được đề xuất như trên góp phần khắc phục những mặt yếu và phát huy những mặt mạnh của các trường hiện nay. Qua đó giúp các trường nắm chắc được các biện pháp cần phải thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong thời gian tới.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

1.1. Về lý luận

Đổi mới phương pháp dạy học đang là một vấn đề quan trọng trong việc quyết định chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia trong xu hướng phát triển chung của thế giới. Hiện nay các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục và đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện. Để làm tốt công tác này thì chúng ta cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan trong quản lý, trong đó thiết bị dạy học là một thành tố quan trọng. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Cùng với cơ sở vật chất nhà trường, thiết bị dạy học (TBDH) nói chung và thiết bị công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng là một trong những điều kiện góp phần quyết định sự thành công của đổi mới phương pháp dạy học. Trong đó, việc sử dụng thiết bị dạy học hiệu quả sẽ tránh được tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều, tạo động lực khuyến khích tư duy sáng tạo của đội ngũ giáo viên (GV) và học sinh (HS), bồi dưỡng năng lực tự học, phát triển năng lực thực hành, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn với các môn học qua đó thực hiện mục đích giáo dục: “Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 1993).

Thiết bị CNTT là công cụ hỗ trợ hiệu quả hoạt động dạy học, làm cho tiết học trở nên sinh động, dễ hiểu. Lý thuyết được kết hợp với dụng cụ trực quan sinh động sẽ giúp cho học sinh khắc sâu kiến thức hơn.

Trước đây, việc sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình giảng dạy của giáo viên còn nhiều hạn chế, chủ yếu là dạy lý thuyết, ít quan tâm đến vấn đề thực hành, sử dụng các thiết bị dạy học cũ, lạc hậu. Ngày nay, trong đổi mới giáo dục và đào tạo, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng, giáo viên (GV), học sinh (HS) có nhiều cơ hội và điều kiện tiếp cận với các thiết bị dạy học hiện đại, khai thác những thiết bị có tính ứng dụng cao giúp nhà trường nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy và học đáp ứng với yêu cầu đổi mới hiện nay theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2020 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2020) đã đề ra.

Thực hiện Nghị quyết số 88/2021/QH13 ngày 28/11/2021 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Nghị quyết số 51/2024/QH14 ngày 21/11/2024 của Quốc hội điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 88/2021/QH13; quán triệt Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới kèm theo Thông tư số 32/2025/TT-BGDĐT ngày 26/12/2025 còn gọi là Chương trình giáo dục phổ thông 2025. (BGDĐT, 2026)

Để chuẩn bị cho việc thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông 2025 đòi hỏi các cấp học cần thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp như công tác tuyên truyền đến tất cả CB.GV.CNV; công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên và đặc biệt trong đó có công tác sắp xếp phòng học, sửa chữa cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học để phục vụ cho công tác giảng dạy chương trình mới. Do đó, trong các giải pháp để chuẩn bị cho việc thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông 2025 thì trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy đóng một vai trò không nhỏ trong quá trình thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2025. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

1.2. Về thực tiễn

Thiết bị CNTT là một trong những thành tố cơ bản của quá trình dạy học, giúp cho việc dạy học trở nên hiệu quả hơn, cung cấp điều kiện vật chất để quá trình dạy học diễn ra thuận lợi nhằm đạt được mục đích giáo dục.

Trong vai trò quản lý nhà trường trung học cơ sở, hiệu trưởng phải thể hiện tốt vai trò quản lý của mình và thực hiện tốt các chức năng trong quản lý nhằm giúp cho nhà trường đạt được các mục tiêu đề ra.

Cùng với sự phát triển và đổi mới công tác giáo dục và đào tạo của tỉnh Bình Dương nói chung và của ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) thị xã Dĩ An nói riêng, các trường Trung học cơ sở (THCS) trong địa bàn đã có nhiều cố gắng trong quản lý thiết bị dạy học. Đồng thời, lãnh đạo ngành GD&ĐT đã quan tâm đến công tác đầu tư cho thiết bị dạy học ở các trường, thực hiện chủ trương đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt, Lãnh đạo địa phương rất quan tâm đến việc sửa chữa, bổ sung mới các thiết bị cần thiết trong danh mục đồ dùng dạy học cho các trường THCS, tạo điều kiện cho các nhà trường thuận lợi hơn trong quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục.

Bên cạnh những mặt tích cực cũng còn một số hạn chế trong quản lý và bảo quản thiết bị dạy học ở các trường THCS trên địa bàn Dĩ An như: Một số GV chưa nhận thức đầy đủ về tính hiệu quả của việc sử dụng thiết bị dạy học. Mặc khác, số lượng học sinh tăng hàng năm với số lượng lớn, các trường không đủ cơ sở vật chất về phòng học để đáp ứng, vì vậy, một số trường đã dùng phòng bộ môn kể cả phòng thiết bị để làm phòng học nên công tác bảo quản thiết bị dạy học chưa đảm bảo yêu cầu, các thiết bị dạy học không sử dụng đúng theo qui định. Từ đó, nhận thức của một số CBQL, GV không thấy hết được tầm quan trọng của thiết bị dạy học dẫn đến một số thiết bị dạy học được cấp phát về nhưng không biết sử dụng, khai thác không hiệu quả.

Ngoài ra, chúng ta đang sống trong môi trường kỷ nguyên số (công nghiệp 4.0), chúng ta được hỗ trợ bởi các công nghệ hiện đại của ngành khoa học, tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh, công nghệ đang đưa ra những thay đổi ồ ạt trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế thị trường kể cả trong quản lý GD&ĐT, điều này có tác động mạnh mẽ đến việc giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh. Nhà trường cần xây dựng cho mình kế hoạch quản lý các mặt hoạt động của nhà trường theo hướng hiện đại dựa trên nền kỷ nguyên số, công nghệ cao.

Vì thế, GV và người quản lý đang đối mặt với nhiều thách thức to lớn là phải thay đổi. Chúng ta làm thế nào có thể đảm bảo rằng chúng ta đang phát triển và chúng ta nên tiếp tục bảo vệ điều gì trong các phương pháp dạy học của chúng ta và điều gì là cần thiết phải thay đổi.

Với những lý do trên, chúng tôi cho rằng việc đổi mới phương pháp, hình thức, nội dung dạy học ở các trường THCS để nâng cao chất lượng giáo dục cần phải đi đôi với việc đổi mới quản lý thiết bị CNTT, tăng cường công tác quản lý, đưa việc sử dụng vào mục tiêu quản lý của nhà trường trong công tác đổi mới giáo dục hiện nay đáp ứng đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Với mong muốn đóng góp cho sự phát triển giáo dục của địa phương, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý thiết bị công nghệ thông tin ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục nhằm phục vụ tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng với yêu cần đổi mới hiện nay.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Trên cơ sở lý luận về quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS, xác định thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, đề xuất biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS công lập trên địa bàn nhằm phục vụ tốt hơn công tác dạy và học tại các trường này.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý cơ sở vật chất ở các trường THCS

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc quản lý thiết bị CNTT ở các trường
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS công lập trên địa bàn địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay.

5. Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được thực hiện trên cơ sở các quy định của nhà nước và ngành giáo dục theo các nội dung quản lý về lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá trang bị, sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT và đã đạt được những kết quả trong hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, công tác này còn các hạn chế và bất cập dẫn đến hiệu quả quản lý thiết bị CNTT còn thấp. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý có tính cần thiết và khả thi trong việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá trang bị, sử dụng, bảo quản thiết bị CNTT thì sẽ đảm bảo hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý thiết bị CNTT phục vụ hoạt động dạy học ở các trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương với các chủ thể quản lý trường THCS công lập.

  • Về địa bàn khảo sát: Số trường khảo sát là 4/9 trường THCS công lập hiện đang hoạt động trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng quản lý CSVC trong thời gian từ tháng 9/2024 đến nay và sử dụng số liệu trong hai (2) năm học 2023-2024 và 2024-2025
  • Đối tượng khảo sát: Mỗi trường khảo sát: 01 Hiệu trưởng, 02 Phó Hiệu trưởng, 8 tổ trưởng chuyên môn, 01 giáo viên phụ trách thiết bị dạy học, 35 giáo viên, 30 học sinh = 77 người x 4 trường = 308 người

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

  • Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc

Đề tài nghiên cứu cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay trong mối quan hệ với yếu tố pháp luật, kinh tế, văn hoá – xã hội, môi trường, quản lý của nhà nước. Vì thế nghiên cứu sẽ đi xem xét hoạt động quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS công lập trong mối quan hệ tổng thể, xét theo các chức năng quản lý gồm Chức năng kế hoạch hóa; Chức năng tổ chức; Chức năng chỉ đạo; và chức năng kiểm tra.

  • Quan điểm lịch sử – logic

Tiếp cận quan điểm lịch sử- logic trong đề tài là xem xét và phân tích, đánh giá thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS trong điều kiện giáo dục cụ thể của đất nước và của địa phương, với những ưu điểm cần phát huy và tồn tại cần khắc phục. Nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, từng giai đoạn phát triển của nền giáo dục thế giới và của Việt Nam để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày tuần tự một cách phù hợp và chặt chẽ, đảm bảo tính logic và khoa học.

  • Quan điểm thực tiễn Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Quan điểm thực tiễn đòi hỏi việc nghiên cứu đề tài dựa vào các hoạt động thực tiễn của GV khi vận dụng thiết bị CNTT và quá trình giảng dạy cho HS trường THCS và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới hiện nay chưa mang lại được hiệu quả như mong muốn. Xuất phát từ thực tiễn trên đòi hỏi người nghiên cứu nhận thấy được những khó khăn và thuận lợi trong quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới hiện nay. Do đó, thực hiện nghiên cứu đề tài trên là xuất phát từ thực trạng thiết bị CNTT và quản lý thiết bị công nghệ thông tin ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay. Từ đó, người nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả của việc quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS công lập.

7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Mục đích: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận về thiết bị, thiết bị CNTT, quản lý thiết bị CNTT để xây dựng khung lý thuyết của đề tài

Công cụ: Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước các tài liệu, các bài báo, luận văn của các tác giả có liên quan đến quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay.

7.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích:Thu thập thông tin về thực trạng và biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay; khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT.

Công cụ: gồm 2 bộ phiếu thăm dò ý kiến, phần I của phụ lục 1 khảo sát thực trạng thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay, phần II khảo sát thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay và phụ lục 2 khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Nội dung điều tra: Khảo sát mức độ đáp ứng thiết bị CNTT, mức độ thực hiện và mức độ hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT tại trường THCS, mức độ thực hiện thiết bị CNTT trong những giờ học, công tác tập huấn chuyên môn cho GV phụ trách thiết bị ở trường, tầm quan trọng của thiết bị CNTT, các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay (phụ lục 1); Khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay.trong bảng hỏi số 2 (phụ lục 2)

Cách tiến hành: (1) thiết kế phiếu khảo sát; (2) phát phiếu khảo sát đến CBQl, GV, NV và yêu cầu họ trả lời; (3) Hướng dẫn cách trả lời từng nội dung trong phiếu khảo sát; (4) xử lý thống kê, phân tích số liệu.

  • Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Phỏng vấn CBQL, tổ trưởng chuyên môn và GV các trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhằm thu thập ý kiến, đánh giá về hoạt động quản lý thiết bị CNTT của nhà trường mà chưa được giải thích rõ trong phiếu khảo sát và củng cố thêm các dữ kiện mà tác giả nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài.

Nội dung phỏng vấn: Tìm hiểu thực trạng thiết bị CNTT và thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay của hiệu trưởng trong nhà trường; các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS và các ý kiến đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS.

Công cụ: bảng các câu hỏi ở phiếu phỏng vấn ở phụ lục 3

Cách tiến hành: (1) Gọi điện xin thời gian gặp phỏng vấn; (2) Trao đổi nội dung cần phỏng vấn; (3) Phỏng vấn; (4) Ghi âm hoặc tốc ký các nội dung được phỏng vấn; (5) Hoàn thành biên bản phỏng vấn.

  • Phương pháp quan sát

Mục đích: Nhằm thu thập thông tin về hoạt động sử dụng thiết bị CNTT vào giảng dạy của GV.

Nội dung quan sát: thông qua hình thức dự giờ GV để thu thập thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.

Cách tiến hành: (1) Nắm rõ kế hoạch chuyên môn của trường, của tổ; (2) Thông báo đến tổ trưởng chuyên môn kế hoạch dự giờ; (3) Dự giờ cũng tổ chuyên môn; (4) Ghi nhận kết quả qua dự giờ.

  • Phương pháp thống kê toán học

Mục đích: Nhằm mô tả và phân tích kết quả thực trạng thiết bị CNTT và thực trạng thiết bị CNTT và thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay

Công cụ: dùng phần mềm SPSS 22.0 for Windows (Statistical Package for Social Sciences) và Excel 2019

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

8.1. Về lý luận

Đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ hơn các khái niệm về quản lý thiết bị CNTT phục vụ cho dạy học và công tác quản lý thiết bị CNTT trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, chúng tôi quan tâm đến vai trò của thiết bị CNTT trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS.

8.2. Về thực tiễn

Đề tài đề cập đến một số bất cập trong quản lý công tác thiết bị CNTT và mạnh dạn đề xuất một số biện pháp quản quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay, đây là vấn đề cấp thiết của các trường THCS.

9. Cấu trúc luận văn

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS
  • Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay.
  • Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

Thiết bị dạy học là một trong những thành tố cơ bản hỗ trợ tối đa cho hoạt động dạy học. Yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học tất yếu kéo theo việc đổi mới cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng, đặc biệt là hoạt động quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học, quá trình có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy và học, thể hiện cụ thể nội dung dạy học và hỗ trợ thực hiện các phương pháp dạy học tích cực. Chính vì lý do đó, việc tìm hiểu về thiết bị dạy học cũng được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước quan tâm đến trong quá trình xây dựng và đổi mới dạy học cũng như giáo dục (Nguyễn Thị Tường Vy, 2023; tr.5).

Từ trước đến nay cũng đã có một số công trình, bài viết về hiệu quả sử dụng, ứng dụng CNTT, trang thiết bị công nghệ CNTT trong hoạt động nghiên cứu giảng dạy, điển hình như: Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Richard J. Noeth (2004), Evaluating the Effectiveness of Technology in Our Schools, © 2004 by ACT, Inc. All rights reserved. Nội dung bài đánh giá hiệu quả công nghệ ở các trường học của Richard J. Noeth đã đánh giá hiệu quả sử dụng trang thiết bị CNTT trong hoạt động giáo dục với các kết luận: (i) sử dụng máy vi tính giúp người học tăng tiếp nhận các kĩ năng và kiến thức; (ii) sử dụng trang thiết bị CNTT và các công cụ dạy học truyền thống có hiệu quả giảng dạy cao hơn truyền thống; (iii) hiệu quả đối với trình bày bài giảng của giáo viên; (iv) người học yêu thích các giờ giảng hơn (Richard J. Noeth, 2004).

Syed Noor-Ul-Amin (2017), An Effective use of ICT for Education and Learning by Drawing on Worldwide Knowledge, Research, and Experience: ICT as a Change Agent for Education (A LITERATURE REVIEW), Department Of Education, University Of Kashmir. Nghiên cứu hiệu quả sử dụng trang thiết bị CNTT cho giáo dục và học tập bằng cách rút ra kiến thức, nghiên cứu và kinh nghiệm trên toàn thế giới. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ các nội dung: (i) trang thiết bị CNTT làm gia tăng quá trình giảng dạy và học tập; (ii) làm tăng hiệu quả đánh giá chất lượng đào tạo; (iii) làm tăng cường môi trường học tập; (iv) làm tăng động cơ học tập; (v) làm tăng khả năng nghiên cứu (Syed Noor-Ul-Amin, 2017).

Hội nghị chuyên đề các nước Châu Á – Thái Bình Dương ở New Delhi năm 1972 về TBDH khoa học cho nhà trường đã bàn về yêu cầu sư phạm và tính kinh tế, sự cần thiết của TBDH cho hoạt động dạy và học. Chủ đề hội nghị “Phát triển các phương tiện thích hợp để dạy và học” được đưa ra thảo luận giữa các nước Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Tokyo năm 1979 đề cập đến những yêu cầu khi trang bị và sử dụng TBDH (Nguyễn Thị Tường Vy, 2023; tr.5).

Jan Amot Komensky (1592- 1670) nhà giáo dục Cộng hoà Séc được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu và thế giới. Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hàng ngày. Theo ông, việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng. Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo, lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn” (Phan Trọng Ngọ, 2005)

Về sau trường phái giáo dục Xô – Viết cũng có các nhà giáo dục như K. Đ Usinski; A. N. Leontiev hay J. H.Pestalossi người Thụy Sĩ đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao. Nội dung của quan điểm dạy học trực quan này là thay lối dạy học cũ, kinh viện, nhồi nhét tri thức bằng lối dạy học mới có căn cứ khoa học, thông qua các sự vật hoặc hình ảnh của chúng và được học viên chứng thực trên cơ sở cảm nhận của các giác quan.

Theo nhà giáo dục học, viện sĩ Xukhômlinxki: “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của nhà giáo dục, bằng những truyền thống được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà còn giáo dục bằng các đồ vật, những của cải vật chất và tinh thần, giáo dục bằng môi trường và cảnh trí do chính học sinh xây dựng nên, đó là cách làm phong phú cuộc sống tâm hồn của học sinh”(Chu Mạnh Chương, 2006).

Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution, ADB/ILO – Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở giáo dục – đào tạo để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông. Trong đó các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường: khuôn viên, cơ sở vật chất – kỹ thuật và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung. Country Report on Quality Assurance in Higher Education, Bangkok – Thailand, 1998, đưa ra tỉ lệ đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục của Malaysia với 6 chỉ số trong đó các điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất – kỹ thuật cho công tác đào tạo chiếm 20% tổng điểm đánh giá chung (Nguyễn Thị Bạch Ngọc, 2021; tr. 6) Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Đây là những quan điểm, phương pháp giáo dục của các nhà giáo dục nổi tiếng trên thế giới và đã được vận dụng đạt hiệu quả. Mục tiêu của các phương pháp này là tạo mọi điều kiện để HS tiếp thu được tri thức, trau dồi sự yêu thích trong học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ đúng đắn trong học tập. Muốn vậy, điều kiện hỗ trợ cho công tác giảng dạy phải đảm bảo trong đó thiết bị dạy học mà đặc biệt là thiết bị CNTT nhằm đáp ứng với nền tri thức công nghệ, tri thức kỹ thuật số góp phần tạo thành công cho tiết học của các em.

Các nghiên cứu, phương pháp dạy – học có liên quan đến thiết bị dạy học nói chung và thiết bị CNTT nói riêng cũng như quản lý thiết bị CNTT nêu trên dùng để đánh giá chung cho các hệ thống giáo dục bao gồm nhiều cấp học trong đó có cấp THCS. Do đó, có thể khẳng định được tầm quan trọng của thiết bị CNTT trong quá trình dạy – học ở các trường học nói chung và trường THCS nói riêng hiện nay. Đây là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS hiện nay theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay. Từ đó xây dựng các biện pháp quản lý thiết bị CNTT nhằm gia tăng hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong thời gian tới.

1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước

Hiện nay giáo dục nước ta đang đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến PPDH.  Định hướng cơ bản của công cuộc đổi mới nền giáo dục nước nhà đã chỉ rõ

trong các Nghị quyết của Đảng, đó là: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD&ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học“. (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1997).

Cơ sở vật chất – thiết bị dạy học được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ dạy – học và nghiên cứu khoa học. Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh: “Tăng cường CSVC- TBDH và từng bước hiện đại hoá nhà trường (lớp học, sân chơi, bãi tập, máy tính nối mạng Internet, thiết bị học tập giảng dạy hiện đại, các phòng thực hành thí nghiệm, phòng thực hành chức năng, thư viện …” “Đổi mới PPDH, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001).

Theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Nhà nước sẽ tăng cường đầu tư xây dựng CSVC-TBDH cho các trường học thành một hệ thống đồng bộ và hiện đại góp phần đổi mới phương pháp dạy – học, nhằm đào tạo các học sinh tốt nghiệp có đủ năng lực kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ở trong nước: năm 2001, nhà xuất bản Hà Nội cũng xuất bản “Tài liệu khoá tập huấn của Dự án Việt úc”. Năm 2006, nhà xuất bản Hà Nội đã xuất bản cuốn “Quản lý và sử dụng nhằm tăng cường hiệu quả TBDH” đưa ra được một số phương pháp quản lý cũng như sử dụng TBDH vào giảng dạy để đạt hiệu quả cao. Tác giả Phan Văn Triển đã có công trình đăng trên tạp chí Thiết bị giáo dục số 1 cũng đã bàn về một số giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học (Đỗ Huy Khánh, 2020; tr.15).

Giáo trình: “Bồi dưỡng Hiệu trưởng trường trung học cơ sở”, tập 4 của tác giả do Chu Mạnh Nguyên (chủ biên), ở bài 22 tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC- TBDH và công tác quản lý về CSVC-TBDH. Đây là những nội dung giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình (Chu Mạnh Nguyên, 2005)

Trong cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy – học ở trường phổ thông Việt Nam”của tác giả Trần Quốc Đắc đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, tác giả xác định vị trí, vai trò của CSVC và TBDH ở trường phổ thông. Theo tác giả: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này, đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người giáo viên không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao, HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” (Trần Quốc Đắc, 1999).

Trong cuốn: “Quản lý giáo dục”do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 tác giả đã đề cập đến vai trò của TBDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TBDH ở trường học trong giai đoạn hiện nay (Bùi Minh Hiền, 2019).

Giáo trình “Nghiệp vụ quản lý trường phổ thông”, tập 3, chương 8 Quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật ở trường phổ thông của trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC-TBDH và công tác quản lý về CSVC-TBDH. Đây là những nội dung giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình (Nghiệp vụ quản lý trường phổ thông, 2019). Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Đặng Đình Tuấn (2023) với đề tài: Biện pháp tăng cường quản lý và khai thác hệ thống thiết bị công nghệ thông tin tại Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Hải Phòng,. Đề tài đã đánh giá được thực trạng công tác khai thác các thiết bị CNTT và quản lý các thiết bị CNTT tại ngân hàng Chính sách xã hội Hải Phòng, tác giả đã tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trang thiết bị, hiệu quả đầu tư trang thiết bị CNTT trong đó có tính bảo mật, tính ổn định của hệ thống thiết bị, trình độ của cán bộ tin học và người sử dụng có ảnh hưởng rất lớn đến thiết bị CNTT. Từ đó, tác giả đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT tại ngân hàng Chính sách xã hội Hải Phòng. Theo tác giả: “Nâng cao trình độ quản lý hệ thống thiết bị CNTT cho cán bộ cũng giúp cho cán bộ tiếp thu các phương pháp quản lý mới, hệ thống thiết bị được quản trị bài bản, việc mở rộng nâng cấp hệ thống CNTT trong tương lai trở lên dễ dàng”(Đặng Đình Tuấn, 2023; tr.53).

Đỗ Huy Khánh (2020) đã phân tích và làm sáng tỏ các khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, thiết bị, thiết bị dạy học với đề tài: “Một số giải pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai”. Tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa các nhân tố trong quá trình dạy học, phân loại thiết bị TBDH, các yêu cầu đổi mới TBDH và tác giả đã đưa ra các nội dung cơ bản của quản lý TBDH ở trường THPT như lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng TBDH. Ngoài ra, tác giả đưa ra định hướng phát triển giáo dục phổ thông và quan điểm chỉ đạo về TBDH ở các trường THPT:“Quản lý từ chủng loại, số lượng thiết bị; quản lý việc khai thác, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng TBDH trong quá trình giảng dạy cho đến quản lý đội ngũ cán bộ, GV liên quan đến công tác thiết bị cũng như hệ thống hồ sơ sổ sách theo dõi TBDH”(Đỗ Huy Khánh, 2020; tr.15).

Đỗ Hồng Sâm trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường Đại học” đã cho rằng CSVC, trang thiết bị là những vật vô tri, vô giác nhưng có thể thể hiện khả năng sư phạm của nó dưới sự điều khiển của GV, qua đó tăng tốc độ truyền đạt thông tin, lôi cuốn người học. Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý trang thiết bị tại các trường đại học (Đỗ Hồng Sâm, 2023).

Các nghiên cứu trên là những nghiên cứu mang tính thực tiễn, vận dụng vào các đơn vị, đối tượng nghiên cứu một cách khoa học. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu của các tác giả nêu trên và các giáo trình về lý luận dạy học đã làm sáng tỏ lý luận về TBDH. Qua các đề tài, các tác giả đã đề xuất một số biện pháp giúp nâng cao chất lượng quản lý TBDH chung cho các trường mà chưa có đề tài nào phân tích sâu quản lý thiết bị CNTT phục vụ cho hoạt động dạy học và cho đến hiện nay tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương chưa có nghiên cứu nào thuộc lĩnh vực quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS. Do đó, tác giả tập trung nghiên cứu mảng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS phục vụ hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.

1.2. Khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

1.2.1. Thiết bị CNTT

Thiết bị là những máy móc, dụng cụ, phụ tùng cần thiết cho một hoạt động nào đó (Nguyễn Hữu Hoành, 2019)

Thiết bị là tổ hợp nhiều chi tiết tạo thành, có nguyên lý hoạt động nhất định, là máy móc, dụng cụ ở cơ sở sản xuất, xây dựng phục vụ lao động và học tập (Đặng Hữu Tường, 2021; tr.8).

Theo Điều 4, Luật CNTT 67/2006/QH11: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số (Luật công nghệ thông tin, 2006; tr.9).

Thiết bị CNTT là một trong số các trang thiết bị được con người sử dụng trong các hoạt động lao động. Thiết bị CNTT là những máy móc, dụng cụ, phụ tùng… phục vụ cho hoạt động ứng dụng CNTT; cụ thể là máy tính cá nhân, máy chủ, phần mềm máy tính, thiết bị kết nối máy tính…(Luật công nghệ thông tin, 2006; tr.9).

Trang thiết bị CNTT có nghĩa hẹp hơn khái niệm cơ sở hạ tầng thông tin. Theo Luật CNTT 2006, cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu …(Nguyễn Thị Hải Yến, 2021; tr.9)

Thiết bị CNTT là toàn bộ các trang thiết bị có liên quan đến CNTT như : Máy vi tính (máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy chủ), máy in, máy quét, máy chiếu, các loại ổ ghi đĩa CD và DVD, ổ cứng, thẻ nhớ (USB), camera số, máy ảnh số, thiết bị chuyển mạch (hub, switch), tường lửa (firewall), modem, hệ thống cáp mạng(Đặng Đình Tuấn, 2023; tr.4).

Hệ thống thiết bị CNTT trong trường học là tập hợp các máy móc, dụng cụ, phụ tùng cần thiết cho được kết nối với nhau bằng các đường truyền hữu tuyến hoặc vô tuyến tạo thành một mạng lưới thống nhất phục vụ cho hoạt động dạy – học của trường học.

Theo những quan niệm trên, trong luận văn này tác giả quan niệm: Thiết bị CNTT là những máy móc, dụng cụ, phụ tùng… phục vụ cho hoạt động dạy học có ứng dụng CNTT. Một lần nữa khái niệm cũng nhấn mạnh đề tài nghiên cứu thiết bị CNTT phục vụ cho hoạt động dạy học.

1.2.2. Quản lý thiết bị CNTT Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

1.2.2.1 Quản lý

Khái niệm quản lý được định nghĩa theo những cách khác nhau dựa trên những cách tiếp cận khác nhau:

Quản lý là một dạng lao động xã hội, gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của con người. Quản lý là lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, có tính khoa học và nghệ thuật cao nhưng đồng thời cũng là sản phẩm mang tính lịch sử, tính đặc thù. Khi đề cập cơ sở khoa học của quản lý, C.Mác viết: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở một chừng mực nhất định. Sự quản lý giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” ( C.Mác – Ph.Ăngghen, 1993).

Tác giả Trần Kiểm: Quản lý là những tác động hoạch của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất (Trần Kiểm, 2004).

Từ những phân tích trên có thể định nghĩa: Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức.

1.2.2.2. Quản lý giáo dục

Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhà trường. Chẳng hạn như:

Theo tác giả Trần Kiểm quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện các chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục (Trần Kiểm, 2017; tr.36)

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu biểu hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989; tr. 68)

Từ các khái niệm trên, có thể định nghĩa khái niệm “Quản lý giáo dục” như sau: “Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội, trong đó diễn ra các tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra một cách hiệu quả nhất“.

1.2.2.3. Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhà trường. Theo nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường (QLGD nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục – đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh.”(Trần Kiểm, 2017; tr.12)

Quản lý nhà trường được thực hiện dựa trên những nguyên tắc chung của quản lý, đồng thời mang những nét đặc thù của giáo dục. Có thể nói quản lý nhà trường thực chất là quản lý con người và các hoạt động mà họ thực hiện nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường: bao gồm hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh và các hoạt động khác phục vụ cho việc dạy và học trong nhà trường (Nguyễn Thị Tường Vy, 2023; tr.9).

Từ những quan điểm về khái niệm quản lý nhà trường nói trên, có thể định nghĩa rằng: “Quản lý nhà trường là quản lý toàn diện các hoạt động và nhân lực của nhà trường, trong đó trọng tâm là hoạt động dạy và hoạt động học nhằm đạt được chất lượng giáo dục cao nhất, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường”.

1.2.2.3. Quản lý thiết bị CNTT

Thiết bị dạy học có nhiều tên gọi khác nhau như: phương tiện dạy học, thiết bị giáo dục, đồ dùng dạy học… Mặc dù có sự khác nhau trong cách dùng từ để gọi tên nhưng nhìn chung đều cùng đề cập đến một đối tượng có vị trí, vai trò nhất định và vô cùng quan trọng trong hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường.

Thiết bị dạy học bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập ở tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc – họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống. Nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện (Nguyễn Lộc, 2019; tr.66).

Trong đó, thiết bị CNTT là một trong những thiết bị dạy học chính là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến nội dung và việc đổi mới phương pháp dạy học, là công cụ mà giáo viên trực tiếp sử dụng để thực hiện hoạt động dạy của mình, thông qua đó, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hoàn thiện nhân cách trong suốt quá trình học.

Khái niệm thiết bị dạy học đã thể hiện một phần vai trò của nó đối với quá trình dạy học và giáo dục học sinh. Vì vậy, sử dụng TBDH đòi hỏi có sự quản lý để hoạt động này diễn ra đúng mục đích, tạo điều kiện cho TBDH phát huy vai trò quan trọng vốn có của nó nhằm đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học.

Quản lý thiết bị CNTT là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị dạy học, phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo. Trong quản lý thiết bị CNTT đó là sự tác động của nhà quản lý thiết bị CNTT đến GV, HS và các lực lượng khác trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.

Từ các phân tích trên, có thể định nghĩa quản lý thiết bị CNTT như sau: “Quản lý thiết bị CNTT là quá trình tác động có mục đích của cán bộ quản lý lên quá trình sử dụng hệ thống nhằm sử dụng có hiệu quả thiết bị CNTT, đáp ứng mục tiêu dạy học và giáo dục, phát huy tốt vai trò của thiết bị CNTT trong hoạt động dạy và học.”

1.3. Thiết bị CNTT ở trường THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

1.3.1. Vai trò của thiết bị CNTT ở trường THCS

Thiết bị dạy học là một trong những điều kiện vật chất của nhà trường. Thiết bị dạy học có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục: Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn”(Quốc hội, 2005).

Thiết bị dạy học đã được nêu trong Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần 2 – Khóa VIII (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 1996):“… Tất cả các trường phổ thông đều có tủ sách, thư viện và các trang bị tối thiểu để thực hiện các thí nghiệm trong chương trình. Sớm chấm dứt tình trạng “dạy chay” để nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.

Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nêu rõ: “Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học” (Quốc hội, 2000)

Theo Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học: “Thiết bị dạy học là một bộ phận cấu thành về phương diện tổ chức của giáo dục. Là thành tố cơ bản không thể thiếu được của quá trình giáo dục, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng GD&ĐT”(Bộ GD&ĐT, 2018 ).

Thiết bị dạy học nói chung và thiết bị CNTT nói riêng là công cụ lao động của giáo viên, là phương tiện giúp học sinh để hiểu các khái niệm, để lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh hình thành những kỹ năng thói quen cần thiết, bước đầu luyện tập thực hành, lao động, ứng dụng trong đời sống.

Thiết bị CNTT có vai trò hết sức cần thiết cho các quá trình sư phạm.Thật vậy, thiết bị CNTT mà hầu hết là các thiết bị khoa học kỹ thuật có chức năng xác định và mang tính mục đích sư phạm rất cao, chúng chứa đựng một tiềm năng tri thức to lớn, đồng thời giữ vai trò là đối tượng nhận thức, ví dụ như: kính hiển vi là thiết bị CNTT dùng để quan sát các vật nhỏ bé mà mắt thường không thấy được, nhưng trong môn quang học kính hiển vi lại là đối tượng cần được người học nhận thức về mặt cấu tạo và các quy luật quang học. Có thể nói thiết bị có ứng dụng CNTT vừa là phương tiện để nhận thức vừa lại là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Hiện nay có rất nhiều thiết bị dạy học mới mang tính khoa học có ứng dụng công nghệ được sử dụng trong dạy học, đặc biệt là việc ứng dụng tin học. Với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học và công nghệ, thiết bị CNTT trong nhà trường ngày càng nhiều đã làm thay đổi một cách căn bản về phương pháp, làm cho quá trình giáo dục sinh động và hiệu quả hơn.

Thiết bị CNTT chẳng những tạo điều kiện đi sâu vào các đề tài nghiên cứu, mà còn cho phép trình bày các vấn đề trừu tượng một cách sinh động, do khả năng sư phạm to lớn hỗ trợ cho giáo viên và học sinh như: tăng tốc độ truyền tải thông tin mà không làm giảm chất lượng thông tin; thực hiện các phương pháp trực quan, thực nghiệm, tạo ra những vùng hợp tác giữa thầy và trò, khả năng thực hành, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm việc, học tập, sự khéo léo chân tay, bồi dưỡng khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tạo ra sự hứng thú lôi cuốn khi học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức lao động sư phạm, tạo khả năng tổ chức một cách khoa học và điều khiển các hoạt động giáo dục.

Bên cạnh các thiết bị CNTT được sản xuất theo các quy trình công nghiệp, cũng cần chú ý đến các thiết bị dạy học mà GV tự làm để phục vụ cho công tác dạy – học. Cơ quan Unesco của Liên Hiệp Quốc đã khuyến khích và bảo trợ cho hoạt động này vì nó hướng vào việc khai thác trí tuệ và lao động của thầy và trò từ các nguyên vật liệu tại địa phương để góp phần giải quyết kịp thời yêu cầu dạy và học.

Hiện nay, để chuẩn bị cho chương trình Giáo dục phổ thông 2025, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo: “Kiểm tra, rà soát thực trạng TBDH hiện có để lập kế hoạch chi tiết sửa chữa, thay thế, nâng cấp, mua sắm bổ sung những TBDH cần thiết và đồng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu tối thiểu phục vụ dạy và học theo chương trình hiện hành, đồng thời chuẩn bị cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Việc mua sắm mới phải được đặt trên cơ sở khai thác sử dụng hết công suất của những thiết bị đã được trang bị, phù hợp với điều kiện kinh phí và chuẩn bị đủ nhân viên thiết bị, thí nghiệm, khai thác sử dụng thiết bị”. (Bộ GD&ĐT, 2025)

Do đó, việc tự làm thiết bị CNTT được coi là một hoạt động có tính chất nghiệp vụ của nhà trường, của mỗi giáo viên, là một hoạt động vừa có ý nghĩa giáo dục lại vừa có ý nghĩa kinh tế.

1.3.2. Những yêu cầu chung đối với thiết bị CNTT

  • Phải phù hợp với yêu cầu về đổi mới nội dung và đổi mới phương pháp của chương trình giáo dục
  • Phải phù hợp đối tượng: an toàn cho người sử dụng, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, khả năng và đặc điểm tư duy của học sinh

Thiết bị CNTT phải đảm bảo các tính chất sau: Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Tính khoa học: là mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực,phải có kết cấu khoa học tương xứng với môn học, chất lượng thiết bị phải đảm bảo tuổi thọ và độ bền chắc, thiết bị phải thể hiện các thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật, thiết bị tương xứng và phù hợp với thực tiễn ở các cơ sở ngoài xã hội.

Tính sư phạm: là sự phù hợp với các yêu cầu về mặt sư phạm như độ rõ, kích thước, màu sắc, dể sử dụng…phải đảm bảo học sinh tiếp thu được các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo bộ môn tương ứng với chương trình học, giúp cho thầy giáo truyền đạt cho học sinh các kiến thức phức tạp, kỹ xảo thực hành một cách thuận lợi, làm cho họ phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic.

Tính kinh tế: là giá thành tương xứng với hiệu quả giáo dục và đào tạo,giá thành tương xứng với hiệu quả giáo dục- đào tạo. CSVC và thiết bị CNTT cũng được đánh giá theo một số tiêu chuẩn theo yêu cầu TBDH.

Thiết bị CNTT thường cho hai mục đích: một là chứng minh và hai là thực hành; nếu thiết bị CNTT chứng minh được sử dụng vào mục đích tìm ra kiến thức mới thì hoạt động thực hành như là phương thức hiệu quả trong việc củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh.

Như vậy, thiết bị CNTT là những thiết bị có yếu tố công nghệ nhưng qua sử dụng, nó phải cho kết quả khoa học, đảm bảo yêu cầu về mặt mỹ quan, sư phạm, an toàn và giá cả hợp lý, tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại.

1.3.3. Nguyên tắc sử dụng thiết bị CNTT

Nguyên tắc: Việc sử dụng thiết bị CNTT phục vụ hoạt động dạy học cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:

Sử dụng đúng mục đích: Khi sử dụng thiết bị CNTT, GV cần xác định rõ mục đích sử dụng thiết bị đó.

Sử dụng đúng lúc: Xác định thiết bị CNTT đó được sử dụng vào lúc nào, lúc đó thực sự cần thiết cho bài học không. Sử dụng có hiệu quả là thiết bị CNTT được đưa ra đúng lúc mà nội dung và phương pháp đó cần đến. Khi đưa ra cần yêu cầu HS quan sát, nhận xét, phán đoán. Thường thì khi nào sử dụng đến GV mới đưa ra để tránh thu hút chú ý vào thiết bị mà phân tán chú ý trong khi chưa đến nội dung có liên quan đến thiết bị đó.

Sử dụng đúng chỗ: Tìm các vị trí hợp lý để trình bày thiết bị, để ở vị trí mà tất cả HS ở trong lớp đều nhìn rõ các chi tiết hoặc có thể nghe rõ những âm thanh phát ra từ thiết bị đó. Đặt thiết bị ở vị trí an toàn cho HS và GV (ví dụ thí nghiệm hóa học có chất độc, dây điện). Vị trí đặt các thiết bị trong lớp học cần đảm bảo đủ ánh sáng, thông gió, gần ổ cắm điện (nếu thiết bị có sử dụng nguồn điện).

Sử dụng đúng liều lượng: Sử dụng thiết bị cần quan tâm đến số lần sử dụng thiết bị trong một tiết học. Nếu sử dụng quá nhiều sẽ làm rối và thậm chí loãng những kiến thức cần tập trung. Nhưng nếu dùng quá ít thì giờ học không hứng thú, không khai thác được tính tích cực của HS. Như vậy sử dụng thiết bị trong một giờ học cần đảm bảo hợp lý không nhiều và cũng không quá ít. Không nên quá lạm dụng thiết bị, nhất là các phương tiện nghe nhìn. Trong một tiết học nên phối hợp các loại thiết bị khác nhau, giữa thiết bị truyền thống với các thiết bị hiện đại. Điều đó sẽ giúp cho HS hứng thú học tập hơn. Sử dụng PPDH cũng như một loại thiết bị không quá 20 phút, vì sau khoảng thời gian này, nếu không thay đổi phương pháp và loại trực quan thì HS sẽ không chú ý, làm giảm hiệu quả của phương pháp và thiết bị dạy học.

Kết hợp sử dụng thiết bị có trong nhà trường và thiết bị ngoài xã hội: Các thiết bị ở ngoài xã hội rất phong phú, nếu kết hợp khai thác hợp lý các phương tiện ngoài xã hội sẽ hỗ trợ tốt cho việc dạy và học trong nhà trường. Hiện nay, các nguồn thiết bị ngoài xã hội bao gồm các thiết bị máy móc tại các cơ sở sản xuất, các cơ sở đào tạo nghề gần nơi trường đóng. Chúng ta có thể khai thác các thiết bị máy móc tại đây trong khi chúng không có trong trường phổ thông. Ví dụ: như động cơ 4 thì, máy biến áp, cấu tạo của tim, mô hình hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, các tiêu bản sâu bệnh hại cây trồng, các sản phẩm chế biến ăn uống; các di tích lịch sử, các hiện vật lịch sử.

GV có thể khai thác thông tin từ các dịch vụ internet phục vụ cho bài giảng và hướng dẫn HS khai thác các thông tin trên mạng liên quan đến kiến thức có liên quan và phục vụ cho chương trình học của nhà trường.

1.3.5. Nguyên tắc quản lý thiết bị CNTT Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà trường cho thấy, quản lý tốt các thiết bị CNTT đòi hỏi người cán bộ quản lý trường học cần nắm vững một số yêu cầu sau:

  • Các yêu cầu về nội dung chương trình và phương pháp bộ môn, quy định các thiết bị CNTT cho từng môn học và cho các hoạt động giáo dục khác.
  • Biết cách phân loại và nắm vững nội dung quản lý các thiết bị
  • Phải có giải pháp xây dựng, trang bị và tổ chức sử dụng các thiết bị CNTT có hiệu quả cao. Giữ gìn và bảo quản tốt các thiết bị CNTT đã được trang bị.
  • Phải có lộ trình đầu tư ngắn hạn và dài hạn để trang bị thiết bị

Để đáp ứng các yêu cầu nêu trên, người quản lý cần phải tuân thủ một số nguyên tắc quản lý thiết bị CNTT trong trường học.

  • Nguyên tắc về tính mục đích

Khi sử dụng một thiết bị CNTT nào đó phải xác định được nhiệm vụ của nó theo chương trình đang học. Nếu thiết bị CNTT không có nhiệm vụ rõ ràng đối với bài học, đối với chương trình dạy học đang đặt ra trong nhà trường thì không nên sử dụng nó, vì điều đó sẽ đem lại các hậu quả tiêu cực về mặt sư phạm.

  • Nguyên tắc về tính phù hợp

Mỗi thiết bị CNTT có một vị trí xác định theo nội dung bài học. Người GV phải xác định phương pháp sử dụng thiết bị đó cho phù hợp với tiến trình bài học.

Sử dụng các thiết bị CNTT phải đúng lúc, đúng chỗ và đủ cường độ.

  • Nguyên tắc về tính kế thừa và phát triển

Đầu tư trang bị thiết bị CNTT mới, nhưng đồng thời phải biết sửa chữa nâng cấp những cái đang còn có thể sử dụng được, phát triển nó phù hợp với kế hoạch đào tạo của đơn vị. Song song với tính kế thừa cần tích cực khai thác các nguồn vốn để từng bước hiện đại hóa thiết bị CNTT.

  • Nguyên tắc tuân thủ chu trình quản lý

Tất cả những người tham gia quản lý thiết bị CNTT đều phải tuân thủ tác động từ khâu trang bị, sử dụng, bảo quản. Ở mỗi khâu này nó đều gắn với việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo điều hành và kiểm tra giám sát, điều chỉnh phân tích tổng kết, rút kinh nghiệm. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

1.4. Nội dung công tác quản lý thiết bị CNTT trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay.

Quản lý thiết bị CNTT cũng như bất cứ hoạt động quản lý một lĩnh vực nào khác, cần có quy trình cụ thể, rõ ràng. Các chức năng của việc quản lý phải được thể hiện rõ rệt và tác động đến hoạt động sử dụng thiết bị CNTT, giúp hoạt động này diễn ra suôn sẻ và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở nhà trường. Các chức năng quản lý thiết bị CNTT bao gồm:

1.4.1. Quản lý đầu tư trang bị thiết bị CNTT

Nội dung quản lý đầu tư trang bị thiết bị CNTT cũng bao hàm của bốn chức năng của quản lý như kế hoạch đầu tư trang bị thiết bị CNTT; tổ chức trong hoạt động đầu tư trang bị; chỉ đạo việc thực hiện đầu tư trang bị; kiểm tra đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong đầu tư trang bị thiết bị CNTT tại đơn vị. Cụ thể như sau:

  • Lập kế hoạch đầu tư trang bị thiết bị CNTT

Trong công tác lập kế hoạch đầu tư trang bị thiết bị CNTT các nhà quản lý phải thực hiện việc lập kế hoạch hiện trạng thiết bị CNTT của đơn vị mình quản lý; kế hoạch mua sắm, trang bị, tiếp nhận trang thiết bị; kế hoạch phân phối trang thiết bị trong từng giai đoạn, và đến từng đối tượng giáo viên sử dụng thiết bị CNTT đó. Khi lập kế hoạch nhà quản lý phải đánh giá đến tính hiện thực; hoàn cảnh thực tế của đơn vị, hoàn cảnh của địa phương; khả năng khai thác tiềm năng của đội ngũ giáo viên trong đơn vị mình và sự đồng tình của CMHS và phải phụ thuộc vào ngân sách của địa phương trong các hoạt động giáo dục.

Để xây dựng kế hoạch phù hợp với đơn vị bên cạnh việc tuân thủ theo những văn bản của Nhà nước quy định như Điều lệ trường THCS (Bộ GD&ĐT, 2018), Quy chế công nhận trường THCS đạt chuẩn quốc gia (Bộ GD&ĐT, 2025), thì nhà trường nên tổ chức họp BGH, họp liên tịch và tổ chức lấy ý kiến của tập thể GV để thể hiện tính công khai, dân chủ cũng như để công tác lập kế hoạch đầu tư trang bị thiết bị CNTT được hoàn thiện hơn. Từ đó giúp hiệu quả công tác quản lý trong nhà trường được nâng cao hơn.

Các bước thực hiện lập kế hoạch đầu tư thiết bị CNTT:

  • Bước 1: Đánh giá hiện trạng các thiết bị CNTT của đơn vị Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Nhà trường tiến hành điều tra các dữ liệu từ số liệu của ngành giáo dục, số liệu từ phòng giáo dục được phân bổ hàng năm. Dựa vào đó, nhà trường sẽ lên kế hoạch dự kiến các thiết bị cần bổ sung cho giáo viên trong công tác giảng dạy, đánh giá được các thiết bị chưa sử dụng tốt, thiết bị hư hỏng, thiết bị nào chưa sử dụng hết công năng và cần đầu tư thêm thiết bị nào cho đơn vị. Từ đó, xác định các danh mục trường sở cần cần mua sắm, đầu tư.

  • Bước 2: Xác định nguồn kinh phí.

Nhà trường xác định nguồn kinh phí có được từ các nguồn khác nhau như Nhà nước cung cấp, vốn tự có, vốn viện trợ, các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp theo từng năm học theo hình thức tài trợ tự nguyện không đổ đồng.

  • Bước 3: Lập kế hoạch đầu tư trang bị thiết bị CNTT

Với việc xác định được nguồn kinh phí chính xác theo từng thời kỳ sẽ giúp nhà trường lập được kế hoạch đầu tư mua sắm trang thiết bị. Trong kế hoạch được lập cần xác định rõ mốc thời gian cho những công việc cần hoàn thành.

Ngay từ đầu, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà trường cũng phải xây dựng những quy định, quy chế, quy trình quản lý, sử dụng, sửa chữa và bảo quản thiết bị CNTT trong nhà trường, hướng dẫn thực hiện các đối với CB. GV.CNV trong nhà trường nhằm thực hiện đúng mục tiêu kế hoạch đề ra.

  • Tổ chức đầu tư trang bị thiết bị CNTT

Trong công tác tổ chức đầu tư trang bị thiết bị CNTT thì nhà quản lý cần phân công trách nhiệm từng thành viên cụ thể trong việc đầu tư trang bị thiết bị CNTT. Mỗi trường sẽ bố trí bộ phận phụ trách quản lý thiết bị CNTT, thông thường là Phó hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất của nhà trường chịu trách nhiệm chính. Ngoài ra còn có nhân viên thiết bị – nhân viên này là thiết bị chuyên trách hoặc kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm về công tác quản lý thiết bị dạy học của nhà trường.

Đầu năm học, người phụ trách thiết bị sẽ tổ chức thông báo và quán triệt cho GV về kế hoạch đầu tư trang bị thiết bị CNTT theo nhiệm vụ được phân công trong quy chế hoạt động để mỗi các thành viên trong nhà trường thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình.

Dựa vào khả năng, trình độ của từng thành viên, nhà trường sẽ phân công, giao nhiệm vụ cụ thể rõ ràng, phù hợp với quy mô của nhà trường. Người phụ trách công tác thiết bị giáo dục phải đạt các tiêu chuẩn, nhiệm vụ và hưởng các chế độ theo quy định. Nếu cần thiết, nhà trường sẽ thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV phụ trách xây dựng, trang bị CSVC nếu họ không đáp ứng yêu cầu thực hiện. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Bên cạnh đó, các đơn vị tổ chức Hội thi triển lãm tài nguyên đồ dùng dạy học điện tử nhằm nâng cao phong trào tự làm đồ dùng dạy học. Qua đó giúp nhà trường giảm được nguồn chi, tạo nên những thiết bị có tính ứng dụng trong thực tế đối với các nhà trường, giúp nhà trường nâng cao hiệu quả công tác tổ chức đầu tư thiết bị CNTT

  • Chỉ đạo đầu tư trang bị thiết bị CNTT

Trong công tác chỉ đạo đầu tư trang bị thiết bị CNTT các nhà quản lý sẽ thông tin đến tập thể về hướng đầu tư trang bị thiết bị CNTT. Thu thập ý kiến, trao đổi với CBQL, GV trong quá trình đầu tư trang bị thiết bị CNTT. Xây dựng và thực hiện chế độ động viên khen thưởng, khuyến khích các đóng góp trong đầu tư trang bị thiết bị CNTT đối với các thành viên trong và ngoài nhà trường, cán bộ giáo viên tham gia tự làm thiết bị giáo dục.

  • Kiểm tra đầu tư trang bị thiết bị CNTT

Trong công tác đầu tư trang bị thiết bị CNTT, nhà trường cần rà soát tiến hành đánh giá chất lượng và hiệu quả đầu tư trang bị thiết bị CNTT; tiến hành kiểm tra số lượng và chất lượng thiết bị CNTT; Căn cứ vào kế hoạch của cấp trên đề ra, đơn vị xem xét các hạng mục cần mua sắm, bổ sung và tiếp nhận trang thiết bị mới.

Sau đó so sánh kết quả đạt được với kế hoạch đề ra trong từng giai đoạn. Nếu phát hiện các sai sót trong quá trình thực hiện nhà trường cần thực hiện các điều chỉnh, thay đổi, bổ sung, rút kinh nghiệm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong công tác đầu tư trang bị thiết bị CNTT.

1.4.2. Quản lý khai thác- sử dụng thiết bị CNTT

Quản lý khai thác – sử dụng thiết bị CNTT cũng bao gồm 4 chức năng quản lý. Cụ thể:

Trong công tác lập kế hoạch khai thác – sử dụng thiết bị CNTT, nhà quản lý cần phải thiết lập kế hoạch chi tiết khai thác – sử dụng thiết bị CNTT; Quá trình này cần phải căn cứ vào các sổ sách thống kê số lượng, chất lượng thiết bị CNTT hiện có sau đó nhà trường có kế hoạch phân bổ cho các cá nhân phụ trách. Nhà quản lý có kế hoạch triển khai phân bổ từng thiết bị đúng với mục đich sử dụng sao cho khai thác hết công năng sử dụng của thiết bị CNTT. Qua quá trình sử dụng, nhà giáo dục biết được hiệu quả sử dụng của thiết bị sau khi được trang bị, những thiết bị nào khai thác có hiệu quả, những thiết bị nào chưa hiệu quả và những thiết bị nào giáo viên chưa khai thác hết hiệu quả của nó. Từ đó nhà trường có các phương án để điều chỉnh cho hợp lý. Để đảm bảo thiết bị CNTT thực hiện có hiệu quả nhà trường cần ban hành nội quy sử dụng và đưa vào chế độ, đưa vào tiêu chí thi đua của nhà trường để nâng cao trách nhiệm từng cá nhân, tập thể trong khai thác – sử dụng thiết bị CNTT. Nhà trường cũng phải thiết lập các cơ chế phối hợp trong khai thác – sử dụng thiết bị CNTT giữa các bộ phận, phòng ban và cá nhân khi có nhu cầu. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Trong công tác tổ chức khai thác – sử dụng thiết bị CNTT các trường cần phải căn cứ vào kế hoạch khai thác – sử dụng thiết bị, quy chế, quy định khai thác – sử dụng thiết bị CNTT đã được thiết lập. nhà trường cũng cần xem xét đánh giá việc khai thác – sử dụng có đúng mục đích phục vụ cho công tác giảng dạy, đảm bảo an toàn khi khai thác – sử dụng thiết bị và có biện pháp xử lý khi có tình huống xảy ra. Nhà trường cần thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, lớp tập huấn đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV trong khai thác – sử dụng thiết bị CNTT nhằm nâng cao hiệu quả khai thác – sử dụng thiết bị CNTT của nhà trường trong quá trình dạy học.

Trong công tác chỉ đạo về khai thác – sử dụng thiết bị CNTT, để đảm bảo hiệu quả hoạt động khai thác – sử dụng thiết bị CNTT nhà trường cần thực hiện thông tin đến CBQL, GV để nắm bắt tình hình thiết bị CNTT, kế hoạch đầu tư mua sắm, trang thiết bị của nhà trường để CBQL, GV lên kế hoạch sử dụng trong quá trình giảng dạy. Nhà trường cũng cần đưa công tác khai thác – sử dụng thiết bị CNTT thành quy chế đánh giá CBQL,GV để từ đó có sự ràng buộc trách nhiệm của CBQL, GV trong quá trình sử dụng CSVC nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng thiết bị CNTT.

Trong công tác kiểm tra khai thác – sử dụng thiết bị CNTT, nhà trường cần tiến hành công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả khai thác – sử dụng thiết bị CNTT một cách thường xuyên theo định kỳ, theo chuyên đề hay đột xuất theo thực tế yêu cầu tại đơn vị. Để làm được điều này nhà trường căn cứ vào các quy định hiện hành, nội quy quản lý trong đó có các định mức, tiêu chí về khai thác – sử dụng thiết bị CNTT đã được nhà trường xây dựng để đánh giá chất lượng và hiệu quả khai thác – sử dụng thiết bị CNTT. Dựa vào kết quả kiểm tra nhà trường sẽ có các biện pháp điều chỉnh, thay đổi hoặc bổ sung phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác – sử dụng thiết bị CNTT trong nhà trường.

1.4.3. Quản lý bảo quản thiết bị CNTT

Trong công tác lập kế hoạch bảo quản thiết bị CNTT. Trước hết nhà trường chỉ đạo lập hồ sơ thống kê số lượng, chất lượng thiết bị CNTT hiện có tình trạng bảo quản đối với từng thiết bị tại trường. Từ đó nhà trường lập kế hoạch chi tiết bảo quản đối với từng thiết bị, thời gian, kinh phí, người phụ trách. Để tạo cơ sở cho công tác lập kế hoạch nhà trường cần xây dựng và ban hành nội quy, quy chế trong bảo quản thiết bị CNTT. Đây chính là cơ sở để nhà trường thực hiện công tác bảo quản thiết bị CNTT trong nhà trường một cách hiệu quả. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Trong công tác tổ chức bảo quản thiết bị CNTT nhà trường cần thiết lập các quy định về quyền hạn, trách nhiệm trong bảo quản thiết bị CNTT đến từng cá nhân sử dụng. Từ đó xác định rõ người phụ trách trong bảo quản từng thiết bị nhất là bộ phận phụ trách CSVC của nhà trường. Nhà trường cũng cần tổ chức bộ phận phụ trách trong bảo quản thiết bị CNTT như phó hiệu trưởng phụ trách CSVC, nhân viên thiết bị của trường, nhân viên bảo vệ vào biên chế nhà trường. Nhà trường cần đưa vào chế độ kiểm kê, sửa chữa theo định kỳ hoặc đột xuất khi cần thiết đối với tất cả các thiết bị CNTT trong nhà trường bao gồm tất cả các thiết bị CNTT.

Nhà trường cũng phải xây dựng cơ chế phối hợp trong bảo quản thiết bị CNTT giữa các thành viên trong trường. Nhà trường cũng phải thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV trong bảo quản thiết bị CNTT bằng nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả bảo quản, sửa chữa các thiết bị CNTT.

Trong công tác chỉ đạo bảo quản thiết bị CNTT nhà trường tiến hành thông tin đến CBQL, GV các quy định về bảo quản thiết bị CNTT; cần động viên, khen thưởng đối với CBQL, GV có thành tích trong bảo quản thiết bị CNTT; phổ biến và phát huy tinh thần làm chủ của CBQL, GV trong sử dụng, giữ gìn và bảo dưỡng thiết bị CNTT. Nhà trường cũng đưa công tác bảo quản thiết bị CNTT thành quy chế đánh giá CBQL, GV, những hành vi phá hoại, gây hư hỏng nghiêm trọng, cố tình sẽ bị xem xét kiểm điểm để răn đe trước nhà trường.

Cũng như hoạt động xây dựng, trang bị và khai thác sử dụng thiết bị CNTT, trong kiểm tra bảo quản thiết bị CNTT nhà trường cần kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả bảo quản thiết bị CNTT một cách thường xuyên theo định kỳ, theo chuyên đề hay đột xuất tùy yêu cầu thực tế tại trường. Căn cứ kiểm tra là dựa trên các quy định, nội quy đã xây dựng và ban hành về công tác quản lý thiết bị CNTT tại trường. Nhà trường tổ chức kiểm tra việc tuân thủ các hướng dẫn bảo quản đã ban hành đối với CBQL, GV, bộ phận phụ trách CSVC và các cá nhân có liên quan trong quá trình khai thác sử dụng thiết bị CNTT phục vụ cho công tác giảng dạy;

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị CNTT trường THCS Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Công tác quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay còn bất cập, hạn chế do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:

1.5.1. Yếu tố khách quan

1.5.1.1 Cơ sở pháp lý về quản lý thiết bị CNTT trong trường THCS

Trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc cách mạng 4.0 với những bước tiến nhảy vọt của nền kinh tế tri thức đòi hỏi nền giáo dục là nền tảng cho sự phát triển của khoa học công nghệ. Do đó “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu” (Quốc hội, 1992) và “Phát triển giáo dục – đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”(Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2001).

Ngày 21/11/2024, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2024/QH14 điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, theo đó “thời gian bắt đầu triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, đảm bảo tuần tự trong từng cấp học, chậm nhất từ năm học 2027 2021 đối với lớp đầu cấp của cấp tiểu học, từ năm học 2021 2022 đối với lớp đầu cấp của cấp THCS và từ năm học 2022 – 2023 đối với lớp đầu cấp của cấp THPT.” (BGDĐT, 2026)

Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học trong các trường THCS hiện nay không thể thiếu việc khai thác, sử dụng thiết bị dạy học trong đó có thiết bị CNTT. Thiết bị CNTT là một trong những phương tiện phục vụ cho công tác giảng dạy và có vai trò quan trọng đến thành công của tiết dạy. Theo Chỉ thị 29/2001/CT- Bộ GD&ĐT: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học”(Bộ GD&ĐT, 2001).

Thiết bị CNTT là một trong những điều kiện bảo đảm thành công trong công tác giáo dục, điều này thể hiện trong Thông tư số 12/2018/TT- Bộ GD&ĐT quy định: Trường THCS phải “Sử dụng thiết bị trong dạy học và viết, đánh giá, vận dụng sáng kiến, kinh nghiệm về các hoạt động giáo dục của giáo viên thực hiện theo kế hoạch của nhà trường” và “Nhà trường có đủ thiết bị giáo dục, đồ dùng dạy học và quản lý sử dụng theo quy định của Bộ GD&ĐT”(Bộ GD&ĐT, 2018) .

Việc các cơ sở pháp lý về quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS công lập ngày càng được hoàn thiện đã giúp tạo cơ sở vững chắc để các trường thực hiện hoạt động dạy- học.

1.5.1.2. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Phương pháp là hệ thống những hành động tự giác tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định” (Nguyễn Ngọc Bảo (chủ biên), 1999). Việc đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả thì cần phải tiến hành đổi mới tư duy, đổi mới trình độ nhận thức của đội ngũ GV trong việc khai thác, sử dụng các trang thiết bị hiện đại phù hợp với phương pháp dạy học theo từng môn học, từng đối tượng HS. Các thiết bị như máy tính, bảng tương tác, phần mềm mang tính tương tác,… để thiết kế bài dạy, quá trình truyền tải nội dung dạy – học giữa thầy với trò, giữa trò với trò xung quanh nội dung bài học. Do đó, nhà trường cần có kế hoạch dự toán, đầu tư mua sắm thiết bị CNTT, hướng dẫn khai thác, sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT cho phù hợp.

1.5.1.3. Chất lượng thiết bị CNTT

Một số thiết bị CNTT chưa đảm bảo chất lượng, chưa đáp ứng đúng theo nguyện vọng, mong muốn của nhà giáo dục. Các thiết bị dễ hư hỏng, thời gian sử dụng nhanh chóng lỗi thời, một số thiết bị chưa phù hợp. Ngoài ra, công tác mua sắm, trang bị, giám sát các thiết bị chưa được chặt chẽ, công tác kiểm tra của đơn vị chưa tốt do đó một số thiết bị CNTT chưa đạt yêu cầu. Điều này dẫn đến tốn kém kinh phí sửa chữa, bảo hành, mà hiệu quả quản lý thiết bị CNTT của trường lại không cao. Công tác thanh tra, kiểm tra tập trung phần lớn vào các nội dung hành chính, việc thực hiện quy chế, hồ sơ, sổ sách trong nhà trường, việc kiểm tra, thanh tra hoạt động sử dụng thiết bị chưa được chú trọng.

1.5.1.4. Nhu cầu thiết yếu của xã hội

Trong làn sóng công nghiệp hóa mới, hệ thống giáo dục phải tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực của người học thông qua việc định hướng các con đường phù hợp nhất cho các nhóm học sinh khác nhau để giúp các em phát huy được tiềm năng của mỗi cá nhân trong học tập. Điều này cần cũng thể hiện mong muốn của xã hội nói chung và tâm lý của từng CMHS nói riêng. Đòi hỏi các nhà giáo dục cần cố gắng nỗ lực vươn lên hoàn thiện chuyên môn nghiệp vụ, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng các điều kiện, phương tiện dạy học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường.

1.5.2. Yếu tố chủ quan

1.5.2.1 Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học hiện nay cho mỗi cấp học đều đa dạng về phương pháp lẫn hình thức đòi hỏi nhà trường cần cung cấp thiết bị dạy học phục vụ cho công tác giảng dạy của GV trong từng môn học, từng bài học cụ thể. Ngày nay, với sự phát triển của thời đại, sự phát triển của công nghệ 4.0 bắt buộc mỗi GV phải tự thay đổi mình, tự làm mới mình, tự trang bị tri thức cho riêng mình để đáp ứng theo nhu cầu phát triển của xã hội. Trong phương pháp dạy học có sử dụng thiết bị dạy học, trong các thiết bị dạy học có sử dụng thiết bị CNTT để mục tiêu của bài học. Do đó, thiết bị CNTT phải đáp ứng được mục tiêu, phương pháp dạy học mà GV sử dụng. Điều này tác động đến hoạt động quản lý thiết bị CNTT của nhà trường như trong khai thác sử dụng và bảo quản thiết bị CNTT. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

1.5.2.2. Khả năng khai thác, sử dụng thiết bị CNTT của GV

Đội ngũ GV là người trực tiếp giảng dạy và quyết định trực tiếp đến chất lượng học tập của HS. Song song với việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi người GV phải tự học, tự rèn, tự học tập nâng cao trình độ để theo kịp với nền tri thức công nghệ như hiện nay. Chính vì thế, trong quá trình giảng dạy người GV cần sử dụng các trang thiết bị hiện đại để phục vụ hoạt động dạy học trong lớp học. Nhưng không phải nhà giáo nào cũng sử dụng tốt, khai thác tốt các thiết bị có ứng dụng CNTT đặc biệt là những GV lớn tuổi quen với phương pháp dạy học truyền thống, một số GV ít chủ động sáng tạo, ít học hỏi trong đổi mới phương pháp dạy học.

1.5.2.3. Nhân viên phụ trách thiết bị CNTT

Nhân viên phụ trách thiết bị có vai trò quan trọng trong việc bảo quản thiết bị dạy học nói chung và thiết bị CNTT nói riêng. Nhiều đơn vị không có biên chế viên chức làm công tác thiết bị mà chủ yếu là GV làm kiêm nhiệm. Do đó, công tác tập huấn bồi dưỡng chuyên môn cho viên chức làm công tác thiết bị chưa có chiều sâu, một số thiết bị CNTT mà nhân viên thiết bị chưa biết, chưa hiểu hết chức năng, cách sử dụng gây khó khăn cho việc truyền đạt, hướng dẫn GV sử dụng thiết bị CNTT. Bởi lẽ, GV kiêm nhiệm không thuộc chuyên môn của mình, tâm huyết cho công việc cũng chưa cao, thời gian làm kiêm nhiệm cũng không dài nên việc sắp xếp, bảo quản thiết bị chưa hợp lý gặp nhiều bất tiện cho việc khai thác, sử dụng thiết bị CNTT. Các khóa tập huấn không được tổ chức thường xuyên vì số lượng GV khá đông, không có không gian cũng như thời gian để tổ chức nhiều buổi bồi dưỡng, trau dồi kiến thức, kỹ năng sử dụng thiết bị CNTT cho GV.

1.5.2.4. Trình độ quản lý của hiệu trưởng

Người quản lý vừa phải có chuyên môn vừa phải có nghệ thuật. Chuyên môn thể hiện ở chỗ chuẩn hóa chuyên môn của hiệu trưởng theo quy định (Bộ GD&ĐT, 2025) nghệ thuật thể hiện ở chỗ người hiệu trưởng phải biết kết hợp linh hoạt và sử dụng quyền hạn, chức năng của mình để chỉ đạo, phân công từng đối tượng cụ thể để thực hiện mục tiêu, sứ mạng, tầm nhìn của nhà trường. Hiệu trưởng quản lý thông qua văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thiết bị CNTT nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học trong giai đoạn hiện nay. Việc quản lý bảo quản thiết bị CNTT còn chưa được chú trọng chủ yếu giao cho nhân viên phụ trách thiết bị, các thiết bị CNTT là những tài sản có giá trị cao, kinh phí nhiều nên chủ yếu do cấp trên cấp phát về đơn vị, công tác xã hội hóa giáo dục phục vụ mua sắm thiết bị CNTT phục vụ cho công tác giảng dạy còn hạn chế về số lượng và chất lượng, công tác quản lý tài sản còn nhiều bất cập so với thực tế, công tác bảo dưỡng, bảo trì, tu sửa thiết bị CNTT cũng chưa thường xuyên. Điều này làm ảnh hưởng đến quá trình quản lý thiết bị CNTT của hiệu trưởng nhà trường.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thiết bị CNTT trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

Quản lý thiết bị CNTT là một thành phần, một bộ phận của quản lý trường học. quản lý thiết bị CNTT bao gồm các nội dung cơ bản là lập kế hoạch, trang bị thiết bị CNTT; quản lý khai thác, sử dụng thiết bị CNTT và quản lý bảo quản thiết bị CNTT.

Tác giả đã nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận về thiết bị CNTT, tác giả đã xây dựng được các khái niệm về thiết bị , CNTT, thiết bị CNTT, quản lý thiết bị CNTT, các loại thiết bị có ứng dụng CNTT, tầm quan trọng của thiết bị CNTT trong dạy – học, các yêu cầu, nguyên tắc sử dụng thiết bị CNTT.

Về quản lý thiết bị CNTT, tác giả đã xây dựng khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý việc lập kế hoạch quản lý thiết bị CNTT, việc tổ chức thực hiện quản lý thiết bị CNTT việc chỉ đạo thực hiện quản lý thiết bị CNTT và việc kiểm tra đánh giá quản lý thiết bị CNTT.

Quản lý thiết bị CNTT ở trường THCS là một hoạt động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật, đòi hỏi người lãnh đạo phải linh hoạt, khéo léo, nắm vững các văn bản chỉ đạo của cấp trên đề ra để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong công tác quản lý thiết bị CNTT. Quá trình quản lý là một quá trình khép kín đòi hỏi nhà quản lý phải thực hiện đúng, đủ, tốt các chức năng quản lý của mình từ việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá quản lý thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới hiện nay.

Trong quá trình quản lý thiết bị CNTT các trường THCS có nhiều yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thiết bị CNTT, các yếu tố khách quan hay chủ quan đều có thể là yếu tố thuận lợi hay bất lợi cho nhà trường trong quản lý thiết bị CNTT. Vì vậy các lãnh đạo nhà trường cần phải đánh giá đúng thực trạng quản lý thiết bị CNTT của từng trường học, xác định được những yếu tố thuận lợi và bất lợi, mức độ tác động của chúng đến chất lượng dạy – học của trường. Để nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị CNTT, các trường THCS cần phải vận dụng, phát huy các yếu tố thuận lợi, loại bỏ các yếu tố bất lợi nhằm giúp nhà trường đạt được các mục tiêu quản lý thiết bị CNTT theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

Dựa vào các cơ sở lý luận này, tác giả tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Nội dung khảo sát được trình bày ở chương 2 của luận văn. Luận văn: Quản lý thiết bị CNTT ở các trường trung học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537