Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ ở trường mầm non Thực hành trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh đổi mới giáo dục dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu về trường mầm non Thực hành trường Đại học Hải Phòng
2.1.1. Quá trình phát triển
Trường mầm non Thực hành là đơn vị trực thuộc trường Đại học Hải Phòng, trường được thành lập từ tháng 6 năm 1989. Khi mới thành lập trường là Tổ thực hành thuộc trường Trung học sư phạm nhà trẻ – mẫu giáo Hải Phòng. Trải qua quá trình sáp nhập với trường Trung học sư phạm Hải Phòng (1994), trường Cao đẳng sư phạm Hải Phòng (1996), đến năm 2000 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập trường Đại học sư phạm Hải Phòng trên cơ sở trường Cao đẳng sư phạm Hải Phòng. Tháng 9/2000 trường Mầm non Thực hành được thành lập theo quyết định số 27/QĐ-TC ngày 15 tháng 9 năm 2000 do TS Ngô Đăng Duyên – Hiệu trưởng trường Đại học sư phạm Hải Phòng ký.
Trường mầm non Thực hành thực hiện 02 nhiệm vụ đó là: CSGD trẻ dưới sự quản lý, chỉ đạo chuyên môn của Phòng giáo dục và Đào tạo quận Kiến An và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên khoa giáo dục Tiểu học – Mầm non trường Đại học Hải Phòng.
2.1.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên, nhân viên
Tổng số CBGV, nhân viên trường mầm non Thực hành gồm 28 người, trong đó ban giám hiệu: 02; giáo viên: 18; nhân viên: 08
- Trình độ:
Trong những năm qua CBQL, giáo viên trường mầm non Thực hành luôn tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ của ngành học, trình đọ chuyên môn và năng lực công tác của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường được nâng lên rõ rệt, kết quả được thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
- Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn của giáo viên.
Nhận xét: Từ biểu đồ trên ta thấy trình độ chuyên môn của cán bộ, giáo viên trường mầm non Thực hành cao hơn so với mặt bằng chung của thành phố Hải phòng. Tuy nhiên do đặc thù của trường Thực hành phải thực hiện nhiệm vụ rèn nghề cho sinh viên hệ Đại học, Cao đẳng mầm non nên tỉ lệ 7,1% trình độ Trung cấp sư phạm Mầm non cần sớm học nâng cao trình độ nhằm đáp ứng tốt yêu cầu thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên thực hành và minh họa phương pháp.
- Độ tuổi: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
- Biểu đồ 2.2 Độ tuổi của giáo viên trường mầm non Thực hành
Nhận xét: Từ biểu đồ trên ta thấy đội ngũ giáo viên trường mầm non Thực hành có độ tuổi 40 – 50 chiếm đa số, độ tuổi 20 – 30 chiếm tỉ lệ thấp. Với độ tuổi cao thì giáo viên có kinh nghiệm trong chăm sóc trẻ nhưng hạn chế ở chỗ tinh thần học hỏi nâng cao trình độ đặc biệt là trình độ công nghệ thông tin. Ngược lại độ tuổi 20 – 30 thì có khả năng học hỏi tốt nhưng kinh nghiệm lại chưa nhiều, với ngành học mầm non giáo viên trẻ thường có sức cuốn hút với trẻ hơn, vì vậy nhà trường cần có chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên trẻ.
2.1.3. Quy mô trường, lớp và học sinh.
Trong những năm qua số lượng trẻ đến trường mầm non Thực hành liên tục tăng, rất nhiều phụ huynh có nhu cầu nhưng nhà trường không đáp ứng hết được do số phòng học của nhà trường cố định là 8.
Do số trẻ các độ tuổi đều đông, giáo viên rất vất vả trong công tác chăm sóc trẻ do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chăm sóc trẻ nên từ năm 2025 nhà trường có chủ trương giảm dần số lượng trẻ tại các lớp.
- Biểu đồ 2.3 Thực trạng số lượng trẻ trường Mầm non Thực hành
2.1.4. Thực trạng hoạt động chăm sóc trẻ
Trong 5 năm gần đây (từ năm 2022 – 2026) trường mầm non Thực hành đã luôn cố gắng hoàn thành tương đối tốt nhiệm vụ chăm sóc trẻ, kết quả được thể hiện như sau:
Về chăm sóc nuôi dưỡng: nhà trường luôn chú trọng đến chất lượng bữa ăn cho trẻ, xây dựng thực đơn hợp lý, chỉ đạo sát sao công tác chế biến thức ăn đảm bảo cho trẻ được ăn đủ định lượng, ăn hết xuất.
- Biểu đồ 2.4 Thực trạng sức khỏe của trẻ trường Mầm non Thực hành
2.1.5. Thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường.
Trường mầm non Thực hành được xây dựng lại năm 2003 với một dãy nhà 3 tầng kiên cố trong đó có 08 phòng học, 01 bếp ăn, 01 phòng họp và 01 phòng thể chất. Diện tích các phòng học đạt 90m2 trong mỗi lớp học có phòng kho, công trình vệ sinh khép kín. Diện tích bếp ăn khoảng 85m2 được bố trí sắp xếp theo đúng tiêu chuẩn bếp một chiều. Phòng giáo dục thể chất được trang bị tương đối đầy đủ đồ dùng, đồ chơi phát triển thể chất cho trẻ các độ tuổi. Sân chơi rộng rãi thoáng mát, sạch sẽ.
Cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc trẻ được nhà trường đầu tư trang bị tương đối hiện đại. Mỗi lớp học đều được trang bị các đồ dùng như: Điều hòa, máy giặt, bình nóng lạnh, tủ đồ dùng, các loại giá để đồ dùng, giá khăn mặt, ca cốc, các đồ dùng vệ sinh cá nhân, đồ dùng phụ vụ công tác chăm sóc ăn, uống, ngủ… của trẻ cũng được trang bị đầy đủ.
Hệ thống điện, nước đạt tiêu chuẩn, đáp ứng khá tốt nhu cầu sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày của cô và trẻ. Công trình vệ sinh khép kín, đạt chuẩn, phù hợp với nhu cầu sử dụng của trẻ.
Bếp ăn của nhà trường được đầu tư trang bị cơ sở vật chất tốt: tủ cơm ga, nồi cơm ga, máy xấy bát, máy xay, nồi xoong, bát, thìa… đáp ứng tốt yêu cầu nuôi dưỡng trẻ.
Biểu đồ 2.5 Thực trạng cơ sở vật chất trường Mầm non Thực hành
2.2. Giới thiệu hoạt động khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Trong thời gian vừa qua để QL hoạt động chăm sóc trẻ của trường mầm non Thực hành chúng tôi đã tiến hành các bước như sau:
- Bl. Chuẩn bị nội dung lấy ý kiến (phiếu trưng cầu ý kiến).
Nội dung là các biện pháp QL hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của trường mầm non Thực hành thời gian qua, vấn đề cần trưng cầu ý kiến là nhận thức của CBQL, GV, PH về tầm quan trọng của các bộ phận và đánh giá của họ về mức độ thực hiện các bộ phận.
Để thuận tiện cho người được trưng cầu ý kiến và việc xử lý kết quả, phiếu trưng cầu ý kiến tập trung chủ yếu vào các câu hỏi đóng với 3 hoặc 4 mức độ trả lời. Ví dụ:
Nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp được đánh giá ở 3 mức độ: Rất quan trọng, quan trọng và không quan trọng.
Đánh giá về mức độ thực hiện các biện pháp được đánh giá ở 3 mức độ: Tốt, Trung bình và Không tốt hoặc 4 mức độ: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu.
- B2. Dự kiến đối tượng lấy ý kiến:
Chọn 3 lớp trong trường đại diện cho 3 khối tuổi (nhà trẻ, 3 tuổi, 4 tuổi).
Nhóm đối tượng là đội ngũ CBQL gồm: 2 đồng chí trong BHG, 18 giáo viên, 08 nhân viên nhà trường
Nhóm đối tượng là phụ huynh trẻ gửi nhà trẻ mầm non gồm 32 người, trong đó 8 phụ huynh nhà trẻ, 24 phụ huynh mẫu giáo
- B3. Gặp gỡ những CBQL, GV và PH được chọn lấy ý kiến, nêu rõ mục đích yêu cầu, nội dung lấy ý kiến, hướng dẫn cách trả lời và phát phiếu trưng cầu ý kiến cho mọi người.
- B4. Các đối tượng được chọn lấy ý kiến nghiên cứu và trả lời nội dung các câu hỏi trong phiếu trưng cầu ý kiến.
- B5. Thu phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý kết quả.
Bước xử lý kết quả phải đạt yêu cầu: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Tổng hợp ý kiến đánh giá về một biện pháp nào đó phải xác định được tầm quan trọng như thế nào (Rất quan trọng, quan trọng hay không quan trọng); Mức độ thực biện pháp như thế nào (Tốt, Trung bình hay không tốt) Thông qua việc tính điểm trung bình ( X ) . Đồng thời phải đánh giá chung được nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực hiện của cả hệ thống các biện pháp (tính X NT ; X TH).
Xác định được thứ bậc về tầm quan trọng và thứ bậc thực hỉện các biện pháp (BP) trong hệ thống các BP – BP nào là quan trọng nhất, BP nào thực hiện tốt nhất, thực hiện yếu nhất…
Nếu có hai khách thể cùng tham gia đánh giá một vấn đề thỉ cần phải xem xét mức độ thống nhất của các đánh giá này; Nếu một nội dung được đánh giá ở 2 tiêu chí: (Tầm quan trọng và Mức độ thực hiện hoặc Tính cần thiết và Tính khả thi…) Thì tương quan về đánh giá 2 tiêu chí này phải được so sánh. Ví dụ: Một biện pháp nào đó được nhận thức là Rất quan trọng và Mức độ thực hiện là tốt thì tương quan này là thuận. Ngược lại, một BP được nhận thức là Rất quan trọng nhưng mức độ thực hiện là không tốt thì tương quan này là nghịch, nhà quản lý cần phải xem xét để điều chỉnh, tăng cường quản lý. Để so sánh tương quan nói trên, chúng tôi dùng công thức tính hệ số tương quan Spearman.
- Việc xử lý kết quả được thực hiện như sau:
B1. Lập bảng tổng hợp và gán điểm cho phiếu trưng cầu ý kiến:
- Với câu hỏi đóng có 3 mức độ trả lời: Rất quan trọng/Tốt: 3 điểm;
- Quan trọng/Trung bình: 2 điểm; Không quan trọng/Chưa tốt: 1 điểm.
- Nếu câu hỏi có 4 mức độ trả lời: Rất quan trọng/ Tốt: 4 điểm; Quan trọng/ Khá: 3 điểm; Bình thường/ Trung bình: 2 điểm; Không quan trọng/ Chưa tốt: 1 điểm.
- Với câu hỏi có n mức độ trả lời thì điểm tối đa là n và tối thiểu là 1.
B2. Tính X trung bình ( X ) theo nguyên tắc sau: (với câu hỏi 3 mức độ trả lời và tương tự cho câu hỏi có n mức độ trả lời).
- Gọi n là số người được hỏi ý kiến;
- n1 Là số người đánh giá mức độ thực hiện Tốt;
- n2 Là số người đánh giá mức độ thực hiện Trung bình;
- n3 Là số người đánh giá mức độ thực hiện không tốt; n1 × 3đ + n2 × 2đ + n3 × đ
- Sẽ tính được X =N
- Nhận xét: Với câu hỏi đóng 3 mức độ trả lời (1 £ X £ 3) và X ³ 2,5:
- Đánh giá là Tốt; 1,5 £ X £ 2,5: Mức trung bình; X < 1,5: Không tốt.
B3. Và cũng tính đươc: X NT , X TH bằng công thức X = S X i N
B4. Xếp thứ bậc cho từng nội dung: Có bao nhiêu nội dung thì có bấy nhiêu thứ bậc, xếp theo điểm trung bình ( X ) từ cao xuống thấp; (lưu ý: nếu có 2, 3… nội dung được đánh giá ngang điểm thì việc xếp thứ bậc sẽ tính trung bình cộng và được xếp cùng thứ bậc. Ví dụ: Có hai nội dung có điểm cao nhất và bằng nhau, thứ bậc của chúng được xếp trong khoảng 1 và 2, trung bình cộng là 1,5 thì chúng sẽ cùng được xếp thứ bậc là 1,5). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
B5. Tính hệ số tương quan Spearman bằng công thức: 6SD2
- Với: R: Hệ số tương quan thứ bậc.
- Di : Hiệu số thứ bậc giữa 2 đại lượng đem ra so sánh của nội dung đánh giá thứ i.
- N: Số nội dung đánh giá.
- SD 2 : Tổng bình phương hiệu số hai thứ bậc.
- Nhận xét: -1£ R £1; Nếu R > 0: tương quan là thuận; R < 0: tương
- quan tương nghịch, 1 > R ³ 0.7: tương quan chặt chẽ, 0.7 > R ³ 0.5: tương
- quan, 0.5 > R ³ 0.3: tương quan không chặt, 0.3 > R: không tương quan.
- Tiến hành khảo sát nghiên cứu:
Đầu tiên, chúng tôi tiến hành khảo sát về mức độ thực hiện các nội dung quản lý trong thời gian qua (Phiếu trưng cầu ý kiến).
2.3. Thực trạng hoạt động chăm sóc trẻ
Hoạt động chăm sóc trẻ của cán bộ, giáo viên trường mầm non Thực hành được tiến hành theo quy chế chuyên môn hiện hành. Giáo viên tại các lớp là người trực tiếp tổ chức các hoạt động chăm sóc trẻ theo chế độ sinh hoạt hàng ngày.
- Bảng 2.1 Thực trạng hoạt động chăm sóc trẻ tại trường mầm non Thực hành.
Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy thực trạng chất lượng chăm sóc trẻ của nhà trường đạt mức trung bình khá, tuy nhiên các hoạt động chưa đều tay, có hoạt động tốt nhưng vẫn còn những hoạt động chưa tốt (hoạt động chăm sóc vệ sinh cá nhân trẻ có X TB = 1.84, vệ sinh dinh dưỡng có X TB = 1.96). Điều này phản ánh thực trạng là hoạt động chăm sóc vệ sinh cá nhân, vệ sinh dinh dưỡng cho trẻ cần phải được quan tâm hơn nữa. Bên cạnh đó công tác chăm sóc giấc ngủ và chế độ dinh dưỡng cho trẻ cũng cần phải được nhà trường quan tâm, chỉ đạo thực hiện tốt hơn.
- Biểu đồ 2.6 Thực trạng hoạt động chăm sóc trẻ tại trường Mầm non
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ tại trường Mầm non Thực hành Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Bảng 2.2 Đánh giá cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh về mức độ thực hiện các nội dung quản lý tại trường mầm non Thực hành.
- Phần ý kiến khác được trưng cầu:
Khối cán bộ quản lý và giáo viên có 11/28 ý kiến đề nghị tăng số lượt thanh tra đột xuất; 15/28 ý kiến đề nghị xây dựng vị trí việc làm từ đó sử dụng hợp lý nhân lực thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng.
Khối PH có 15/32 ý kiến đề nghị tăng số lượt khám sức khỏe và theo dõi sức khỏe của trẻ trên biểu đồ cho trẻ; 22/32 ý kiến đề nghị cần công khai thực đơn và đơn giá khẩu phần ăn cho trẻ.
Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.1 cho thấy: hiện nay công tác QLCSND của trường ở mức tương đối tốt ( X > 2,5), CBQL và GV cho điểm bình quân cả 9 nội dung quản lý là X CBGV = 2,64; của PH là X PH =2,52. Tuy nhiên, xét cụ thể từng mặt, thì 4 nội dung: Quản lý hoạt động lập kế hoạch chăm sóc trẻ, Quản lý cơ sở vật chất – Trang thiết bị dạy học, Quản lý chỉ đạo các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, Quản lý công tác XHH giáo dục là được cả hai đối tượng đánh giá tốt. Các nội dung còn lại đều ở mức trung bình và chưa tốt.
Để so sánh tương quan giữa đánh giá của CBQL và GV với đánh giá của PH, ta áp dụng công thức tính hệ số tương quan Spearman:
Điều này chứng tỏ tương quan là thuận và chặt chẽ, nghĩa là đánh giá của CBQL, GV và của PH về mức độ thực hiện các nội dung quản lý của nhà trường là thống nhất.
Như vậy, cần tập trung nghiên cứu, khảo sát năm nội dung quản lý sau:
- Chỉ đạo hoạt động chăm sóc vệ sinh dinh dưỡng cho trẻ
- Chỉ đạo nội dung hoạt động chăm sóc trẻ.
- Chỉ đạo rèn kỹ năng, thao tác vệ sinh cá nhân cho trẻ.
- Chỉ đạo đổi mới hình thức chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ.
- Chỉ đạo việc sắp xếp, sử dụng nhân lực thực hiện HĐCS trẻ.
Để nghiên cứu 05 nội dung trên, chúng tôi kết hợp trao đổi, chuyện trò với một số CBQL, GV các trường mầm non và tiến hành khảo sát bằng phương pháp điều tra viết (Phiếu trưng cầu ý kiến) về các biện pháp cụ thể đã thực hiện trong quá trình quản lý. Tiêu chí khảo sát là nhận thức về tầm quan trọng và đánh giá mức độ thực hiện của các biện pháp (dùng câu hỏi đóng, ba mức độ trả lời), tính điểm và xử lý kết quả như đã làm ở phần trên.
- Kết quả xử lý lần lượt đối với từng nội dung khảo sát như sau:
2.4.1. Thực trạng chỉ đạo các hoạt động chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng cho trẻ. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Trong quản lý các hoạt động chăm sóc trẻ ở các trường mầm non thì việc quản lý chỉ đạo các hoạt động chăm sóc trẻ là vô cùng quan trọng, nhiệm vụ này quyết định lớn đến chất lượng chăm sóc trẻ của trường mầm non. Để có số liệu đánh giá thực trạng thực hiện hoạt động chăm sóc trẻ, qua khảo sát ý kiến cán bộ quản lý, GV, NV về hoạt động này, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát nhận thức của cán bộ giáo viên về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý chỉ đạo các hoạt động chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng cho trẻ với (1 £ X £ 3); n = 28
- Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.2 có thể thấy:
Nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp: Đa số CBQL và GV được hỏi ý kiến đều nhận thức rất cao về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các BP quản lý chỉ đạo các hoạt động chăm sóc trẻ. Điểm tổng hợp cho các biện pháp quản lý nêu trên ( X N T = 2,44 ) và biện pháp có điểm nhận thức thấp nhất ở mức ( X N T = 1,86); Các biện pháp được nhận thức quan trọng nhất là BP7 có X Max = 2,86). Như vậy, biện pháp thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe và đảm bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ là vấn đề được nhiều CBQL và GV quan tâm.
Đánh giá mức độ thực hiện: Đa số ý kiến cho rằng mức độ thực hiện ở các BP, phù hợp với tầm quan trọng của BP, điểm bình quân ở mức Trung bình ( XTH = 2,37), các biện pháp bị đánh giá còn yếu là BP3: “Chăm sóc giờ ăn của trẻ chu đáo, hợp vệ sinh, giáo viên động viên khuyến khích trẻ ăn hết xuất” được cho là yếu nhất ( X T H = 1 ,86), BP5: “Vệ sinh trẻ luôn sạch sẽ, trẻ nắm vững và thực hiện tốt các kỹ năng vệ sinh theo yêu cầu độ tuổi” ( X TH = 2,29). Cũng cần phải triển khai thực hiện tốt hơn là BP7: “Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe và đảm bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ” ( X = 2,36).
Nếu tính hệ số tương quan Spearman, có R = 0,57 chứng tỏ mức độ nhận thức và thực hiện là tương quan. Nghĩa là, các biện pháp được nhận thức quan trọng hơn thì cũng được triển khai thực hiện tốt hơn, tuy nhiên mức độ thực hiện các BP chưa phù hợp với tầm quan trọng của nó, nhận thức được BP là rất quan trọng nhưng chỉ thực hiện ở mức trung bình hoặc chưa tốt.
Biểu đồ 2.7 Tương quan giữa mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý chỉ đạo các hoạt động chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng cho trẻ Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã quan sát, phỏng vấn GV về các biện pháp ở mức trung bình và chưa tốt, kết quả như sau:
- BP3: “Chăm sóc giờ ăn của trẻ chu đáo, hợp vệ sinh, giáo viên động viên khuyến khích trẻ ăn hết xuất “
Thực tế hiện nay việc cho trẻ ăn là vấn đề được cả xã hội quan tâm, nhà trường coi đây là nhiệm vụ quan trọng đặt nên hàng đầu. Trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất sẽ phát triển tốt về mọi mặt và ngược lại… Khi xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng trẻ nhiệm vụ này được đặt nên hàng đầu, giáo viên phụ trách các lớp là người thực hiện nhiệm vụ tổ chức giờ ăn cho trẻ. Đa số giáo viên cũng đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức giờ ăn cho trẻ song vẫn còn một số tồn tại: Quát mắng trẻ nếu không may trẻ làm đổ cơm canh, thức ăn hoặc trẻ ngậm lún; chuẩn bị đồ dùng phục vụ trong giờ ăn chưa thật hợp vệ sinh, chưa quan tâm đến việc động viên, kích thích trẻ có nhu cầu ăn ngon miệng, hết xuất.
Nguyên nhân của các hiện tượng nêu trên là:
- Trong các lớp có quá nhiều trẻ lười ăn, ngậm, lún…khiến cho việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên gặp nhiều khó khăn.
- Hiện tại số trẻ của các lớp trong trường đều đông (gấp 1,5 lần so với quy định) nên giáo viên vất vả nhiều trong việc tổ chức các hoạt động chăm sóc trẻ.
Mặt khác bữa ăn chính của trẻ vào buổi trưa sau khi giáo viên đã tổ chức một loạt hoạt động buổi sáng cho trẻ nên cũng đã thấm mệt nên khi có nhiều trẻ ngậm lún, nôn trớ dẫn đến việc giáo viên mất bình tĩnh
- BP7: “Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe và đảm bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ”
Đối với các trường mầm non Thực hành công tác chăm sóc sức khỏe và đảm bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ là vô cùng quan trọng. Việc chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn tốt cho trẻ góp phần nâng cao uy tín và vị thế của nhà trường. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại: Trẻ bị ngã, va đập, trẻ cấu cắn nhau dẫn đến phụ huynh không hài lòng.
Nguyên nhân: Do số trẻ đông nên việc quan sát của giáo viên khó khăn. Giáo viên mầm non thực hiện quá nhiều công việc trong một ngày nên khả năng bao quát hạn chế. Một số trẻ quá hiếu động, tăng động nên chưa có nhận thức đúng đắn về hành vi của mình.
- BP5: “Vệ sinh trẻ luôn sạch sẽ, trẻ nắm vững và thực hiện tốt các kỹ năng vệ sinh theo yêu cầu độ tuổi”
Ở các trường mầm non việc dạy cho trẻ thực hiện tốt các kỹ năng vệ sinh rửa tay, lau mặt là việc khó, nhất là với các cháu lớp 3 tuổi do trẻ còn nhỏ, định hướng trong không gian của trẻ chưa tốt, hơn nữa trẻ mẫu giáo 3 tuổi vừa ở nhà trẻ nên mà ở nhà trẻ khâu vệ sinh cháu được các cô làm vì vậy trẻ gặp nhiều khó khăn trong thực hiện các thao tác vệ sinh nhất là thời gian đầu năm học. Hơn nữa các thao tác rửa tay, lau mặt được chia ra nhiều bước nhỏ lại thực hiện trong cùng một lúc nên trẻ dễ bị nhầm lẫn.
2.4.2. Thực trạng quản lý nội dung hoạt động chăm sóc trẻ Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Hiện nay trường mầm non Thực hành đang thực hiện nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo Điều lệ Trường mầm non và các văn bản quy định của ngành, theo yêu cầu, điều kiện cụ thể của từng tỉnh, từng quận, huyện. Quản lý nội dung hoạt động chăm sóc trẻ là một nội dung rất quan trọng của sở ban ngành và các trường mầm non quận Kiến An nói riêng và cả nước nói chung. Các biện pháp quản lý nội dung này được CBQL và GV nhận thức và đánh giá như sau:
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát đối với cán bộ quản lý, giáo viên: Nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý nội dung hoạt động chăm sóc trẻ với (1 £ X £ 3); n = 28
- Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.3 có thể thấy:
Nhận thức về tầm quan trọng: Đa số CBQL, GV, nhân viên được hỏi ý kiến đều nhận thức được tầm quan trọng của các biện pháp quản lý nội dung hoạt động chăm sóc trẻ, điểm bình quân là ( X NT= 2,57); các biện pháp đều có điểm nhận thức X ³ 2,3 tức là các BP quản lý nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đều được xác định là rất cần thỉết. Trong đó, BP6: “Chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn” ( X = 2,79). và BP2: “Công tác nuôi dưỡng” là quan trọng nhất ( X = 2,68).
Đánh giá mức độ thực hiện: Tổng hợp đánh giá của CBQL và GV về các BP quản lý nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ hiện nay của trường mầm non là ở mức độ trung bình ( X TH= 2,19). Trong đó các BP 1,2,3 được đánh giá là tốt ( X đạt từ 2,39 – 2,75), BP 4, 5, 6 được đánh giá ở mức trung bình (đạt từ X = 1,78 – 1,95).
Đặc biệt nếu tính hệ số tương quan spearman sẽ có R = – 0,43 cho thấy tương quan trên là nghịch, tức là các BP nhận thức quan trọng thì tổ chức lại chưa tốt, cụ thể ở đây là biện pháp chăm sóc vệ sinh (BP5), chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn (BP6), cũng cần chú ý thực hiện tốt hơn nữa là chăm sóc giấc ngủ (BP4)
- Biểu đồ 2.8 Tương quan giữa mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý nội dung hoạt động chăm sóc trẻ.
Đi sâu tìm hiểu nguyên nhân (phỏng vấn trực tiếp giáo viên, nhân viên, phụ huynh) việc nhận thức và thực hiện các nội dung hoạt động chăm sóc trẻ chưa thật tốt chúng tôi nhận thấy:
- Với BP5: Chăm sóc vệ sinh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Nội dung chăm sóc vệ sinh bao gồm: vệ sinh sinh hoạt, vệ sinh thân thể, vệ sinh đồ dùng cá nhân, theo dõi và quản lý sức khỏe cho trẻ…
Vệ sinh sinh hoạt là sự phân chia mốc thời gian và quãng thời gian, trình tự các hình thức hoạt động và nghỉ ngơi, thức và ngủ luân phiên trong ngày một cách hợp lý nhằm thực hiện các hoạt động đạt hiệu quả cao nhất. Xây dựng chế độ sinh hoạt phù hợp cho từng lứa tuổi và thực hiện nghiêm túc sẽ giúp trẻ phát triển cân đối giữa thể lực và trí tuệ. Vệ sinh sinh hoạt bao gồm các hoạt động tổ chức cho trẻ ngủ, tổ chức cho trẻ ăn, đảm bảo chế độ dinh dưỡng và tổ chức cho trẻ chơi.
Vệ sinh thân thể bao gồm vệ sinh da, vệ sinh răng miệng, vệ sinh mắt tai mũi họng. Đối với trẻ mầm non tất cả các bộ phận trên đều ở trong giai đoạn còn non nớt đang phát triển nên vô cùng nhạy cảm, rất dễ mắc các bệnh. Chính vì vậy việc giữ gìn vệ sinh thân thể cho trẻ là rất cần thiết.
Vệ sinh đồ dùng cá nhân bao gồm quần áo, giầy dép, mũ, tất, yếm, khăn mặt, ca cốc…yêu cầu luôn được giặt giũ thường xuyên, sạch sẽ, gọn gàng, sử dụng đúng mục đích, phù hợp.
Theo dõi sức khỏe cho trẻ bao gồm theo dõi sức khỏe hàng ngày, tổ chức cân đo cho trẻ, quản lý sổ sức khỏe của trẻ, tổ chức khám sức khỏe định kỳ, quản lý tiêm chủng phòng 6 bệnh truyền nhiễm.
Trong một ngày giáo viên thực hiện các hoạt động theo chế độ sinh hoạt, luôn phải bao quát, quan sát trẻ trong tất cả các hoạt động gần như không có thời gian để nghỉ ngơi, ngoài ra còn tham gia rất nhiều các phong trào, các hoạt động văn hóa, lễ hội…Vì vậy giáo viên mầm non rất vất vả. Hơn nữa số lượng trẻ hiện tại rất đông nên việc giáo viên theo dõi trẻ thực hiện, nhắc nhở trẻ làm đúng các thao tác vệ sinh còn hạn chế. Hạn chế nhất là việc thực hiện các kỹ năng, thao tác vệ sinh (rửa tay, lau mặt) của trẻ (tác giả phân tích kỹ ở mục 2.2.4).
- Với BP4: Chăm sóc giấc ngủ
Theo các nhà khoa học thì giấc ngủ vô cùng quan trọng đối với con người nói chung và trẻ em nói riêng. Với trường mầm non trẻ cần phải có phòng ngủ riêng đảm bảo yên tĩnh ấm về mùa đông mát về mùa hè, phòng ngủ được trang bị các CSVC phục vụ cho giấc ngủ của trẻ như giường ngủ gối, chăn (mỗi trẻ 01 cái) và phải được vệ sinh sạch sẽ đảm bảo cho trẻ có giấc ngủ ngon tại trường. Trên thực tế do quỹ đất và kinh phí đầu tư xây dựng hạn chế nên nhà trường chỉ xây được một phòng chung bao gồm cả ăn, học, ngủ…vì vậy ảnh hưởng lớn đến việc bố trí sắp xếp giờ ngủ và chất lượng giấc ngủ cho trẻ. Các lớp mẫu giáo do số trẻ đông, để tiết kiệm diện tích thì nhà trường trang bị giát giường đôi (2 trẻ/1 giát) như vậy trẻ nằm chưa được thoải mái. Mặt khác chỗ ngủ bố trí chưa đầy đủ trước khi ăn nên có những cháu phải chờ cô dọn phòng ăn xong, kê thêm giát giường mới có chỗ nằm, như vậy sẽ ảnh hưởng tới thời gian ngủ của trẻ. Một số giáo viên còn lơ là trong chăm sóc giấc ngủ cho trẻ, chưa chú ý tới việc tách riêng những trẻ khó ngủ ra một chỗ để các trẻ khác không bị bạn quấy rối sẽ có giấc ngủ ngon hơn.
- Với BP6: Chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Hầu hết các ý kiến trả lời đều rất quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn cho trẻ, đây là một trong hai nhiệm vụ tối quan trọng của ngành học bởi trẻ có khỏe mạnh, an toàn thì mới phát triển tốt, có như vậy phụ huynh mới tin tưởng gửi con ở trường, yên tâm công tác… Tuy nhiên điều mà mọi người quan tâm đó là chất lượng thực phẩm và cách thức tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ, những đồ dùng, đồ chơi, cơ sở vật chất… tiềm ẩn những nguy cơ mất an toàn cho trẻ. Về chất lượng thực phẩm nhà trường đã ký kết hợp đồng giao nhận thực phẩm với các đơn vị để đảm bảo tính pháp lí, thực phẩm đảm bảo chất lượng, đảm bảo an toàn nhưng phụ huynh vẫn băn khoăn lo lắng ở nguồn gốc xuất sứ và mức độ sạch của thực phẩm, bởi lẽ khi theo dõi một vài phóng sự thì một số đơn vị đi gom thực phẩm ở ngoài chợ về giao cho các trường học nhưng vẫn nói đó là thực phẩm sạch.
Về tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ một vài giáo viên chưa quan tâm tới sức khỏe của trẻ, chưa chú trọng tới việc động viên, khuyến khích trẻ ăn. Có những trẻ sức khỏe ngày hôm đó không được tốt, trẻ không muốn ăn nhưng giáo viên vẫn ép trẻ ăn dẫn đến trẻ nôn, trớ… thì giáo viên lại quát mắng làm cho trẻ sợ ăn, sợ đi học.
Về cơ sở vật chất một số đồ dùng phục vụ cho hoạt động của trẻ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn: Dao rọc giấy, kéo, ổ cắm điện, quạt trần, một số CSVC lớn như mảng vữa tường nhà, bàn ghế… Nếu giáo viên không gọn gàng, ngăn nắp, không thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở rất dễ dẫn đến tình trạng mất an toàn cho trẻ.
Bảng 2.5 Kết quả khảo nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý nội dung hoạt động chăm sóc vệ sinh cho trẻ đối với phụ huynh, với (1 £ X £ 3); n = 32
Kết quả trên cho thấy: Những PH được hỏi ý kiến đã đánh giá cao tầm quan trọng của các biện pháp chăm sóc vệ sinh cho trẻ, điểm tổng hợp về nhận thức đạt ( X NT = 2,95), các BP6, BP3 đạt đến điểm khá cao. Tuy nhiên, cũng tương tự như CBQL và GV, PH cũng đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp chỉ ở mức trung bình ( X TH =2,46). BP5 cũng được đánh giá là hoạt động chưa tốt ( X = 1,66 xếp bậc 6/6), biện pháp 6 dù ở mức trung bình ( X = 1,96) nhưng cũng xếp bậc 5/6.
Nếu tính hệ số tương quan Spearman sẽ có R = – 0,1 cũng cho thấy tương quan trên là nghịch. Như vậy, đánh giá của CBQL, GV và PH về các BP quản lý chăm sóc vệ sinh cho trẻ của nhà trường là đúng thực trạng công tác chăm sóc vệ sinh cá nhân cho trẻ chưa thật tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã quan sát, theo dõi việc thực hiện hoạt động chăm sóc vệ sinh cá nhân trẻ của 3 lớp thuộc 3 độ tuổi trong nhà trường (3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi). Công việc tiến hành trong thời gian 6 buổi, mỗi lớp 2 buổi, kết quả đã quan sát được sự khác nhau giữa 3 độ tuổi:
Lớp mẫu giáo 5 tuổi: trẻ có thói quen vệ sinh tương đối tốt, trẻ thực hiện các thao tác vệ sinh rửa tay, lau mặt, đánh răng… theo từng bước đúng quy trình giáo viên hướng dẫn. Trẻ biết giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ, sắp xếp trang phục gọn gàng. Khi hỏi trẻ về các bước rửa tay, lau mặt trẻ trả lời đúng và thực hiện tốt.
Trao đổi với phụ huynh về vấn đề này phụ huynh rất phấn khới cho biết khi về nhà trẻ cũng luôn có ý thức rửa tay, lau mặt sạch sẽ trước khi ăn, có những trẻ còn vừa làm vừa “hướng dẫn” cha (mẹ) làm.
- Nguyên nhân của kết quả trên:
Khả năng chú ý, ghi nhớ, ngôn ngữ, định hướng trong không gian… của trẻ 5 – 6 tuổi phát triển ở mức độ cao hơn các độ tuổi khác nên trẻ dễ ghi nhớ các thao tác và định hướng phải – trái, trên – dưới nhanh hơn.
Đa số trẻ 5 tuổi đã học qua các lớp 3 tuổi, 4 tuổi, đã được làm quen và rèn luyện nhiều nên trẻ nhớ lâu và thực hiện nhuần nhuyễn hơn các độ tuổi khác.
Các bậc phụ huynh đã được tuyên truyền trong nhiều năm nên cũng ghi nhớ thao tác từ đó nhắc nhở trẻ kịp thời khi trẻ quên.
Lớp mẫu giáo 4 tuổi: Đánh giá sau khi quan sát trẻ chúng tôi thấy tỉ lệ trẻ có kỹ năng và thực hiện tốt các thao tác vệ sinh cá nhân (rửa tay, lau mặt…) đạt 60 -70 %. Một số trẻ còn nhầm lẫn giữa các bước, khi lau mặt có chỗ lau đi lau lại nhưng có chỗ lại không lau. Với thao tác rửa tay thì trẻ thực hiện chưa được dứt khoát, có những cháu rửa xong rồi tay vẫn chưa sạch hoặc dính xà phòng…
Trao đổi với phụ huynh thì một số phụ huynh nhất trí việc rèn luyện kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ là rất cần thiết, phụ huynh sẽ cố gắng kết hợp với giáo viên để giáo dục trẻ. Khi hỏi thứ tự các bước thực hiện động tác có phụ huynh nhớ, có phụ huynh không nhớ được.
- Nguyên nhân: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Khả năng chú ý, ghi nhớ, ngôn ngữ, định hướng trong không gian… của trẻ 4 – 5 tuổi phát triển ở mức độ thấp hơn so với trẻ 5 tuổi nên trẻ gặp khó khăn trong việc ghi nhớ, diễn đạt, định hướng…
Một số trẻ mới đi học nên thực hiện các bước kém hơn so với các bạn đã học qua lớp nhà trẻ, 3 tuổi.
Lớp mẫu giáo 3 tuổi: Việc thực hiện các thao tác vệ sinh cá nhân khó khăn hơn so với trẻ 5 tuổi rất nhiều. Nếu không có sự quan sát hướng dẫn tỉ mỉ của giáo viên thì có khá nhiều trẻ thực hiện qua loa, chưa đúng thao tác, có trẻ rửa xong mà cổ tay vẫn còn bọt xà phòng. Với thao tác lau mặt thì trẻ 3 tuổi còn gặp khó khăn nhiều hơn, nhiều trẻ không thực hiện được động tác lân khăn nên chỗ khăn lau rồi lại lau tiếp chỗ khác như vậy vô hình dung trẻ dùng chỗ bẩn lau vào chỗ sạch. Có chỗ lau nhiều lần, có chỗ lại chẳng lau lần nào… dẫn đến việc lau mặt rồi mà vẫn bẩn. Các khâu vệ sinh cá nhân khác như đầu tóc, quần áo, đồ dùng cá nhân bước đầu trẻ cũng đã có nề nếp gọn gàng, sạch sẽ.
- Nguyên nhân
Khả năng chú ý, ghi nhớ và đặc biệt là khả năng định hướng trong không gian của trẻ 3 tuổi mang tính trực quan rất cao nên trẻ gặp nhiều khó khăn trong thực hiện các thao tác.
- Đôi tay của trẻ 3 tuổi nhỏ, khăn mặt to nên trẻ khó thực hiện thao tác.
- Trẻ 3 tuổi mới được làm quen với các thao tác nên còn nhầm lẫn giữa các bước thực hiện.
- Số cháu đông nên GV gặp nhiều khó khăn trong hướng dẫn vệ sinh cá nhân trẻ.
Phụ huynh chưa nắm rõ để cùng hướng dẫn trẻ, hơn nữa phụ huynh luôn quan niệm trẻ 3 tuổi còn nhỏ chưa làm được nên làm giúp trẻ cho nhanh. Như vậy trong quá trình thực hiện hoạt động chăm sóc vệ sinh cho trẻ, cần hết sức quan tâm để khắc phục tình trạng trên, đặc biệt chú ý tới việc chỉ đạo CBGV tìm tòi nội dung giáo dục VS cá nhân cho trẻ phù hợp độ tuổi, các bước hướng dẫn trẻ như thế nào để trẻ dễ nhớ, dễ thuộc.
Với BP6 “Chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn cho trẻ” theo quan sát chúng tôi nhận thấy một vài giáo viên vẫn chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn cho trẻ, điều này thể hiện ở chỗ: giáo viên sử dụng các đồ dùng (dao, kéo, súng bắn keo…) đôi khi chưa cất dọn gọn gàng ngay sau khi dùng song, một số trẻ bắt chước làm giống cô dẫn đến mất an toàn. Hoặc một số đồ chơi (rối tay, rối dẹt…) giáo viên dùng các con ốc nhọn để bắt vít khi ốc xoáy phía sau tuột ra cái đầu nhọn của ốc dễ dàng cào sứt da trẻ. Một số yếu tố mất an toàn khác như quạt trần, ổ cắm, trần nhà, gạch nát nền vỡ… cũng tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho trẻ.
2.4.3. Thực trạng quản lý rèn kỹ năng, thao tác vệ sinh cá nhân trẻ
Trong công tác chăm sóc vệ sinh cho trẻ việc rèn các kỹ năng, thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ là việc làm rất cần thiết. Trẻ có kỹ năng, thói quen và thao tác đúng trình tự các bước sẽ đảm bảo vệ sinh cá nhân luôn sạch sẽ, trẻ sẽ có sức khỏe tốt, khả năng lây nhiễm bệnh thấp. Để có số liệu đánh giá thực trạng thực hiện rèn kỹ năng, thao tác vệ sinh cá nhân cho trẻ qua khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý, GV, NV về hoạt động này, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát đối với cán bộ quản lý, giáo viên: Nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý rèn kỹ năng, thao tác vệ sinh cá nhân cho trẻ. (1 £ X £ 3); n = 28
- Kết quả khảo sát trên cho ta thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp: Đa số CBQL và GV được hỏi ý kiến đều nhận thức rất cao nhiệm vụ rèn kỹ năng, thói quen vệ sinh cho trẻ. Điểm tổng hợp cho các biện pháp quản lý nêu trên ( X NT = 2,60) và biện pháp có điểm nhận thức thấp nhất cũng ở mức ( X T H = 2,28); Các biện pháp được nhận thức quan trọng nhất là BP3 có ( X m a x = 2,94). Như vậy, nhiệm vụ rèn kỹ năng, thói quen vệ sinh cho trẻ là vấn đề được nhiều CBQL và GV quan tâm.
– Đánh giá mức độ thực hiện: Đa số ý kiến cho rằng mức độ thực hiện ở các BP, phù hợp với tầm quan trọng của BP, điểm bình quân ở mức tốt ( X TH =2,29), các biện pháp bị đánh giá còn chưa tốt là BP4: “Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ hàng ngày đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp” ( X = 1,68). Cũng cần phải triển khai thực hiện tốt hơn là BP3: “Dự giờ vệ sinh trước và sau khi ăn để đánh giá chất lượng trên trẻ” ( X = 1,76).
Tính hệ số tương quan spearman, có R = 0,5 Chứng tỏ mức độ nhận thức và thực hiện là tương quan chặt chẽ. Nghĩa là, các biện pháp được nhận thức quan trọng hơn thì cũng được triển khai thực hiện tốt hơn, tuy nhiên một số biện pháp mức độ thực hiện các BP chưa phù hợp với tầm quan trọng của nó, nhận thức được biện pháp là quan trọng nhưng chỉ thực hiện ở mức trung bình hoặc chưa tốt như BP3 thể hiện trên biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2.9 Tương quan giữa mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý rèn kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Để làm rõ vấn đề này, qua quan sát, phỏng vấn GV về các biện pháp ở mức trung bình và chưa tốt đã cho kết quả như sau:
BP3 “Dự giờ vệ sinh trước và sau khi ăn, đánh giá chất lượng trên trẻ”, mức độ nhận thức X = 2,56 nhưng mức độ thực hiện dừng lại ở X = 1,76 và BP 4 “Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ hàng ngày đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp” mức độ nhận thức là 2,36 nhưng mức độ thực hiện lại chỉ đạt 1,68.
Khi được hỏi đa số ý kiến giáo viên, nhân viên nhất trí việc dự giờ quan sát trẻ thực hiện các thao tác vệ sinh rửa tay lau mặt trước và sau khi ăn là cần thiết. Trên thực tế CBQL nhà trường đã thực hiện khá tốt khâu dự giờ, kiểm tra tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn xảy ra một số bất cập sau:
- CBQL trong một ngày chỉ dự được một đến hai lớp mà không phải ngày nào CBQL cũng dự được dẫn đến tình trạng lớp nào dự giờ giáo viên sẽ cẩn thận, chu đáo hơn lớp không dự giờ.
- Nhà trường chưa xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá cụ thể phù hợp với từng độ tuổi vì vậy việc đánh giá chưa được phù hợp (trẻ 3 tuổi đánh giá thực hiện đúng quy trình giống với trẻ 5 tuổi là chưa phù hợp).
- Công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp GVMN còn mang tính động viên.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này:
- Do số lượng trẻ trong các lớp đông,
- Một số giáo viên chưa tự giác trong thực hiện nhiệm vụ, chưa linh hoạt trong bao quát trẻ, chưa có nhiều tìm tòi sáng tạo trong việc hướng dẫn như thế nào cho trẻ dễ nhớ, dễ thuộc.
- Cơ sở vật chất trang bị đồng đều cho các độ tuổi dẫn đến việc thực hiện của trẻ nhỏ tuổi gặp nhiều khó khăn Ví dụ: Trẻ 3 tuổi dùng khăn lau mặt bằng kích cỡ của trẻ 5 tuổi thì khó cho trẻ 3 tuổi vì đôi tay của trẻ 3 tuổi nhỏ hơn dẫn đến việc điều khiển khó khăn hơn.
2.4.4. Thực trạng quản lý đổi mới hình thức chăm sóc vệ sinh cá nhân trẻ Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Tuy nhiên thực tế thực hiện thì nhiệm vụ này còn nhiều hạn chế. Trong công cuộc đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục mầm non nói riêng thì nhiệm vụ này càng được quan tâm hơn, nhất là trong điều kiện hiện nay khi môi trường sống ô nhiễm, chất lượng thực phẩm không đảm bảo…
Trước thực trạng trên đòi hỏi CBQL, GV các trường mầm non phải suy nghĩ, đặt câu hỏi phải làm thế nào để giáo dục trẻ có kỹ năng thói quen vệ sinh tốt ở mọi nơi, mọi lúc và cần có hình thức giáo dục thế nào để nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân cho trẻ. Để phần nào hiểu được thực trạng trên tôi đã tiến hành khảo sát CBGV, nhà trường và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát đối với cán bộ quản lý, giáo viên về nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý đổi mới hình thức chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ, với (1 £ X £ 3); n = 28.
- Kết quả khảo sát trên có thể thấy:
Nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp: Đa số CBQL và GV được hỏi ý kiến đều nhận thức rất cao về các BP quản lý đổi mới hình thức chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ. Điểm tổng hợp cho các biện pháp quản lý nêu trên ( X NT = 2,48 ) và biện pháp có điển nhận thức thấp nhất cũng ở mức ( X m i n =2,29); Các biện pháp được nhận thức quan trọng nhất là BP4 có ( X m a x = 2,73). Như vậy, việc đổi mới hình thức chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ được nhiều CBQL và GV quan tâm.
Đánh giá mức độ thực hiện: Đa số ý kiến cho rằng mức độ thực hiện ở các BP, phù hợp với tầm quan trọng của BP, điểm bình quân chỉ ở mức trung bình ( X TH 2,28, các biện pháp bị đánh giá chưa tốt là BP6: “Khuyến khích giáo viên sử dụng các phương tiện hiện đại trong việc thực hiện hoạt động chăm sóc trẻ” ( X TH=1,58.Cũng cần phải triển khai thực hiện tốt hơn là BP5: “Xây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp với tình hình thực tiễn, ưu tiên các ý tưởng sáng tạo” ( X TH=1,64).
Tính hệ số tương quan Spearman, có R = 0,66. Chứng tỏ mức độ nhận thức và thực hiện là tương quan chặt chẽ. Nghĩa là, các biện pháp được nhận thức quan trọng hơn thì cũng được triển khai thực hiện tốt hơn, tuy vậy mức độ thực hiện các BP chưa phù hợp với tầm quan trọng của nó, nhận thức được biện pháp là rất quan trọng nhưng chỉ thực hiện ở mức trung bình hoặc chưa tốt như BP 6 và 4 như trên biểu đồ sau: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Biểu đồ 2.10. Tương quan giữa mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý đổi mới hình thức chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ.
Để làm rõ mặt tồn tại trong thực hiện hai biện pháp 6 và 5, qua phỏng vấn GV, xin ý kiến chuyên gia chúng tôi tìm được nguyên nhân tồn tại của BP 6 “Khuyến khích giáo viên sử dụng các phương tiện hiện đại trong việc thực hiện hoạt động chăm sóc trẻ” như sau:
- Do thời gian làm việc của GVMN quá dài (8 – 10 tiếng/ngày) nên thời gian dành cho việc tìm tòi nghiên cứu đổi mới hình thức giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ rất hạn chế.
- Số trẻ đông hơn nhiều so với quy định nên giáo viên gặp nhiều khó khăn trong bao quát, hướng dẫn trẻ.
- Nhà trường chưa có chế độ thưởng phạt thích đáng cho những GV có ý thức, tích cực tìm tòi các hình thức giáo dục vệ sinh một cách sáng tạo.
Với biện pháp 5 “Xây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp với độ tuổi, ưu tiên các ý tưởng sáng tạo”, ngoài các nguyên nhân ở biện pháp 6 còn có thêm một vài nguyên nhân sau:
- Ngành học chưa có chuẩn đánh giá khâu vệ sinh theo độ tuổi.
- Việc kiểm tra, đánh giá chưa được thường xuyên, liên tục còn mang tính hình thức, chung
2.4.5. Thực trạng quản lý việc sắp xếp, sử dụng nhân lực thực hiện chăm sóc trẻ.
Trong công tác quản lý các trường Mầm non thì quản lý sắp xếp, sử dụng nhân lực thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng được nhà nước quan tâm – điều đó thể hiện rất rõ trong Thông tư liên tịch 06/2025/TTLT-BGDĐT-BNV quy định về danh mục khung vị trí việc làm trong các trường mầm non, vì vậy việc bố trí sắp xếp để đủ cô nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ thể hiện sự nghiêm túc thực hiện theo quy định và yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong các trường MN, tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường là cấp thiết. Để có số liệu đánh giá thực trạng quản lý việc sắp xếp, sử dụng nhân lực thực hiện hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ qua khảo sát ý kiến cán bộ quản lý, GV, NV về hoạt động này, kết quả thu được như sau: Bảng 2.8 Kết quả khảo sát đối với cán bộ quản lý, giáo viên: Nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý việc sắp xếp, sử dụng nhân lực thực hiện chăm sóc trẻ với (1 £ X £ 3); n = 28
- Qua kết quả khảo sát trên có thể thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp: Đa số CBQL và GV được hỏi ý kiến đều nhận thức cao về nhiệm vụ sắp xếp, sử dụng nhân lực thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Điểm tổng hợp cho các biện pháp quản lý nêu trên ( X NT = 2,57) và biện pháp có điểm nhận thức thấp nhất cũng ở mức ( X T H = 2,36); Các biện pháp được nhận thức quan trọng nhất là BP1 có ( X Max = 2,79). Như vậy, sắp xếp, sử dụng nhân lực thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được nhiều CBQL và GV quan tâm.
Đánh giá mức độ thực hiện: Đa số ý kiến cho rằng mức độ thực hiện ở các BP, phù hợp với tầm quan trọng của BP, điểm bình quân chỉ ở mức Trung bình ( X TH = 2,35), các biện pháp bị đánh giá chưa tốt là BP4: “Đảm bảo phân công nhiệm vụ cho GV, NV đúng chuyên môn được đào tạo, phù hợp với năng lực” ( X TH = 1,93). Cũng cần phải triển khai thực hiện tốt hơn là BP6: “Phân công nhiệm vụ cho GV, NV có xét đến yếu tố điều kiện, hoàn cảnh cá nhân” ( X TH = 1,96).
Tính hệ số tương quan spearman, có R = 0,62, chứng tỏ mức độ nhận thức và thực hiện là tương quan. Nghĩa là, các biện pháp được nhận thức quan trọng hơn thì cũng được triển khai thực hiện tốt hơn, tuy nhiên mức độ thực hiện các BP chưa phù hợp với tầm quan trọng của nó, nhận thức được biện pháp là rất quan trọng nhưng chỉ thực hiện ở mức trung bình hoặc chưa tốt như BP 4 và 6 như trên biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2.11 Tương quan giữa mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý sắp xếp sử dụng nhân lực thực hiện hoạt động CS trẻ.
Nhằm làm rõ tồn tại của hai biện pháp 4,6 qua quan sát, phỏng vấn, lấy ý kiến các chuyên gia đã cho những kết quả sau:
Hiện nay, trường mầm non Thực hành đã thực hiện phân công lao động theo Thông tư liên tịch 06/2025/TTLT-BGDĐT-BNV song điều kiện thực tiễn của nhà trường hiện có 03 giáo viên sinh và nuôi con nhỏ trong năm học, 02 giáo viên đang đi học nâng cao trình độ nên BP4 “GV, NV được phân công nhiệm vụ ổn định trong cả năm học” cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm đảm bảo mọi hoạt động diễn ra bình thường. Với BP6 “Phân công nhiệm vụ cho GV, NV có xét đến yếu tố điều kiện, hoàn cảnh cá nhân” CBQL trường mầm non Thực hành đã cân nhắc rất kỹ khi đưa ra quyết định phân công lao động, tuy nhiên do đội ngũ GV của nhà trường tuổi đời trung bình khá cao nên nhà trường còn gặp khó khăn trong việc phân công giáo viên đứng lớp đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
Chương 2 của luận văn đã trình bày thực trạng về chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, thực trạng về ĐNGV, thực trạng cơ sở vật chất trường mầm non Thực hành Đại học Hải Phòng giai đoạn 2022-2026. Qua đó ta nhận thấy:
Trong những năm gần đây công tác chăm sóc vệ sinh cho trẻ tại trường mầm non Thực hành đã được quan tâm, đầu tư, cơ bản đáp ứng được yêu cầu chăm sóc trẻ trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Tuy nhiên so với mặt bằng chung các trường mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng, kinh phí đầu tư cho công tác chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng cho trẻ của trường mầm non Thực hành còn hạn chế. Một số cơ sở vật chất cũ, hỏng chưa được thay thế kịp thời… Đội ngũ giáo viên tuổi đời cao, chưa được trẻ hóa, trình độ chuyên môn chưa thật chuẩn (đa số học tại chức, liên thông)…gây không ít khó khăn cho công tác chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng cho trẻ.
Giai đoạn 2022-2026, BGH trường mầm non Thực hành đã tích cực tham mưu với các cấp lãnh đạo nhằm đầu tư cải tạo cơ sở vật chất cho nhà trường, thực hiện đổi mới công tác chăm sóc vệ sinh cho trẻ và đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay, nhất là trong những năm tới để công tác chăm sóc vệ sinh cho trẻ đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay thì việc tìm kiếm, đề xuất biện pháp chăm sóc vệ sinh cho trẻ phù hợp với bối cảnh hiện nay là việc làm rất cần thiết. Qua việc nghiên cứu điều tra và tổng hợp đánh giá thực trạng chăm sóc vệ sinh cho trẻ ở chương 2, cùng với cơ sở lý luận ở chương 1 là căn cứ khoa học để tác giải đề xuất các biện pháp chăm sóc vệ sinh cho trẻ đáp ứng yêu cầu chăm sóc vệ sinh cho trẻ trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mầm non […]