Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục Khu vực 2, thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội
Khu vực 2, thành phố Thủ Đức ở phía đông của Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là Quận 9), nối liền địa bàn kinh tế trọng điểm, cách trung tâm thành phố khoảng 7 km theo đường xa lộ Hà Nội, có diện tích 113,896 km2, gồm 13 phường và là vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long, được xem là nơi thuận lợi trong phát triển những khu công nghiệp và du lịch sinh thái, kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao, Khu Công nghệ cao được thành lập ngày 24/10/2002, là một trong ba Khu Công nghệ cao quốc gia. Quá trình đô thị hóa phát triển, biểu hiện qua số lượng cơ sở kinh doanh, lao động, vốn đầu tư và quy mô kinh doanh, phát triển đô thị.
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân được đặc biệt chú trọng, chương trình mục tiêu y tế quốc gia hàng năm đều hoàn thành. Mạng lưới y tế không ngừng được kiện toàn; hiện trên địa bàn đã có 03 bệnh viện (Bệnh viện Lê Văn Việt, bệnh viện Quân dân Miền Đông và Bệnh viện Ung Bứu), 01 Trung tâm y tế dự phòng; mỗi phường đều có trạm y tế được đầu tư trang thiết bị thiết yếu và đội ngũ y, bác sĩ. Ngoài ra còn có các cơ sở y tế dân lập đã đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho Nhân dân.
Từ những dữ liệu nêu trên cho thấy Khu vực 2, thành phố Thủ Đức có những điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, hệ thống y tế, các hoạt động chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh cho trẻ được quan tâm. Đó là những yếu tố thuận lợi để chăm lo, phát triển giáo dục. Tuy nhiên, phát triển khu công nghiệp, đô thị dẫn tới dân cư đông, nhiều khu nhà trọ phục vụ dân nhập cư, tạm trú để làm việc ở khu công nghiệp gặp nhiều khó khăn khi mầm bệnh xuất hiện, phát triển, đặc biệt là tay chân miệng, sốt xuất huyết, thủy đậu, sởi… Công tác phòng chống sẽ gặp không ít những khó khăn.
2.1.2. Sơ lược về tình hình giáo dục và đào tạo bậc học mầm non trong Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Trong những năm qua, quy mô trường lớp các trường mầm non trên địa bàn Khu vực 2, thành phố Thủ Đức được đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất, hệ thống giáo dục mầm non được mở rộng và đa dạng hóa các loại hình với 20 trường mầm non công lập, 45 trường mầm non ngoài công lập, 84 nhóm trẻ. Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Khu vực 2, thành phố Thủ Đức cơ bản đã hoàn thiện mạng lưới trường lớp bố trí đều ở các khu vực dân cư. Chương trình chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho trẻ mầm non rất được quan tâm, 100% trẻ từ 0-6 tuổi đều được cấp bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh, trẻ đi học mầm non được Trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế khám tầm soát, kiểm tra sức khỏe ban đầu, hỗ trợ trường MN 10% kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ, góp phần thuận lợi cho công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non.
Hiện tại Khu vực 2, thành phố Thủ Đức đã có 08/20 trường mầm non công lập được công nhận đạt chuẩn Quốc gia, 19/20 trường đã được công nhận đạt chất lượng giáo dục. Duy trì 100% trẻ học 2 buổi/ngày và học bán trú 100% ở các trường mầm non, nhóm trẻ. Huy động trẻ 6 tuổi ra lớp 1 đạt 100% và đạt tỷ lệ chuyên cần trên 95%.
Bậc học mầm non Khu vực 2, thành phố Thủ Đức đã từng bước thực hiện phát triển Chương trình giáo dục mầm non với mục tiêu “lấy trẻ làm trung tâm”, thực hiện hiệu quả Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, có điều chỉnh kịp thời trong quá trình CSGD trẻ. Đội ngũ GV không ngừng đổi mới phương pháp CSGD trẻ, từng bước hiện đại hóa trong GDMN, chú trọng công tác CS-ND trẻ và thực hiện các chuyên đề “Đổi mới tổ chức bữa ăn của trẻ”; “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”.
Các cấp lãnh đạo như: Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng của Khu vực 2 thành phố Thủ Đức, luôn quan tâm và đầu tư hàng năm để ổn định và phát triển tốt. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các trường mầm non thực hiện phòng, chống dịch bệnh, nâng chất lượng CS-ND, giáo dục trẻ.
Tuy nhiên, qua quan sát thực tiễn, bên cạnh các kết quả đạt được vẫn còn đó những khó khăn vì tình hình dịch bệnh ở trẻ MN diễn biến phức tạp, dịch bệnh vẫn còn là nguy cơ rình rập, đe dọa tính mạng trẻ. Ngoài ra, chưa có công trình nghiên cứu về PCDB cho trẻ ở trường MN trên địa bàn. Điều này cho thấy vai trò lãnh đạo, quản lý của CBQL trường mầm non trong phòng, chống dịch bệnh cho trẻ là rất quan trọng, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Việc khảo sát nhằm đánh giá khách quan thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục và chăm sóc trẻ.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu, khách thể khảo sát
Mẫu khảo sát gồm 165 người được chọn bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, đại diện cho các loại khách thể là các trường mầm non: Chuẩn quốc gia, hạng 1 và hạng 2 trong tổng số 07 trường mầm non công lập khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể từng khách thể khảo sát được thể hiện rõ trong bảng số liệu dưới đây:
- Bảng 2.1. Mẫu khảo sát thực trạng
Khách thể khảo sát gồm 26 CBQL; 62 GVMN, 7 nhân viên y tế và 70 cha mẹ trẻ mầm non tại 7 trường MN nêu trên.
2.2.4. Công cụ khảo sát Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
- Công cụ khảo sát là 3 bảng hỏi dành cho 3 khách thể được cụ thể như sau:
Bảng hỏi 1 dành cho CBQL các trường MN công lập nêu trên. Nội dung bảng hỏi khảo sát đánh giá của CBQL về thực trạng thực hiện hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non; thực trạng thực hiện công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động PCBB cho trẻ tại các trường mầm non; (Phụ lục 1).
Bảng hỏi 2 dành cho GV, NVYT các trường MN công lập nêu trên. Nội dung bảng hỏi khảo sát về thực trạng thực hiện hoạt động PCDB cho trẻ tại các trường mầm non và nhận xét về thực trạng quản lý hoạt động PCDB cho trẻ tại các trường mầm non; thực trạng tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động PCDB cho trẻ tại các trường mầm non đang công tác. (Phụ lục 2).
Bảng hỏi 3 dành cho CMTE có con đang học tại các trường MN công lập nêu trên. Nội dung bảng hỏi bao gồm: phần thông tin chung về mối quan hệ với trẻ; nghề nghiệp của CMTE và phần khảo sát CMTE về thực trạng hoạt động PCDB cho trẻ tại các trường mầm non (Phụ lục 3).
2.2.5. Cách thức xử lý kết quả khảo sát và thang điểm đánh giá
- Mục đích: Xử lý số liệu thu thập được trong quá trình điều
- Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để tính điểm trung bình (ĐTB); độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm nghiệm ANOVA và xếp hạng (XH) trong khảo sát các biến.
Nghiên cứu sử dụng bảng khảo sát với các câu hỏi được xây dựng bằng thang đo khoảng cách với 5 mức độ. Ý nghĩa của từng khoảng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng cách (Interval Scale) năm mức độ được xem xét như sau:
Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (5 -1)/5 = 0,8
Bảng 2.2. Bảng quy ước các khoảng điểm đánh giá
2.3 Thực trạng hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế, cha mẹ trẻ về hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
- Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế, cha mẹ trẻ về tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ
Tác giả đã tiến hành khảo sát 26 CBQL, 62 giáo viên, 07 nhân viên y tế và 70 cha mẹ trẻ về nhận thức đối với tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức và thu được kết quả cụ thể trong bảng 2.3 dưới đây:
- Bảng 2.3. Nhận thức của CBQL, GV, NVYT và CMTE về tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non
Kết quả ở bảng trên cho thấy, cả bốn đối tượng được khảo sát (CBQL, GV, NVYT, CMTE) đều đánh giá tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non từ mức quan trọng đến mức rất quan trọng (ĐTB từ 3,49 đến 4,43). Điều này chứng tỏ rằng các lực lượng tham gia trong hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức đã nhận thức khá đầy đủ về tầm quan trọng của công tác này.
Bên cạnh đó, khi so sánh giữa bốn đối tượng được khảo sát cho thấy, NVYT là đối tượng đánh giá tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non cao nhất, thứ 2 là CBQL. Điều này cũng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ công tác trong thực tiễn ở trường mầm non.
Trong bốn tầm quan trọng nêu trên của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức thì tầm quan trọng “Phát hiện sớm, khống chế, ngăn chặn sự lây lan mầm bệnh truyền nhiễm, phòng biến chứng nguy hiểm, tổn thương ở trẻ” được đánh giá cao nhất (xếp hạng nhất ở cả bốn đối tượng khảo sát). Đây cũng chính là vai trò mà hoạt động này biểu hiện ra bên ngoài rõ ràng và thường xuyên nhất.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng cho thấy còn một bộ phận là CMTE chưa đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Đây cũng là yếu tố cần được cải thiện nhằm tạo nên tác động tổng lực trong việc thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ hiện nay.
- Thực trạng nhận thức về mục tiêu của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ
Để đánh giá thực trạng nhận thức của CBQL, GV và NVYT về mục tiêu của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, tác giả tiến hành khảo sát với bốn mục tiêu của hoạt động được trình bày cụ thể như sau:
- Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL, GV và NVYT về mục tiêu của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Kết quả ở bảng trên cho thấy, cả ba đối tượng được khảo sát (CBQL, GV, NVYT) đều đánh giá mục tiêu của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non từ mức quan trọng đến mức rất quan trọng (ĐTB từ 3,65 đến 4,43). Điều này chứng tỏ rằng các lực lượng tham gia trong hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức đã nhận thức khá đầy đủ về mục tiêu của công tác này.
Bên cạnh đó, khi so sánh giữa ba đối tượng được khảo sát cho thấy, NVYT là đối tượng đánh giá mục tiêu của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non ở mức cao nhất, thứ 2 là CBQL.
Trong bốn mục tiêu nêu trên của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức thì mục tiêu “Giám sát, phát hiện sớm, xử lý tốt các nguy cơ bùng phát dịch bệnh cho trẻ” được đánh giá cao nhất (xếp hạng nhất ở hai đối tượng khảo sát). Đây cũng chính là mục tiêu thường trực mỗi ngày trong các hoạt động của trẻ ở trường mầm non. Việc xác định đúng tầm quan trọng của các mục tiêu chính trong hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non chính là tiền đề để thực hiện hiệu quả công tác này.
2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ
Để đánh giá thực trạng thực hiện các nội dung của hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, tác giả tiến hành khảo sát với sáu nội dung của hoạt động được trình bày cụ thể như sau:
- Bảng 2.5. Thực trạng thực hiện nội dung hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
Kết quả trong bảng 2.5 cho thấy, các nội dung của hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thực hiện đạt dao động từ mức trung bình đến mức tốt (ĐTB từ 2,71 đến 4,39). Điều đó chứng tỏ các nội dung của hoạt động PCDB cho trẻ chưa được thực hiện đồng đều.
Xét theo đối tượng khảo sát, kết quả cho thấy nội dung “Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, thiết bị của phòng y tế để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh theo quy định” được GV và CMTE đánh giá cao nhất trong các nội dung. Trong khi đó, CBQL và NVYT đánh giá nội dung được thực hiện tốt nhất trong sáu nội dung của hoạt động PCDB là “Chăm sóc theo dõi sức khỏe trẻ, quản lý lịch tiêm chủng và hồ sơ theo dõi sức khỏe, nhật ký bệnh của trẻ”.
Xét theo nội dung khảo sát, kết quả cho thấy nội dung “Thực hiện các nội dung tư vấn cha mẹ trẻ cách phòng, chống các loại bệnh thường gặp ở trẻ (Tay chân, miệng, Sởi, sốt xuất huyết, đau mắt đỏ…).” là nội dung được thực hiện ở mức thấp nhất trong bảy nội dung (mức trung bình). Đây là cơ sở cần xem xét tăng cường hơn nữa trong quá trình nâng cao chất lượng của hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức hiện nay.
2.3.3. Thực trạng thực hiện phương pháp của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Để đánh giá thực trạng thực hiện các phương pháp của hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, tác giả tiến hành khảo sát với sáu phương pháp của hoạt động được trình bày cụ thể như sau:
- Bảng 2.6. Thực trạng thực hiện phương pháp của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
Kết quả trong bảng 2.6 cho thấy, các phương pháp của hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thực hiện đạt dao động từ mức yếu đến mức tốt (ĐTB từ 2,53 đến 4,24). Điều đó chứng tỏ các phương pháp của hoạt động PCDB cho trẻ chưa được thực hiện đồng đều.
Xét theo đối tượng khảo sát, kết quả cho thấy phương pháp “Theo dõi bệnh, giám sát phép bệnh; thực hiện khám sức khỏe định kỳ, lịch tiêm ngừa, theo dõi sức khỏe cho trẻ” được GV và NVYT đánh giá cao nhất trong các phương pháp của hoạt động PCDB. Trong khi đó, CBQL và CMTE đánh giá phương pháp được thực hiện tốt nhất là “Trao đổi trực tiếp với CMTE về cách đề phòng, phát hiện và cách xử trí khi trẻ có bệnh hoặc các bệnh thường gặp ở trẻ”.
Xét theo nội dung khảo sát, kết quả cho thấy các phương pháp liên quan đến công tác tuyên truyền và tập huấn về PCDB chưa được đánh giá cao, chỉ ở mức trung bình. Cụ thể phương pháp “Tuyên truyền đến cha mẹ trẻ cách phòng, xử trí các bệnh thường gặp ở trẻ qua trao đổi trực tiếp, bản tin, tờ bướm, zalo, fanpage” và “Tập huấn, hướng dẫn các kỹ năng: tầm soát, phát hiện, xử trí, phòng, chống dịch bệnh cho trẻ” là hai phương pháp được đánh giá chỉ đạt ở mức trung bình. Đây cũng là hai phương pháp được đánh giá thấp nhất trong sáu phương pháp được thực hiện trong công tác PCDB cho trẻ ở các trường MN khu vực 2, thành phố Thủ Đức hiện nay. Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
2.3.4. Thực trạng thực hiện hình thức hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ
Để đánh giá thực trạng thực hiện các hình thức của hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, tác giả tiến hành khảo sát với năm hình thức của hoạt động được trình bày cụ thể như sau:
- Bảng 2.7. Thực trạng thực hiện hình thức phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non
Kết quả trong bảng 2.7 cho thấy, các hình thức của hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thực hiện đạt dao động từ mức trung bình đến mức tốt (ĐTB từ 2,86 đến 4,57). Kết quả này cũng thể hiện các hình thức của hoạt động PCDB cho trẻ chưa được thực hiện đồng đều.
Xét theo đối tượng khảo sát, kết quả cho thấy hình thức “Toàn bộ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường tham gia thực hiện phòng, chống dịch bệnh cho trẻ” được CBQL, GV và NVYT đánh giá cao nhất trong các hình thức của hoạt động PCDB. Đây cũng là cơ sở mang lại tác động tổng hợp trong việc thực hiện hiệu quả công tác PCDB ở trường mầm non. Trong khi đó, CMTE đánh giá hình thức được thực hiện tốt nhất là “Phối, kết hợp với cha mẹ trẻ thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cho trẻ”. Điều này cũng có thể thấy trong các hình thức thì hình thức này là hình thức liên quan trực tiếp đến CMTE nhiều nhất.
Xét theo nội dung khảo sát, kết quả cho thấy các hình thức liên quan đến công tác tham mưu, phối hợp với trạm y tế, chính quyền địa phương trong PCDB chưa được đánh giá cao, từ mức trung bình đến mức khá. Cụ thể hình thức “Phối hợp với chính quyền địa phương, tổ dân phố tuyên truyền, thực hiện vệ sinh phòng dịch bệnh cho trẻ” và “Phối hợp trạm y tế thực hiện giám sát tình hình dịch bệnh và tiêm ngừa cho trẻ” là hai hình thức được đánh giá chỉ đạt ở mức từ trung bình đến khá. Đây cũng là hai hình thức được đánh giá thấp nhất trong năm hình thức được thực hiện trong công tác PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức hiện nay.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động PCDB của CBQL ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi về các khía cạnh như quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức của hoạt động PCDB đối với CBQL, GV và NVYT. Kết quả được thể hiện rõ ở bốn chỉ mục dưới đây.
2.4.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động PCDB của CBQL ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi về các khía cạnh như quản lý: tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức của hoạt động PCDB đối với CBQL, GV và NVYT. Kết quả được thể hiện rõ ở bốn chỉ mục dưới đây.
Kết quả khảo sát về thực trạng nhận thức tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thể hiện cụ thể trong bảng 2.8 như sau:
- Bảng 2.8. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non
Kết quả ở bảng trên cho thấy nhóm đối tượng: CBQL, GV, NVYT, CMTE đều đánh giá tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non từ mức quan trọng đến mức rất quan trọng (ĐTB từ 3,48 đến 4,57). Điều này cho thấy tất cả các lực lượng tham gia trong hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức đã nhận thức tốt tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động PCDB ở các trường MN.
Bên cạnh đó, khi so sánh giữa bốn đối tượng được khảo sát cho thấy, NVYT là đối tượng đánh giá tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non cao nhất, thứ 2 là CBQL. Điều này là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ công tác trong thực tiễn ở trường mầm non.
Trong bốn câu hỏi nêu trên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức thì tầm quan trọng “Kiểm soát, ngăn ngừa sự lây lan mầm dịch bệnh tại trường” được đánh giá cao nhất (xếp hạng nhất ở cả ba đối tượng khảo sát). Đây cũng chính là vai trò mà hoạt động này biểu hiện ra bên ngoài rõ ràng và thường xuyên nhất. Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Như vậy, nhìn chung các đối tượng tham gia trực tiếp trong quản lý hoạt động PCDB (CBQL, GV, NVYT) đều đã nhận thức rõ được vai trò quan trọng của quản lý hoạt động PCDB. Đây là tiền đề, cơ sở để nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý trong công tác PCDB ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức hiện nay.
2.4.2. Thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả khảo sát về thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thể hiện cụ thể trong bảng 2.9 như sau:
- Bảng 2.9. Thực trạng quản lý mục tiêu phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non
Nhìn chung, kết quả ở bảng trên cho thấy, các mục tiêu của hoạt động PCDB đã được quản lý đạt từ mức khá đến mức tốt (ĐTB từ 3,65 đến 4,31). Điều này chứng tỏ công tác quản lý mục tiêu hoạt động PCDB đã đạt được những kết quả khá tốt. Bên cạnh đó, việc quản lý các mục tiêu được CBQL, GV và NVYT đánh giá khác nhau.
Đối với CBQL và NVYT, quản lý mục tiêu “Xác định, quán triệt tầm quan trọng, mục tiêu cần đạt về phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường MN” được đánh giá cao nhất (ĐTB = 4,31 (mức tốt, CBQL) và 4,00 (mức khá, NVYT). Đối với GV thì quản lý mục tiêu “Theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,81 (mức khá). Đây cũng là những căn cứ để đánh giá được công tác quản lý về mục tiêu hoạt động PCDB của CBQL ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức hiện nay đang ở mức khá.
2.4.3 Thực trạng quản lý nội dung hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Kết quả khảo sát CBQL, GV, NVYT về thực trạng quản lý nội dung hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thể hiện cụ thể trong bảng 2.10 như sau:
- Bảng 2.10. Thực trạng quản lý nội dung phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non
Nhìn chung, kết quả ở bảng trên cho thấy, các nội dung của hoạt động PCDB đã được quản lý đạt từ mức trung bình đến mức tốt (ĐTB từ 2,97 đến 4,31). Bên cạnh đó, việc quản lý các nội dung được CBQL, GV và NVYT đánh giá khác nhau.
Đối với CBQL, quản lý nội dung “Chỉ đạo, phân công thực hiện lịch vệ sinh môi trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị để phòng dịch bệnh cho trẻ” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 4,31 (mức tốt). Đối với GV thì quản lý nội dung “Tổ chức triển khai thực hiện và kiểm tra nội dung giáo dục trẻ kỹ năng, ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân, môi trường để phòng bệnh” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,81 (mức khá). Trong khi đó, NVYT lại đánh giá quản lý nội dung “Phân công thực hiện, giám sát việc cân đo, theo dõi sức khỏe, lịch tiêm chủng của trẻ theo quy định” là cao nhất với ĐTB = 4,14 (mức khá). Đây cũng là những căn cứ để đánh giá được công tác quản lý về nội dung hoạt động PCDB ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức hiện nay đang ở mức khá.
Kết quả trên cũng cho thấy có sự chênh lệch về quản lý nội dung hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Trong đó, quản lý nội dung “Trang bị, bổ sung cơ sở vật chất, đồ dùng vệ sinh, dung dịch khử khuẩn phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ” chỉ mới dừng ở mức trung bình (theo đánh giá của GV, ĐTB = 2,97). Đây cũng chính là những khó khăn mà các trường mầm non còn gặp phải trong quá trình công tác. Việc trang bị, bổ sung cơ sở vật chất, đồ dùng vệ sinh… là hoạt động phụ thuộc nhiều vào nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách theo quy định và nguồn thu phục vụ vệ sinh phí.
2.4.4. Thực trạng quản lý phương pháp hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả khảo sát CBQL, GV, NVYT về thực trạng quản lý phương pháp hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thể hiện cụ thể trong bảng 2.11 như sau:
- Bảng 2.11. Thực trạng quản lý phương pháp hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non
Nhìn chung, kết quả ở bảng trên cho thấy, các phương pháp của hoạt động PCDB đã được quản lý đạt từ mức trung bình đến mức tốt (ĐTB từ 2,53 đến 4,46). Bên cạnh đó, việc quản lý các phương pháp được CBQL, GV và NVYT đánh giá khác nhau.
Đối với CBQL và NVYT, quản lý phương pháp “Tổ chức phân công, đôn đốc tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh tại trường” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 4,46 (mức tốt) (NVYT với ĐTB = 4,29). Đối với GV thì quản lý phương pháp “Triển khai phân công và kiểm tra lịch vệ sinh, khử khuẩn môi trường trong và ngoài lớp học, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo quy định” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,92 (mức khá).
Kết quả ở bảng trên cũng cho thấy có sự chênh lệch về quản lý phương pháp hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Trong đó, quản lý phương pháp “Mời chuyên gia tập huấn chuyên đề kỹ năng phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non cho đội ngũ” chỉ mới đạt ở mức trung bình (theo đánh giá của GV, ĐTB = 2,53). Điều này cũng cho thấy, quản lý phương pháp mời chuyên gia chưa được quản lý tốt ở các trường. Đây cũng là khó khăn mà đội ngũ CBQL ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức gặp phải, liên quan đến khó huy động kinh phí để tổ chức chuyên đề cũng như kinh phí mời chuyên gia dẫn đến việc quản lý phương pháp này trong công tác PCDB chưa được đánh giá cao.
2.4.5. Thực trạng quản lý hình thức hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Kết quả khảo sát CBQL, GV, NVYT về thực trạng quản lý hình thức hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức được thể hiện cụ thể trong bảng 2.12 như sau:
- Bảng 2.12. Thực trạng quản lý hình thức phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non
Nhìn chung, kết quả ở bảng trên cho thấy, các hình thức của hoạt động PCDB đã được quản lý đạt từ mức trung bình đến mức tốt (ĐTB từ 3,00 đến 4,42). Có sự đánh giá khá tương đồng giữa CBQL, GV và NVYT về thứ hạng của các hình thức.
Cả 3 đối tượng CBQL, GV, NVYT đều đánh giá hình thức “Huy động, đôn đốc toàn trường tham gia thực hiện kế hoạch phòng, chống dịch bệnh cho trẻ” đã được quản lý tốt.
Tuy nhiên, cũng còn có sự chênh lệch về quản lý hình thức hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Trong đó, quản lý hình thức “Kết hợp địa phương để huy động lực lượng vệ sinh môi trường phòng, chống dịch bệnh” được đánh giá mới chỉ đạt ở mức trung bình (theo đánh giá của GV, ĐTB = 3,00). Đây cũng là một trong những yếu tố cần được xem xét nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng trong công tác quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức.
2.5. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến quản lý hoạt động PCDB ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, tác giả tiến hành khảo sát với 13 tiêu chí và thu được kết quả cụ thể trong bảng 2.13 như sau:
- Bảng 2.13. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức
Nhìn chung, kết quả ở bảng trên cho thấy các yếu tố có mức độ ảnh hưởng từ mức ảnh hưởng đến mức rất ảnh hưởng đến quản lý hoạt động PCDB ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Kết quả kiểm nghiệm ANOVA cũng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa đánh giá của ba đối tượng khảo sát CBQL, GV, NVYT ở cả 13 tiêu chí khảo sát (Hệ số Sig lớn hơn 0,05). Điều này cho phép chúng ta sử dụng ĐTB chung của mẫu khảo sát với số lượng 95 để xem xét những yếu tố nào tác động mạnh nhất. Qua đó, rút ra những cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hơn hiệu quả của hoạt động PCDB ở trường mầm non. Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Trong các yếu tố trên, yếu tố “Nhận thức, năng lực của công nhân viên về thực hiện vệ sinh môi trường và đảm bảo chất lượng bữa ăn cho trẻ” là yếu tố tác động mạnh nhất đến quản lý hoạt động PCDB ở trường mầm non (ĐTB = 4,26). Yếu tố đứng thứ hai là yếu tố “Nhận thức của cha mẹ trẻ em về công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ trong trường mầm non” với ĐTB = 4,23. Cả hai yếu tố này đều “rất ảnh hưởng” đến quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Đây chính là những yếu tố cần được quan tâm hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng của quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non hiện nay.
Ngoài các yếu tố tác động nêu trên, theo góp ý thêm của GV và CBQL, CMTE từ phiếu khảo sát thì cần quan tâm hỗ trợ điều kiện hoạt động PCDB như: kinh phí phục vụ vệ sinh phòng dịch cần được bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện vệ sinh khử khuẩn cho lớp học, sân chơi trong trường mầm non để PCDB tốt hơn. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát xuất hiện nhiều ý kiến yếu tố sĩ số lớp học đông cũng ảnh hưởng đến quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Sĩ số lớp học tỉ lệ nghịch với hiệu quả PCDB cho trẻ ở trường mầm non. Qua quan sát thực trạng về sĩ số trẻ trong lớp học của các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức đang đông hơn so với quy định của Bộ GD-ĐT quy định tại Điều lệ trường mầm non năm 2020, thể hiện rõ trong bảng dưới đây:
- Bảng 2.14: Sĩ số trẻ thực tế ở lớp ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức
Bên cạnh đó, kết quả phỏng vấn sâu CBQL, GV và CMTE cũng cho thấy các ý kiến về những khó khăn gặp phải trong công tác PCDB ở trường mầm non tập trung vào vấn đề liên quan đến cơ cở vật chất và kinh phí dành cho công tác PCDB là chính. Đơn cử như ý kiến của 2 CBQL:“Kinh phí phục vụ vệ sinh phí ít, không đủ để phục vụ công tác vệ sinh phòng dịch nên gặp nhiều khó khăn trong hoạt động phòng dịch, cần cơ chế hỗ trợ” hay ý kiến của GV, NVYT: “Vật dụng, dung dịch khử khuẩn, xà phòng luôn thiếu hụt so với nhu cầu thực hiện vệ sinh, khử khuẩn để phòng dịch”; “Nên trang bị xà phòng, nước rửa tay nhiều hơn, nhất là các khu vực sân chơi, vườn trường…”. “Dung dịch rửa tay, sát khuẩn ở sân chơi, vườn trường chưa được bổ sung đầy đủ, kịp thời” – là ý kiến của một số CMTE
Thông qua kết quả thu được từ phỏng vấn sâu về các yếu tố ảnh hưởng đã bộc lộ thêm thực trạng về điều kiện hỗ trợ cho hoạt động PCDB ở trường MN khu vực 2, thành phố Thủ Đức, cụ thể: đa phần các ý kiến của CMTE và GV đều tập trung vào vấn đề liên quan đến việc giảm sĩ số ở các lớp học. Đơn cử với một số ý kiến cụ thể như: “Nếu sĩ số trẻ ít hơn thì sẽ tốt hơn trong phòng, chống dịch bệnh”; “Nên giảm sỉ số trẻ/lớp để chăm sóc và phòng dịch bệnh tốt hơn”
Kết quả phỏng vấn thu được từ giáo viên như:“Quá nhiều áp lực khi kiểm tra hoạt động phòng bệnh dịch cho trẻ (sợ bị khiển trách, cắt thi đua)”; “Lớp đông nên GV vất vả trong theo dõi, chăm sóc sức khỏe cho trẻ”; “Trẻ đông, nhiều việc, áp lực với các bệnh theo mùa ở trẻ”; “Áp lực khi kiểm tra phòng, chống dịch bệnh (bị khiển trách, trừ thi đua, không được động viên)”;“Cần có sự chia sẻ, động viên, khen thưởng để khích lệ tinh thần giáo viên, nhân viên trong hoạt động phòng, chống dịch bệnh”; “Mong được lãnh đạo quan tâm, động viên trong công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ”
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
2.6.1. Ưu điểm
CBQL, GV, NVYT, CMTE đều đã nhận thức đúng tầm quan trọng của hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
CBQL, GV, NVYT đã nhận thức đúng mục tiêu của hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh..
Công tác quản lý mục tiêu hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh của CBQL đã đạt được những kết quả khá tốt.
2.6.2. Hạn chế
Các nội dung của hoạt động PCDB cho trẻ chưa được thực hiện đồng đều. Đặc biệt, nội dung “Thực hiện các nội dung tư vấn cha mẹ trẻ cách phòng, chống các loại bệnh thường gặp ở trẻ (Tay chân, miệng, Sởi, sốt xuất huyết, đau mắt đỏ…)” là nội dung được thực hiện ở mức thấp nhất trong sáu nội dung (mức trung bình).
Các phương pháp của hoạt động PCDB cho trẻ chưa được thực hiện đồng đều. Đặc biệt là phương pháp “Tuyên truyền đến cha mẹ trẻ cách phòng, xử trí các bệnh thường gặp ở trẻ qua trao đổi trực tiếp, bản tin, tờ bướm, zalo, fanpage” và “Tập huấn, hướng dẫn kỹ năng: tầm soát, phát hiện, xử trí, phòng, chống dịch bệnh cho trẻ” là hai phương pháp được đánh giá chỉ đạt ở mức trung bình.
Các hình thức của hoạt động PCDB cho trẻ chưa được thực hiện đồng đều. Đặc biệt là hình thức “Tham mưu, phối hợp với chính quyền địa phương, tổ dân phố tuyên truyền, thực hiện vệ sinh phòng dịch bệnh cho trẻ” và “Phối hợp trạm y tế thực hiện giám sát tình hình dịch bệnh và tiêm ngừa cho trẻ” là hai hình thức được đánh giá chỉ đạt ở mức từ trung bình đến khá.
Quản lý nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức của CBQL còn chưa đạt kết quả tốt ở một số vấn đề như:
Quản lý nội dung “Trang bị, bổ sung cơ sở vật chất, đồ dùng vệ sinh, dung dịch khử khuẩn phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ” chỉ mới dừng ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Quản lý phương pháp “Mời chuyên gia tập huấn chuyên đề kỹ năng phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non cho đội ngũ sư phạm” chỉ mới đạt ở mức trung bình.
Quản lý hình thức “Kết hợp địa phương để huy động lực lượng vệ sinh môi trường phòng, chống dịch bệnh” được đánh giá mới chỉ đạt ở mức trung bình.
Công tác kiểm tra-đánh giá trong quản lý phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức cũng mới đạt ở mức khá.
Về điều kiện hỗ trợ hoạt động chống dịch bệnh: sĩ số trẻ/ lớp còn đông so với quy định, gây khó khăn áp lực cho GV, NV. Xuất hiện nhu cầu cần được quan tâm, động viên trong công tác PCDB ở trường MN khu vực 2, thành phố Thủ Đức.
2.6.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Giáo viên chưa được tham gia tập huấn nhiều về kiến thức, kỹ năng PCDB cho trẻ ở trường mầm non, đặc biệt là kỹ năng tư vấn, tuyên truyền với CMTE. Vì thế các nội dung, phương pháp liên quan đến công tác tư vấn, tuyên truyền của nhà trường nói chung và của giáo viên nói riêng còn chưa được thực hiện tốt.
Trường MN còn gặp nhiều khó khăn trong bố trí nguồn lực cũng như tài chính cho hoạt động PCDB cho trẻ. Nguồn kinh phí hạn hẹp sẽ tạo nên khó khăn cho CBQL trong quá trình triển khai, quản lý hoạt động PCBD nói chung và trong việc quản lý nội dung, hình thức, phương pháp PCDB nói riêng.
Sĩ số lớp học đông và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động PCDB chưa đảm bảo, chưa đáp ứng đầy đủ cho hoạt động; Sự phối hợp giữa nhà trường với trạm y tế, chính quyền địa phương chưa được chặt chẽ cũng là nguyên nhân làm cho hoạt động PCDB chưa đạt hiệu quả cao; Công tác kiểm tra – đánh giá đạt mức khá.
Ngoài ra, một số CMTE chưa thực sự quan tâm đến việc PCDB cho trẻ, chưa nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của PCDB cho trẻ cũng là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Qua quá trình khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong chương 2 của Luận văn để làm rõ hai nội dung chính là thực trạng hoạt động PCDB và thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ. Trên cơ sở đó, định hướng của cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường MN. Luận văn đã cho thấy và đánh giá được những ưu điểm, hạn chế, nhất là những nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả nhận thấy:
Về thực trạng PCDB: Đa số CBQL, GV, NVYT đã nhận thức đúng tầm quan trọng, mục tiêu của hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non; Các trường MN khu vực 2, thành phố Thủ Đức đều đã quan tâm thực hiện PCDB cho trẻ với nhiều nội dung, hình thức và phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn cho thấy có sự chênh lệch giữa việc thực hiện nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động PCDB cho trẻ.
Về thực trạng quản lý PCDB: Nhìn chung các nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động PCDB đã được quản lý khá tốt. Tuy nhiên, cũng còn tồn tại, hạn chế trong việc quản lý ở một số nội dung, phương pháp và hình thức. Cụ thể: nội dung “Trang bị, bổ sung cơ sở vật chất, đồ dùng vệ sinh, dung dịch khử khuẩn phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ”; phương pháp“Mời chuyên gia tập huấn chuyên đề kỹ năng phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non cho đội ngũ sư phạm”; hình thức “Kết hợp địa phương để huy động lực lượng vệ sinh môi trường phòng, chống dịch bệnh”;
Về thực trạng điều kiện hỗ trợ để phục vụ hoat động PCDB cho giáo viên, nhân viên cần được quan tâm điều chỉnh cho tốt hơn;
Công tác kiểm tra – đánh giá hoat động PCDB ở mức khá cần có biện pháp tác động để tốt hơn
Kết quả nghiên cứu trong Chương 2 chính là cơ sở thực tiễn, là căn cứ để tác giả đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện và quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức trong Chương 3. Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

