Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng tại Thành Phố Hồ Chí Minh Hiện Nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đất nước vừa giành được độc lập lại đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước, ngày 26 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng để khích lệ tinh thần quân dân. Ngày 11 tháng 6 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ra lời kêu gọi và phát động phong trào Thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Qua thực tiễn hoạt động cách mạng và xây dựng đất nước, chúng ta có khẳng định thành quả to lớn trong bảo vệ và xây dựng tổ quốc của cách mạng Việt Nam gắn liền với việc tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua ái quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước có nền chính trị ổn định, an ninh quốc phòng vững chắc, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, giao lưu mở rộng hợp tác với bạn bè quốc tế và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng. Song, phong trào thi đua ái quốc và công tác thi đua, khen thưởng trên toàn quốc nói chung và điển hình là tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vẫn hết sức thiết thực và cần thiết.
Sau thời kỳ đổi mới, Bộ Chính trị đã có các chỉ thị về công tác thi đua, khen thưởng, nhất là chỉ thị 39-CT/TW ngày 21 tháng 5 năm 2017 về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, thể hiện sự quan tâm sâu sắc và sự thống nhất trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác này. Hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy về công tác thi đua, khen thưởng được triển khai và ban hành trên mọi lĩnh vực ngành nghề, từ cấp trung ương cho đến địa phương. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Tuy nhiên, để vận hành được bộ máy thi đua khen thưởng phải có một lực lượng cán bộ có năng lực và phẩm chất tốt. Tại Kết luận số 83-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, đã chỉ ra các nhiệm vụ chính yếu đáp ứng cho công tác thi đua, khen thưởng hiện nay đã đề cập đến vấn đề tổ chức, bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng: “có kế hoạch tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chỉ thị số 06/CT về tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước năm 2025, trong đó có các nội dung đề cập đến tính cấp thiết của công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng: “Nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng và công tác tham mưu đề xuất của tổ chức bộ máy và CB TĐKT, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện phong trào thi đua, công tác khen thưởng trong giai đoạn mới”.
Những năm qua công tác bồi dưỡng CB TĐKT của TP.HCM, tuy đã được quan tâm thực hiện, song nhìn chung kết quả chưa được như mong muốn và còn nhiều bất cập về khâu quản lý, nhất là khâu xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch, công tác đảm bảo, đội ngũ giáo viên, hình thức và phương pháp bồi dưỡng… Thực tiễn đó đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi đua khen thưởng của Thành phố, điều đó đã thúc đẩy chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT Thành phố Hồ Chí Minh ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, đây là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa, giá trị thực tiễn và chưa có công trình nào nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên thế giới: Vấn đề cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng Cộng sản đã được V.I.Lênin khái quát: “Trong lịch sử chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng lãnh đạo và tổ chức phong trào”. Trong cách mạng vô sản, khi giành được chính quyền Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cán bộ của Đảng càng có vai trò quan trọng. Từ thực tiễn xây dựng cán bộ của Đảng trong những năm đầu chính quyền Xô viết non trẻ, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm ra những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là vấn đề then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”.
Trong lao động sản xuất, con người không thể không có tính liên kết, hợp tác cùng nhau thực hiện một mục tiêu cùng hướng giữa các cá nhân trong cùng một tập thể, giữa các tập thể với nhau; trong mối quan hệ hợp tác đó, là điều kiện tất yếu để hình thành tính thi đua trong từng mỗi cá nhân và tập thể. Vì vậy thi đua là một hiện tượng thực tế xã hội khách quan, tính thi đua tồn tại trong mỗi cá nhân con người. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
V.I.Lê-nin đã chỉ ra rằng thi đua có tính tự phát trong quá trình hiệp tác lao động có “sự tiếp xúc xã hội” của con người sẽ thay đổi về chất trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Thi đua và cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, song, thi đua hơn hẳn cạnh tranh ở tính nhân đạo vì sự phát triển toàn diện của xã hội và con người. Nhiệm vụ của Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô viết là phải tổ chức các phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa để phát huy tính tháo vát, tinh thần thi đua, óc sáng tạo của đông đảo quần chúng nhân dân trên quy mô thật sự to lớn. Phải đưa những cán bộ ưu tú vào tổ chức, lãnh đạo phong trào thi đua.
Trong quá trình tổ chức, phát động phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô viết sẽ phát hiện ra những nhân tài thực sự để đề bạt vào những chức vụ cao trong bộ máy quản lý của Nhà nước. Do đó, có thể thấy, công tác cán bộ, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho phong trào thi đua là một trong những yếu tố tiên quyết để hình thành và phát động phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ.
Việc tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa có xét đến đặc điểm các loại lao động, lợi ích, nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích nghề nghiệp của người lao động. Trong thế giới hiện đại, thi đua xã hội chủ nghĩa không tách rời cách mạng khoa học – công nghệ mà bao trùm tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Vì thế, thành phần xã hội của những người tham gia thi đua cũng trở nên đa dạng. Mô hình của Liên Xô trước đây được xem là một thí dụ điển hình trong việc tổ chức các phong trào thi đua khen thưởng. Thi đua xã hội chủ nghĩa đã thực sự là một động lực thúc đẩy Liên Xô phát triển thành một siêu cường trên thế giới. Đến khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở đó bị lâm vào khủng hoảng, thì cũng là lúc, thi đua xã hội chủ nghĩa bị xem thường và trở nên hình thức, sinh ra nhiều tiêu cực. Đây được xem như một bài học đối với việc tổ chức phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng ở nước ta hiện nay.
Việt Nam: Thấm nhuần tư tưởng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin về cán bộ và vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của người cán bộ cách mạng; ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ của Đảng. Với tư tưởng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Người đã trực tiếp mở trường đào tạo cán bộ và trực tiếp giảng dạy, huấn luyện cán bộ, đào tạo cán bộ cách mạng tiền bối của Đảng ta.
Thực tiễn Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã chứng minh, thắng lợi là do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đào tạo, bồi dưỡng được cán bộ, đảng viên có đủ năng lực tổ chức, lãnh đạo nhân dân tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Khi đất nước rơi vào tình thế vô cùng khó khăn, “ngàn cân treo sợi tóc” bởi nạn thù trong, giặc ngoài: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Hồ Chí Minh xác định: để giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, khâu then chốt là xây dựng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Vì vậy, ngay sau khi chính quyền mới được thành lập, Người đã quan tâm đến việc chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn cán bộ. Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh chỉ rõ: với tư cách là người lãnh đạo, cán bộ chính là những “mưu sĩ” của Đảng, người “đầy tớ” của nhân dân, chứ không phải là làm “quan cách mạng”. Người viết: “Cán bộ là những người đem chủ trương, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – người khởi xướng và phát triển phong trào thi đua ái quốc, vận dụng nghệ thuật khen thưởng, tuyên dương, bồi dưỡng và nhân rộng gương điển hình tiên tiến nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích và đoàn kết mọi cá nhân, tập thể trong xã hội để phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng con người mới, năng động, sáng tạo vươn lên, khắc phục khó khắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu vận dụng sáng tạo những tư tưởng, quan điểm về phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa của V.I Lê-nin để hình thành và tổ chức phong trào thi đua tại Việt Nam với tên gọi là thi đua ái quốc. Một trong những vấn đề cơ bản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm và chỉ đạo là công tác chuẩn bị cho phong trào thi đua ái quốc: “Về phong trào thi đua ái quốc, tôi đồng ý với cụ là cần phải có cán bộ được huấn luyện hẳn hoi”, đây là thư gửi cụ Tôn Đức Thắng, Trưởng ban Trung ương vận động thi đua ái quốc, bức thư được viết vào tháng 11 năm 1948, sau 05 tháng Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc. Điều đó cho thấy vấn đề cán bộ thi đua nói chung và bồi dưỡng cán bộ thi đua nói riêng là một trong những yêu cầu tiên quyết để hình thành, phát động và đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc và công tác khen thưởng. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, năng lực cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng nói riêng từ trước đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đây cũng là lĩnh vực được chọn làm đề tài nghiên cứu của các chuyên ngành về quản lý giáo dục, công tác cán bộ và công tác quản lý hành chính. Có thể đưa ra một số công trình, đề tài và bài viết tiêu biểu của các tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn này.
- Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ: Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trong tiến trình cải cách hành chính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015.
- Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016.
- Lê Chi Mai: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở – vấn đề và giải pháp (Tạp chí Cộng sản số 20/2015).
- Bùi Thiện Tích: Đảm bảo nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị ở TP.HCM đến năm 2018, TP.HCM, 2015.
- Lê Thị Vân Hạnh: Đào tạo, bồi dưỡng công chức để nâng cao năng lực thực thi (Tạp chí quản lý nhà nước số 103/2017).
- Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” của Trần Thị Hà, Ban TĐKT Trung ương, Bộ Nội vụ, năm 2026.
Những tài liệu trên của các tác giả đã khái quát các kiến thức về công tác tổ chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và kiến thức về quản lý giáo dục, là một trong những nền tảng, cơ sở lý luận để chúng tôi kế thừa, làm điểm tựa lý luận trong nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM.
- Trong ngành thi đua, khen thưởng
Các công trình và các bài viết trên đã đề cập ít nhiều đến việc bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào đề cập – nghiên cứu cụ thể đến vấn đề bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM trong giai đoạn hiện nay.
- Làm rõ những vấn đề lý luận quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý quá trình bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM hiện nay.
- Đề xuất biện pháp quản lý quá trình bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT tại TP.HCM trong khoảng thời gian 05 năm, từ năm 2021 đến năm 2025.
5. Giải thuyết khoa học
Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan công quyền nói chung, cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Song, nếu các chủ thể quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trách nhiệm; các văn bản, quy chế, quy định thường xuyên được xây dựng và hoàn thiện; hoạt động quản lý được kế hoạch hóa một cách khoa học, các nội dung và phương pháp quản lý luôn được thực hiện và đổi mới, phát huy tinh thần tự bồi dưỡng của cán bộ thi đua, khen thưởng …thì hoạt động bồi dưỡng cán bộ thi đua, khen thưởng ngày càng hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng công tác khen thưởng và phong trào thi đua ái quốc tại TP.HCM hiện nay.
6. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, quản lý giáo dục và phong trào thi đua yêu nước. Đồng thời vận dụng các quan điểm hệ thống, cấu trúc, lôgíc, lịch sử và quan điểm thực tiễn để xem xét, phân tích những vấn đề liên quan.
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để hoàn thành đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lý luận liên quan đến đề tài như: một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản pháp luật của Nhà nước, quy chế, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Ban TĐKT Trung ương và quản lý bồi dưỡng cán bộ, công chức; Luật Giáo dục; Luật Công chức; Luật TĐKT và các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý và quản lý giáo dục; các công trình nghiên cứu, báo khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Khảo sát bằng phiếu điều tra về những nội dung liên quan đến đề tài đối với 150 CB TĐKT; đồng thời xin ý kiến 20 cán bộ chủ chốt đang làm công tác quản lý Nhà nước về thi đua, khen thưởng.
Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động bồi dưỡng các bộ làm công tác thi đua, khen thưởng tại TP.HCM, theo dõi thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ thông qua dự giờ các buổi tập huấn, tìm hiểu cơ quan quản lý điều hành hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT; tham quan, tìm hiểu chất lượng cán bộ ở các đơn vị tỉnh thành bạn.
Phương pháp tọa đàm, trao đổi: Trực tiếp trao đổi với một số CB TĐKT ở các cấp và các cán bộ công tác tại cơ quan quản lý công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh, thành và trung ương (Ban TĐKT), để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia có trình độ cao và có kinh nghiệm về quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT để xác định tính cần thiết, tính khả thi của biện pháp đề xuất.
- Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng phương pháp toán thống kê để phân tích, xử lý các thông tin, số liệu thu được từ các phương pháp cụ thể.
7. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thi đua, khen thưởng tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay; đồng thời đề xuất các biện pháp cơ bản có tính khả thi nhằm bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và nhân rộng ra trên cả nước nói chung. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
8. Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm: Mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng Cán bộ
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”.
Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị – xã hội. Tuy nhiên, để xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì từ trước đến nay chưa có văn bản nào quy định chính thức. Thuật ngữ “công chức”, “viên chức” thường được hiểu một cách khái quát là những người được Nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do Nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ Nhà nước theo các quy định của pháp luật.
Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ, công chức được ban hành năm 2021, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức. Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ như Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật Bình đẳng giới; Luật Giáo dục;…..) đều có những điều, khoản sử dụng các thuật ngữ”cán bộ”, “công chức”, “viên chức”, nhưng chưa có một văn bản luật nào giải thích các thuật ngữ này. Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức luôn có sự liên thông với nhau. Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội. Với điểm đặc thù này, việc nghiên cứu để xác định rõ cán bộ; công chức; viên chức một cách triệt để rất khó và phức tạp. Trong đời sống xã hội, từ lâu thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng rộng rãi nhưng không theo một quy định nào. “Cán bộ” không chỉ để gọi những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị – xã hội mà còn được sử dụng cả trong các hoạt động sự nghiệp như “cán bộ y tế”, “cán bộ coi thi”, “cán bộ dân phố”… Tương tự, cụm từ “công chức” và “viên chức” cũng vậy. Có khi người ta sử dụng luôn cả cụm từ “cán bộ, công chức, viên chức” để chỉ chung những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.
Cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng CB TĐKT có thể được hiểu là những người làm việc trong các cơ quản của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị – xã hội và các đơn vị sự nghiệp được phân công nhiệm vụ về công tác thi đua, khen thưởng. Xét về mặt tổ chức, biên chế, cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng hiện nay bao gồm cán bộ chuyên trách, cán bộ bán chuyên trách và cán bộ kiêm nhiệm. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
CB TĐKT là người được Đảng và Nhà nước phân công thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến những chức năng quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận số 83-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, đã ra một số nhiệm vụ chính yếu đáp ứng cho công tác thi đua, khen thưởng hiện nay đã đề cập đến vấn đề tổ chức, bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng: “có kế hoạch tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”.
- Tiêu chuẩn cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Căn cứ vào tiêu chuẩn chung cho cán bộ mà Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII đó xác định và những bổ sung của Nghị quyết Trung ương 9, khóa X, là: “ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao”. Ngoài những yêu cầu trên, cần bổ sung tiêu chuẩn về (trình độ ngoại ngữ, luật pháp, tin học; khả năng tiếp cận, nắm bắt và xử lý những vấn đề mới; về khả năng đoàn kết, quy tụ, hội nhập; phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm).
Căn cứ vào từng chức danh, từng nhiệm vụ chung, cụ thể, đặc thù của Ngành thi đua, khen thưởng mà xây dựng tiêu chuẩn cụ thể. Ngoài yêu cầu chung, đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý hay cán bộ, công chức chuyên trách của từng cấp làm công tác thi đua khen thưởng cũng cần phải có những yêu cầu riêng về từng mặt kỹ năng. Ví dụ: Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung ương, các bộ, ban, ngành, thì chú trọng khả năng tư duy chiến lược, kỹ năng hoạch định (tầm nhìn); còn CB TĐKT cấp quận, huyện hay xã, phường, thị trấn và cơ sở lại chú trọng vào kỹ năng thực tiễn như tổ chức thực hiện, tuyên truyền, vận động, thuyết phục, soạn thảo văn bản vận dụng cụ thể hóa hoặc áp dụng cơ chế chính sách…
Hiện nay, thực hiện cuộc Vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Ban TĐKT Trung ương đang có kế hoạch và dự định xây dựng chuẩn mực đạo đức cán bộ ngành thi đua, khen thưởng là “tận tụy, sáng tạo và gương mẫu”.
Ngoài ra, theo yêu cầu công việc, người CB TĐKT còn phải có trình độ chính trị, chuyên môn, năng lực tham mưu, chỉ đạo và khả năng tiếp thu, tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về phong trào thi đua và công tác khen thưởng. Có kiến thức trên nhiều lĩnh vực, kỹ năng tổ chức phong trào thi đua và nghiệp vụ công tác khen thưởng, có trình độ ngoại ngữ, tin học phù hợp với lĩnh vực công tác.
1.1.2. Bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng Bồi dưỡng Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
- Theo Nguyễn Như Ý (chủ biên) Đại từ điển tiếng Việt – NXB Văn hóa
Thông tin năm 1999: Bồi dưỡng: 1. Làm khoẻ thêm, mạnh thêm, bồi dưỡng sức khoẻ. 2. Làm cho tốt hơn, giỏi hơn, bồi dưỡng đạo đức, bồi dưỡng nghiệp vụ. Theo các khái niệm về bồi dưỡng được quy định trong các văn bản của Chính phủ, cụm từ “Bồi dưỡng cán bộ” có nghĩa là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc; “Bồi dưỡng theo vị trí việc làm” là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao. Bồi dưỡng là quá trình hoạt động làm tăng thêm kiến thức mới cho những người đang giữ chức vụ, đang thực thi công việc của một ngạch, bậc nhất định để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao. Khối lượng kiến thức, kỹ năng được quy định tại các chương trình, tài liệu phải phù hợp với từng đối tượng cán bộ, công chức. Kết quả của các khoá bồi dưỡng, người học sẽ nhận được chứng chỉ ghi nhận kết quả như: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên hoặc bồi dưỡng chuyên đề, công tác chuyên môn, tập huấn nghiệp vụ. Như vậy, có thể khái quát khái niệm bồi dưỡng cán bộ, công chức là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được Nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức thực hiện.
- Bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng, đó chính là truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm về công tác quản lý, triển khai tổ chức các phong trào thi đua và kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện, áp dụng chính xác các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về công tác khen thưởng.
- Phương thức bồi dưỡng
Từ năm 2025, Ban TĐKT Trung ương đã có quyết định thành lập Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi đua, khen thưởng với chức năng và nhiệm vụ chính là đào tạo, bồi dưỡng tập huấn cho CB TĐKT trên cả nước, ngoài ra không có cơ sở đào tạo, trường học nào dạy chuyên ngành về công tác thi đua, khen thưởng. Đồng thời, do đặc thù của công tác thi đua, khen thưởng, cán bộ phải kiêm nhiệm công tác khác hoặc do số lượng cán bộ chuyên trách ít nên phương thức đào tạo cần phải đa dạng, phù hợp với điều kiện của từng đối tượng. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Bồi dưỡng, tập huấn từng chuyên đề: dành cho những nội dung mang tính chuyên sâu, cần tập trung tổ chức triển khai những chỉ thị và quy định mới. Ví dụ: Phong trào cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới, triển khai Nghị định số 39/2025/NĐ-CP ngày 27/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ, bổ sung và quy định một số nội dung về công tác thi đua, khen thưởng, công tác khen thưởng thành tích kháng chiến… Phương thức bồi dưỡng này có thể áp dụng cho rộng rãi CB TĐKT ở cơ sở khi cần thiết.
Bồi dưỡng, tập huấn định kỳ: thường được tổ chức hằng năm để triển khai chương trình công tác năm của Hội đồng TĐKT các cấp và cụm khối thi đua thuộc thành phố, nhằm thông tin những quan điểm chỉ đạo mới và hướng dẫn những nội dung hoạt động trọng tâm.
Bồi dưỡng, tập huấn theo yêu cầu của cơ sở: thường được tổ chức hằng năm theo yêu cầu, đề nghị của từng đơn vị cơ sở, nhằm giúp các đơn vị nhằm hướng dẫn chung cho các cán bộ phụ trách công tác thi đua, khen thưởng và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại cơ sở được biết.
- Đối tượng được bồi dưỡng
Tất cả CB TĐKT, cán bộ là lãnh đạo Hội đồng TĐKT từ cấp phường, xã, thị trấn trở lên.
CB TĐKT cấp thành phố, cấp quận, huyện, sở, ban, ngành, đoàn thể thành phố, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố và cấp tương đương là đối tượng trực tiếp để nhận các nội dung học tập bồi dưỡng.
- Giảng viên (báo cáo viên) các lớp bồi dưỡng
Giảng viên (báo cáo viên) tham gia giảng dạy ở các lớp bồi dưỡng CB TĐKT là những người phối hợp với người học trong việc thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy để truyền đạt kiến thức, hướng dẫn người học rèn luyện kỹ năng để thực hiện mục tiêu bồi dưỡng. Nếu giảng viên (báo cáo viên) có trình độ tri thức cao, kết hợp với nội dung chương trình, giáo trình và tài liệu bồi dưỡng phù hợp, với phương pháp bồi dưỡng tiên tiến thì chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng ngày càng được nâng cao.
Lực lượng tham gia bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng Việc bồi dưỡng CB TĐKT không phải là nhiệm vụ đơn lẻ của bất kỳ một bộ phận nào mà đó là sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa tất cả các đơn vị, cá nhân trong cơ quan, đoàn thể, từ thủ trưởng cơ quan đến các bộ phận tham mưu theo chức năng được phân công.
- Các lực lượng tham gia vào hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT bao gồm:
Các cơ quan thuộc Ban TĐKT Trung ương chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với các cơ sở giáo dục đào tạo trực thuộc Trung ương. Các đơn vị chức năng được Ban TĐKT Trung ương phân công lập kế hoạch và triển khai thực hiện hoạt động bồi dưỡng. Toàn thể đội ngũ tham gia công tác phong trào, cả CB TĐKT và kiêm nghiệm.
Các tổ chức, cơ quan làm công tác thi đua, khen thưởng các cấp tham gia công tác tuyên truyền, hỗ trợ và tổ chức các hoạt động thể phục vụ công tác bồi dưỡng.
Cán bộ nói chung và CB TĐKT nói riêng luôn có nhu cầu thường xuyên được cập nhật những kiến thức, những thông tin mới về văn bản quy phạm pháp luật, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và thế giới… đòi hỏi tăng cường công tác bồi dưỡng, đặt công tác này ngang tầm với công tác đào tạo. Để đẩy mạnh công tác bồi dưỡng trong những năm tới, cơ quan làm công tác thi đua ,khen thưởng các cấp cần đánh giá toàn diện, chính xác nhu cầu bồi dưỡng cán bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình, loại hình bồi dưỡng đến những tri thức, kỹ năng và phân bổ thời gian phù hợp… Đó là những cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch mở các lớp bồi dưỡng về lý luận chính trị, cập nhật kiến thức, lý luận nghiệp vụ công tác thi đua, khen thưởng, bồi dưỡng theo chức danh… cho cán bộ chuyên trách, cán bộ kiêm nhiệm. Nhận thức đầy đủ các vấn đề trên, tạo điều kiện để nghiên cứu làm rõ công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
1.1.3. Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
- Quản lý
Thuật ngữ “quản lý” đã có từ rất xa xưa; sự tiến hóa của các tư tưởng quản lý từ thời tiền sử đến những năm gần đây người ta mới chú ý đến tính khoa học của quá trình quản lý và dần hình thành nên các “lí thuyết” về khoa học quản lý.
Những tư tưởng quản lý cận đại đã sớm nhận ra tầm quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực và nó vẫn còn có giá trị thực tiễn cho quản lý hiện nay. Các quan điểm truyền thống hay các học thuyết quản lý cổ điển ra đời trong nền văn minh công nghiệp, hiện vẫn đang tồn tại có giá trị thực tiễn rất lớn trong giai đoạn đang chuyển đổi hiện nay.
Đó là thuyết khoa học của Frederick Winslow Taylor xây dựng một khoa học về quản lý dựa trên bốn nguyên tắc quản lý. Việc hợp lí hóa lao động đã mang lại hiệu quả cao, việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ giúp thuộc cấp hoàn thành nhiệm vụ của họ, việc tuyển chọn và huấn luyện đội ngũ là yếu tố quyết định thành công trong quản lý.
Đó là học thuyết của Henri Fayol với học thuyết quản lý tổng quát, ông đã đóng góp to lớn vào sự phát triển lí luận quản lý; những nguyên tắc quản lý ông đưa ra mang tính phổ quát cao, rất quí báu cho công tác quản lý ngày nay.
Ngoài ra còn có các quan điểm hệ thống, quan điểm tình huống và một số thuyết đương đại khác đều quan tâm đến quản lý và hoạt động quản lý như thế nào ở từng giai đoạn khác nhau. Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn nhân lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích.
Quản lý là một hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội và con người; xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn. Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về quản lý. Quản lý là gì? Sau đây là một số khái niệm cơ bản về quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt: Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Theo Các Mác: “Bất cứ lao động chung nào mà tiến hành trên qui mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
F.W.Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó cho thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Còn H.Koontz thì cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý” gồm hai quá trình tích hợp lại với nhau, gắn kết với nhau. “Quản” là sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”. “Lí” là sự sửa sang sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”. Quản lý là ổn định và phát triển hệ thống.
Còn theo giáo trình của Học viện chính trị Quốc gia (1998) “Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động”; như vậy quản lý bao hàm cả tri thức và lao động. Giá trị của quản lý bằng tri thức và lao động cộng lại. Nếu quản lý đạt hiệu quả tốt thì xã hội phát triển tốt, ngược lại nếu giá trị quản lý đạt hiệu quả thấp thì xã hội không những không phát triển mà còn tụt hậu.
Quản lý còn là một quy trình công nghệ và có nghĩa “điều khiển” mà đối tượng điểu khiển của nó là các mối quan hệ giữa con người và con người, con người với thiên nhiên, con người với khoa học kĩ thuật. Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý.
Như vậy, tất cả các quan niệm trên đây tuy khác nhau song chúng vẫn có những dấu hiệu chung chủ yếu như sau:
Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; Hoạt động quản lý là tác động có tính hướng đích; Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của một cá nhân để nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Từ nhiều góc độ khác nhau, khái niệm quản lý bao gồm các vấn đề sau: Ai quản lý ? (chủ thể quản lý); Quản lý ai ? Quản lý cái gì ? (khách thể quản lý); Quản lý như thế nào ? (phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì ? (công cụ quản lý); Quản lý để làm gì ? (mục tiêu quản lý)
- Theo những quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là một hệ thống gồm 4 chức năng sau:
Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Đây là chức năng đầu tiên của hoạt động quản lý.
Tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức; đây là chức năng kết nối hai chức năng trên.
Kiểm tra: Kiểm tra là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết của cá nhân, nhóm hoặc một tổ chức; đây là chức năng cơ bản.
Trong một chu trình quản lý cả 4 chức năng trên được thực hiện nối tiếp nhau, đan xen vào nhau, phối hợp, bổ sung tạo sự kết nối theo hướng phát triển và thông tin là yếu tố không thể thiếu trong quá trình ra quyết định quản lý. Người ta coi thông tin có vị trí như một chức năng trung tâm liên quan đến các chức năng quản lý; Có thể mô hình hóa như sau:
- Sơ đồ 1.1: Chu trình chức năng quản lý Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Khi thực hiện các chức năng trên, người quản lý phải thực hiện một loạt các vai trò quản lý, có thể phân làm ba nhóm: Vai trò liên nhân cách, vai trò thông tin, vai trò quyết định.
Tùy theo từng cấp quản lý mà người quản lý có những bổn phận khác nhau. Dù người quản lý ở cấp nào đi nữa thì cũng cần phải có các kĩ năng quản lý hóa; các kĩ năng giao tiếp; các kĩ năng liên nhân cách; các kĩ năng khái quát nhau. Người quản lý cấp thấp cần nhiều đến các kĩ năng chuyên môn – kĩ thuật; chức năng khái quát hóa chưa cần ở mức độ cao. Người quản lý cấp cao lại cần nhiều đến mức độ nhận thức – khái quát, các kĩ năng liên nhân cách – giao tiếp ở mức độ trung bình, còn các kĩ năng chuyên môn – kĩ thuật chỉ cần ở mức độ thấp. Người cán bộ quản lý cấp trung gian thì mức độ các kĩ năng được chia đều cho nhau.
Từ đó có thể khái quát: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hoá, KT-XH, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
- Quản lý giáo dục
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người nó được thực hiện một cách tự giác, nó tồn tại, vận động, phát triển với tư cách là một hệ thống. Cũng như quản lý nói chung, quản lý giáo dục cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Quản lý giáo dục là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội yêu cầu.
Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức. có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống, đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài.
Định nghĩa khác nói: QLGD là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Như vậy, QLGD là hoạt động quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý và giữa các yếu tố này có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau, tác động lẫn nhau nhằm cùng thực hiện mục tiêu chung của tổ chức; QLGD bao gồm các lĩnh vực sau: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Quản lý chính sách (hoạch định, lập kế hoạch, thực hiện và phân bố nguồn lực).
Quản lý hành chính (sử dụng nguồn lực con người, tài chính, vật chất). Quản lý sư phạm (sử dụng đội ngũ, tổ chức thực hiện quá trình dạy học). QLGD có những đặc trưng riêng khác với mọi quản lý khác:
QLGD là một hoạt động mang tính xã hội. Bởi mục tiêu phát triển giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội.
QLGD là một hoạt động mang tính nhân văn. Nó thu hút mọi thành viên trong xã hội tham gia và có tác động rất lớn đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội.
QLGD là một hoạt động mang tính sáng tạo. Đối tượng của hoạt động QLGD là con người với sức sáng tạo là vô tận. Con người là nguồn tài nguyên vô tận mà nhân loại không bao giờ khai thác hết.
QLGD là một hoạt động mang tính học thuật và nghệ thuật. Vì QLGD là quản lý con người với nhiều mối quan hệ phức tạp, đòi hỏi quản lý vừa mang tính khoa học nhưng cũng vừa phải mang tính nghệ thuật cao.
QLGD chịu sự chi phối và tác động của các quy luật xã hội. Bởi vì hệ thống giáo dục là một phân hệ trong toàn bộ hệ thống xã hội. Chính vì thế mà QLGD cũng có các chức năng như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Đặc điểm khác biệt của QLGD là quản lý con người với những đặc điểm tâm sinh lí, năng lực, phẩm chất, nhân cách đa dạng phức tạp. Kết quả giáo dục không hoàn toàn phụ thuộc vào nhà giáo mà phục thuộc cả vào người học, vào nhận thức và thái độ học tập của họ. Bởi người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục. Sản phẩm của giáo dục là nhân cách con người, vì vậy không được phép tạo ra phế phẩm. Đặc điểm tiếp theo QLGD phải mang tính kế thừa, tính thống nhất, tính toàn diện, tính liên tục, tính phát triển và tính linh hoạt. Ngoài ra QLGD phải phối kết hợp đồng bộ, chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình -nhà trường – cộng đồng xã hội. Trong đó nhà trường giữ vai trò trung tâm và có tính quyết định tới chất lượng giáo dục.
Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ, chính là quản lý hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến đối tượng là cán bộ, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo yêu cầu của chủ thể đề ra. Nhận thức đúng quan niệm này tạo cơ sở để nghiên cứu làm rõ vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng.
Đó là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị, cập nhật đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm thường xuyên xây dựng cán bộ, công chức Nhà nước có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất tư tưởng tốt. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Bồi dưỡng kiến thức về hành chính Nhà nước nhằm xây dựng một cán bộ vững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng của cán bộ công chức Nhà nước trước yêu cầu của nhiệm vụ mới.
Bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới.
Bồi dưỡng về kiến thức quản lý các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp để xây dựng một đội ngũ chuyên gia giỏi, có năng lực xây dựng, hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện các chính sách, quản lý các chương trình, dự án của Nhà nước có hiệu quả, đáp ứng các mục tiêu phát triển.
Bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức Nhà nước để tăng cường khả năng giao dịch, nghiên cứu tài liệu nước ngoài trong lĩnh vực chuyên môn. Trang bị những kiến thức cơ bản về tin học, sử dụng công cụ tin học nhằm từng bước hiện đại hoá và tăng cường năng lực của nền hành chính Nhà nước.
Qua phân tích các khái niệm có liên quan, chúng ta có thể khái quát về khái niệm quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ như sau:
Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng: Là hệ thống những tác động có mục đích, được tổ chức chặt chẽ của chủ thể quản lý đến đối tượng (nội dung) quản lý, từ khâu xây dựng thực hiện kế hoạch đến kiểm tra đánh giá kết quả, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động bồi dưỡng cán bộ thi đua, khen thưởng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
1.2. Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Chức năng quản lý giáo dục là các hoạt động xác định, được chuyên môn hóa, nhờ đó mà chủ thể quản lý tác động lên đối tượng để thực hiện mục tiêu. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ là một bộ phận của giáo dục; do đó quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng theo các nội dung cơ bản sau:
1.2.1. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Để đảm bảo hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT đạt được kết quả cao, việc xây dựng kế hoạch là hành động đầu tiên của người quản lý, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Đồng thời, xây dựng (lập) kế hoạch, là khâu đầu tiên của chu trình quản lý; nội dung chủ yếu là: xác định và hình thành mục tiêu đối với hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng, lựa chọn các phương án, biện pháp tốt nhất phù hợp với điều kiện thực tế để tiến hành hoạt động bồi dưỡng đạt kết quả tốt.
Tính kế hoạch là đặc trưng của quản lý; có kế hoạch là nguyên tắc của quản lý; quản lý bằng kế hoạch là phương pháp chủ đạo của quản lý. Quản lý một hệ thống phức tạp đòi hỏi phải có một kế hoạch được xây dựng từ trước. V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Người nào bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung, thì người đó trong mỗi bước đi sẽ không tránh khỏi những vấp váp một cách không tự giác”. “Ở thời đại chúng ta, bất cứ nền kinh tế nào ít hay nhiều cũng phải kế hoạch hoá”.
Kế hoạch sẽ làm cho hoạt động phát triển một cách có kế hoạch. Kế hoạch trong giáo dục, bồi dưỡng là áp dụng sự phân tích hệ thống và hợp lý các quá trình phát triển hoạt động giáo dục, bồi dưỡng đạt được kết quả và có hiệu quả phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ của người học và xã hội.
Do đó, quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng CB TĐKT là sự xác định một cách có căn cứ khoa học những mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ về sự phát triển một quá trình và định ra những phương tiện, cơ sở, phương pháp và hình thức cơ bản để thực hiện có kết quả những mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đó.
Nói một cách đơn giản, xây dựng kế hoạch là quyết định trước xem sẽ phải làm cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và đối tượng nào sẽ thực hiện điều đó. Xây dựng kế hoạch bao gồm các bước: tiền kế hoạch, phân tích trạng thái xuất phát của đối tượng cần bồi dưỡng, hình thành bản kế hoạch, hoàn chỉnh bản kế hoạch.
1.2.2. Quản lý việc tổ chức triển khai và chỉ đạo thực hiện hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Quản lý việc tổ chức triển khai hoạt động bồi dưỡng: Tổ chức là chức năng sau khi tiến hành lập xong kế hoạch, nhằm chuyển hóa những mục đích, mục tiêu bồi dưỡng CB TĐKT được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực. Nhờ đó mà tạo ra mối quan hệ giữa các đơn vị tổ chức bồi dưỡng, các bộ phận liên quan trong hoạt động bồi dưỡng cán bộ được liên kết thành bộ máy thống nhất, chặt chẽ; và nhà quản lý có thể điều phối các nguồn lực phục vụ ngày một tốt hơn cho công tác bồi dưỡng CB TĐKT. Phương pháp làm việc của cán bộ quản lý có ý nghĩa quyết định cho việc chuyển hóa kế hoạch quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ thành hiện thực.
Quản lý việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ hoạt động bồi dưỡng: Chỉ đạo là chức năng được thể hiện rõ trong nội dung của khái niệm quản lý. Sau khi lập kế hoạch, việc hình thành cơ cấu bộ máy, khâu vận hành, điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo. Nội dung của chức năng này là liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp động viên họ nỗ lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, để đạt được mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT. Nó kết nối, thẩm thấu và đan xen vào hai nội dung lập kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT.
1.2.3. Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Mục tiêu quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ là trạng thái tương lai hay là kết quả cuối cùng mà tổ chức và các lực lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT mong muốn đạt được. Đồng thời mục tiêu là yếu tố phản ánh tập trung nhất những yêu cầu, tiêu chuẩn của ngành thi đua, khen thưởng đối với hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT; mục tiêu hoạt động bồi dưỡng cán bộ ảnh hưởng và chi phối các nội dung khác trong quá trình hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT. Quản lý mục tiêu bồi dưỡng được thực hiện thông qua quản lý chương trình, nội dung, nó không chỉ là quản lý mô hình dự kiến hoặc quản lý sản phẩm cuối cùng của quá trình đào tạo, mà phải quản lý cả quá trình thực hiện mục tiêu (quá trình tạo ra sản phẩm). Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác quốc tế. Nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới trong những năm tới chính là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý của Nhà nước. Để công tác thi đua, khen thưởng thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội; là phương thức lãnh đạo của Đảng, công cụ quản lý của Nhà nước, là nhân tố quan trọng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Do vậy, mục tiêu của quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT là góp phần xây dựng cho được một cán bộ lãnh đạo chủ chốt và cán bộ, công chức vững mạnh toàn diện cả về chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn. Đối với từng sở, ban, ngành, quận – huyện và các đơn vị kinh tế Nhà nước phải hình thành được cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng đủ tiêu chuẩn, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới, không chỉ đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu trước mắt, mà cả lâu dài. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Quản lý nội dung bồi dưỡng, là quản lý toàn bộ hệ thống các kiến thức khoa học, các kỹ xảo, kỹ năng, nghiệp vụ, kỹ thuật cần trang bị cho CB TĐKT. Quản lý nội dung bồi dưỡng nhằm đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng luôn nhất quán với mục tiêu, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng và mang tính khoa học. Quản lý nội dung bồi dưỡng, là quản lý từ khâu lập kế hoạch và thực hiện chương trình bồi dưỡng, việc triển khai kế hoạch đến phân công, phân cấp tổ chức thực hiện nội dung bồi dưỡng…
Để quản lý tốt nội dung bồi dưỡng, yêu cầu cán bộ quản lý, chủ thể bồi dưỡng cán bộ phải quán triệt sâu sắc mục đích, yêu cầu, nội dung bồi dưỡng; nắm chắc đặc điểm, hoạt động của CB TĐKT; chương trình bồi dưỡng và quy định về khối lượng nội dung kiến thức cần trang bị cho CB TĐKT theo từng đối tượng, nhóm ngành và lĩnh vực.
Để đảm bảo tính khách quan, tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và của ngành thi đua, khen thưởng, việc xây dựng tiêu chuẩn và nội dung bồi dưỡng cho cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng của từng chức danh phải căn cứ vào những cơ sở sau đây:
Căn cứ vào tiêu chuẩn chung cho cán bộ mà Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII đó xác định và những bổ sung của Nghị quyết Trung ương 9, khóa X, là: “ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao”. Ngoài những yêu cầu trên, cần bổ sung tiêu chuẩn về (trình độ ngoại ngữ, luật pháp, tin học; khả năng tiếp cận, nắm bắt và xử lý những vấn đề mới; về khả năng đoàn kết, quy tụ, hội nhập; phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”.
Căn cứ vào từng chức danh, từng nhiệm vụ chung, cụ thể, đặc thù của Ngành thi đua, khen thưởng mà xây dựng tiêu chuẩn và nội dung bồi dưỡng cụ thể. Ngoài yêu cầu chung, đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý hay cán bộ, công chức chuyên trách của từng cấp làm công tác thi đua khen thưởng cũng cần phải có những yêu cầu riêng về từng mặt kỹ năng. Ví dụ: Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung ương, các bộ, ban, ngành, thì chú trọng khả năng tư duy chiến lược, kỹ năng hoạch định (tầm nhìn); còn CB TĐKT cấp quận, huyện hay xã, phường, thị trấn và cơ sở lại chú trọng vào kỹ năng thực tiễn như tổ chức thực hiện, tuyên truyền, vận động, thuyết phục, soạn thảo văn bản vận dụng cụ thể hóa hoặc áp dụng cơ chế chính sách….
Căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh (hoặc ngạch bậc…) cụ thể theo quy định của Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Ban TĐKT Trung ương và các Bộ, ngành, địa phương đó ban hành để vận dụng xây dựng tiêu chuẩn và nội dung bồi dưỡng cho từng chức danh và từng tổ chức thực hiện.
Như vậy, nội dung quản lý quá trình bồi dưỡng CB TĐKT rất cụ thể, nó chính là quản lý các yếu tố của quá trình bồi dưỡng. Mỗi yếu tố có vị trí xác định, có chức năng riêng biệt và chúng có mối quan hệ biện chứng thống nhất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo nên sự vận động theo những quy luật chung của quá trình bồi dưỡng. Trong nội dung quản lý quá trình bồi dưỡng, thì quản lý mục tiêu bồi dưỡng giữ vai trò quan trọng nhất, chi phối toàn bộ các nhân tố khác. Song quản lý mục tiêu bồi dưỡng chỉ có kết qủa khi hoạt động quản lý quá trình này được tổ chức một cách khoa học, với một phương pháp, hình thức quản lý phù hợp mang tính tích cực.
1.2.4. Quản lý cán bộ thi đua, khen thưởng tham gia bồi dưỡng và hoạt động tự bồi dưỡng của họ Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Khi có chương trình kế hoạch, có mục tiêu và nội dung bồi dưỡng, thì việc quản lý các đối tượng tham gia (cán bộ, công chức trong ngành) ở các lớp bồi dưỡng là điều kiện tiên quyết có ảnh hưởng lớn đến chất lượng bồi dưỡng CB TĐKT. Trong các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn thì cán bộ tham gia với tư cách là người học, họ là nhân vật trung tâm của hoạt động bồi dưỡng. Nếu sư tham gia của họ không đầy đủ, thiếu trách nhiệm, không tích cực học tập để tiếp thu nội dung bồi dưỡng với thái độ cầu thị, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bồi dưỡng. Người học đóng vai trò then chốt, quyết định chủ yếu đến sự tồn tại và chất lượng các lớp bồi dưỡng, còn các lực lượng khác chỉ đóng vai trò trợ giúp; do vậy nếu không quản lý tốt đối tượng này, hoặc buông lỏng quản lý sẽ trực tiếp hạn chế chất lượng bồi dưỡng.
Đồng thời, hoạt động tự bồi dưỡng luôn giữ vai trò quyết định đến sự tiến bộ của mỗi cá nhân cán bộ, công chức về chuyên môn nghiệp vụ; dù có tham gia đào tạo, bồi dưỡng bao nhiêu lớp, thời gian bao nhiêu chăng nữa, nếu bản thân mỗi cán bộ, công chức trong ngành không tự bồi dưỡng mình sẽ không thể tiến bộ về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành đạt của mỗi người. Do vậy, cần phải quản lý hoạt động này để theo dõi, nắm bắt chính xác trình độ, khả năng, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của từng cán bộ đến đâu để có kế hoạch bồi dưỡng những vấn đề còn thiếu hụt cho họ.
1.2.5. Quản lý phương pháp, hình thức và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Để đạt được mục tiêu và thực hiện có kết quả các kế hoạch, chương trình và nội dung bồi dưỡng, chủ thể bồi dưỡng và phải sử dụng một hệ thống các phương pháp, hình thức và phương tiện bồi dưỡng theo quy định, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Các phương pháp bồi dưỡng được chủ thể bồi dưỡng sử dụng để truyền đạt nội dung đến người học gồm: nhóm các phương pháp sử dụng ngôn ngữ, nhóm các phương pháp trực quan, thực hành, thảo luận nhóm và kiểm tra… Các phương pháp bồi dưỡng đó được người dạy sử dụng trong các hình thức bồi dưỡng như: giáo trình, thảo luận, bài tập thực hành…Quản lý phương pháp, hình thức, cơ sở vật chất bồi dưỡng CB TĐKT, chính là quản lý việc sử dụng các nhân tố trên của người dạy và người học để đạt tới mục tiêu bồi dưỡng đã đề ra.
1.2.6. Quản lý kết quả bồi dưỡng và tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Nội dung quản lý kết quả bồi dưỡng thường tập trung ở quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng theo chương trình, nội dung bồi dưỡng đã xây dựng và phê duyệt. Quản lý kết quả bồi dưỡng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới toàn bộ các yếu tố của quá trình bồi dưỡng và trực tiếp tác động tới động cơ, mục đích, thái độ của hoạt động dạy và hoạt động học.
Kiểm tra là nội dung cơ bản và quan trọng của quản lý nói chung và trong quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT nói riêng; qua kiểm tra sẽ phát hiện vấn đề tồn tại để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời nội dung phương pháp, hình thức bồi dưỡng cho phù hợp và đúng hướng. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Nếu kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT diễn ra chính xác, khách quan, khoa học, cùng với quản lý chặt chẽ kết quả học tập của người học, thì chất lượng dạy và học sẽ được nâng cao và ngược lại.
- Yêu cầu trong bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Một là, bồi dưỡng CB TĐKT, phải căn cứ vào quy định về chuẩn nghề nghiệp (phẩm chất, năng lực) của cán bộ này do Ban TĐKT Trung ương ban hành. Bồi dưỡng CB TĐKT phải góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn, nhất là về năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng, để họ đáp ứng ngày càng cao yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ được giao. Nội dung bồi dưỡng phải đảm bảo hiệu quả, phù hợp với đặc điểm từng ngành, lĩnh vực và địa phương mà cán bộ này công tác.
Hai là, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng phải gắn liền với hoạt động đào tạo, tự học, tự bồi dưỡng của chính đội ngũ này; nội dung, hình thức bồi dưỡng phải căn cứ trên trình độ đã được đào tạo của họ, khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn và chính sách mới, tạo điều kiện để cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng có thể phát huy tốt quá trình tự học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Ba là, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng phải mang tính toàn diện (đồng bộ về cả phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, cả về nội dung và phương pháp làm việc…); vì ngoài việc thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ về thi đua, khen thưởng; họ còn có nhiệm vụ: rèn luyện đạo đức, học tập văn hóa, ngoại ngữ, tin học…để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc được giao; thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật, các quyết định của thủ trưởng cơ quan; nhận nhiệm vụ do lãnh đạo phân công, chịu sự kiểm tra của các cấp quản lý; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của cán bộ công chức; thương yêu, tôn trọng đồng nghiệp, đoàn kết giúp đỡ các bạn đồng nghiệp, chủ động phối hợp với các tổ chức, ngành nghề có liên quan; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Bốn là, công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng chỉ đem lại hiệu quả thiết thực khi việc tổ chức thực hiện được tiến hành nhất quán, đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Ở cấp ngành: Ban Thi đua-Khen thưởng Trung ương quản lý, chỉ đạo thực hiện kế hoạch chương trình và tài liệu bồi dưỡng một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bám sát chủ trương của Ban Thi đua- Khen thưởng Trung ương để triển khai, quản lý chỉ đạo việc tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình bồi dưỡng trên địa bàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn, giao nhiệm vụ tạo điều kiện cho Ban TĐKT thành phố thuộc Sở Nội Vụ tổ chức kế hoạch, chương trình bồi dưỡng trên địa bàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn và theo tiến độ, quy trình và đảm bảo chất lượng. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
Năm là, các lớp bồi dưỡng khi được tổ chức cần bám sát chỉ đạo của trên để lập kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, đồng thời tham gia quản lý công tác bồi dưỡng trên địa bàn, có phương án kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và hiệu quả bồi dưỡng. Cần chú ý sắp xếp, bố trí và thực hiện đầy đủ chính sách đối với giảng viên theo quy định, khuyến khích họ đổi mới phương pháp giảng dạy; chủ động quản lý, tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi cán bộ các ban, ngành, địa phương tham gia bồi dưỡng. Cơ sở tổ chức bồi dưỡng được giao nhiệm vụ trực tiếp bồi dưỡng cán bộ, do đó phải có sự phối hợp nhịp nhàng với các đơn vị liên quan để triển khai kế hoạch một cách chặt chẽ chu đáo. Ngoài việc chuẩn bị tốt đội ngũ giảng viên, các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng, cơ sở bồi dưỡng còn tư vấn đắc lực cho Sở để xây dựng chương trình sát với thực tiễn, phù hợp với các loại hình bồi dưỡng, đặc biệt là việc định hướng nội dung, phương pháp bồi dưỡng và phương án thẩm định kết quả bồi dưỡng.
Từ những cơ sở lí luận trình bày trên, có thể khái quát: Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng, là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Thông qua bồi dưỡng, tạo cơ hội cho cán bộ được học tập, cập nhật bổ sung kiến thức, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác thi đua khen thưởng. Việc quản lý hoạt động này mang tính khoa học và thực tiễn cao; làm tốt công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng sẽ giúp hoàn thiện năng lực chuyên môn cho cán bộ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thi đua khen thưởng của các ngành nghề, lĩnh vực, địa phương. Xuất phát từ những nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng sẽ là cơ sở để khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động này tại TP.HCM hiện nay, nhằm khắc phục những tồn tại, giải quyết các vấn đề bất cập mà thực tiễn đang diễn ra. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng cán bộ thi đua khen thưởng
