Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần nội thất 190 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam đang trong thời kỳ xây dựng và mở rộng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, cùng với công cuộc cải cách mậu dịch, tự do hóa trong thương mại đòi hỏi nhu cầu về vốn cho nền kinh tế và cho từng doanh nghiệp đang là vấn đề lớn. Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp của nước ta hiện đang phải cạnh tranh khốc liệt để có thể tồn tại và có được chỗ đứng vững chắc trên thương trường. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải tận dụng những lợi thế của mình, từng bước khắc phục những điểm yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh. Đồng thời, các nhà quản trị phải quản lý và sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu quả để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh ngày càng quyết liệt như hiện nay.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. Nếu không chú trọng tới quản trị vốn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề rất quan trọng giúp doanh nghiệp đứng vững và phát huy hơn nữa thế mạnh của mình. Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần nội thất 190” làm luận văn thạc sỹ.

2. Tổng quan nghiên cứu về đề tài

Có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh như các công trình sau đây:

Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh, áp dụng cho công ty TNHH một thành viên than thống nhất – TKV” của tác giả Nguyễn Quốc Tuấn (2021). Luận án đã trình bày về các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác than tại Quảng Ninh, áp dụng cho TKV giai đoạn 2020-2024. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam hiện nay”, luận án của tác giả Cao Văn Kế (2024). Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng.

Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần sông Đà 2”, luận văn của tác giả Đỗ Lê Anh (2025). Thông qua phân tích thực trạng, tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn góp phần tăng năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sông Đà 2.

3. Mục đích nghiên cứu

  • Hệ thống hóa về mặt lý luận những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
  • Phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần nội thất 190.
  • Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Công ty Cổ phần nội thất 190.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:Tình hình sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần nội thất 190 trong giai đoạn 2022-2025.
  • Phạm vi nghiên cứu:Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần nội thất 190 thể hiện qua các tài liệu và đặc biệt là các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết của Công ty trong giai đoạn 2022-2025, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần nội thất 190.

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài có sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh… làm phương pháp luận căn bản cho việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, còn sử dụng các phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu, tổng hợp ý kiến chuyên gia tại công ty…

6. Bố cục của luận văn Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Bố cục của luận văn ngoài phẩn mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần nội thất 190.
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần nội thất 190.

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN

1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh tế đều được tiền tệ hoá, do đó để có được các yếu tố sản xuất như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, sức lao động… phải có một lượng tiền ứng trước nhất định gọi là vốn sản xuất kinh doanh.

Vốn kinh doanh là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng cần phải có vốn kinh doanh. Vốn được dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.

Vốn kinh doanh thường xuyên vận động và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong các khâu của hoạt động sản xuất. Nó có thể là tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, thành phẩm… Khi kết thúc một vòng luân chuyển thì vốn kinh doanh lại trở về hình thái tiền tệ. Như vậy, với số vốn ban đầu, nó không chỉ được bảo tồn mà còn được tăng lên do hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi.

Đối với mỗi loại hình doanh nghiệp, nguồn gốc của việc hình thành vốn khác nhau và sở hữu cũng khác nhau. Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn là do nhà nước cấp phát, giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp và những doanh nghiệp này phải có trách nhiệm bảo toàn, phát triển số vốn đó.

Đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn… Vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có thể do một cá nhân hoặc nhiều người cùng góp.

Như vậy, vốn kinh doanh là một biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Số tiền doanh nghiệp thu được phải bù đắp toàn bộ chi phí bỏ ra và có lãi.

Dựa vào tư liệu Bách khoa toàn thư – Tài chính doanh nghiệp (năm 2020) cho rằng, “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được sử dụng đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.

1.1.2. Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Thứ nhất, vốn là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của doanh nghiệp. Nếu thiếu vốn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạt động và phát triển.Vốn có vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trước tiên, vốn quyết định việc thành lập, hoạt động và phát triển của từng loại hình doanh nghiệp. Căn cứ theo nguồn vốn, phương thức huy động vốn khác nhau hình thành nên những loại hình doanh nghiệp khác nhau.Vốn cũng là tiêu thức để đánh giá, phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, trung bình hay nhỏ.

Thứ hai, vốn đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải kết hợp các yếu tố đầu vào: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Để có các yếu tố đầu vào này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định. Nếu không có vốn doanh nghiệp không thể hoạt động, không thể tồn tại nên vốn chính là tiền đề cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Vốn là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định các chiến lược kinh doanh, là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực và mở rộng, phát triển thị trường góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Thứ ba, vốn có vai trò quan trọng trong việc cải thiện, thay đổi cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.

Vốn là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định các chiến lược kinh doanh, là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực và mở rộng, phát triển thị trường góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Vốn kinh doanh là yếu tố quyết định tương lai của doanh nghiệp. Do đó, việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa quan trọng với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

1.1.3. Phân loại vốn

1.1.3.1. Phân loại vốn theo nguồn hình thành

Theo nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay.

  • Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ số vốn góp do chủ sở hữu, nhà đầu tư đóng góp và phần vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh và vốn góp bổ sung trong quá trình hoạt động. Số vốn này thuộc sở hữu của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt.

  • Vốn góp ban đầu

Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các chủ sở hữu đóng góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp [10, tr.51].

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước, thì Nhà nước góp một phần hoặc toàn bộ vốn tuỳ theo tầm quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty.

Đối với công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn thì số vốn ban đầu do chủ đầu tư bỏ ra.

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì vốn ban đầu do nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư Việt Nam cùng góp vốn. Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp 100% vốn thì đó là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

  • Lợi nhuận không chia Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thường số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn. Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia – nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Do đó, nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.

Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước, việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước. Đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn thì phần lợi nhuận không chia phụ thuộc vào chủ doanh nghiệp. Đối với công ty cổ phần, lợi nhuận không chia phụ thuộc chính sách phân chia cổ tức. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm để tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không nhận được phần cổ tức đó, nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.[10, tr.52].

  • Phát hành cổ phiếu mới

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Phát hành cổ phiếu là nguồn tài chính dài hạn quan trọng của doanh nghiệp.

  • Vốn huy động của doanh nghiệp (Vốn vay)

Vốn huy động của doanh nghiệp là phần vốn được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị, cá nhân. Doanh nghiệp được quyền sử dụng phần vốn này nhưng sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho người cho vay cả gốc và lãi. Vốn vay được phân chia thành vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn.

Vốn vay là nguồn vốn đáp ứng cho nguồn vốn thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp xác định được mức độ an toàn trong công tác huy động vốn, đảm bảo an toàn về mặt tài chính với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất.

1.1.3.2. Phân loại vốn theo vai trò và đặc điểm chu chuyển

Dựa vào tiêu thức này, vốn trong doanh nghiệp được phân loại thành vốn cố định và vốn lưu động.

  • Vốn cố định Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Vốn cố định là một phần vốn sản xuất kinh doanh, là lượng vốn ứng trước để hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định quyết định đến quy mô của TSCĐ, ảnh hưởng đến trình độ trang bị vật chất, kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, những đặc điểm hoạt động của TSCĐ sẽ chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định. Thông qua mối liên hệ này có thể khái quát những đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên được hình thái hiện vật. Đặc điểm này là do TSCĐ được tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp, phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vốn cố định là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ vì vậy cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng.

Vốn cố định được luân chuyển dần dần, từng phần trong các chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất thì bị giảm dần tức là nó bị hao mòn cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng, giá trị của nó bị giảm đi, theo đó vốn cố định được tách thành hai bộ phận:

Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần hao mòn của TSCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao. Quỹ khấu hao này sau đó được sử dụng để tái đầu tư TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp.

Bộ phận thứ hai của vốn cố định vẫn được cố định trong TSCĐ, gọi là giá trị còn lại của TSCĐ. Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sau mỗi chu kỳ, phần vốn cố định luân chuyển vào giá trị sản phẩm tăng dần, tương ứng với vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ giảm xuống. Đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của TSCĐ đã được dịch chuyển hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.

Vốn cố định là một bộ phận quan trọng, chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư, vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý, sử dụng vốn cố định là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Do vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của vốn cố định có tính quy luật riêng, nên việc quản lý, sử dụng vốn cố định ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

  • Vốn lưu động Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn được ứng ra để hình thành các TSLĐ đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục.

TSLĐ chính là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán tài sản lưu động thường bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ hàng tồn kho.

  • Tiền và chứng khoán thanh khoản cao

Tiền được hiểu là tiền mặt tại quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng. Tiền mặt là loại tài sản không sinh lời, vì vậy việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt tại doanh nghiệp là cần thiết, nhưng việc giữ tiền mặt cũng là tất yếu để phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp.

Chứng khoán thanh khoản cao có vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Việc đầu tư vào chứng khoán thanh khoản cao đem lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn việc giữ tiền ở ngân hàng và khi cần dễ dàng chuyển sang tiền và ít tốn kém chi phí.

  • Các khoản phải thu

Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ…trong đó, khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất.

Tín dụng thương mại chính là hình thức mua bán chịu. Hình thức này có thể giúp cho doanh nghiệp gặt hái được những thành công lớn nhưng cũng có thể làm cho doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro nếu như các khoản phải thu không thu hồi được phải chuyển thành nợ khó đòi hoặc phải xoá sổ.

  • Hàng tồn kho

Trong quá trình luân chuyển vốn lưu động việc tồn tại vật tư, hàng hoá tồn kho là cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp. Hàng tồn kho bao gồm: nguyên vật liệu thô dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, sản phẩm đang chế tạo và thành phẩm. Hàng tồn kho có vai trò rất lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp dự trữ quá ít sẽ làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận, uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp. Nhưng nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn sẽ dẫn đến tốn kém chi phí, đọng vốn làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đặc điểm của vốn lưu động: Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Khác với tài sản cố định, trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Do đó, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ sản xuất bao gồm dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình này diễn ra liên tục và lặp lại theo chu kỳ gọi là quá trình tuần hoàn chu chuyển vốn lưu động.

Trong quá trình vận động, vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị vào trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn lưu động lại có sự thay đổi về hình thái biểu hiện từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hoá dự trữ. Sau giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo thành các bán thành phẩm, thành phẩm và khi sản phẩm được tiêu thụ thì vốn lưu động trở lại hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu. Như vậy, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Trong các doanh nghiệp, quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục cho nên dễ dàng nhận thấy rằng trong cùng một lúc vốn lưu động của doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đảm bảo cho quá trình chuyển hoá của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.

Dựa trên những đặc điểm của vốn lưu động, trong quá trình quản lý và sử dụng vốn lưu động cần chú ý các vấn đề:

  • Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo đủ vốn lưu động cho quá trình sản xuất kinh doanh.
  • Tổ chức khai thác nguồn vốn tài trợ vốn lưu động, đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp phải có giải pháp thích ứng nhằm quản lý và tổ chức sử dụng vốn lưu động một cách có hiệu quả, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất và tiết kiệm chi phí sử dụng vốn.

1.1.4. Quản lý vốn trong doanh nghiệp Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

1.1.4.1. Quản lý vốn cố định

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái vật chất của nó. Để sử dụng có hiệu quả vốn cố định cần chú trọng đến quản lý quỹ khấu hao tài sản cố định và quản lý nguồn vốn dài hạn.

  • Quản lý quỹ khấu hao tài sản cố định

Trong quá trình sử dụng tài sản cố định bị hao mòn dần, đó là sự giảm dần về giá trị của tài sản cố định. Có hai loại hao mòn tài sản cố định là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.

Hao mòn hữu hình là loại hao mòn do doanh nghiệp sử dụng và do tác động của môi trường. Loại hao mòn này sẽ càng lớn nếu doanh nghiệp sử dụng càng nhiều hoặc ở trong môi trường có sự ăn mòn hoá học hay điện hoá học. Hao mòn vô hình là loại hao mòn xảy ra do tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho tài sản cố định bị giảm giá hoặc lỗi thời. Thông thường hao mòn vô hình đối với tài sản cố định được thể hiện trong ba trường hợp:

  • Có tài sản cố định khác giống hệt tài sản cố định cũ nhưng giá rẻ hơn.
  • Có tài sản cố định khác có giá bằng tài sản cố định cũ nhưng tính năng ưu việt hơn.
  • Khi một sản phẩm nào đó bị lỗi thời thì tài sản chế tạo ra nó bị hao mòn vô hình.

Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn dần nên trong mỗi chu kỳ sản xuất người ta tính chuyển một lượng giá trị tương đương với phần hao mòn vào giá thành sản phẩm, khi sản phẩm được tiêu thụ, bộ phận tiền này được trích lại thành một quỹ để tái trang bị tài sản cố định, công việc đó gọi là khấu hao tài sản cố định. Như vậy, người quản lý tài chính phải xem xét, tính toán mức khấu hao sao cho phù hợp với quy định Nhà nước và thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp.

Khi xác định mức trích khấu hao, nhà quản lý cần chú trọng đến các yếu tố sau:

  • Tình hình tiêu thụ sản phẩm do tài sản cố định đó chế tạo ra trên thị trường.
  • Hao mòn vô hình của tài sản cố định
  • Nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định
  • Ảnh hưởng của thuế đối với việc trích khấu hao
  • Quy định của Nhà nước trong việc trích khấu hao TSCĐ

Thông thường các doanh nghiệp sử dụng toàn bộ số khấu hao luỹ kế của tài sản cố định để tái đầu tư, thay thế, đổi mới tài sản cố định. Tuy nhiên, khi chưa có nhu cầu tái tạo lại tài sản cố định của doanh nghiệp có quyền sử dụng linh hoạt số khấu hao luỹ kế phục vụ cho yêu cầu kinh doanh của mình[9, tr.115- tr.118].

  • Quản lý nguồn vốn dài hạn Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian dài hơn một năm. Nguồn vốn dài hạn bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn như cổ phiếu, vay trung hạn vay dài hạn, trái phiếu, tín dụng thuê mua…Nguồn vốn này thường được sử dụng để hình thành nên tài sản dài hạn và một bộ phận tài sản ngắn hạn thường xuyên của doanh nghiệp.

Khi dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn thì nhà quản lý cần đáp ứng nhu cầu vốn ở thời điểm cao nhất. Trong trường hợp tài trợ cho tài sản ngắn hạn thường xuyên sẽ có rủi ro thấp, ổn định trong kinh doanh nhưng chi phí trả lãi sẽ cao.

Trong quản lý nguồn vốn dài hạn, để sử dụng hiệu quả nhà quản lý cần xác định chính xác nhu cầu của doanh nghiệp. Đặc biệt, nhà quản lý phải quan tâm đến các khoản lãi, các khoản phải trả dài hạn để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

1.1.4.1. Quản lý vốn lưu động

  • Quản lý vốn tiền mặt

Quản lý vốn tiền mặt đề cập đến việc quản lý quỹ tiền mặt và quản lý tiền gửi ngân hàng. Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các tài sản gần với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao [9, tr.139].

Mục tiêu quản lý vốn tiền mặt là giảm thiểu lượng tiền mặt trên cơ sở cực đại tính hữu dụng của nó. Trong quản trị tài chính, người ta sử dụng chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn.

Quản lý vốn tiền mặt bao gồm:

  • Tăng tốc độ thu hồi tiền
  • Giảm tốc độ chi tiêu tiền
  • Hoạch định nhu cầu về tiền

Đầu tư tạm thời những khoản tiền nhàn rỗi một cách có hiệu quả Quản lý vốn tiền mặt nhằm quyết định lượng tồn quỹ tiền mặt tối ưu sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

  • Quản lý hàng tồn kho

Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư, hàng hoá dự trữ tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Hàng tồn kho có các loại: nguyên vật liệu thô phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường không thể sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà phải có nguyên liệu dự trữ. Hàng dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường. Do vậy, nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn thì sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu doanh nghiệp dự trữ quá ít sẽ làm cho sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả tiếp theo. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây chuyền sản xuất. Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia ra những công đoạn, do vậy giữa những công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm. Đây là những bước đệm nhỏ để cho quá trình sản xuất được liên tục. Nếu quá trình sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn sản xuất thì tồn kho trong quá trình sản xuất cũng sẽ càng lớn.

Khi tiến hành sản xuất xong, hầu như các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết ngay được, phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa sản xuất và tiêu dùng, phần do phải có đủ lô hàng mới sản xuất được. …do vậy, những doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì tồn kho sản phẩm hoàn thành sẽ lớn [9, tr.132].

  • Quản lý các khoản phải thu

Để thực hiện được sự cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược về chất lượng sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, về dịch vụ giao hàng và các dịch vụ vận chuyển, lắp đặt…Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong nền kinh tế thị trường thì việc mua bán chịu là việc không thể thiếu. Tín dụng thương mại có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng có thể đem đến rủi ro cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp[9, tr.144].

Nhà quản lý luôn luôn phải xem xét để quyết định có nên cấp tín dụng thương mại hay không và các điều khoản thế nào cho phù hợp. Để thực hiện cấp tín dụng thương mại, công việc quan trọng của nhà quản lý là phải phân tích khả năng tín dụng của khách hàng.

Thực tiễn hoạt động kinh doanh cho thấy rằng khi bán chịu sẽ phát sinh rủi ro doanh nghiệp không thu được tiền của khách hàng. Để giúp cho việc quản lý các khoản phải thu thì nhà quản lý phải theo dõi các khoản phải thu trên cơ sở đó có thể thay đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời.

Nhà quản lý phải sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian để theo dõi và có biện pháp giải quyết thu nợ khi đến hạn, đồng thời phải xem xét số dư các khoản phải thu.

1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

1.2.1. Khái niệm

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu chủ yếu làm cho đồng vốn sinh lời tối đa.

Hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện trên hai khía cạnh là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu được. Hiệu quả càng cao khi lợi nhuận thu được lớn hơn chi phí và tỷ suất lợi nhuận lớn hơn chi phí huy động trên thị trường.

Hiệu quả xã hội phản ánh mức độ đóng góp trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội thể hiện ở việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hoá, nâng cao văn hoá tiêu dùng, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

1.2.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu khách quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn giúp doanh nghiệp thấy được trình độ quản lý sử dụng vốn nói riêng và hiệu quả kinh doanh nói chung.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo được an toàn về tài chính cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đảm bảo doanh nghiệp sẽ có đủ vốn và khả năng thanh toán, khắc phục cũng như giảm bớt những rủi ro trong kinh doanh.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Để đáp ứng các yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm…. doanh nghiệp phải có vốn.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống cho người lao động… Khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm và mức sống cho người lao động cũng ngày càng được cải thiện. Điều đó giúp cho năng suất lao động ngày càng nâng cao, tạo sự phát triển cho doanh nghiệp và các ngành liên quan. Đồng thời nó cũng làm tăng khoản đóng góp cho ngân sách Nhà nước.

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trực tiếp thông qua lợi nhuận thu được bởi đây chính là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Như vậy, để định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh thì phải theo hướng nâng cao khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách:

  • Tích cực tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
  • Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm để tăng doanh thu.

1.2.3. Các phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

1.2.3.1. Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Phương pháp so sánh được tiến hành thông qua đối chiếu chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế để xác định xu hướng biến động chung của chỉ tiêu phân tích. Để tiến hành so sánh, cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản như xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh và xác định mục tiêu so sánh.

Điều kiện khi dùng phương pháp so sánh

  • Nội dung kinh tế của các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau.
  • Phương pháp tính các chỉ tiêu cần so sánh phải giống nhau.
  • Đơn vị tính của các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau.
  • Độ dài thời gian tính các chỉ tiêu phải giống nhau.

Mục tiêu so sánh:

Trong phân tích, mục tiêu so sánh là xác định mức độ biến động. Vì vậy, khi tiến hành so sánh cần phải làm rõ: mức độ biến động tương đối hay mức độ biến động tuyệt đối.

  • Mức độ biến động tuyệt đối: xác định bằng cách so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ.
  • Mức độ biến động tương đối: xác định bằng cách so sánh trị số của chỉ tiêu thực tế với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu liên quan.

Nội dung của phương pháp so sánh bao gồm: Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

So sánh số liệu kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để thấy được xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp.

So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được.

So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ của các khoản mục theo thời gian.

1.2.3.2. Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn là tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo một trình tự nhất định để xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu cần phân tích (đối tượng phân tích) bằng cách cố định các nhân tố khác nhau trong mỗi lần thay thế.

Điều kiện của phương pháp là:

  • Có quan hệ phân tích số với chỉ tiêu phân tích.
  • Khi sắp xếp các nhân tố phải tuân theo quy luật lượng biến đổi dẫn đến chất biến đổi, tức là nhân tố số lượng đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau.

1.2.3.3. Phương pháp cân đối

Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để đánh giá được toàn diện về tình hình tài chính.

Phương pháp cân đối dựa trên cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn, giữa huy động vốn và tình hình sử dụng tài sản trong doanh nghiệp.

1.2.3.4. Phương pháp phân tích chi tiết

Phương pháp này dựa trên việc phân tích tỷ lệ các đại lượng tài chính. Phương pháp này cần phải xác định các ngưỡng, các mức để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Trong phân tích, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của DN. Đó là nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về đòn bẩy tài chính, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.

Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng sẽ đánh giá được tình hình tài chính và tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

1.2.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn

Hiệu quả sử dụng tổng vốn có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn phản ánh trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung:

  • Hiệu suất sử dụng vốn:
  • Doanh thu (thuần) trong kỳ
  • Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
  • VKD bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá được một đồng vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào tài sản đem lại mấy đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh càng lớn thì hiệu quả quản lý càng cao.

  • Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA):
  • Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
  • Tỷ suất sinh lời của tài sản
  • VKD bình quân trong kỳ

Tỷ suất sinh lời của tài sản phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ở doanh nghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản. Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản bình quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Chỉ tiêu càng cao thì tài sản hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn.

  • Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS):
  • Lợi nhuận trước (sau) thuế
  • Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
  • Doanh thu thuần

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cho biết, 1 đồng doanh thu thuần doanh nghiệp thu về, có bao nhiêu đồng lợi nhuận.

  • Tỷ suất lợi nhuận trên VKD (ROI):
  • Lợi nhuận trước (sau) thuế
  • Tỷ suất lợi nhuận trên VKD
  • VKD bình quân trong kỳ

Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh cho biết một đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu càng cao chứng tỏ sử dụng vốn càng hiệu quả. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

  • Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
  • Lợi nhuận sau thuế
  • Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH
  • Vốn chủ sở hữu bình quân

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Phân tích chỉ tiêu ROE sẽ biết được một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Trị số ROE càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại.

1.2.4.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

  • Hiệu suất sử dụng vốn cố định
  • Doanh thu (thuần) trong kỳ
  • Hiệu suất sử dụng VCĐ
  • Vốn cố định bình quân trong kỳ

Hiệu suất sử dụng vốn cố định phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Đối với doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.

  • Tỷ suất lợi nhuận VCĐ
  • Lợi nhuận sau thuế
  • Tỷ suất lợi nhuận VCĐ
  • Vốn cố định bình quân

Tỷ suất lợi nhuận VCĐ cho biết 1 đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả sử dụng vốn cố định càng tốt.

1.2.4.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ 

  • Vòng quay vốn lưu động
  • Doanh thu (thuần) trong kỳ
  • Số vòng quay vốn lưu động
  • Vốn lưu động bình quân

Số vòng quay vốn lưu động hay còn gọi là hệ số luân chuyển vốn lưu động cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong 1 kỳ. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

  • Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
  • Lợi nhuận sau thuế
  • Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
  • Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động bình quân tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

  • Kỳ thu tiền bình quân
  • Các khoản phải thu
  • Kỳ thu tiền bình quân
  • Doanh thu bình quân ngày Số dư bình quân các khoản phải thu x 360
  • Doanh thu thuần 360
  • Hoặc = 360/Vòng quay các khoản phải thu  (1.12)

Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày của một vòng quay các khoản phải thu.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

  • Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
  • Lợi nhuận sau thuế
  • Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
  • Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh một đồng vốn lưu động bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất càng cao, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động

  • Vòng quay vốn lưu động
  • Doanh thu (thuần) trong kỳ
  • Số vòng quay vốn lưu động
  • Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh vốn lưu động luân chuyển được bao nhiêu lần trong một kỳ. Số vòng quay càng lớn thì càng tốt vì điều này chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn lưu động. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

  • Thời gian một vòng quay vốn lưu động

Chỉ tiêu này cho biết thời gian bình quân của một vòng quay vốn lưu động trong kỳ. Thời gian một vòng quay vốn lưu động càng nhỏ càng tốt, cho thấy tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh, thời gian luân chuyển được rút ngắn.

  • Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động

Chỉ tiêu này cho thấy công ty phải cần bao nhiêu đồng vốn lưu động để tạo ra một đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành vốn lưu động

  • Vòng quay hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần hàng tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Số vòng luân chuyển hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt vì doanh số cao, chi phí hàng tồn kho thấp.

  • Số ngày tồn kho

Số ngày tồn kho cho biết số ngày của một vòng quay hàng tồn kho. Số vòng quay càng lớn, số ngày tồn kho càng ngắn.

  • Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu thể hiện tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt trong kỳ. Số vòng quay càng lớn thì tốc độ thu hồi nợ càng cao.

  • Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày của một vòng quay các khoản phải thu. Số vòng quay càng lớn, kỳ thu tiền càng được rút ngắn.

1.2.4.4. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

Để phân tích khả năng thanh toán, các chỉ tiêu sau được sử dụng:

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: chỉ tiêu này đo lường khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này lớn hơn 1 đảm bảo doanh nghiệp thanh toán được hết các khoản nợ hiện tại.

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: chỉ tiêu này cho biết với tổng tài sản ngắn hạn hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn hay không. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh: chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán nhanh hay không.

Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn: chỉ tiêu này cho biết với tổng tài sản dài hạn hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán nợ dài hạn hay không.

Về mặt lý thuyết, các chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng thanh toán và ngược lại nếu trị số nhỏ hơn 1, doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán.

Hệ số nợ dài hạn so với tổng nợ phải trả : chỉ tiêu này cao chứng tỏ nhu cầu thanh toán ngay thấp.

Hệ số thanh toán lãi vay: chỉ tiêu này càng cao, khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp càng tốt. Khi đó, doanh nghiệp không những có khả năng thanh toán lãi vay mà còn có khả năng thanh toán nợ gốc vay.

1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.3.1. Nhân tố khách quan

  • Nhân tố sự ổn định và mức độ phát triển của nền kinh tế

Sự ổn định và mức độ phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn kinh doanh. Những biến động của nền kinh tế gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị phải lường trước, những rủi ro đó ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay tìm nguồn tài trợ.

Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng với một tốc độ nào đó thì doanh nghiệp muốn duy trì và giữ vững vị trí của mình, cũng phải phấn đấu để phát triển với nhịp độ tương đương. Doanh thu tăng lên dẫn đến việc gia tăng tài sản, các nguồn phải thu và các loại tài sản khác. Khi đó, các nhà quản trị phải tìm nguồn vốn tài trợ cho sự mở rộng sản xuất, sự tăng tài sản đó.

  • Nhân tố môi trường, chính sách pháp lý

Môi trường, chính sách pháp lý bao gồm hệ thống các chế tài pháp luật, các chính sách liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật của Nhà nước và chính sách kinh tế là hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp đồng thời cũng định hướng cho doanh nghiệp chiến lược để phát triển. Do đó, nhân tố môi trường, chính sách pháp lý có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

  • Nhân tố phát triển của thị trường

Sự phát triển của thị trường là nhân tố quan trọng quyết định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường vốn quyết định việc huy động vốn của doanh nghiệp, thị trường hàng hoá quyết định việc sử dụng vốn. Thị trường phát triển ổn định thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần.

  • Nhân tố rủi ro bất thường

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro bất thường gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, để hạn chế tổn thất do thiên tai, địch hoạ doanh nghiệp nên áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro như lập dự phòng, mua bảo hiểm…

1.3.2. Nhân tố chủ quan

  • Nhân tố con người

Nhân tố con người ở đây là toàn bộ lực lượng lao động của doanh nghiệp. Đây là nhân tố đầu tiên và quan trọng quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn. Nếu không có được phương án sản xuất, kinh doanh hữu hiệu sẽ dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực. Trong hoạt động tài chính cũng vậy, nhà quản lý phải huy động đủ vốn cho sản xuất kinh doanh, không để xảy ra tình trạng thiếu vốn, thừa vốn. Vì thế, hiệu quả sử dụng vốn chỉ có thể được nâng cao khi có bộ máy quản lý có tầm nhìn chiến lược, có trình độ, đội ngũ lao động có chuyên môn cao, đạt kỹ năng, kỹ xảo.

  • Nhân tố cơ cấu vốn

Cơ cấu vốn có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh và khả năng sinh lời của đồng vốn.

Cơ cấu vốn là tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành trong tổng vốn. Cơ cấu vốn hợp lý thúc đẩy sự vận động của vốn, nâng cao hiệu quả trong sử dụng vốn. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

  • Cơ cấu vốn chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:

Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành: những doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, vòng quay vốn chậm thì cơ cấu vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu, và ngược lại những doanh nghiệp thuộc ngành dịch vụ, thương mại… thì vốn tài trợ từ các khoản vay nợ thường chiếm tỷ trọng cao.

Mức độ chấp nhận rủi ro của nhà quản lý: trong kinh doanh phải chấp nhận rủi ro để có cơ hội gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, khi tăng tỷ trọng của vốn vay nợ, sẽ tăng mức độ mạo hiểm.

Doanh lợi vốn và lãi suất huy động: khi doanh lợi vốn cao hơn lãi suất vốn vay doanh nghiệp sẽ lựa chọn hình thức tài trợ bằng vốn vay. Ngược lại, doanh lợi vốn nhỏ hơn lãi suất vốn vay thì cơ cấu vốn lại nghiêng về vốn chủ sở hữu.

  • Nhân tố chi phí vốn

Để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một khoản chi phí nhất định. Chi phí vốn được hiểu là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn và chi phí doanh nghiệp phải trả cho việc huy động vốn như: các khoản lãi vay, chi phí phát hành cổ phiếu…Tiết kiệm chi phí vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong sử dụng vốn kinh doanh.

  • Nhân tố tổ chức sản xuất kinh doanh

Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau có đặc điểm về chu kỳ sản xuất, đặc điểm sản phẩm… khác nhau do đó, hiệu quả sử dụng vốn khác nhau.

Tính chất ngành nghề ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở quy mô, cơ cấu vốn kinh doanh. Quy mô, cơ cấu vốn khác nhau ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn, phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán, chi trả… ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn thông qua nhu cầu vốn và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu vốn lưu động trong năm thường biến động lớn, doanh thu bán hàng không đồng đều giữa các tháng dẫn đến tình hình thanh toán, chi trả cũng gặp khó khăn dẫn đến ảnh hưởng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn thì nhu cầu vốn trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp lại thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo cân đối thu chi bằng tiền, đảm bảo nguồn vốn trong kinh doanh, vốn được quay nhiều vòng trong năm. Ngược lại, những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sẩn phẩm có chu kỳ sản xuất dài phải ứng ra một lượng vốn lưu động tương đối lớn, vốn thu hồi chậm, quay vòng ít.

Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, tác giả đã tìm hiểu được các khái niệm liên quan, hệ thống hoá lý luận về các phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Những lý luận này là căn cứ khoa học để đánh giá, phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần nội thất 190 ở chương 2. Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất

One thought on “Luận văn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty nội thất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *