Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay, vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Hệ thống ngân hàng là nơi tích tụ, tập trung, khơi dậy các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế.
Theo Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2019- 2028, nước ta đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 7- 8%/năm. Trong điều kiện các kênh dẫn vốn khác của thị trường tài chính chưa thực sự phát triển thì nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng hiện đang giữ vai trò then chốt.
Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.Vì vậy, các ngân hàng thương mại rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh của mình.Có thể nói hoạt động huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội là lẽ sống quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại.
Nhận thức được vấn đề đó, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) luôn coi nhiệm vụ huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu, xuyên suốt trong định hướng, chiến lược kinh doanh. Trong đó, tập trung vào huy động vốn dân cư, định chế tài chính, tổ chức kinh tế nhằm tạo lập nền tảng vốn vững chắc, ổn định, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng và mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường năng lực cạnh tranh.
BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh là một chi nhánh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, kinh doanh trên một địa bàn có nhiều tổ chức tín dụng hoạt động, do đó chịu nhiều sức ép cạnh tranh về huy động vốn, hoạt động tín dụng. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng huy động vốn là một trong những đòi hỏi cấp thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay. Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề huy động vốn của ngân hàng, tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài.
Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng huy động vốn của BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường huy động vốn tại BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động vốn tại BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp tăng cường huy động vốn tại BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh qua số liệu trong những năm từ 2023 – 2025, nhằm khắc phục những tồn tại trong hoạt động huy
động vốn, tăng khả năng cạnh tranh, tăng doanh thu từ khách hàng, giảm thiểu rủi ro, chi phí hoạt động, nâng cao uy tín thương hiệu của Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài nghiên cứu ứng dụng một dịch vụ của ngân hàng nên phương pháp nghiên cứu ở đây là sử dụng mô hình lý thuyết về cạnh tranh, đi sâu nghiên cứu về công tác huy động vốn tại BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh.
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng phiếu điều tra để đánh giá hoạt động huy động vốn của BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh. Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Tổng số phiếu điều tra: 120 phiếu (phụ lục 1).
- Phương pháp thống kê kinh tế: xử lý số liệu thu thập được.
Phương pháp tổng hợp và thống kê: Báo cáo, hồ sơ, số liệu nội bộ liên quan đến hoạt động kinh doanh của chi nhánh như: báo cáo tài chính các năm 2023, 2024, 2025; báo cáo thường niên năm 2023, 2024, 2025; thông tin dữ liệu khách hàng và các báo cáo liên quan khác, tổng hợp thông tin từ sách, báo, cục thống kê, Internet… từ đó rút ra nhận xét, kết luận.
5. Tổng quan nghiên cứu
Hiện nay, đã có rất nhiều các đề tài, công trình nghiên cứu về hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại. Có thể kể đến các đề tài sau:
Lương Thị Quỳnh Nga (2019) với đề tài nghiên cứu “Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam”, luận văn đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng qua đó đề xuất đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà (2021) với luận văn “Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”. Tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng.
Tác giả Hoàng Thị Phương Hằng (2024) với đề tài “Hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Hà Tây”. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động huy động vốn, phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn tại BIDV- chi nhánh Hà Tây và thông qua đó đưa ra một số giải pháp về chính sách lãi suất, sản phẩm, nhân sự, quy trình giao dịch với mục đích nâng cao hiệu quả huy động vốn.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn của Ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng huy động vốn của BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh
- Chương 3: Một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại BIDV chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh .
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Nguồn vốn huy động, vai trò của hoạt động huy động vốn
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm nguồn vốn ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”trong đó “ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, Cấp tín dụng và Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. (Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2018 của Việt Nam tại khoản 3 điều 4)[7].
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại chính là những giá trị tiền tệ được ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động với mục đích để cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
1.1.1.2. Đặc điểm Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Xét về bản chất, nguồn vốn của ngân hàng thương mại là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Nói cách khác, người chủ sở hữu chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng thương mại để hưởng một khoản thu nhập gọi là lãi. Nhờ đó, ngân hàng thực hiện vai trò tập trung, phân phối lại vốn tiền tệ đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại đóng vai trò chi phối và quyết định đối với các hoạt động của ngân hàng trong việc thực hiện chức năng của mình.
1.1.2. Cơ cấu nguồn vốn ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn mang tính thường xuyên ổn định của Ngân hàng thương mại được dùng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị ban đầu cần thiết cho hoạt động Ngân hàng, góp vốn liên doanh, cho các thành phần kinh tế vay và thực hiện các dịch vụ khác của Ngân hàng. Vốn chủ sở hữu được xem là tài sản đảm bảo mang lại niềm tin cho khách hàng, duy trì khả năng thanh toán. Nguồn hình thành vốn này đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của Ngân hàng. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong hoạt động ngân hàng nhưng giữ vị trí rất quan trọng.Vốn chủ sở hữu là một trong các căn cứ quyết định quy mô, khối lượng huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
Vốn điều lệ là vốn thuộc sở hữu Ngân hàng, ghi trong bản điều lệ của Ngân hàng được hình thành ngay từ khi Ngân hàng mới thành lập. Vốn điều lệ có thể do Nhà nước cấp nếu đó là Ngân hàng thương mại quốc doanh, có thể là vốn đóng góp cổ đông nếu là Ngân hàng thương mại cổ phần. Vốn điều lệ không được nhỏ hơn vốn pháp định theo luật định mà ngân hàng phải có để đi vào hoạt động. [15, tr.53]. Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động giúp gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau, bao gồm:
Lợi nhuận giữ lại: Khi ngân hàng kinh doanh có lãi sẽ chuyển một phần lợi nhuận ròng thành vốn đầu tư kinh doanh. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của ngân hàng thương mại.
Vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, vốn góp thêm…nhằm mở rộng quy mô hoạt động hoặc đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn, đổi mới trang thiết bị…Hình thức huy động vốn này không mang tính thường xuyên nhưng giúp ngân hàng có lượng vốn sở hữu lớn khi cần thiết.
Các quỹ dự trữ: Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng. Việc hình thành các quỹ này làm tăng vốn cho ngân hàng đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh. [15, tr.53].
1.1.2.2. Vốn huy động
Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của các ngân hàng thương mại. Vốn huy động hình thành thông qua việc huy động từ tiền gửi và phát hành các giấy tờ có giá.
Tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi giao dịch.Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào.
Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được ngân hàng trả lãi nhưng đổi lại người gửi tiền được sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Các ngân hàng thậm chí còn yêu cầu duy trì một số dư tối thiểu trên tài khoản.Trường hợp trong thời gian dài trên tài khoản không có tiền hoặc có số dư thấp hơn mức tối thiểu quy định thì chủ tài khoản còn phải trả phí duy trì tài khoản cho ngân hàng.Việc phải trả phí dịch vụ thanh toán hay không là tùy vào quy định của ngân hàng đối với từng loại hình dịch vụ thanh toán. Với loại tiền gửi này, người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi mà chủ yếu nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và thực hiện hoạt động thanh toán qua ngân hàng. Vốn huy động từ tiền gửi thanh toán thường xuyên biến động vì vậy ngân hàng chủ yếu dùng để cho vay ngắn hạn.[15, tr.55].
Tiền gửi có kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định từ một vài tháng đến vài năm. Mức lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn tiền gửi không kỳ hạn nhưng những người gửi tiền loại này không được hưởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.Mục đích chủ yếu của những người gửi tiền có kỳ hạn là để lấy lãi. Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước thời hạn song để cạnh tranh thu hút khách hàng các ngân hàng vẫn cho phép rút trước hạn. Tuy nhiên, người gửi tiền rút trước hạn sẽ phải chịu một khoản phạt như chỉ được hưởng lãi suất bằng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi suất tùy theo quy định của từng ngân hàng trong từng thời kỳ.[15, tr.58]. Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn tiền tương đối ổn định do đó ngân hàng thương mại thường dùng để cho vay có kỳ hạn. Để thu hút nhiều hơn loại tiền này ngân hàng thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ hạn có một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao.
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gửi được ngân hàng công bố sẵn.Hình thức phổ biến nhất của tiền gửi tiết kiệm là sổ tiết kiệm.Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho người gửi một cuốn sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi vào và tiền rút ra.Quyển sổ này có giá trị xác nhận về khoản tiền đã gửi.[15, tr.58].
Ngoài các loại tiền gửi trên, trong ngân hàng thương mại còn có các khoản tiền gửi khác như tiền gửi của kho bạc nhà nước, tiền gửi của các tổ chức tín dụng…Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại phát hành các giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu… Tuy nhiên, lượng vốn này chỉ được huy động trong một thời gian nhất định.
1.1.2.3. Vốn vay
Trong quá trình kinh doanh các ngân hàng thương mại thường xảy ra tình trạng thừa vốn và thiếu vốn.Trường hợp xảy ra là khi huy động vốn nhưng chưa cho vay hết hoặc khách hàng có nhu cầu vay lớn mà ngân hàng không có khả năng đáp ứng.Khi thừa vốn, ngân hàng thương mại có thể gửi tiền vào các tổ chức tín dụng khác để hưởng lãi. Ngược lại, khi thiếu vốn ngân hàng thương mại có thể vay vốn từ ngân hàng trung ương hay các tổ chức tín dụng khác.
Vay ngân hàng trung ương: Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng cho vay cuối cùng trong nền kinh tế. Ngân hàng thương mại có thể vay vốn từ ngân hàng trung ương để giải quyết nhu cầu cấp bách.Ngân hàng nhà nước cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại chủ yếu dưới hai hình thức là chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá và cho vay thế chấp. Cụ thể, các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng nhà nước tại Việt Nam bao gồm:
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
- Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợ theo yêu cầu của nền kinh tế như thu mua nông sản, dự trữ vật tư, nguyên liệu.Vay ngắn hạn các khoản dự trữ từ các tổ chức tín dụng khác: mục đích chính của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định của ngân hàng trung ương. Trong quá trình hoạt động, một số ngân hàng thương mại có những ngày cho vay quá nhiều lần dẫn đến sự thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại ngân hàng trung ương.Trong khi đó lại có một vài ngân hàng thương mại khác thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ theo quy định của ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại thiếu hụt dự trữ sẽ vay của ngân hàng thương mại có dự trữ dư thừa. Ngoài ra, trong trường hợp nhu cầu vốn cấp bách, vay vốn từ các tổ chức tín dụng có thể thay thế cho việc vay vốn từ ngân hàng trung ương. ….[15, tr.61].
Vay từ thị trường vốn: Ngân hàng thương mại có thể phát hành các loại giấy tờ có giá như trái phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu để vay vốn trên thị trường tài chính. Nếu thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn, ngân hàng thương mại vay các khoản vay trung và dài hạn trên thị trường vốn để đáp ứng được nhu cầu cho vay và đầu tư. Đối với ngân hàng thương mại lớn, có uy tín, lãi cao thì khả năng huy động vốn là rất lớn nhưng đối với ngân hàng nhỏ, chưa có uy tín thì việc vay mượn sẽ khó hơn do đó để vay mượn ngân hàng nhỏ thường phải trả lãi cao hơn hoặc phải thông qua một ngân hàng khác có uy tín để bảo lãnh.
1.1.2.4. Vốn khác
Ngoài các nguồn vốn kể trên, trong quá trình hoạt động ngân hàng thương mại còn tạo lập vốn từ các nguồn vốn khác bao gồm:
- Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng…
- Vốn hình thành trong quá trình hoạt động cùa ngân hàng như nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ trung gian của ngân hàng…[15, tr.63].
1.1.3. Vai trò của huy động vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
1.1.3.1. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Huy động vốn là hoạt động tạo vốn quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại.Ngân hàng thương mại tập trung vào việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng của doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư để tiến hành hoạt động cho vay.Vốn huy động được càng nhiều thì khả năng cho vay càng lớn nhờ đó mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn đảm bảo uy tín và vị thế của ngân hàng thương mại.Uy tín của ngân hàng thường dựa trên khả năng huy động vốn và khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng. Huy động vốn càng nhiều giúp cho ngân hàng thương mại càng mở rộng được hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa các dịch vụ, nâng cao vị thế của ngân hàng thương mại.
Vốn huy động quyết định đến khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Vốn huy động lớn cho thấy quy mô, phương tiện kỹ thuật của ngân hàng hiện đại tạo điều kiện cho ngân hàng tăng sự chủ động về lãi suất, thời hạn, giúp ngân hàng đa dạng hóa các loại hình kinh doanh, phân tán rủi ro, tăng cường thêm vốn và lợi nhuận cho ngân hàng qua đó sức cạnh tranh của ngân hàng được nâng lên [9].
1.1.3.2. Đối với toàn bộ nền kinh tế
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trên cơ sở lượng vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay để phát triển sản xuất, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế ngành, các thành phần kinh tế và công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Huy động vốn của ngân hàng thương mại là huy động của cải xã hội để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh. Nhờ đó, tiền tiết kiệm, tạm thời nhàn rỗi của cá nhân, tổ chức được huy động cho quá trình vận động của nền kinh tế giúp nâng cao mức sống xã hội[9].
1.2. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
1.2.1. Khái niệm huy động vốn
Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận vốn từ các tổ chức kinh tế, cá nhân, định chế tài chính dưới nhiều hình thức khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định nhằm mục đích tạo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng.
Vốn huy động thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của ngân hàng[6].
1.2.2.Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động đóng vai trò then chốt trong hoạt động của ngân hàng thương mại.Hoạt động này ngày càng được phát triển, các hình thức huy động vốn được đa dạng hóa.Thông qua huy động vốn, tiền được chuyển đến ngân hàng bằng nhiều kênh khác nhau với nhiều hình thức khác nhau. Tính đa dạng của hoạt động huy động vốn được thể hiện qua các sản phẩm, kỳ hạn, đối tượng, mục đích, loại tiền mà ngân hàng huy động.
1.2.2.1. Nhận tiền gửi của khách hàng
Ngân hàng huy động vốn trên thị trường bằng cách nhận tiền gửi với rất nhiều loại sản phẩm có tên gọi khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bao gồm:
Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn): tiền gửi của tổ chức, cá nhân nhằm mục đích phục vụ cho việc thanh toán. Với loại tiền gửi này, người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào.Tiền gửi thanh toán là nguồn vốn huy động hấp dẫn các ngân hàng thương mại vì chi phí là thấp nhất trong các loại tiền gửi.Hiện nay, mức lãi suất tiền gửi thanh toán tối đa là 1%. Thủ tục để khách hàng mở tài khoản thanh toán đơn giản và về nguyên tắc khách hàng được thanh toán trong phạm vi số dư tài khoản. Tuy nhiên, trên thực tế các ngân hàng thương mại thường kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản cho vay để tạo điều kiện cho khách hàng chi tiêu vượt quá số dư theo hình thức thấu chi. Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Để huy động nguồn vốn này, các ngân hàng thương mại thường tìm cách thu hút khách hàng thông qua các chương trình khuyến mại, nâng cao chất lượng theo hướng nhanh chóng, thuận tiện và giảm phí đối với các dịch vụ ngân hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn: tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền. Đây là loại tiền gửi có thời hạn và có lãi suất cao nên là nguồn tiền tương đối ổn định ngân hàng thương mại có thể sử dụng để cho vay có kỳ hạn.
Theo quy định với loại tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn và hưởng lãi trên số tiền gửi song trên thực tế để thu hút khách hàng gửi tiền, ngân hàng cho phép được rút trước hưởng lãi suất không kỳ hạn.
Ngân hàng đưa ra nhiều kỳ hạn để đáp ứng với nguồn vốn nhàn rỗi của khách hàng, lãi suất đưa ra tương ứng với kỳ hạn gửi đảm bảo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
Tiền gửi tiết kiệm: huy động tiền gửi tiết kiệm là nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại mang lại lượng vốn lớn để tiến hành hoạt động cho vay và đầu tư nhằm mục đích sinh lời. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn do đó ngân hàng thường đưa ra nhiều hình thức khuyến mại hấp dẫn để thu hút người gửi.
Các ngân hàng thương mại thiết kế nhiều sản phẩm để huy động tiền gửi tiết kiệm như: tiết kiệm trả lãi định kỳ, trả lãi trước, trả lãi cuối kỳ, tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm dự thưởng…
1.2.2.2. Phát hành giấy tờ có giá
Phát hành giấy tờ có giá là việc ngân hàng thương mại phát hành các công cụ nợ để tiến hành huy động vốn trên thị trường. Nguồn vốn từ việc phát hành các giấy tờ có giá tương đối ổn định. Lãi suất của việc huy động vốn này phụ thuộc vào tính cấp thiết để có được nguồn vốn nên thường cao hơn so với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.Ngân hàng thương mại thường phát hành các loại giấy tờ có giá như trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá.
Ngân hàng thương mại phát hành giấy tờ có giá phải tuân thủ chuẩn mực kế toán số 16 “chi phí đi vay” do Bộ Tài chính ban hành. Theo chuẩn mực này, các doanh nghiệp trong đó có các ngân hàng thương mại phát hành các giấy tờ có giá với ba phương thức là phát hành giấy tờ phát hành giấy tờ có giá có chiết khấu, phát hành giấy tờ có giá có phụ trội và phát hành giấy tờ có giá ngang giá. Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
- Phát hành giấy tờ ngang giá: Là phát hành giấy tờ có giá bằng với mệnh giá của giấy tờ có giá (giá bán = mệnh giá). Ngân hàng phát hành trong trường hợp lãi suất thị trường bằng lãi suất danh nghĩa.
- Phát hành giấy tờ có giá có chiết khấu: Là phát hành giấy tờ có giá với giá thấp hơn mệnh giá của giấy tờ có giá (giá bán giấy tờ có giá < mệnh giá giấy tờ có giá). Phần chênh lệch giữa giá phát hành nhỏ hơn mệnh giá của giấy tờ có giá gọi là chiết khấu giấy tờ có giá.Trường hợp này thường xảy ra khi lãi suất thị trường lớn hơn lãi suất danh nghĩa của giấy tờ có giá phát hàn được các nhà đầu tư chấp nhận.
- Phát hành giấy tờ có giá phụ trội: Là phát hành giấy tờ có giá với giá cao hơn mệnh giá của giấy tờ có giá (giá ban giấy tờ có giá > mênh giá giấy tờ có giá).
Phần chênh lệch giữa giá phát hành lớn hơn mệnh giá của giấy tờ có giá gọi là phụ trội giấy tờ có giá.Trường hợp này xảy ra khi, lãi suất thị trường nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa được các nhà đầu tư chấp nhận.
- Về việc trả lãi phát hành giấy tờ có giá thường áp dụng 3 hình thức là trả lãi trước, trả lãi sau và trả lãi định kỳ.
Trả lãi trước: Số tiền lãi của giấy tờ có giá phát hành được trả cho người mua ngay khi phát hàn, số tiền lãi được khấu trừ ngay vào mệnh giá của giấy tờ có giá.
- Trả lãi sau: Số tiền lãi của giấy tờ có giá phát hành được trả cùng gôc khi thanh toán giấy tờ có giá đáo hạn.
- Trả lãi định kỳ: Số tiền lãi của giấy tờ có giá phát hành được trả cho người mua theo định kỳ hàng tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hay 12 tháng [6].
1.2.2.3. Vốn vay
Vốn vay thường chiếm tỷ lệ nhỏ với mục đích đáp ứng được khả năng thanh toán của ngân hàng.Huy động vốn từ nghiệp vụđi vay thông qua:
- Vay ngân hàng Nhà nước để giải quyết nhu cầu cấp bách trong việc chi trả thường là trong trường hợp thiếu hụt dự trữ. Hình thức chủ yếu là chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá hoặc cho vay thế chấp.
- Vay các tổ chức tín dụng: nghiệp vụ vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại hoặc vay các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Vay các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo nhu cầu dự trữ và khả năng thanh khoản [6].
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
1.3.1. Nhân tố chủ quan
- Chính sách lãi suất
Chính sách lãi suất là một chính sách rất quan trọng của ngân hàng trong hoạt động huy động vốn. Lãi suất được hiểu là giá cả của các sản phẩm dịch vụ tài chính.Ngân hàng thương mại sử dụng công cụ lãi suất tiền gửi để huy động tiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn.
Lãi suất cao là yếu tố kích thích doanh nghiệp, dân cư gửi tiền.Để thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng lựa chọn mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện thêm các ưu đãi về lãi suất đối với những khách hàng lớn, khách hàng gửi tiền thường xuyên. Tuy nhiên, nếu lãi suất huy động ở mức quá cao thì ngân hàng thương mại có thể bị lỗ vốn, vì vậy ngân hàng phải có chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo thu nhập cho ngân hàng, bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Chính sách lãi suất được xác định theo nguyên tắc lớn hơn tỷ lệ lạm phát và nhỏ hơn lãi suất cho vay, lãi suất dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn
- Mạng lưới chi nhánh của ngân hàng
Mạng lưới chi nhánh của ngân hàng cũng tác động đến hoạt động huy động vốn.Nếu việc tiếp cận với ngân hàng khó khăn sẽ làm giảm khả năng thu hút vốn. Ngân hàng có mạng lưới rộng khắp, khách hàng dễ dàng trong việc tiếp cận ngân hàng thì có nhiều cơ hội trong việc thu hút các khách hàng tiềm năng. Mạng lưới các chi nhánh ở đây có thể xem như mạng lưới kênh phân phối trong hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới của ngân hàng phải đảm bảo việc đầu tư đúng hướng, tránh dàn trải, lãng phí.
- Uy tín của ngân hàng Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Uy tín ngân hàng được hiểu là sự tín nhiệm của khách hàng dành cho ngân hàng.Khách hàng thường gửi tiền vào ngân hàng có mức rủi ro thấp. Do đó, những ngân hàng lớn, quá trình hoạt động lâu dài và có uy tín cao khả năng thu hút vốn là tốt hơn. Ngược lại những ngân hàng nhỏ, mới thành lập khó thu hút khách hàng để phát triển hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động marketing của ngân hàng
Mục tiêu của hoạt động Marketing là thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời, khả năng cạnh tranh trong kinh doanh. Hoạt động ngân hàng mang tính xã hội hoá cao, phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường kinh doanh nên sự thay đổi của bất cứ một yếu tố nào cũng ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Khi kịp thời nắm bắt sự thay đổi của môi trường kinh doanh, nhu cầu giúp ngân hàng triển khai được các sản phẩm phù hợp góp phần đáp ứng được khách hàng do đó sẽ thu hút được lượng vốn lớn. Mặt khác chính sách khuếch trương sẽ xây dựng hình ảnh ngân hàng tạo lòng tin với khách hàng. Chính vì thế, chính sách Marketing có ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốn của ngân hàng.
- Trình độ công nghệ
Công nghệ cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động huy động vốn. Ngân hàng được trang bị đầy đủ máy móc thiết bị theo công nghệ tiên tiến thì quy trình nghiệp vụ trở nên đơn giản, thuận tiện. Ngày nay, khi cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang bùng nổ thì khả năng ứng dụng công nghệ sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
- Tổ chức nhân sự
Con người luôn là nhân tố trung tâm và quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhân sự ngân hàng là người trực tiếp tiếp xúc khách hàng, đặt quan hệ giao dịch do đó để nâng cao hiệu quả huy động vốn thì ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ có năng lực, có chuyên môn nghiệp vụ cao, đồng thời phải có phẩm chất đạo đức tốt, tuân thủ pháp luật, các quy định của ngân hàng. Việc tổ chức nhân sự một cách hợp lý giúp cho hiệu quả huy động vốn được tốt hơn [9].
1.3.2. Nhân tố khách quan Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
- Môi trường kinh tế
Hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng chịu sự tác động của các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tốc độ chu chuyển vốn, thu nhập quốc dân, chỉ số lạm phát…. Khi nền kinh tế trong thời kỳ ổn định với tốc độ phát triển nhanh, thu nhập quốc dân ở mức cao, các đơn vị, tổ chức và người dân sẽ có nhiều khoản tiền dồi dào để gửi ngân hàng. Ngược lại, nếu tình hình kinh tế bất ổn, tỷ lệ lạm phát cao thì việc huy động vốn của ngân hàng sẽ gặp phải nhiều khó khăn bởi người dân sẽ không gửi tiền vào ngân hàng mà dùng tiền mua các tài sản mang tính ổn định cao hơn như vàng, ngoại tệ, bất động sản…. Khi đó, muốn huy động được ngân hàng buộc phải tăng lãi suất dễ dẫn đến rủi ro trong kinh doanh.Chính vì thế, ngân hàng cần dự đoán về chu kỳ kinh tế để có những chính sách phù hợp.
- Môi trường xã hội
Môi trường xã hội cũng ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng.Thu nhập của dân cư cũng như việc phân bố dân cư là yếu tố tác động đến quy mô huy động vốn của ngân hàng. Những khu vực đông dân cư, người dân có thu nhập cao thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Môi trường văn hoá như tập quán, thói quen sử dụng tiền mặt của người dân cũng ảnh hưởng nhiều đến quyết định là gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hay thực hiện chi tiêu số tiền nhàn rỗi này vào chứng khoán, bất động sản…
- Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý gồm hệ thống văn bản luật và dưới luật.Sự ổn định về pháp lý tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại tiến hành hoạt động huy động vốn được thuận tiện và đạt được kết quả cao. Lợi ích của các bên chỉ được đảm bảo khi tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh.
- Cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng
Cạnh tranh là một xu hướng tất yếu, động lực cho sự phát triển. Cạnh tranh làm cho các ngân hàng thương mại phải thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng. Để cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn các ngân hàng thương mại cần phải đa dạng hóa các hình thức huy động, mở rộng mạng lưới chi nhánh, có lãi suất hấp dẫn, có nhiều chương trình khuyến mãi và đội ngũ nhân sự nhiệt tình, chuyên nghiệp[9].
1.4. Kinh nghiệm của các ngân hàng thương mại trong việc nâng cao chất lượng huy động vốn Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
1.4.1. Bài học kinh nghiệm từ các ngân hàng nước ngoài
- Ngân hàng ANZ
Ngân hàng ANZ của Australia được thành lập từ năm 1930, có trụ sở tại Melbourne.ANZ là ngân hàng lớn nhất của Australia và là một trong 50 ngân hàng hàng đầu thế giới hiện nay.ANZ đã chú trọng triển khai một hệ thống dịch vụ rất đa dạng cho khách hàng từ cá nhân đến doanh nghiệp [15].
Trong hoạt động huy động vốn, ngân hàng áp dụng các chính sách lãi suất linh động, tổ chức các chương trình khuyến mại và cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích từ hệ thống thanh toán quốc tế. ANZ triển khai rất nhiều các sản phẩm tiền gửi như:
ANZ progress saver: sản phẩm này có ưu điểm là miễn phí thường niên hàng tháng và miễn phí giao dịch. Bên cạnh lãi suất tiền gửi, khách hàng còn được cộng điểm thưởng hàng ngày và được chi trả vào mỗi tháng nếu mỗi lần gửi tiền trên 10 USD và không rút ra trong vòng một tháng.Sản phẩm này có thể thực hiện giao dịch thông qua ANZ phone banking và các máy ATM.
ANZ online saver: đây là giao dịch tiền gửi trực tuyến, lãi suất cạnh tranh, tính lãi theo ngày và trả lãi hàng tháng, có thể chuyển khoản trực tuyến giữa tài khoản ANZ online saver và các tài khoản khác thông qua ANZ phone Banking, ANZ Internetbanking.
ANZ V2 Plus: tài khoản này được hưởng lãi suất cạnh tranh, truy cập thông qua ATM, Internet, phone banking, có thể gửi tiền và rút ra bất cứ lúc nào mà không mất phí. Số dư mở tài khoản ban đầu là 5.000 USD.
ANZ Premium Cash Management: với sản phẩm này, khách hàng sẽ được hưởng lãi suất bậc thang, tức là càng gửi nhiều lãi suất càng cao. Khách hàng được phát hành séc trên tài khoản, số dư mở tài khoản là 10.000 USD và đảm bảo duy trì tài khoản với 1.000 USD.
Với mạng lưới toàn cầu của ANZ, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận với ngân hàng.Thêm vào đó, ANZ còn hỗ trợ các giải pháp tư vấn từ các chuyên gia hàng đầu thông qua hệ thống 24/7.
Hệ thống ATM thuận tiện và dịch vụ ngân hàng trực tuyến cũng được ANZ quan tâm, thiết kế thuận tiện với người sử dụng. ANZ thực hiện đào tạo nhân viên bản địa về dịch vụ khách hàng thân thiện và chuyên nghiệp và kinh nghiệm cũng chính là chìa khóa thành công của ANZ.[20] Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
- Ngân hàng Citibank
Citibank là một trong những ngân hàng lớn nhất nước Mỹ. Citibank cung cấp một hệ thống dịch vụ vô cùng phong phú và đa dạng cho khách hàng bao gồm cả khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp. Với kế hoạch phát triển đa dạng, dịch vụ tốt và lượng khách hàng đông đảo, Citibank trở thành một trong những ngân hàng thành công nhất hiện nay trên thị trường tài chính ngân hàng trên thế giới.[20]
- Các sản phẩm tiền gửi của citibank gồm có:
E – saving account: tài khoản này không thu phí hàng tháng, mức ký quỹ là 100 USD, lãi suất thay đổi theo lãi suất thị trường. Việc giao dịch có thể tiến hành trực tuyến qua Internet và phone banking.
Day to day saving account: với sản phẩm này, ngân hàng thực hiện việc tự động kết nối với mọi tài khoản mà khách hàng mở tại Citibank đảm bảo mức duy trì số dư tài khoản là 100 USD. Nhờ vậy, khách hàng có thể tránh được phí duy trì số dư hàng tháng.Thêm vào đó, khách hàng còn được miễn phí khi thực hiện chuyển tiền trong hệ thống ngân hàng Citibank.Tài khoản này có thể mở bằng cách giao dịch trực tuyến.
Citibank money market plus account: khi thực hiện khách hàng có thể truy cập vào hệ thống online của ngân hàng, Citibank phone banking hoặc thông qua hệ thống máy ATM, mức duy trì số dư tài khoản là 100 USD.Với sản phẩm này, khách hàng được hưởng mức lãi suất cạnh tranh và có thể rút tiền mặt một cách dễ dàng.
Health savings account: đây là sản phẩm tiền gửi với các lợi ích về chăm sóc sức khỏe. Khi khách hàng mở tài khoản sẽ được tham gia chương trình chăm sóc sức khỏe có chất lượng.
Certificates of deposit: sản phẩm chứng chỉ tiền gửi của Citibank với lãi suất cạnh tranh cao, đảm bảo an toàn trong kỳ hạn dài từ 3 năm đến 5 năm. Citibank luôn tạo ra cách tiếp cận khách hàng rất khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Các dịch vụ mới được tạo ra trên cơ sở hiểu biết và nắm bắt rõ nhu cầu của khách hàng do đó các dịch vụ mà Citibank thiết kế rất sáng tạo, linh hoạt và hoàn toàn phù hợp với khách hàng. Citibank nâng cao số lượng kênh phân phối tự động, phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến để giúp khách hàng những điều kiện thuận lợi trong việc giao dịch với Citibank như phone banking, internet banking, contract center…Điều này đã mang lại khả năng cung cấp dịch vụ vượt trội.
Qua danh mục các tiện ích ngân hàng trực tuyến, ngân hàng điện tử của Citibank có thể thấy ngân hàng này đã khai thác một cách tối đa các phương tiện công nghệ thông tin hiện đại nhất hiện nay để phát triển các loại hình dịch vụ. Đồng thời, Citibank còn luôn chú trọng việc đảm bảo an toàn, bí mật thông tin khách hàng trong quá trình thực hiện giao dịch.
Chính vì sự tiên phong trong ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại nên Citibank có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng, khắc phục hạn chế về mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch, giảm thiểu chi phí thuê địa điểm.[20]
1.4.2. Bài học kinh nghiệm từ ngân hàng ở trong nước Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
- Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là một ngân hàng thương mại nhà nước liên tục duy trì vị trí số một về huy động vốn.Điều này xuất phát từ việc phủ khắp mạng lưới từ nông thôn đến thành thị của ngân hàng này với hơn 2000 chi nhánh.
Thực hiện việc nghiên cứu thị trường, phân đoạn khách hàng Agribank đã đưa ra các sản phẩm huy động vốn phù hợp với các đối tượng khách hàng gửi tiền, đặc điểm các vùng miền, xây dựng chính sách ưu đãi về lãi suất, khuyến mãi phù hợp với từng phân đoạn khách hàng, đa dạng hóa và hoàn thiện hệ thống danh mục sản phẩm huy động vốn, gia tăng tiện ích cho sản phẩm huy động vốn.
Agribank xây dựng cơ chế khuyến khích nội bộ, phân vùng, địa bàn hoạt động để xây dựng cơ chế thưởng huy động vốn phù hợp, xây dựng cơ chế phí, lãi suất theo hướng khuyến khích các đơn vị trong huy động vốn.[20]
- Một số sản phẩm tiền gửi của Agribank: Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
Sản phẩm “ Đầu tư tự động – Lợi ích tự động”: với sản phẩm này khách hàng sẽ đăng ký số dư sàn trên tài khoản thanh toán, khi số dư trên tài khoản thanh toán của khách hàng vượt số dư sàn, Agribank sẽ tự động chuyển phần tiền vượt sang tài khoản đầu tư tự động. Tiền từ tài khoản đầu tư tự động sẽ được áp dụng mức lãi suất bậc thang lũy tiến, mức lãi suất cao hơn nhiều so với mức lãi suất áp dụng đối với tài khoản thanh toán thông thường.[17]
Tiết kiệm an sinh là sản phẩm tiết kiệm gửi góp mà khách hàng chủ động được số lần gửi tiền không theo kỳ hạn nhất định. Sản phẩm đáp ứng ba tiêu chí là “an toàn – an nhàn – an tâm”.[17]
Tiền gửi trực tuyến qua Internet Banking: sản phẩm tạo sự thuận tiện trong giao dịch cho khách hàng. Khi sử dụng dịch vụ gửi tiền trực tuyến, khách hàng được chủ động gửi tiền có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam từ mức 1.000.000 đồng trở lên theo nhiều kỳ hạn khác nhau, đa dạng hình thức nhận lãi.[17]
1.4.3. Bài học kinh nghiệm rút ra
- Để tăng cường huy động vốn, ngân hàng cần phát triển mạng lưới ngân hàng và đặc biệt là tận dụng công nghệ hiện đại để phát triển các sản phẩm huy động vốn.
- Ngân hàng cần tiến hành đa dạng hóa các sản phẩm, triển khai nhiều sản phẩm huy động tiền gửi với mức lãi suất hấp dẫn đi kèm cá cưu đãi như cơ hội trúng thưởng, điểm thưởng hay quà tặng khi sử dụng thẻ của ngân hàng.
- Thực hiện việc giảm phí dịch vụ cho các khách hàng có gửi tiền tại ngân hàng.
- Ngân hàng xây dựng đội ngũ chuyên viên để triển khai các dịch vụ tư vấn về đầu tư, tài chính hỗ trợ cho khách hàng.
- Ngân hàng cần phân cấp khách hàng để có các chính sách và hình thức huy động phù hợp với đặc điểm của từng nhóm khách hàng và phải tạo ra sự khác biệt so với các ngân hàng khác.
- Tiến hành việc liên doanh, liên kết với các ngân hàng lớn ở trong và ngoài nước để vừa học hỏi kinh nghiệm vừa gia tăng các lợi ích cho ngân hàng. Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng huy động vốn của BIDV CN Quảng Ninh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Hoạt động tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng BIDV […]