Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên: nghiên cứu tại TP Tân An dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1 Thống kê mô tả

Tác giả đã tiến hành khảo sát trong hai tuần cuối tháng 8 và tuần đầu tháng 9 tại TP Tân An, Long An, ở 2 trường Tiểu học, 3 trường THCS và 3 trường THPT. Tổng cộng 400 phiếu khảo sát được phát đến giáo viên theo danh sách trường cung cấp, thu về 385 phiếu, trong đó 338 phiếu đạt yêu cầu và phù hợp với tiêu chuẩn mẫu tối thiểu (190 phiếu). Xem thêm Phụ lục 7

4.1.1 Thống kê mô tả các biến quan sát

Thống kê mô tả các biến quan sát cho thấy giá trị trung bình của các biến nằm trong khoảng từ 3.411 đến 4.627, phản ánh rằng phần lớn các biến đều có tác động đến ý định tiếp tục chuyển đổi số của giáo viên tại địa bàn khảo sát.

Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả các biến độc lập

Chiến lược chuyển đổi số được giáo viên đánh giá cao, với giá trị trung bình các biến CL1 đến CL5 dao động từ 4.281 đến 4.361, cho thấy đa số giáo viên đánh giá tích cực, dù có sự chênh lệch nhỏ ở CL4 và CL5. Cơ sở hạ tầng công nghệ có điểm trung bình từ 3.893 đến 4.118, cho thấy nhu cầu cải thiện ở các biến HT3, HT4 và HT5.

Năng lực kỹ thuật số (NL1 đến NL6) được đánh giá khá tốt, với giá trị trung bình ổn định từ 3.893 đến 4.118, dù NL5 có thể nâng cao thêm. Nhu cầu kỹ thuật số (NC1 đến NC3) thấp hơn, từ 3.411 đến 3.654, thể hiện mức độ chưa đồng đều.

Tính hữu ích của chuyển đổi số đạt điểm rất cao, từ 4.355 đến 4.482 cho các biến HI1 đến HI4, cho thấy giáo viên nhận định tích cực về vai trò của chuyển đổi số trong giáo dục. Tính dễ sử dụng kỹ thuật số (DS1 đến DS5) cũng được đánh giá cao, từ 4.095 đến 4.272, nhưng cần cải thiện thêm ở DS4. Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Về rủi ro bảo mật, các biến RR1 đến RR5 cho thấy giáo viên nhận thức rõ các nguy cơ, với điểm trung bình từ 4.056 đến 4.376. Cuối cùng, quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số nhận được sự đồng tình mạnh mẽ từ giáo viên, với điểm trung bình các biến QD1 đến QD5 từ 4.358 đến 4.627.

4.1.2 Thống kê miêu tả đặt điểm mẫu

  • Thống kê mô tả mẫu được trình bày trong Bảng 4.2 như sau:

Khảo sát tại TP. Tân An ghi nhận sự tham gia của 338 giáo viên, trong đó có 116 giáo viên nam, chiếm 34.3% tổng số, 219 giáo viên nữ, chiếm 64.8%, và 3 giáo viên thuộc giới tính khác, chiếm 0.9%. Tỷ lệ này cho thấy sự tham gia tích cực từ giáo viên nữ, trong khi số lượng giáo viên nam và giới tính khác ít hơn, góp phần tạo nên bức tranh toàn diện về cơ cấu giới tính trong mẫu khảo sát giáo viên tại địa phương.

Kết quả khảo sát độ tuổi cho thấy trong tổng số 338 giáo viên tham gia, nhóm tuổi từ 35-50 chiếm đa số với 239 người, tương ứng 70.7%. Nhóm giáo viên từ 50-65 tuổi gồm 71 người, chiếm 21%, trong khi nhóm trẻ nhất, từ 22-35 tuổi, chỉ có 28 người, chiếm 8.3%. Phân bổ này phản ánh đội ngũ giáo viên chủ yếu nằm trong độ tuổi trung niên, là nhóm có kinh nghiệm và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động giảng dạy và chuyển đổi số tại trường học.

Bảng 4.2 Thống kê mô tả đặt điểm mẩu

Kết quả khảo sát về trình độ chuyên môn cho thấy phần lớn giáo viên có trình độ đại học, với 304 người, chiếm 89.9% tổng số người tham gia. Số lượng giáo viên có trình độ sau đại học là 24 người, tương ứng 7.1%, trong khi nhóm có trình độ cao đẳng gồm 10 người, chiếm 3%. Phân bổ này thể hiện mức độ chuyên môn cao của đội ngũ giáo viên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng và phát triển các sáng kiến chuyển đổi số trong giáo dục.

Kết quả khảo sát về nơi công tác cho thấy tỷ lệ giáo viên tham gia chủ yếu tập trung ở bậc THPT, với 169 giáo viên, chiếm 50% tổng số người tham gia. Tỷ lệ giáo viên đang công tác tại THCS là 113 người, chiếm 33.4%, trong khi số lượng giáo viên tiểu học là 56 người, chiếm 16.6%. Sự phân bổ này phản ánh mức độ tham gia khảo sát tương đối đồng đều giữa các bậc học, đồng thời cho thấy sự quan tâm đáng kể đối với chuyển đổi số trong giáo dục, đặc biệt là ở bậc trung học phổ thông.

Dựa trên kết quả khảo sát về vị trí công việc của giáo viên, có thể thấy rằng phần lớn giáo viên hiện nay đang đảm nhận công việc giảng dạy bộ môn, với 272 giáo viên, chiếm 80.5% tổng số. Ngoài ra, có 19 giáo viên giữ chức tổ phó bộ môn, chiếm 5.6% và 21 giáo viên là tổ trưởng bộ môn, chiếm 6.2%. Các vị trí quản lý cũng có sự hiện diện, với 5 giáo viên giữ chức hiệu phó, chiếm 1.5% và 5 giáo viên là hiệu trưởng, chiếm 1.5%. Còn lại, có 16 giáo viên thực hiện công việc khác, chiếm 4.7%. Những tỷ lệ này phản ánh sự phân bổ công việc đa dạng giữa các vị trí trong ngành giáo dục, từ giảng dạy đến quản lý.

4.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo (Hệ số Cronbach’s Alpha) Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo thu được kết quả trong bảng 4.3 như sau:

Bảng 4.3 Kết quả phân tích độ tin cậy của từng nhóm nhân tố

Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho các biến cho thấy tất cả các hệ số đều vượt quá ngưỡng 0.600, chứng tỏ thang đo có độ tin cậy cao. Cụ thể, chiến lược chuyển đổi số đạt 0.694, cơ sở hạ tầng công nghệ 0.718, năng lực kỹ thuật số 0.686, nhu cầu sử dụng kỹ thuật số 0.693, tính hữu ích của chuyển đổi số 0.677, tính dễ sử dụng kỹ thuật số 0.717, rủi ro bảo mật thông tin 0.711 và quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số 0.749. Những kết quả này cho thấy thang đo sử dụng là đáng tin cậy và có thể chấp nhận được.

Sau khi kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho từng biến và nhận thấy tất cả các hệ số đều đạt mức ≥ 0.600, tác giả tiếp tục thực hiện phân tích Cronbach’s Alpha cho toàn bộ bài nghiên cứu. Kết quả phân tích tổng thể thu được trong bảng 4.4 như sau:

Bảng 4.4 Kết quả phân tích độ tin cậy của tổng thể bài nghiên cứu

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha tổng thể của bài nghiên cứu đạt 0.899, lớn hơn ngưỡng 0.600, cho thấy thang đo có độ tin cậy chấp nhận được. Hệ số tương quan biến tổng (hiệu chỉnh) của các biến quan sát trong nghiên cứu dao động từ 0.312 đến 0.591, tất cả đều đạt yêu cầu (≥ 0.3). Tuy nhiên, hai biến quan sát NL6 và RR5 có hệ số tương quan biến tổng hiệu chỉnh lần lượt là 0.256 và 0.269, nhỏ hơn 0.3, cho thấy chúng không đạt độ tin cậy cần thiết và không phù hợp để tiếp tục phân tích. Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha sau khi loại các biến quan sát NL6, RR5 chưa đạt yêu cầu ra khỏi thang đo trong bảng 4.5 như sau:

Bảng 4.5 Kết quả phân tích độ tin cậy sau khi loại các biến quan sát

Sau khi loại bỏ các biến quan sát NL6 và RR5, Cronbach’s Alpha tổng thể của bài nghiên cứu đạt 0.899, vượt ngưỡng 0.600, cho thấy thang đo có độ tin cậy chấp nhận được. Hệ số tương quan biến tổng (hiệu chỉnh) của các biến quan sát dao động từ 0.315 đến 0.594, tất cả đều đạt yêu cầu (≥ 0.3). Kết quả này chứng tỏ độ tin cậy của bài nghiên cứu đã đạt mức cần thiết, phù hợp để tiếp tục các bước phân tích sau. Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

4.3 Kiểm định các nhân tố khám phá (EFA)

4.3.1 Kiểm định các nhân tố khám phá (EFA) các biến độc lập

Kết quả kiểm định các nhân tố khám phá trong bảng 4.6 sau khi loại biến NL6, RR5 cho thấy:

Bảng 4.6 Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett của các biến độc lập

Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) 0.848
Kiểm định Bartlett’s Chi bình phương 2515.131
Df 465.000
Sig. 0.000

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả

Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy hệ số KMO đạt 0.848, vượt qua ngưỡng 0.5, chứng tỏ đủ điều kiện để thực hiện phân tích EFA. Đồng thời, kiểm định Bartlett’s với giá trị Sig. = 0.00, nhỏ hơn 0.5, khẳng định rằng phân tích nhân tố khám phá là đáng tin cậy và có ý nghĩa thống kê. Những kết quả này cho thấy các biến quan sát có mối liên hệ với nhau về mặt tổng thể, phù hợp để tiếp tục phân tích.

Bảng 4.7 Bảng hệ số Eigenvalues biến độc lập

Thành phần Giá trị Eigenvalues
Tổng % biến thiên % tích lũy
6.506 20.987 20.987
1.915 6.179 27.166
1.685 5.435 32.601
1.558 5.025 37.626
1.485 4.790 42.416
1.384 4.465 46.881
1.283 4.139 51.019

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả phân tích EFA từ bảng giá trị Eigenvalues (bảng 4.7) cho thấy các biến được nhóm thành 7 nhân tố riêng biệt, với giá trị Eigenvalue của nhân tố thứ 7 là 1.283, lớn hơn 1. Tổng phương sai trích đạt 51.019%, vượt ngưỡng 50%, chứng tỏ rằng 7 nhóm nhân tố này giải thích được 51.019% sự biến thiên của dữ liệu phân tích. Xem thêm Phụ lục 11

Bảng 4.8 Bảng kết quả ma trận xoay nhân tố biến độc lập

Kết quả phân tích nhân tố với phép xoay Varimax trong bảng 4.8 sau khi loại bỏ 2 biến NL6 và RR5 cho thấy 7 nhân tố: Chiến lược chuyển đổi số , cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số, nhu cầu sử dụng kỹ thuật, tính hữu ích của chuyển đổi số, tính dễ sử dụng kỹ thuật số và rủi ro bảo mật thông tin. Các nhân tố này bao gồm 31 biến quan sát có trọng số lớn hơn 0.5, đảm bảo kết quả phân tích đạt yêu cầu mà không cần loại bỏ thêm biến nào. Các biến quan sát được sắp xếp theo thứ tự giảm dần của 7 nhóm nhân tố như sau:

  • Nhóm nhân tố HT bao gồm: HT3, HT5, HT1, HT2, HT4
  • Nhóm nhân tố DS bao gồm: DS1, DS5, DS3, DS4, DS2
  • Nhóm nhân tố NL bao gồm: NL3, NL4, NL5, NL1,NL2
  • Nhóm nhân tố CL bao gồm: CL5, CL1, CL2, CL3, CL4
  • Nhóm nhân tố RR bao gồm: RR3, RR2, RR4, RR1
  • Nhóm nhân tố HI bao gồm: HI4, HI3, HI2, HI1
  • Nhóm nhân tố NC bao gồm: NC1, NC2, NC3

4.3.2 Kiểm định các nhân tố khám phá (EFA) biến phụ thuộc

Kết quả kiểm định các nhân tố khám phá trong bảng 4.9 cho thấy:

Bảng 4.9 Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett của biến phụ thuộc

Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) 0.769
Kiểm định Bartlett’s Chi bình phương 366.786
Df 10.000
Sig. 0.000

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả phân tích EFA của biến phụ thuộc cho thấy hệ số KMO đạt 0.769, vượt qua ngưỡng 0.5, chứng tỏ đủ điều kiện để thực hiện phân tích nhân tố khám phá. Kiểm định Bartlett’s với giá trị Sig. = 0.00, nhỏ hơn 0.5, khẳng định phân tích nhân tố khám phá là đáng tin cậy và có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy phân tích EFA là phù hợp và các biến có mối liên hệ với nhau về mặt tổng thể.

Bảng 4.10 Bảng hệ số Eigenvalues của biến phụ thuộc

Thành phần Giá trị Eigenvalues
Tổng % biến thiên % tích lũy
1 2.507 50.147 50.147

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả

Kết quả phân tích EFA của biến phụ thuộc trong bảng 4.10 cho thấy giá trị Eigenvalue là 2.507, lớn hơn 1, và tổng phương sai trích đạt 50.147%, vượt ngưỡng 50%. Điều này cho thấy nhân tố này giải thích 50.147% sự biến thiên của dữ liệu phân tích.

Bảng 4.11 Bảng kết quả ma trận xoay nhân tố biến độc lập

Biến quan sát Các nhân tố
1
QD2 0.802
QD3 0.732
QD5 0.721
QD4 0.695
QD1 0.571

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả

Kết quả phân tích nhân tố với phép xoay Varimax trong bảng 4.11 cho thấy nhân tố “quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số” bao gồm 5 biến quan sát, tất cả đều có trọng số lớn hơn 0.5, đảm bảo kết quả phân tích đạt yêu cầu mà không cần loại bỏ bất kỳ biến nào. Các biến quan sát được xếp theo thứ tự giảm dần như sau:

Nhóm nhân tố phụ thuộc QD bao gồm: QD2, QD3, QD5, QD4, QD1 Từ kết quả phân tích EFA tác giả tổng hợp các biến trong bảng 4.12 như sau: Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Bảng 4.12 Bảng tổng hợp các biến 

STT Các nhân tố Các biến quan sát Phân loại
1 HT HT3, HT5, HT1, HT2, HT4 Biến độc lập
2 DS DS1, DS5, DS3, DS4, DS2 Biến độc lập
3 NL NL3, NL4, NL5, NL1,NL2 Biến độc lập
4 CL CL5, CL1, CL2, CL3, CL4 Biến độc lập
5 RR RR3, RR2, RR4, RR1 Biến độc lập
6 HI HI4, HI3, HI2, HI1 Biến độc lập
7 NC NC1, NC2, NC3 Biến độc lập
8 QD QD2, QD3, QD5, QD4, QD1 Biến phụ thuộc

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả

Dựa vào biểu đồ Component Plot trong không gian xoay Rotaled (Phụ lục 11), kết quả cho thấy mỗi điểm trên biểu đồ đại diện cho một biến quan sát. Vị trí của các điểm phản ánh hệ số tải của các biến, với xu hướng tập trung mạnh vào một biến quan sát cụ thể. Những biến quan sát nằm gần nhau trên biểu đồ có mối liên hệ chặt chẽ hơn, cho thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa chúng.

4.4 Kiểm định hệ số tương quan Pearson

Kiểm định hệ số tương quan Pearson sau khi loại các biến quan sát NL6 và RR5 còn lại 36 biến quan sát thu được kết quả trong bảng 4.13 như sau:

Bảng 4.13 Bảng kết quả thể hiện mức độ tương quan giữa các biến

Các nhân tố CL HT NL NC HI DS RR QD
Mức độ tương quan X1 1.000 0.401* 0.409* 0.380* 0.340* 0.354* 0.319* 0.561*
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Mức độ tương quan X2 0.401* 1.000 0.345* 0.314* 0.347* 0.299* 0.280* 0.533*
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Mức độ tương quan X3 0.409* 0.345* 1.000 0.300* 0.257* 0.340* 0.299* 0.509*
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Mức độ tương quan X4 0.380* 0.314* 0.300* 1.000 0.308* 0.287* 0.250* 0.511*
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Mức độ tương quan X5 0.340* 0.347* 0.257* 0.308* 1.000 0.392* 0.318* 0.513*
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Mức độ tương quan X6 0.354* 0.299* 0.340* 0.287* 0.392* 1.000 0.365* 0.536*
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Mức độ tương quan X7 0.319* 0.280* 0.299* 0.250* 0.318* 0.365* 1.000 0.508*
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Mức độ tương quan Y 0.561* 0.533* 0.509* 0.511* 0.513* 0.536* 0.508* 1.000
Hệ số sig 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả 

Kết quả kiểm định hệ số tương quan Pearson cho thấy tất cả các nhân tố liên quan đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số đều có hệ số sig = 0.000 (sig ≤ 0.05), đạt ý nghĩa thống kê và mức độ tương quan đều lớn hơn 0.5, chỉ ra mối quan hệ dương cùng chiều. Cụ thể, khi các nhân tố như chiến lược chuyển đổi số, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số, nhu cầu sử dụng kỹ thuật số, tính hữu ích của chuyển đổi số, tính dễ sử dụng kỹ thuật số và rủi ro bảo mật thông tin tăng, quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số cũng tăng theo. Với mức độ tương quan trung bình 0.5, các nhân tố này đều được giữ lại để tiếp tục phân tích trong mô hình hồi quy tuyến tính. Xem thêm Phụ lục 9

4.5 Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính thu được kết quả trong bảng 4.14 như sau:

Bảng 4.14 Tóm tắt mô hình hồi quy tuyến tính

Mô hình R R2 R2 hiệu chỉnh Sai số chuẩn ước tính Hệ số Durbin – Watson
1 0.805a 0.648 0.641 0.306 1.780
  1. Các biến độc lập : X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7
  2. Biến phụ thuộc : Y

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả

Kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy giá trị R² hiệu chỉnh là 0.641, cho thấy mô hình có ý nghĩa tương đối mạnh, với 64.1% sự biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình, trong khi 35.9% còn lại là do các yếu tố ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên. Bảng kiểm định cũng chỉ ra giá trị hệ số Durbin-Watson là 1.780, nằm trong khoảng từ 1.5 đến 2.5, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc nhất, đảm bảo tính hợp lý của mô hình.

Bảng 4.15 Bảng kiểm định F (ANOVA)

Kết quả kiểm định F trong bảng 4.15 cho thấy giá trị F là 86.974 với giá trị Sig là 0.00 (sig ≤ 0.05), chứng tỏ mô hình hồi quy tuyến tính là phù hợp. Điều này cho thấy các nhân tố độc lập trong mô hình có khả năng giải thích sự thay đổi của nhân tố quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số, đồng thời khẳng định ít nhất một trong các nhân tố độc lập có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc. Thêm vào đó, chỉ số R² tổng thể đạt 0.648, lớn hơn 0.5, cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính có độ tin cậy cao và có thể áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu.

Bảng 4.16 Hệ số hồi quy giữa các biến độc lập lên biến phụ thuộc

Kết quả kiểm định các hệ số hồi quy tuyến tính trong bảng 4.16 cho thấy giá trị Sig. của các nhân tố độc lập X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7 lần lượt là 0.00, tất cả đều nhỏ hơn 0.05 (Sig. ≤ 0.05), chứng tỏ các nhân tố này có mức ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều này cho thấy mô hình có độ tin cậy 95%, và các biến độc lập X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7 đều có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số. Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Ngoài ra, hệ số hồi quy chuẩn hoá của các biến độc lập đều mang giá trị dương, với các hệ số beta lần lượt là (0.170, 0.188, 0.159, 0.192, 0.160, 0.178, 0.190), cho thấy tác động dương cùng chiều của các nhân tố này đối với biến phụ thuộc. Dựa trên giá trị của các hệ số beta, thứ tự ảnh hưởng của các biến độc lập đối với quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số từ cao đến thấp là: X4, X7, X2, X6, X1, X5 và X3, với các hệ số beta tương ứng (0.192, 0.190, 0.188, 0.178, 0.170, 0.160, 0.159).

Từ bảng hệ số hồi quy giữa các biến độc lập lên biến phụ thuộc tác giả đưa ra được phương trình mô hình hồi quy thể hiện mối quan hệ giữ các nhân tố:

  • Phương trình mô hình hồi quy theo hệ số chưa chuẩn hoá (B)

Y = – 0.526+ 0.177*X1 + 0.167*X2 + 0.167*X3 + 0.137*X4 + 0.165*X5 + 0.192*X6 + 0.190*X7 + ei

  • Phương trình mô hình hồi quy theo hệ số chuẩn hoá (Beta)

Y = 0.192*X4 + 0.190*X7 + 0.188*X3 + 0.178*X6 + 0.170*X5 + 0.160*X1 + 0.159*X2 + ei

Kết quả kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính cho thấy nhân tố X4 (Nhu cầu sử dụng kỹ thuật số) có tác động mạnh nhất và cùng chiều với biến phụ thuộc Y (quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số), với hệ số hồi quy chuẩn hoá (beta) là +0.192. Điều này có nghĩa là khi nhân tố X4 tăng thêm một đơn vị, quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên sẽ tăng thêm 0.192 đơn vị.

Ngoài ra, kết quả kiểm định cũng chỉ ra rằng tất cả các hệ số VIF của các biến độc lập X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7 đều nhỏ hơn 2, với các giá trị lần lượt là (1.481, 1.349, 1.344, 1.280, 1.349, 1.385, 1.277), điều này khẳng định không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình. Bên cạnh đó, hệ số Sig. của các biến độc lập đều nhỏ hơn 0.05, cho thấy không có sự tự tương quan giữa các biến.

Kết quả kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính cho thấy tất cả 7 giả thuyết nghiên cứu ban đầu đều có hệ số Sig. nhỏ hơn 0.05. Các biến độc lập đều có hệ số beta chuẩn hoá dương, phản ánh tác động tích cực đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số. Trong đó, nhu cầu sử dụng kỹ thuật số của giáo viên có tác động mạnh nhất với hệ số beta 0.192, tức là khi biến này tăng thêm một đơn vị, quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số sẽ tăng thêm 0.192 đơn vị. Tương tự, các biến khác như Chiến lược chuyển đổi số của nhà trường, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số của giáo viên, tính hữu ích và dễ sử dụng kỹ thuật số trong dạy học, và rủi ro bảo mật thông tin cũng đều có tác động tích cực, với các hệ số beta lần lượt là 0.170; 0.188; 0.159; 0.160; 0.178; 0.190. Từ phân tích trên, tác giả kết luận trong bảng 4.17 như sau:

Bảng 4.17 Kết luận các giả thuyết nghiên cứu từ phân tích hồi quy tuyến tính

Để kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của mô hình hồi quy tuyến tính, tác giả đã thực hiện các kiểm định đối với các biến độc lập và biến phụ thuộc, đảm bảo không có sai số ngẫu nhiên trong đo lường. Kết quả kiểm tra cho thấy các phần dư phân phối theo quy luật phân phối chuẩn, có giá trị trung bình bằng 0 và phương sai không thay đổi đối với mọi giá trị, đồng thời không có sự tương quan giữa các phần dư. Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả từ biểu đồ Histogram cho thấy giá trị trung bình (Mean) gần bằng 0 (-5.89E-15) và độ lệch chuẩn (Std.Dev) gần bằng 1 (0.990), xác nhận không có vi phạm giả thuyết phân phối chuẩn. Thêm vào đó, biểu đồ P-P plot cũng hỗ trợ kết luận này, khi các điểm phân vị của phần dư phân bố đều xung quanh đường chéo, không có sự phân tán quá xa, chứng tỏ phần dư tuân theo phân phối chuẩn.

Kết quả từ biểu đồ phân tán (Scatterplot) cho thấy các phần dư phân tán ngẫu nhiên trong một vùng và tập trung xung quanh đường hoành độ 0 mà không tạo thành mô hình hay sự thay đổi phương sai, điều này khẳng định phần dư và giá trị dự đoán là độc lập. Với các kiểm định này, có thể kết luận mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp và không vi phạm các giả thuyết về phần dư.

4.6 Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Kết quả chạy kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM trong bảng 4.18 cho thấy:

Bảng 4.18 Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

Chi – bình phương 704.415
df 566
P-value 0.000
Chi – bình phương / df 1.245
GFI 0.898
TLI 0.945
CFI 0.951
RMSEA 0.027

Nguồn: Trích xuất từ phân tích SPSS 20 của tác giả

Tác giả đã tiến hành kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để xác định tính ý nghĩa thống kê của mô hình. Kết quả kiểm định cho thấy giá trị P-value = 0.000 (P-value < 0,05), xác nhận kiểm định có ý nghĩa và phù hợp. Các chỉ số phù hợp của mô hình bao gồm: Chi-square/df = 1.245 (< 3), chỉ số GFI = 0.898 (chấp nhận được), TLI = 0.945 và CFI = 0.951 (đạt mức tốt, 0.9 ≤ TLI, CFI ≤ 0.95), cùng với chỉ số RMSEA = 0.027 (RMSEA < 0,05), thể hiện mức độ phù hợp rất tốt của mô hình. Kết quả phân tích cho thấy mô hình cấu trúc tuyến tính SEM là có ý nghĩa và phù hợp với dữ liệu nghiên cứu.

Hình 4.1 Kết quả chạy kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 

Việc xác định mô hình cấu trúc tuyến tính có ý nghĩa thống kê là một bước quan trọng, tuy nhiên chưa đủ cơ sở để kết luận về sự tác động của các yếu tố trong mô hình. Do đó, tác giả tiếp tục đánh giá mức độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc nhằm làm rõ mức độ ảnh hưởng và tính quan trọng của từng yếu tố trong mô hình.

Bảng 4.19 Mức ý nghĩa sự tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc

Trọng số hồi quy Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Giá trị ước tính S.E. C.R. P
QD <— CL 0.210 0.079 2.653 0.008
QD <— HT 0.225 0.078 2.869 0.004
QD <— NL 0.161 0.076 2.131 0.033
QD <— NC 0.139 0.063 2.212 0.027
QD <— HI 0.054 0.074 0.733 0.464
QD <— DS 0.249 0.086 2.880 0.004
QD <— RR 0.191 0.054 3.520 0.000

Nguồn: Trích xuất từ phân tích AMOS 20 của tác giả

Kết quả từ phân tích trọng số hồi quy trong bảng 4.19 cho thấy các biến độc lập, bao gồm chiến lược chuyển đổi số (P-value = 0.008), cơ sở hạ tầng công nghệ (P-value = 0.004), năng lực kỹ thuật số (P-value = 0.033), nhu cầu sử dụng kỹ thuật số (P-value = 0.027), tính dễ sử dụng kỹ thuật số (P-value = 0.004) và rủi ro bảo mật thông tin (P-value = 0.000), đều có tác động dương cùng chiều và có ý nghĩa thống kê (P-value < 0.05). Tuy nhiên, biến tính hữu ích của chuyển đổi (P-value = 0.464) không có tác động và không đạt ý nghĩa thống kê, do đó biến này được loại bỏ khỏi mô hình.

Sau khi xác nhận mô hình cấu trúc tuyến tính SEM có ý nghĩa thống kê, tác giả tiếp tục đánh giá mức độ tác động của các yếu tố độc lập đối với quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.

Bảng 4.20 Mức độ tác động của các nhân tố độc lập đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số

Trọng số hồi quy chuẩn hoá

Giá trị ước tính Giả thuyết Ghi chú
QD <— CL 0.230 H1 Chấp nhận giả thuyết
QD <— HT 0.207 H2 Chấp nhận giả thuyết
QD <— NL 0.157 H3 Chấp nhận giả thuyết
QD <— NC 0.150 H4 Chấp nhận giả thuyết
QD <— HI 0.052 H5 Loại bỏ giả thuyết
QD <— DS 0.216 H6 Chấp nhận giả thuyết
QD <— RR 0.235 H7 Chấp nhận giả thuyết

Nguồn: Trích xuất từ phân tích AMOS 20 của tác giả Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả phân tích trọng số hồi quy chuẩn hoá trong bảng 4.20 cho thấy tất cả các nhân tố độc lập, bao gồm chiến lược chuyển đổi số của nhà trường, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số của giáo viên, nhu cầu sử dụng kỹ thuật số của giáo viên, tính dễ sử dụng kỹ thuật số trong dạy học, và rủi ro bảo mật thông tin, đều có hệ số P-value nhỏ hơn 0.05 (0.008, 0.004, 0.033, 0.027, 0.004, 0.000), chứng tỏ các biến này có tác động dương cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đối với quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên, với các giá trị ước lượng lần lượt là 0.210, 0.225, 0.161, 0.139, 0.249, và 0.191. Tuy nhiên, biến tính hữu ích của chuyển đổi (P-value = 0.464) không đạt yêu cầu và được loại bỏ khỏi mô hình. Dựa trên kết quả phân tích SEM, các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H6, H7 đều được chấp nhận, trong khi giả thuyết H5 không đạt yêu cầu và cũng được loại bỏ khỏi thang đo. Từ phân tích trên, tác giả đưa ra kết luận trong bảng 4.21 như sau:

Bảng 4.21 Kết luận các giả thuyết nghiên cứu từ phân tích SEM

Rủi ro bảo mật có tác động tiêu cưc đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.

Dựa trên kết quả phân tích Cronbach’s Alpha, kiểm định EFA, kiểm định mối quan hệ tương quan, kiểm định hồi quy tuyến tính và kiểm định SEM, tác giả đã xây dựng lại mô hình nghiên cứu như sau:

Hình 4.2 Mô hình nghiên cứu sau kiểm định

4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố như: Chiến lược chuyển đổi số, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số, nhu cầu sử dụng kỹ thuật số, tính dễ sử dụng của chuyển đổi số, rủi ro bảo mật thông tin, tác động mạnh đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.

Các yếu tố chiến lược chuyển đổi số, cơ sở hạ tầng công nghệ và năng lực kỹ thuật số đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục. Chiến lược chuyển đổi số thể hiện tầm nhìn và kế hoạch cụ thể về việc tích hợp công nghệ vào giảng dạy và quản lý. Một chiến lược rõ ràng giúp định hướng các hoạt động chuyển đổi, từ đó tạo ra sự phát triển bền vững và hiệu quả trong việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục, như kết quả nghiên cứu của Chuyên (2023); Trang và Phương (2023) đã chỉ ra.

Cơ sở hạ tầng công nghệ là nền tảng quan trọng, bao gồm các thiết bị, phần mềm và kết nối mạng, giúp hỗ trợ các hoạt động dạy học trực tuyến. Hệ thống công nghệ mạnh mẽ và ổn định sẽ đảm bảo giáo viên và học sinh có thể sử dụng công nghệ một cách thuận lợi và hiệu quả. Kết quả này cũng được khẳng định qua nghiên cứu của Hương và Sen (2021); Nhan Cẩm Trí (2024); Wei, Abdullah và Nordin (2023). Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Năng lực kỹ thuật số, bao gồm khả năng sử dụng công nghệ trong giảng dạy và tương tác với học sinh, là yếu tố then chốt trong quá trình chuyển đổi số. Nếu giáo viên được trang bị đầy đủ kỹ năng và kiến thức về công nghệ, họ sẽ có khả năng áp dụng công nghệ vào giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng học tập và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số thành công, giống như các nghiên cứu của Chuyên (2023); Chử Bá Quyết (2021); Wei, Abdullah và Nordin (2023); Dubey và Sahu (2022) đã chỉ ra.

Các yếu tố như nhu cầu sử dụng kỹ thuật số, tính dễ sử dụng của công nghệ và các rủi ro bảo mật thông tin có ảnh hưởng lớn đến quyết định của giáo viên trong việc tiếp tục áp dụng chuyển đổi số trong giáo dục. Nhu cầu sử dụng kỹ thuật số phản ánh sự cần thiết và giá trị mà công nghệ mang lại trong công tác giảng dạy. Khi công nghệ có thể đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục, giáo viên sẽ có động lực để tích cực áp dụng. Điều này được xác nhận qua nghiên cứu của Trang và Phương (2023).

Tính dễ sử dụng của công nghệ là yếu tố quyết định đến mức độ giáo viên có thể tiếp cận và sử dụng công nghệ một cách thuận lợi. Nếu công nghệ quá phức tạp, khó hiểu hoặc yêu cầu thời gian dài để làm quen, giáo viên sẽ gặp khó khăn và có thể ngần ngại trong việc áp dụng. Kết quả nghiên cứu giống như các nghiên cứu của Du, Liang, Zhang và Wang (2023); Cavalcanti, Oliveira và Santini (2022).

Cuối cùng, rủi ro bảo mật thông tin là một yếu tố không thể xem nhẹ khi áp dụng công nghệ trong giáo dục. Việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số có thể dẫn đến nguy cơ lộ dữ liệu cá nhân và thông tin học sinh. Vì vậy, việc xây dựng các biện pháp bảo mật và bảo vệ an toàn thông tin là cực kỳ quan trọng để giáo viên và học sinh có thể yên tâm khi tham gia vào các hoạt động học tập trực tuyến. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tầm quan trọng của rủi ro bảo mật thông tin với việc triển khai chuyển đổi số trong giáo dục giống như Nghiên cứu của Nhan Cẩm Trí (2024) và Chử Bá Quyết (2021).

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Nghiên cứu được thực hiện với 400 phiếu khảo sát phân phát dựa trên danh sách cán bộ và giáo viên do trường cung cấp. Sau quá trình thu thập và làm sạch dữ liệu, có 338 phiếu hợp lệ được sử dụng để phân tích. Dữ liệu được xử lý thông qua phần mềm SPSS 20 và AMOS 20, với các kiểm định như phân tích mô tả, độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích EFA, hệ số tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính và mô hình SEM để kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu.

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy các biến độc lập CL, HT, NL, NC, HI, DS, và RR có hệ số beta từ 0.159 đến 0.192 với mức ý nghĩa thống kê Sig.05. Chỉ số CFI của các biến nằm trong khoảng 1.277–1.481 (đều < 2), đạt yêu cầu. Phân tích SEM thu được P-value = 0.000, Chi-square/df = 1.245 (< 3), GFI = 0.898, TLI = 0.945, CFI = 0.951, và RMSEA = 0.027, tất cả đều đáp ứng tiêu chuẩn phù hợp. Đa số các biến có giá trị P-value < 0.05 và giá trị ước tính từ 0.139 đến 0.249, ngoại trừ biến HI (P-value = 0.464), nên biến này được loại khỏi thang đo.

Chương 5 đưa ra kết luận tổng quan, xác định các hạn chế và đề xuất giải pháp cũng như hàm ý quản trị, đồng thời định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1 Kết luận Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Dựa trên cơ sở tổng quan lý thuyết, bài viết đã xây dựng một mô hình lý thuyết bao gồm bảy yếu tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP. Tân An. Các yếu tố này bao gồm chiến lược chuyển đổi số, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số, nhu cầu sử dụng kỹ thuật số, tính hữu ích của chuyển đổi số, tính dễ sử dụng của công nghệ và rủi ro bảo mật thông tin. Mô hình này phản ánh rõ ràng sự ảnh hưởng của từng yếu tố đến quyết định của giáo viên trong việc áp dụng và duy trì chuyển đổi số trong giảng dạy. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp đối với 338 giáo viên đang làm việc tại các trường Tiểu học, THCS và THPT trên địa bàn TP. Tân An. Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, mô hình cấu trúc tuyến tính đã được sử dụng, giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố và đánh giá mức độ tác động của chúng đến quyết định của giáo viên.

Tuy nhiên, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính chỉ ra sáu yếu tố có ảnh hưởng chính, bao gồm: Chiến lược chuyển đổi số, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số, nhu cầu sử dụng kỹ thuật số, tính dễ sử dụng kỹ thuật số và rủi ro bảo mật thông tin. Các yếu tố này đều có giá trị ước lượng dương, với hệ số lần lượt là 0.210, 0.225, 0.161, 0.139, 0.249 và 0.191, cho thấy tác động tích cực đến quyết định tiếp tục chuyển đổi số. Yếu tố tính hữu ích của chuyển đổi số trong dạy học có P-value = 0.464, vượt ngưỡng 0.05, do đó không đủ điều kiện và đã bị loại khỏi mô hình. Kết quả này xác nhận rằng trong bảy yếu tố từ giả thuyết ban đầu, chỉ còn lại sáu yếu tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất sáu hàm ý quản trị quan trọng, giúp nhà trường xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.

5.2 Hàm ý quản trị

Với mục tiêu ban đầu là nâng cao quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên, nghiên cứu tiến hành xác định sự các nhân tố tác động và đánh giá mức độ tác đông của từng nhân tố đó. Từ đó, tác giả đề xuất hàm ý quản trị thúc đẩy quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.

  • Rủi ro bảo mật thông tin Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả phân tích cho thấy rủi ro bảo mật thông tin có tác động mạnh mẽ đến quyết định tiếp tục chuyển đổi số của giáo viên, với hệ số hồi quy chuẩn hoá là 0.235, đứng thứ hai trong các yếu tố ảnh hưởng. Cụ thể, biến quan sát RR1: “Việc triển khai số hóa luôn đảm bảo an toàn hệ thống của nhà trường?” nhận được đánh giá cao nhất từ giáo viên với giá trị trung bình (mean) là 4.219, cho thấy giáo viên tin tưởng vào các biện pháp bảo vệ hệ thống khi nhà trường triển khai chuyển đổi số. Tuy nhiên, nhà trường cần tiếp tục duy trì và phát triển các biện pháp bảo mật để đảm bảo an toàn lâu dài. Biến quan sát RR3: “Thông tin tài khoản đăng nhập hệ thống, thông tin cá nhân của GV và HS luôn được bảo mật cao nhất?” đạt giá trị trung bình 4.121, phản ánh sự đồng thuận của giáo viên về việc bảo mật thông tin cá nhân. Để duy trì niềm tin này, nhà trường cần củng cố các quy trình an ninh và kiểm tra định kỳ. Biến quan sát RR2: “Trong mỗi quá trình thực hiện chuyển đổi số của nhà trường, hệ thống thiết bị kỹ thuật đều được đảm bảo an toàn?” có giá trị trung bình 4.118, cho thấy giáo viên đồng ý với mức độ bảo đảm an toàn thiết bị. Nhà trường cần tiếp tục bảo trì và kiểm tra định kỳ các thiết bị để tránh sự cố kỹ thuật. Biến quan sát RR4: “Hệ thống của nhà trường ít khi gặp trục trặc kỹ thuật khi thực hiện chuyển đổi số?” có giá trị trung bình 4.056, cho thấy sự ổn định của hệ thống kỹ thuật. Tuy nhiên, nhà trường cần tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ để đảm bảo quy trình chuyển đổi số diễn ra suôn sẻ và hạn chế sự cố bất ngờ.

Để nâng cao bảo mật thông tin thì ban quản lý nhà trường cần phải tăng cường bảo mật thông tin bằng công nghệ tiên tiến, đầu tư vào các giải pháp bảo mật thông tin hiện đại như mã hóa dữ liệu, xác thực hai lớp và triển khai các hệ thống phòng chống xâm nhập. Điều này sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ rò rỉ thông tin cá nhân của giáo viên và học sinh, đồng thời tăng cường sự an tâm cho giáo viên khi tham gia các hệ thống số hóa.

Thiết lập chính sách an ninh mạng rõ ràng: Để đảm bảo tính bảo mật thông tin, nhà trường cần xây dựng và phổ biến các chính sách bảo mật rõ ràng về việc sử dụng hệ thống, quyền truy cập và bảo mật thông tin. Ngoài ra, nên tổ chức các buổi đào tạo định kỳ để nâng cao nhận thức về an toàn thông tin cho giáo viên và nhân viên.

Kiểm tra và nâng cấp hệ thống định kỳ: Để đảm bảo an toàn thiết bị kỹ thuật, nhà trường cần thực hiện việc kiểm tra, bảo trì và nâng cấp hạ tầng công nghệ theo kế hoạch định kỳ. Việc cập nhật phần mềm và phần cứng giúp đảm bảo rằng hệ thống luôn vận hành ổn định, giảm thiểu các sự cố kỹ thuật trong quá trình giảng dạy số hóa.

Thiết lập hệ thống sao lưu và khôi phục dữ liệu: Xây dựng hệ thống sao lưu dữ liệu thường xuyên giúp bảo vệ thông tin quan trọng khỏi nguy cơ mất mát hoặc bị xâm nhập. Điều này sẽ đảm bảo rằng ngay cả trong trường hợp gặp phải các sự cố bảo mật hoặc kỹ thuật, dữ liệu giảng dạy và thông tin cá nhân vẫn được khôi phục một cách nhanh chóng và an toàn.

Tăng cường giám sát và hỗ trợ kỹ thuật kịp thời: Để giảm thiểu trục trặc kỹ thuật, nhà trường nên có đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật thường trực, sẵn sàng giải quyết các vấn đề liên quan đến hệ thống kỹ thuật và bảo mật ngay khi chúng phát sinh. Điều này sẽ giúp quá trình chuyển đổi số được duy trì liên tục mà không bị gián đoạn.

  • Chiến lược chuyển đổi số Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả phân tích cho thấy chiến lược chuyển đổi số có tác động đáng kể đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên, với hệ số hồi quy chuẩn hoá là 0.230, xếp thứ năm trong các yếu tố. Biến quan sát CL2: “Nhà trường có kế hoạch chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả dạy và học?” đạt giá trị mean cao nhất, 4.361, cho thấy đa số giáo viên đồng ý về sự quan trọng của việc lập kế hoạch chuyển đổi số để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Biến quan sát CL4: “Chuyển đổi số tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với người học, phụ huynh và xã hội?” cũng nhận được sự đồng thuận cao với mean = 4.340, phản ánh vai trò của công nghệ trong việc kết nối nhà trường với cộng đồng. Biến quan sát CL5: “Chuyển đổi số gia tăng hiệu quả giáo dục-đào tạo?” có mean = 4.325, cho thấy giáo viên tin tưởng vào khả năng chuyển đổi số trong việc cải thiện hiệu quả giáo dục. Biến CL3: “Chiến lược chuyển đổi số của nhà trường đã được triển khai?” đạt mean = 4.296, cho thấy phần lớn giáo viên nhận thấy chiến lược này đã được thực hiện. Cuối cùng, biến quan sát CL1: “Lãnh đạo có hiểu biết về chuyển đổi số?” đạt mean = 4.281, chứng tỏ lãnh đạo nhà trường có sự am hiểu về chuyển đổi số, điều này là yếu tố quan trọng để duy trì sự ủng hộ từ giáo viên đối với các sáng kiến chuyển đổi số.

Để nâng cao chiến lược chuyển đổi số thì ban quản lý nhà trường cần phải xây dựng chiến lược chuyển đổi số phù hợp và rõ ràng, nên xây dựng một chiến lược chuyển đổi số chi tiết, có lộ trình và mục tiêu cụ thể để cải thiện hiệu quả dạy và học. Trong chiến lược, cần xác định rõ các giai đoạn, phương tiện hỗ trợ và vai trò của từng bộ phận để giáo viên nắm rõ lộ trình và cam kết của nhà trường.

Thiết lập kế hoạch nâng cao năng lực lãnh đạo về chuyển đổi số: Để đảm bảo lãnh đạo có đủ hiểu biết và cam kết với chuyển đổi số, cần xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức về công nghệ và chuyển đổi số cho lãnh đạo cấp cao và trung gian, giúp họ cập nhật các kiến thức mới và có thể đưa ra các quyết định phù hợp.

Đẩy mạnh truyền thông nội bộ: Để giáo viên hiểu rõ hơn về mục tiêu và lợi ích của chiến lược chuyển đổi số, nhà trường nên thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm hoặc chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình triển khai. Đồng thời, cập nhật liên tục các thành tựu và tiến độ của chuyển đổi số sẽ giúp giáo viên cảm thấy mình là một phần của chiến lược này và tăng cường động lực tham gia.

Xây dựng kênh kết nối chặt chẽ với phụ huynh và cộng đồng: Nhà trường cần triển khai các ứng dụng hoặc nền tảng giúp phụ huynh và giáo viên trao đổi thông tin về tình hình học tập của học sinh. Điều này sẽ tăng cường niềm tin của phụ huynh vào hệ thống giáo dục của nhà trường và đồng thời hỗ trợ giáo viên trong việc kết nối và truyền tải thông tin với các bên liên quan.

Thúc đẩy ứng dụng công nghệ vào các hoạt động ngoài lớp học: Khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên ứng dụng công nghệ trong các hoạt động ngoài lớp học, như quản lý học sinh, tổ chức hoạt động ngoại khóa, hoặc giao lưu với các trường khác. Điều này không chỉ giúp tăng cường kỹ năng số của giáo viên mà còn tạo ra một môi trường giảng dạy kỹ thuật số toàn diện.

  • Tính dễ sử dụng kỹ thuật số Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả phân tích cho thấy tính dễ sử dụng kỹ thuật số có ảnh hưởng mạnh đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên, với hệ số hồi quy chuẩn hoá là 0.216, xếp thứ tư trong các yếu tố. Cụ thể, biến quan sát DS5: “Nhìn chung Thầy/cô thấy dễ dàng sử dụng?” nhận được đánh giá cao nhất từ giáo viên với giá trị trung bình 4.272, cho thấy đa số giáo viên cảm thấy dễ dàng khi sử dụng công nghệ. Biến quan sát DS2: “Thầy/cô thấy giao diện các ứng dụng đơn giản, dễ thao tác?” cũng được đánh giá cao với mean = 4.254, phản ánh sự đồng thuận về sự đơn giản và dễ sử dụng của giao diện ứng dụng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế các công cụ dạy học với giao diện thân thiện và dễ sử dụng. Biến quan sát DS1: “Thầy/cô cảm thấy các ứng dụng công nghệ có dễ dàng truy cập và có hướng dẫn chi tiết?” đạt giá trị mean = 4.163, cho thấy giáo viên đánh giá cao sự hỗ trợ của các hướng dẫn chi tiết, điều này đặc biệt quan trọng đối với những giáo viên ít kinh nghiệm với công nghệ. Biến quan sát DS3: “Thầy/cô thấy dễ dàng truy vấn thông tin?” đạt mean = 4.109, chứng tỏ việc tìm kiếm thông tin trong ứng dụng rất dễ dàng và thuận tiện. Cuối cùng, biến DS4: “Thầy/cô thấy thao tác thực hiện đơn giản, nhanh chóng?” cũng được giáo viên đánh giá cao với mean = 4.095, cho thấy các thao tác trong ứng dụng cần đơn giản và nhanh chóng để không làm gián đoạn quá trình giảng dạy.

Để nâng cao tính dễ sử dụng kỹ thuật số thì ban quản lý nhà trường cần phải tối ưu hóa giao diện người dùng và trải nghiệm người dùng: Các ứng dụng kỹ thuật số cần tối ưu hóa thiết kế giao diện để đảm bảo tính thân thiện, dễ nhìn và trực quan. Nên áp dụng các nguyên tắc thiết kế đơn giản, sử dụng màu sắc dễ nhìn và bố cục hợp lý, giúp giáo viên không cần quá nhiều thời gian làm quen với giao diện ứng dụng.

Cung cấp tài liệu hướng dẫn chi tiết và đào tạo liên tục: Nhà trường nên cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng chi tiết cho các công cụ kỹ thuật số và tổ chức các buổi đào tạo định kỳ nhằm đảm bảo tất cả giáo viên đều hiểu và sử dụng thành thạo các ứng dụng. Các tài liệu nên bao gồm video hướng dẫn, các câu hỏi thường gặp, và cung cấp hỗ trợ qua các kênh liên lạc trực tiếp.

Nâng cao khả năng tìm kiếm và truy vấn thông tin: Để giúp giáo viên dễ dàng truy vấn thông tin cần thiết trong quá trình dạy học, các ứng dụng nên có chức năng tìm kiếm mạnh mẽ và linh hoạt. Ngoài ra, cần phân loại thông tin một cách có tổ chức và thiết kế giao diện tìm kiếm thân thiện để giảm bớt thao tác không cần thiết cho giáo viên.

Giảm thiểu thao tác phức tạp và tăng tốc độ xử lý: Các nhà phát triển nên giảm bớt thao tác phức tạp trong ứng dụng và tối ưu tốc độ xử lý dữ liệu. Các thao tác như đăng nhập, truy cập thông tin, và tải dữ liệu cần được đơn giản hóa để giáo viên dễ dàng thực hiện mà không gặp trở ngại kỹ thuật. Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

  • Cơ sở hạ tầng công nghệ

Kết quả phân tích chỉ ra rằng cơ sở hạ tầng công nghệ có tác động mạnh mẽ đến quyết định tiếp tục chuyển đổi số của giáo viên, với hệ số hồi quy chuẩn hoá là 0.207, xếp thứ ba trong các yếu tố ảnh hưởng. Cụ thể, biến quan sát HT1: “Hệ thống cơ sở vật chất công nghệ đồng bộ, đáp ứng với khả năng thực hiện chuyển đổi số?” nhận được đánh giá cao nhất từ giáo viên với giá trị trung bình (mean) 4.118, cho thấy hệ thống cơ sở vật chất công nghệ hiện tại đáp ứng tốt yêu cầu chuyển đổi số. Điều này cho thấy nhà trường cần duy trì và nâng cấp cơ sở vật chất để đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống công nghệ giảng dạy và quản lý. Biến quan sát HT2: “Tốc độ kết nối internet đảm bảo cho thực hiện chuyển đổi số?” đạt giá trị trung bình 4.109, phản ánh sự đồng thuận cao từ giáo viên về chất lượng kết nối internet. Nhà trường cần tiếp tục đầu tư vào mạng lưới internet mạnh mẽ, ổn định và có tốc độ cao để hỗ trợ giảng dạy và quản lý hiệu quả. Biến quan sát HT4: “Thiết bị kết nối mạng Internet đảm bảo yêu cầu chuyển đổi số?” với giá trị trung bình 4.044 cho thấy các thiết bị kết nối mạng đang đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Tuy nhiên, nhà trường cần liên tục nâng cấp thiết bị để theo kịp sự phát triển công nghệ. Biến quan sát HT3: “Hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng được sự phát triển công nghệ thông tin trong tương lai?” nhận được đánh giá trung bình 3.964, cho thấy giáo viên tin tưởng vào khả năng phát triển của cơ sở vật chất trong tương lai. Nhà trường cần có kế hoạch chiến lược dài hạn để duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Biến quan sát HT5: “Phòng học được đảm bảo đầy đủ trang thiết bị, tiện nghi phục vụ dạy và học?” có giá trị trung bình 3.893, cho thấy phần lớn giáo viên đồng ý với điều kiện cơ sở vật chất trong phòng học. Tuy nhiên, vẫn cần nâng cấp thêm thiết bị hỗ trợ tương tác số giữa giáo viên và học sinh.

Để nâng cao cơ sở hạ tầng công nghệ thì ban quản lý nhà trường cần phải đồng bộ hóa và nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ. Nhà trường cần tiếp tục đồng bộ hóa các hệ thống công nghệ thông tin để đảm bảo rằng tất cả các thiết bị và phần mềm được sử dụng trong giảng dạy và quản lý đều tương thích và hoạt động hiệu quả. Điều này bao gồm việc đảm bảo các phòng học thông minh được trang bị đầy đủ máy chiếu, bảng tương tác và các thiết bị công nghệ tiên tiến khác.

Nâng cao tốc độ kết nối internet: Để hỗ trợ quá trình chuyển đổi số hiệu quả, nhà trường cần đầu tư vào hệ thống mạng tốc độ cao với băng thông lớn, đảm bảo mạng không bị gián đoạn trong các hoạt động giảng dạy trực tuyến. Bên cạnh đó, việc triển khai công nghệ mạng không dây (Wi-Fi) ổn định trên toàn bộ khuôn viên nhà trường sẽ giúp giáo viên và học sinh tiếp cận dễ dàng hơn với tài nguyên kỹ thuật số.

Đầu tư vào thiết bị kết nối và bảo trì định kỳ: Nhà trường cần đảm bảo rằng các thiết bị kết nối mạng như router, modem và các thiết bị liên quan khác luôn hoạt động tốt và được bảo trì định kỳ để tránh các sự cố kỹ thuật. Ngoài ra, cần đầu tư vào các thiết bị hiện đại hơn để đáp ứng sự gia tăng về nhu cầu sử dụng khi quy mô chuyển đổi số mở rộng.

Phát triển chiến lược dài hạn về cơ sở hạ tầng: Nhà trường cần xây dựng chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ dài hạn, bao gồm kế hoạch nâng cấp hệ thống, thiết bị và công nghệ mới nhất để chuẩn bị cho tương lai của giáo dục số hóa. Điều này giúp nhà trường luôn sẵn sàng với những yêu cầu công nghệ mới và giảm thiểu nguy cơ lạc hậu.

Cải thiện tiện nghi và trang thiết bị trong phòng học: Nhà trường nên tiếp tục cải thiện các tiện nghi trong phòng học để hỗ trợ việc giảng dạy và học tập. Điều này bao gồm việc nâng cấp thiết bị công nghệ như máy tính, máy chiếu, hệ thống âm thanh và ánh sáng, đồng thời cải thiện điều kiện vật lý như ánh sáng, hệ thống điều hòa và không gian học tập thoải mái.

  • Năng lực kỹ thuật số Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Năng lực kỹ thuật số có tác động đáng kể đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số, với hệ số hồi quy chuẩn hoá là 0.157, xếp thứ sáu trong các yếu tố. Biến quan sát NL1: “Thầy/cô đã được đào tạo để triển khai CNTT đúng nội dung giảng dạy trên lớp?” đạt mean cao nhất, 4.118, cho thấy đa số giáo viên cho rằng việc được đào tạo bài bản giúp họ tự tin hơn trong việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy. Biến NL2: “Thầy/cô thích ứng nhanh với các ứng dụng công nghệ mới?” có mean = 4.109, nhấn mạnh khả năng linh hoạt của giáo viên trong việc tiếp nhận và áp dụng công nghệ mới. Biến NL4: “Thầy/cô cập nhật các ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới một cách dễ dàng?” đạt mean = 4.044, cho thấy giáo viên chủ động trong việc tiếp thu các công nghệ mới. Biến NL3: “Thầy/cô biết cách giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến công nghệ?” với mean = 3.964, chỉ ra sự chủ động của giáo viên trong việc xử lý các vấn đề kỹ thuật. Cuối cùng, biến NL5: “Thầy/cô có năng lực phân tích dữ liệu, thực hiện tích hợp giữa chuyên môn dạy học và công nghệ?” đạt mean = 3.893, cho thấy giáo viên có năng lực tích hợp công nghệ vào chuyên môn, một yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy và hỗ trợ chuyển đổi số.

Để nâng cao chiến lược chuyển đổi số thì ban quản lý nhà trường cần phải cung cấp các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ năng kỹ thuật số để nâng cao năng lực kỹ thuật số của giáo viên, nhà trường cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về công nghệ giảng dạy, đặc biệt là các công cụ và ứng dụng hỗ trợ giảng dạy trên nền tảng số. Chương trình đào tạo nên bao gồm cả kỹ năng cập nhật công nghệ và phương pháp ứng dụng CNTT vào từng môn học cụ thể.

Khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên thử nghiệm các công nghệ mới: Nhà trường có thể triển khai các dự án thí điểm cho phép giáo viên thử nghiệm các công cụ công nghệ mới và cung cấp phản hồi. Bằng cách khuyến khích sáng tạo và thử nghiệm, nhà trường không chỉ giúp giáo viên cập nhật kỹ năng mà còn tăng cường khả năng thích ứng với thay đổi.

Tăng cường kỹ năng giải quyết vấn đề kỹ thuật: Bên cạnh đào tạo cơ bản, nhà trường nên bổ sung các khóa học về kỹ năng tự giải quyết các sự cố kỹ thuật phổ biến. Các khóa này có thể bao gồm các bài tập tình huống thực tế để giáo viên làm quen và trở nên thành thạo trong việc xử lý các vấn đề công nghệ phát sinh trong quá trình giảng dạy.

Cung cấp tài liệu và hướng dẫn dễ hiểu về công nghệ mới: Để giúp giáo viên cập nhật công nghệ nhanh chóng và dễ dàng, nhà trường nên cung cấp tài liệu hướng dẫn dễ hiểu hoặc các video minh họa cho từng công nghệ. Ngoài ra, tổ chức các buổi hướng dẫn ngắn gọn hoặc hội thảo về công nghệ mới cũng sẽ là cách hiệu quả để truyền đạt thông tin.

Tạo hệ thống hỗ trợ kỹ thuật linh hoạt và hiệu quả: Nhà trường nên thiết lập bộ phận hỗ trợ kỹ thuật, giúp giáo viên giải quyết nhanh chóng các vấn đề phát sinh. Bộ phận này có thể cung cấp các hướng dẫn trực tiếp hoặc hỗ trợ từ xa qua video call, giúp giáo viên không mất quá nhiều thời gian cho các vấn đề kỹ thuật và tập trung vào giảng dạy.

  • Nhu cầu sử dụng kỹ thuật số Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả phân tích cho thấy nhu cầu sử dụng kỹ thuật số có tác động mạnh nhất đến quyết định tiếp tục chuyển đổi số, với hệ số hồi quy chuẩn hoá là 0.150. Cụ thể, biến quan sát NC1: “Thầy/cô thường xuyên sử dụng mạng xã hội để trao đổi thông tin giảng dạy với học sinh và đồng nghiệp thông qua Messenger, Zalo,…” nhận được đánh giá cao nhất từ giáo viên, với giá trị trung bình (mean) là 3.654, cho thấy sự đồng thuận cao trong việc sử dụng mạng xã hội như một công cụ hỗ trợ giảng dạy. Điều này gợi ý rằng các trường học nên thúc đẩy sự tích hợp của các nền tảng như Zalo, Messenger vào hoạt động giảng dạy chính thức và đảm bảo an toàn khi sử dụng. Biến quan sát NC3: “Thầy/cô đang sử dụng các sản phẩm công nghệ tiên tiến và hiện đại để phục vụ công tác giảng dạy (smartphone, máy tính bảng, laptop…)?” đạt giá trị trung bình 3.604, cho thấy phần lớn giáo viên đã sẵn sàng sử dụng công nghệ hiện đại trong giảng dạy. Các cơ sở giáo dục nên tiếp tục đầu tư vào thiết bị công nghệ và tổ chức các khóa đào tạo để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng. Biến quan sát NC2: “Thầy/cô luôn sử dụng mạng xã hội trong cuộc sống hàng ngày?” với giá trị trung bình 3.411, phản ánh rằng mạng xã hội đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của giáo viên. Điều này cho thấy giáo viên đã hình thành thói quen sử dụng công nghệ, và các nhà quản lý có thể tận dụng yếu tố này để xây dựng văn hóa chuyển đổi số trong giáo dục và quản lý trường học.

Để nâng cao nhu cầu sử dụng kỹ thuật số thì ban quản lý Nhà trường cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên biệt về kỹ thuật số để nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ của giáo viên, cần tổ chức các khóa học chuyên sâu về công nghệ giáo dục, tập trung vào cách sử dụng các nền tảng và công cụ giảng dạy trực tuyến. Ngoài ra, cần khuyến khích giáo viên ứng dụng những sản phẩm công nghệ tiên tiến trong giảng dạy như máy tính bảng, máy chiếu thông minh.

Nhà trường cần cung cấp các thiết bị công nghệ tiên tiến cho giáo viên, đặc biệt là đối với những giáo viên ở các khu vực khó khăn. Ngoài ra, việc phát triển hệ thống hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ sẽ giúp giáo viên giải quyết nhanh chóng các vấn đề kỹ thuật trong quá trình giảng dạy.

Tận dụng mạng xã hội làm công cụ giảng dạy tạo ra các cộng đồng học tập trên mạng xã hội, nơi giáo viên và học sinh có thể chia sẻ kiến thức, trao đổi tài liệu và thảo luận các vấn đề học tập. Các trường cần xây dựng quy định rõ ràng về việc sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy, đảm bảo tuân thủ các quy tắc về an ninh thông tin và đạo đức nghề nghiệp.

Thúc đẩy sáng tạo trong giảng dạy bằng công nghệ tạo ra các cuộc thi hoặc chương trình hỗ trợ tài chính cho những giáo viên có ý tưởng sáng tạo trong việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số vào giảng dạy. Những sáng kiến này không chỉ khuyến khích giáo viên cập nhật kiến thức công nghệ mà còn góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy trong môi trường số hóa.

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

Kết quả nghiên cứu đã phần nào phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục chuyển đổi số của giáo viên tại Thành phố Tân An. Tuy nhiên, nghiên cứu này còn tồn tại một số hạn chế nhất định:

Do giới hạn về thời gian nghiên cứu và điều kiện thực tế: Nghiên cứu chỉ được thực hiện trong vòng sáu tháng, điều này ảnh hưởng đến khả năng thu thập mẫu đại diện. Cụ thể, nghiên cứu đã thu thập được 338 phiếu khảo sát, mẫu nghiên cứu này đáp ứng yêu cầu tối thiểu về số lượng phiếu khảo sát cho phân tích thống kê và phương pháp lấy mẫu được sử dụng là phương pháp thuận tiện phi xác suất.

Giới hạn về độ đại diện của dữ liệu: Do sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện phi xác suất, kết quả nghiên cứu còn hạn chế về tính đại diện của tổng thể và có nguy cơ sai lệch khi các đối tượng được chọn có đặc điểm tương đồng. Để khắc phục, nghiên cứu tiếp theo sẽ áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tần xác xuất nhằm tăng cường tính đại diện cho tổng thể và nâng cao độ chính xác của kết quả.

Giới hạn trong mô hình nghiên cứu: Hiện tại, mô hình nghiên cứu chỉ giải thích được 64,1% sự biến thiên trong quyết định tiếp tục chuyển đổi số của giáo viên, nghĩa là 35,9% còn lại vẫn chưa được làm rõ, có thể do các yếu tố bên ngoài hoặc sai số ngẫu nhiên. Để cải thiện độ chính xác và khả năng giải thích, nghiên cứu tiếp theo sẽ áp dụng phương pháp lấy mẫu xác suất, cụ thể là lấy mẫu phân tầng, chia tổng thể thành các nhóm nhỏ theo các đặc điểm chung (như giới tính, độ tuổi) và chọn mẫu ngẫu nhiên từ mỗi nhóm. Phương pháp này giúp tăng tính đại diện, dễ áp dụng phân tích thống kê và bổ sung các yếu tố còn thiếu, giúp hiểu rõ hơn các tác nhân ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số. Qua đó, nghiên cứu có thể đề xuất hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên. Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số

One thought on “Luận văn: KQNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số

  1. Pingback: Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *