Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của 28 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2011 – 2023. Ngoài dữ liệu của các NHTM, nghiên cứu còn sử dụng dữ liệu vĩ mô tăng trưởng kinh tế GPD và lạm phát CPI. Các dữ liệu về NHTM được trích xuất từ Datastream (tác giả sử dụng tài khoản của Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh), báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán, báo cáo thường niên của các NHTM. Các dữ liệu vĩ mô được thu thập từ các nguồn tin cậy như quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới (Worldbank). Dữ liệu có cấu trúc dạng bảng và không cân bằng.

Theo thống kê của NHNN, tính đến thời điểm 31/12/2023, tổng số NHTM tại Việt Nam là 46 ngân hàng. Trong đó, có 35 ngân hàng NHTM Việt Nam (bao gồm 4 NHTM nhà nước và 31 NHTM cổ phần), 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 2 ngân hàng liên doanh. Tổng tài sản của 35 NHTM Việt Nam là 17.313.210 tỷ đồng (thời điểm 31/12/2023), trong đó 28 NHTM được tác giả sử dụng có tổng tài sản tại thời điểm 31/12/2023 là 16.712.857 tỷ đồng, chiếm 96,53% tổng tài sản của các NHTM Việt Nam.

Do đó, có thể nói các NHTM được sử dụng trong luận văn đảm bảo đại diện cho các NHTM Việt Nam.

3.2. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023, nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng.

Trong đó, phương pháp định tính dùng trong lược khảo các nghiên cứu trước, tổng hợp và phân tích về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng, hình thành khung lý thuyết cho luận văn cũng như các giả thuyết nghiên cứu. Bên cạnh đó, sau khi phân tích kết qủa định lượng, luận văn sẽ nghiên cứu các kết quả này dựa trên thực tiễn tại Việt Nam, so sánh, đối chiếu với các nghiên cứu trước để tăng độ tin cậy cho luận văn. Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Phương pháp định lượng dùng trong hồi quy dữ liệu bảng theo phương pháp OLS là phương pháp Pooled OLS được áp dụng cho các mô hình hồi quy tuyến tính. Theo Gujarati (2004), OLS được đề xuất lần đầu tiên bởi nhà toán học Đức tên là Carl Friedrich Gauss, là phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng phổ biến nhất. Theo phương pháp này, phương trình hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc Y theo các biến độc lập X thì phần chênh lệch giữa giá trị thực của Y và giá trị ước lượng của Y được xem là phần dư u. Nếu có n quan sát của Y và các biến X, ta cần chọn phương trình hồi quy tuyến tính Y theo X sao cho các giá trị ước lượng của Y gần với các giá trị thực của Y nhất.

Để đạt được mục đích này, tổng các bình phương của các phần dư u là nhỏ nhất hay ∑u là min.

Khi áp dụng phương pháp Pooled OLS, để các ước lượng thu được là không chệch tốt nhất và hiệu quả nhất, có một số giả thiết quan trọng phải được đáp ứng, bao gồm:

  • Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập là tuyến tính;
  • Các biến độc lập phải cho trước và không ngẫu nhiên, nghĩa là nếu mẫu lặp lại thì giá trị biến độc lập phải lặp lại;
  • Không có sự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình, nói cách khác là không có hiện tượng đa cộng tuyến;
  • Sai số (phần dư) trong mô hình có giá trị trung bình bằng 0 và phương sai của sai số là không đổi, nghĩa là không có hiện tượng phương sai thay đổi;
  • Không có sự tương quan giữa các sai số (phần dư) trong mô hình, nghĩa là không có hiện tượng tự tương quan.

Sau khi thực hiện hồi quy Pooled OLS, tác giả tiến hành loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê ở kết quả ước lượng tức là các biến không cần thiết. Tiếp theo đó, tác giả tiếp tục thực hiện hồi quy với mô hình FEM và REM.

Sau đó thực hiện các kiểm định R, Hausman để lựa chọn mô hình hồi quy thích hợp cho việc phân tích các biến. Kiểm định F nhằm đánh giá lựa chọn mô hình FEM thay cho Pooled OLS. Sau đó xác định lựa chọn mô hình FEM hay REM bằng kiểm định Hausman rồi tiếp tục tiến hành kiểm định t (T-test) để kiểm tra ý nghĩa của các hệ số ước lượng. Tác giả sử dụng cả ba mức ý nghĩa thống kê 1%, 5% và 10%, tương ứng với độ tin cậy là 99%, 95% và 90% để đánh giá mức độ ý nghĩa của các hệ số ước lượng, tức là khi giá trị P-value nhỏ hơn 0,1 thì các biến độc lập xem như có tác động đến biến phụ thuộc. Đồng thời, nếu mô hình có R2 càng cao thì mô hình nghiên cứu càng phù hợp về dạng mô hình, về các biến được lựa chọn đưa vào mô hình.

Kiểm định các khuyết tật của mô hình

  • Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình có mối quan hệ tuyến tính với nhau. Khi xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, các hệ số hồi quy của các biến bị cộng tuyến có thể sai dấu, dẫn đến dấu của các hệ số này không như kỳ vọng. Các biến bị cộng tuyến có giả thiết H0 (hệ số ước lượng = 0) dễ được chấp nhận dẫn đến các biến này không có ý nghĩa thống kê. Luận văn sử dụng phương pháp nhân tử phóng đại phương sai VIF nhằm kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của một biến độc lập với tất cả các biến độc lập khác. Nếu VIF=1 thì có thể nói không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình, nếu 1<VIF<10 thì hiện tượng đa cộng tuyến là không nghiêm trọng và có thể bỏ qua. Trường hợp VIF ≥ 10, hiện tượng đa cộng tuyến là nghiêm trọng và cần loại bỏ biến bị đa cộng tuyến ra khỏi mô hình.

  • Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi 

Giả định về tính đồng nhất được thực hiện bằng mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống, giả định độ biến thiên của số hạng sai số không đổi. Ngược lại, khi sai số không cố định thì điều kiện này được gọi là phương sai thay đổi. Tóm lại, phương sai sai số thay đổi là hiện tượng mà phương sai của các sai số ước lượng không bằng nhau (heteroscedasticity). Hiện tượng này có thể xảy ra đối với cả 3 dạng dữ liệu: Chéo (Cross-sectional), Chuỗi thời gian (Time-series), Bảng (Panel). Kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng cách sử dụng kiểm định Wald với giả thuyết H0: Mô hình có phương sai sai số không đổi. Nếu P-value < 0,05, bác bỏ giả thiết H0, mô hình có phương sai sai số thay đổi.

  • Kiểm định hiện tượng tự tương quan 

Hiện tượng các thành phần của chuỗi các quan sát được sắp xếp theo thứ tự thời gian (trong các số liệu chuỗi thời gian) hoặc không gian (trong số liệu chéo) có mối tương quan với nhau được hiểu là hiện tượng tự tương quan. Thực hiện kiểm định Wald và kiểm định Wooldridge là cách để tác giả kiểm định có xảy ra hiện tượng tự tương quan trong mô hình với giả thiết H0: Mô hình không có hiện tượng tự tương quan. Nếu P-value < 0,05, bác bỏ giả thiết H0, mô hình có hiện tượng tự tương quan.

  • Kiểm định hiện tượng nội sinh

Nếu mô hình có tồn tại hiện tượng nội sinh thì kết quả ước lượng sẽ làm ảnh hưởng đến tính vững của mô hình nghiên cứu. Pathan, Skully, & Wickramanayake (2007) cho rằng do bản chất các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu và đặc trưng nội tại của ngân hàng nội địa trong quá trình hội nhập nên các nghiên cứu thực nghiệm mức độ ảnh hưởng của các ngân hàng ngoại đối với ngân hàng nội địa thường gặp các vấn đề nội sinh. Để phát hiện có hay không có hiện tượng nội sinh trong mô hình, tác giả tiến hành kiểm định mô hình hồi quy bằng phương pháp kiểm định của Durbin WuHausman. Để khắc phục hiện tượng nội sinh, tác giả sử dụng phương pháp GMM được nhiều nghiên cứu sử dụng nhằm mang lại kết quả ước lượng vững. Tác giả sử dụng kiểm định Sargan – Hansen để kiểm tra tính hợp lệ của biến công cụ trong mô hình khi sử dụng phương pháp GMM. Biến công cụ được cho là tốt phải đáp ứng yêu cầu về sự phù hợp và hợp lệ, tức là tương quan với các biến hồi quy bị nội sinh cũng như trực giao với phần dư. Vì vậy, bên cạnh kiểm định Sargan – Hansen, luận văn tiếp tục thực hiện kiểm định sự phù hợp của giới hạn đối với biến công cụ bằng kiểm định AR.

3.3. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

3.3.1. Mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, có thể thấy tác động của cạnh tranh đến ổn định vẫn nhiều sự tranh cãi, nghiên cứu của Goetz (2018) cho kết quả rằng cạnh tranh cải thiện ổn định ngân hàng. Tương tự, Schaeck & ctg (2009) cho rằng cạnh tranh sẽ làm giảm rủi ro khủng hoảng hệ thống, tức là ổn định hơn. Tại Việt Nam, tác Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021), Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016) cũng đồng quan điểm với các tác giả trên khi cho rằng cạnh tranh giúp tạo ra lợi nhuận cao và ổn định hơn. Dựa trên nghiên cứu của Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021) là chủ yếu, kế thừa các nghiên cứu trước đã lược khảo trong Bảng 2.1, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các biến như sau: cạnh tranh (LERNER), quy mô ngân hàng (SIZE), VCSH trên TTS (CAP), thu nhập ngoài lãi (NNIM), chi tiêu cho công nghệ (TECH), tăng trưởng tín dụng (GRW), hình thức sở hữu (GOV), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF). Mô hình đề xuất như sau:

ZSCORE𝑖,𝑡 = 𝛽0 + 𝛽1𝐿𝐸𝑅𝑁𝐸𝑅𝑖,𝑡 + 𝛽2𝑆𝐼𝑍𝐸𝑖,𝑡 + 𝛽3𝐶𝐴𝑃𝑖,𝑡 + 𝛽4𝑁𝑁𝐼𝑀𝑖,𝑡 + 𝛽5𝑇𝐸𝐶𝐻𝑖,𝑡 + 𝛽6𝐺𝑅𝑊𝑖,𝑡 + 𝛽7𝐺𝑂𝑉𝑖,𝑡 + 𝛽8𝐺𝐷𝑃𝑡 + 𝛽9𝐼𝑁𝐹𝑡 + (3.1) 𝜀𝑖,𝑡

3.3.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Dựa trên mô hình 3.1, để đánh giá tác động của cạnh tranh ngân hàng đến ổn định ngân hàng, tác giả sẽ kiểm định giả thuyết như sau:

Giả thuyết 1: Cạnh tranh có tác động tích cực tới sự ổn định của ngân hàng tại Việt Nam.

Hiện nay chưa có sự thống nhất trong cách đo lường sự ổn định của các NHTM do ổn định ngân hàng còn là một khái niệm phức tạp. Một số tác giả sử dụng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng để đo lường sự ổn định của hệ thống ngân hàng, hay một cách khác là tính toán mức độ biến động của lợi nhuận để đánh giá mức độ ổn định trong hoạt động cũng như khả năng sinh lợi của ngân hàng. Một chỉ tiêu phổ biến khác để đo lường ổn định hoạt động ngân hàng là hệ số Z-score. Chỉ số này xuất hiện lần đầu trong nghiên cứu của Roy (1952) về đo lường khả năng ngân hàng bị mất thanh khoản, tình trạng này xảy ra khi tổn thất trong hoạt động kinh doanh vượt quá VCSH của ngân hàng.

Công thức chỉ số Z-score như sau:

Trong đó:

  • 𝒁 − 𝒔𝒄𝒐𝒓𝒆𝒕: hệ số Z-score năm t
  • 𝑹𝑶𝑨𝒕: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản của các ngân hàng năm t
  • 𝝈(𝑹𝑶𝑨)𝒕: độ lệch chuẩn ROA của ngân hàng trong ba năm tại thời điểm năm t
  • : tỷ lệ vốn cổ phần trên tổng tài sản ngân hàng năm t

Z-score nghịch đảo có thể được dùng để ước lượng khả năng vỡ nợ của một ngân hàng, với giả định lợi nhuận của NHTM có dạng phân phối chuẩn (Jiménez & ctg, 2013).

Một ngân hàng sẽ bị xem là vỡ nợ khi dự trữ vốn của họ bị sử dụng hết do tổn thất, nghĩa là khi lợi nhuận của ngân hàng bị âm ở mức đủ lớn dẫn tới ROA < E/A, khi đó, ngân hàng sẽ bị xem là phá sản. Do đó, Z-score càng cao thì ngân hàng càng ổn định.

Z-score đo lường ổn định ngân hàng ở cả ba khía cạnh quan trọng trong hoạt động kinh doanh của một NHTM, bao gồm tỷ lệ an toàn vốn (đo lường thông qua VCSH/TTS), hiệu quả hoạt động (thông qua ROA) và mức biến động hoạt động ngân hàng (thông qua độ lệch chuẩn của ROA). Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Mức độ cạnh tranh của ngân hàng nhận đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới quan tâm từ rất lâu bằng nhiều phương pháp đo lường đa dạng, nhưng nhìn chung có hai cách tiếp cận chính là cách tiếp cận cấu trúc và phi cấu trúc. Cách tiếp cận cấu trúc được phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết mô hình Cấu Trúc – Hành vi – Kết quả (Structure – Conduct – Performance – SCP) do Brain & ctg (1951) phát triển. Mô hình này cho rằng cấu trúc ảnh hưởng đến hành vi và hình vì sẽ tác động đến kết quả, do vậy cấu trúc sẽ có ảnh hưởng đến kết quả. Lý thuyết SCP cho rằng cấu trúc thị trường ảnh hưởng đến các hành vi cạnh tranh của các ngân hàng, do đó có thể đo lường cạnh tranh thông qua các thước đo tập trung ngành.

Đối với cách tiếp cận phi cấu trúc, cách tiếp cận này phân tích dữ liệu của ngân hàng bằng các chỉ số, một trong các chỉ số đó là Lerner được phát triển bởi Lerner (1934) dùng để đo lường sức mạnh thị trường dựa trên mức giá cao hơn so với chi phí biên của ngân hàng. Một chỉ số là chỉ số Boone (Boone, 2008) được tính thông qua hệ số co giãn của lợi nhuận trên mức chi phí của ngân hàng, chỉ số càng cao nghĩa rằng mức độ cạnh tranh của các ngân hàng càng khốc liệt.

Các cách tiếp cận được các tác giả sử dụng trong nghiên cứu của mình nhưng đôi khi chỉ số đo lường này lại cho ra các kết quả trái ngược nhau (Lapteacru, 2014). Bolt & Humphrey (2015) trong nghiên cứu về cạnh tranh của các ngân hàng tại Mỹ cho rằng các cách tiếp cận cấu trúc và phi cấu trúc không thể thay thế được cho nhau. Thước đo cạnh tranh theo cách tiếp cận cấu trúc có ưu điểm là không cần quá nhiều dữ liệu và dễ tiếp cận hơn ở cấp độ quốc gia hoặc ngành. Tuy nhiên, nhược điểm là chỉ số này chỉ mang tính chất tĩnh và ngắn hạn, và nó không đánh giá được hành vi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành cũng như sự thay đổi cấu trúc doanh nghiệp vì mục đích riêng (Peltzman, 1977). Do đó, phương pháp cấu trúc được cho là thiếu thực tế trong việc đo lường mức độ cạnh tranh của ngân hàng vì nó không xem xét hành vi của các ngân hàng trên thị trường Claessens & Laeven (2004). Đối với cách tiếp cận phi cấu trúc, chỉ số Lerner được cho là phù hợp hơn chỉ số Boone (Maudos & Solís, 2011). Trong khi chỉ số Boone chỉ đánh giá hiệu quả ngân hàng thông qua chị phí thấp hơn hay lợi nhuận cao hơn, thì chỉ số Lener được cho là đáng tin cậy hơn khi nó bắt nguồn từ các vấn đề tối ưu hóa hoạt động của ngân hàng, do vậy cơ sở lý thuyết của Lener được đánh giá là vững chắc hơn so với chỉ số Boone (Maudos  & ctg, 2011). Một trong những ưu thế khác của chỉ số Lerner so với Boone là có thể đo lường cạnh tranh ở cấp độ từng ngân hàng theo thời gian, do đó có thể phân tích được các hình vi khác nhau và đánh giá được sức mạnh cạnh tranh của các ngân hàng trong cùng một thị trường và giữa các năm (Berger & ctg, 2008). Chỉ số Lener giúp đánh giá tốt hơn sự nhất quán của các ngân hàng trong việc tận dụng sức mạnh thị trường và khả năng sinh lời. Chính vì thế dù có một số nhược điểm như không tính đến mức độ thay thế sản phẩm hay không đánh giá mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng, chỉ số Lenner vẫn được nhiều nhà khoa học sử dụng làm biến đại diện đo lường mức độ cạnh tranh của ngân hàng (Berger & ctg, 2009). Do đó, trong luận văn này, tác giả sử dụng chỉ số Lener để đo lượng mức độ cạnh tranh. Công thức chỉ số Lerner như sau:

Trong đó: Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

  • 𝑷𝒊𝒕 : giá đầu ra của ngân hàng i tại thời điểm t, được tính bằng tổng doanh thu trên tổng tài sản
  • 𝑴𝑪𝒊𝒕 : chi phí biên của ngân hàng i tại thời điểm t

Theo Berger & ctg (2009) đề xuất tính chi phí biên theo hai bước như sau:

Bước 1: Ước lượng hàm tổng chi phí

Trong đó:

  • TC: Tổng chi phí
  • Q: Tổng tài sản
  • 𝑾𝟏: giá vốn tiền gửi (tổng chi phí lãi/tổng tiền gửi)
  • 𝑾𝟐: giá vốn vật chất (chi phí ngoài lãi/tổng tài sản cố định)
  • 𝑾𝟑: giá lao động (chi phí tiền lương/tổng tài sản)

Bước 2: Đạo hàm cấp một của hàm tổng chi phí (5.4) để tính chi phí biên (MC)

Giá trị của chỉ số Lerner dao động từ 0 đến 1. Giá trị chỉ số Lerner thấp hơn hàm ý mức độ cạnh tranh yếu hơn.

Ngoài phân tích tác động của cạnh tranh đến ổn định hệ thống ngân hàng, tác giả còn quan sát sự ảnh hưởng các yếu tố khác thuộc nội tại ngân hàng đến ổn định ngân hàng, cụ thể:

Logarit tổng tài sản (SIZE) đại diện cho quy mô ngân hàng, để tính ảnh hưởng của quy mô đến sự ổn định ngân hàng. Tổng tài sản ngân hàng càng lớn, tức họ có nhiều nguồn lực để phân bổ cho quá trình phân tích tín dụng, sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng cải thiện quy trình tín dụng, giảm thiểu thông tin bất cân xứng, giúp nâng cao chất lượng các khoản vay. Ngoài ra, nghiên cứu của Boot & Thakor (2000) cho thấy có xu hướng ghi nhận đầu tư tín dụng ít hơn nhưng chất lượng cao hơn ở các ngân hàng lớn. Bên cạnh đó, các ngân hàng có quy mô tài sản lớn có thể xây dựng “vùng đệm vốn hóa”, điều này giúp các ngân hàng này ít nhạy cảm hơn trước các cú sốc về thanh khoản và vĩ mô khác. Các tác giả như Saif-Alyousfi & ctg (2018); Leroy & ctg (2017) đều đồng quan điểm rằng quy mô ngân hàng giúp cải thiện sự ổn định hệ thống ngân hàng, do vậy tác giả sẽ đưa ra giả thuyết tiếp theo như sau: Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Giả thuyết 2: Quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản (CAP): các ngân hàng có vốn hoá tốt được cho là ít rủi ro hơn (Berger & ctg, 2009). Tác giả cho rằng việc gia tăng tỷ lệ VCSH sẽ giúp cải thiện khả năng kháng cự của ngân hàng trước các cú sốc thu nhập, đảm bảo năng lực tài chính cho ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu rút tiền cũng như các thỏa thuận khác với khách hàng, đồng thời khi tấm đệm vốn cao sẽ giúp chủ sở hữu các ngân hàng giám sát chặt chẽ các hoạt động đầu tư hơn. Lập luận trên cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Berger & Bouwman (2013) khi nhận định rằng tác động tích cực của tỷ lệ VCSH đối với sự tồn tại của các ngân hàng nhỏ. Từ các nghiên cứu thực nghiệm này, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 3:

Giả thuyết 3: Tỷ lệ VCSH trên TTS tác động tích cực đến sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập (NNIM), được đo lường thông qua thu nhập phi lãi trên tổng thu nhập. Trong nghiên cứu của Amidu & Wolfe (2013), các tác giả chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa đa dạng hoá thu nhập và ổn định ngân hàng, hay còn gọi nó là mặt tối của đa dạng hoá. Quan điểm này được ủng hộ bởi tác giả SaifAlyousfi & ctg (2018). Chính vì vậy, trong luận văn này, tác giả đề xuất giả thuyết thứ 4 như sau:

Giả thuyết 4: Đa dạng hóa thu nhập tác động tiêu cực tới sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Logarit chi tiêu cho công nghệ (TECH) đại diện cho tổng chi tiêu vào công nghệ trong năm của các NHTM. Udin & ctg (2020) cho rằng việc tăng chi tiêu cho công nghệ vượt quá một ngưỡng nhất định sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của các ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh phải theo đuổi những quyết định đầy mạo hiểm để tồn tại trong điều kiện thị trường thay đổi nhanh chóng do sự đổi mới công nghệ. Tác giả tin rằng việc phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ có thể khiến các ngân hàng gặp nhiều rủi ro hơn. Điều này dẫn đến mối liên kết lẫn nhau giữa các ngân hàng và thậm chí giữa ngân hàng với các công ty Fintech. Vì vậy, tác giả đề xuất giả thuyết thứ 5 như sau:

Giả thuyết 5: Chi tiêu cho công nghệ tác động tiêu cực tới sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Tăng trưởng tín dụng (GRW): Adrian & Shin (2013) nhận định rằng, khi các NHTM mở rộng chính sách tín dụng, họ sẽ có xu hướng hạ thấp tiêu chuẩn vay vốn, đẩy mạnh xét duyệt các khoản vay rủi ro hơn nhằm theo đuổi lợi nhuận. Ngoài ra, khi các ngân hàng đồng thời mở rộng hoạt động cho vay, điều này thường diễn ra trong giai đoạn ngân hàng trung ương nới lòng chính sách tiền tệ để đối phó với suy thoái kinh tế, giải pháp này có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên việc mở rộng chính sách tín dụng có thể tích lũy rủi ro tiềm ẩn, gây ra tình trạng bong bóng tài sản, đặc biệt là bất động sản dẫn tới nguy cơ nợ xấu của các ngân hàng tăng cao, dẫn tới sự ổn định của hệ thống ngân hàng bị xói mòn (Bernanke & Gertler, 1989). Từ các lập luận này, giả thuyết 6 của nghiên cứu này được đề xuất: Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Giả thuyết 6: Tăng trưởng tính dụng tác động tiêu cực tới sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Hình thức sở hữu (GOV), biến giả nhận giá trị 1 nếu NHTM có Nhà nước chiếm trên 50% cổ phần, nhận giá trị 0 cho các NHTM còn lại. Các NHTM thuộc sở hữu Nhà nước có ưu thế về sự bảo trợ vốn, tổng tài sản lớn, uy tín thương hiệu… Ngoài ra, các ngân hàng sở hữu Nhà nước có nhiều ưu đãi như VCSH cao, không bị áp lực lớn về vốn, nguồn vốn giá rẻ…  (Phạm Thuỷ Tú & Đào Lê Kiều Oanh, 2021). Vì vậy, tác giả đề xuất giả thuyết thứ 6 như sau:

Giả thuyết 7: Hình thức sở hữu tác động tích cực tới sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Tăng trưởng kinh tế (GDP), bên cạnh các yếu tố nội tại của ngân hàng, luận văn xem xét tác động của các yếu tố vĩ mô đến ổn định ngân hàng tại Việt Nam là tăng trưởng GDP và lạm phát. Theo nghiên cứu của Noman & ctg (2018) thì tốc độ tăng trưởng GDP tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tăng trưởng kinh tế cao sẽ giúp tăng thu nhập khả dụng của cá nhân và hộ gia đình, điều này góp phần cải thiện được khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính của người vay, đồng thời sẽ khuyến khích chi tiêu trong nền kinh tế, qua đó tác động tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp, giảm khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp và hộ sản xuất, điều này giúp gia tăng sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Chính vì thế, tác giả đề xuất giả thuyết 7 như sau:

Giả thuyết 8: Tăng trưởng kinh tế tác động tích cực đến sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Tỷ lệ lạm phát (INF), ngược lại với tăng trưởng kinh tế, lạm phát sẽ làm sụt giảm giá trị của ngân hàng, gia tăng nguy cơ rủi ro vỡ nợ của các khoản vay. Abuzayed, Fayoumi & Molyneux (2018) cho rằng lạm phát làm giảm thu nhập thực của các chủ thể trong nền kinh tế, tác động tiêu cực đến khả năng chi tiêu của các chủ thể, dẫn đến ứ đọng hàng hoá và giảm lợi nhuận doanh nghiệp hoặc thậm chí là thua lỗ, điều này làm nợ xấu trong nền kinh tế tăng và làm giảm sự ổn định ngân hàng. Như vậy, giả thuyết tiếp theo trong luận văn này là:

Giả thuyết 9: Lạm phát tác động tiêu cực đến sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

Các biến đề xuất trong mô hình diễn đạt kỳ vọng và tính toán như trong Bảng 3.1:

Bảng 3.1. Tóm tắt các biến trong mô hình và tương quan kỳ vọng

Biến phụ thuộc Diễn giải Cơ sở đề xuất Nguồn tính toán

ZSCORE

Chỉ Z-score tính theo công thức 3.1 Amidu & Wolfe (2013); Goetz (2018); Noman & ctg (2018); Islam & ctg (2020); Phan & ctg (2019); López-Penabad & ctg (2021); Martinez-Miera & Repullo (2010); Uddin & ctg (2020); Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021)

BCTC

LERNER Chỉ số cạnh tranh Lerner tính theo công thức 3.2 Amidu & Wolfe (2013); Islam & ctg (2020); Noman & ctg (2018); Schaeck & ctg (2009); Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021); Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016) BCTC (+)
CAP Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản Goetz (2018); Islam & ctg (2020); López-Penabad & ctg(2021); SaifAlyousfi & ctg (2018); Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021); Berger & ctg (2013) BCTC (+)
SIZE Logarit tổng tài sản Boot & Thakor (2000); Goetz (2018); Islam & ctg (2020); Phan & ctg (2019); López-Penabad & ctg (2021); Saif-Alyousfi & ctg (2018) BCTC (+)
NNIM Thu nhập ngoài lãi/tổng thu nhập

Amidu & Wolfe (2013); SaifAlyousfi & ctg (2018); Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021)

BCTC (-)
TECH Logarit tổng chi tiêu hàng năm vào công nghệ Uddin & ctg (2020) BCTC (-)
GRW Tốc độ tăng trưởng tín dụng Adrian & ctg (2013); Bernanke & ctg (1989) BCTC (-)
GOV Bằng 1 nếu NHTM có tỷ lệ sở hữu nhà nước >= 50%; bằng 0 với các trường hợp còn lại Noman & ctg (2018); Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021) BCTC (+)
GDP Tăng trưởng (%) GDP hàng năm của Việt Nam Amidu & Wolfe (2013); Goetz (2018); Noman & ctg (2018); SaifAlyousfi & ctg (2018); Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021) World Bank (+)
INF Tỷ lệ (%) lạm phát hàng năm của Việt Nam Abuzayed & ctg (2018); Saif- Alyousfi & ctg (2018); World Bank (-)

 Nguồn: Tác giả tổng hợp Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Kết luận chương 3

Trong chương này, dựa trên lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả đã trình bày về dữ liệu, cách thức thu thập và phương pháp nghiên cứu. Luận văn sử dụng sử dụng thứ cấp của 28 NHTM Việt Nam và các dữ liệu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2011-2023, thu thập từ cơ sở dữ liệu FiinPro-X. Đồng thời, tác giả giải thích cách tính các biến và kỳ vọng chiều hướng tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là ZSCORE (đại diện cho ổn định ngân hàng), biến độc lập là LERNER (đại diện cho cạnh tranh) và các biến kiểm soát gồm SIZE (đại diện cho quy mô ngân hàng), CAP (đại diện tỷ lệ VCSH trên TTS), NNIM (đại diện cho đa dạng hoá thu nhập), TECH (đại diện cho đầu tư công nghệ), GRW (đại diện cho tăng trưởng tín dụng), GOV (đại diện cho hình thức sở hữu; 1-thuộc sở hữu nhà nước; 0-không thuộc sở hữu nhà nước), GDP (đại diện cho tăng trưởng kinh tế) và INF (đại diện cho lạm phát). Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày các kiểm định cần thiết để khắc phục các khuyết tật của mô hình hồi quy. Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: KQNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537