Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA TỈNH VĨNH PHÚC CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có vị trí địa lý thuận lợi. Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội. Tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc là Thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km, cách cảng Hải Phòng khoảng 150km và cảng nước sâu Cái Lân khoảng 170km.
Tỉnh Vĩnh Phúc là cầu nối giữa trung du miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội, là cửa ngõ phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội. Đồng thời, Vĩnh Phúc còn là cửa ngõ phía Đông Nam của khu Tây Bắc, Việt Bắc, cửa ngõ phía Tây Bắc Đồng Bằng sông Hồng và nằm trên đường lưu thông của vùng Tây Nam Trung Quốc. Đây là điều kiện để tiêu thụ hàng hóa nông sản của tỉnh.
Quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng tạo thêm thuận lợi mới về vị trí địa lý cho Vĩnh Phúc như: Tỉnh đã trở thành bộ phận cấu thành vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ sự lan tỏa các khu công nghiệp lớn thuộc Hà Nội, hình thành và phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc gia liên quan đến tỉnh Vĩnh Phúc như: Tuyến hành lang Việt Trì – Hà Giang – Trung Quốc, hành lang 18 và là tuyến đường vành đai số IV nối với thành phố Hà Nội… giúp tỉnh xích gần hơn với trung tâm kinh tế và những Thành phố lớn của đất nước. Tỉnh lại nằm trong vùng động lực phát triển kinh tế phía Bắc… Những điều kiện trên đã tạo thuận lợi cho Vĩnh Phúc giao lưu phát triển kinh tế – xã hội – khoa học công nghệ với cả nước.
3.1.1.2. Địa hình
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa gò đồi trung du với vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia làm ba vùng sinh thái rõ rệt: Vùng núi, trung du và đồng bằng. Với sự đa dạng về địa hình rất thuận tiện cho việc phát triển nông – lâm – thủy sản, dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp và du lịch.
Vùng núi: Có diện tích tự nhiên khoảng 65300 ha. Trong vùng có dãy núi Tam đảo, là tài nguyên du lịch quý giá của tỉnh và của cả nước. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Vùng trung du: Chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Vùng có diện tích tự nhiên khoảng 24900 ha. Quỹ đất đồi của vùng có thể xây dựng công nghiệp và đô thị, phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp kết hợp chăn nuôi đại gia súc. Trong vùng có nhiều hồ lớn như Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục, Liễu Sơn, Đầm Vạc là nguồn cung cấp nước cho hoạt động sản xuất, cải tạo môi sinh và phát triển du lịch.
Vùng đồng bằng: Có diện tích khoảng 32800 ha, đất đai bằng phẳng, thuận tiện phát triển cơ sở hạ tầng, các điểm dân cư đô thị và thích hợp cho sản xuất nông nghiệp.
Như vậy, Vĩnh Phúc ôm trọn cả 3 vùng sinh thái: miền núi, trung du và đồng bằng với các con sông Hồng, sông Lô,… tạo nên các vùng trũng, đầm hồ đan xen, hình thành một miền sinh thái rất phong phú và đa dạng của một nền kinh tế nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi và phát triển ngành nghề thủ công theo từng vùng thế mạnh tài nguyên, thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển và tạo điều kiện tốt cho phát triển công nghiệp.
3.1.1.3. Khí hậu
Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình năm là 23,5 – 250C, nhiệt độ cao nhất là 38,50C, thấp nhất là 20C. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên có sự chênh lệch khá lớn về nhiệt độ giữa vùng núi và đồng bằng.
Lượng mưa trung bình năm đạt 1.500 – 1.700mm, đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và đời sống.
Tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 – 1.800 giờ, thuận lợi phát triển cây nhiệt đới.
3.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt của tỉnh khá phong phú nhờ sông Hồng và sông Lô cùng hệ thống các sông nhỏ như sông Phó Đáy, sông Phan, sông Cà Lồ và hàng loạt hồ chứa (Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục, Đầm Vạc, Đầm Dưng, Hồ Thanh Lanh..) dự trữ khối lượng nước rất lớn, đủ để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
- Tài nguyên đất
Trên địa bàn tỉnh có 3 nhóm đất chính là: nhóm phù sa các sông chiếm 62,2% phù hợp với thâm canh cây lúa, hoa màu các loại; nhóm đất bạc màu chiếm 24,8% và nhóm đất vùng núi đặc trưng chiếm 13%, hai nhóm này phù hợp phát triển cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, các công trình hạ tầng kỹ thuật và xây dựng khu công nghiệp.
Đất đồi núi có diện tích chiếm khoảng 1/3 diện tích tự nhiên, gồm các loại đất chính sau: Đất Feralitic biến đổi do trồng lúa nước không bạc màu; diện tích khoảng 4.850 ha. Đất Feralitic màu nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ: Diện tích vào khoảng 2.300 ha, chủ yếu được trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây lâm nghiệp. Đất Feralitic đỏ vàng phát triển trên nền phiến thạch Mica: Chiếm khoảng 2,1% diện tích tự nhiên, đất thích hợp cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là cây công nghiệp. Đất Feralitic màu vàng hoặc đỏ phát triển trên phiến thạch sét: Có diện tích khoảng 9.120 ha, Đây là loại đất rừng cho năng suất cao, ở những vùng đất dốc dưới 200 thích hợp cho phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và các loại đặc sản… Đất Ferealitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển đá Macma chua: Diện tích 1.900 ha, đất chua, tầng đất mặt mỏng, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp. Đất Feralitic mùn trên núi: Diện tích nhỏ trên dãy núi Tam Đảo ở độ cao trên 500m. Ngoài mục đích lâm nghiệp còn có thể ươm cây giống, trồng cây dược liệu, cây xứ lạnh và rau mùa đông.
- Tài nguyên rừng Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng 32,7 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất là 10,8 nghìn ha, rừng phòng hộ là 6,6 nghìn ha và rừng đặc dụng là 15,4 nghìn ha. Tài nguyên rừng đáng kể nhất của tỉnh là Vườn Quốc gia Tam Đảo với trên 15 ngàn ha, là nơi bảo tồn nguồn gen động thực vật (có trên 620 loài cây thảo mộc, 165 loài chim thú), trong đó có nhiều loại quý hiếm được ghi vào sách đỏ như cầy mực, sóc bay, vượn…; Rừng Vĩnh Phúc ngoài việc bảo tồn nguồn gen động, thực vật còn có vai trò điều hoà nguồn nước, khí hậu và có thể phục vụ cho phát triển các dịch vụ thăm quan, du lịch.
- Tài nguyên khoáng sản
Theo đánh giá sơ bộ, tài nguyên khoáng sản Vĩnh Phúc có thể phân thành các nhóm sau:
Nhóm khoáng sản nhiên liệu: Gồm than antraxit trữ lượng khoảng một ngàn tấn; than nâu trữ lượng khoảng vài ngàn tấn; than bùn có trữ lượng 693.600 tấn, đã được khai thác làm phân bón và chất đốt.
Nhóm khoáng sản phi kim loại: Nhóm khoáng sản phi kim loại chủ yếu là cao lanh, nguồn gốc phong hóa từ các loại đá khác nhau, tại đây có khoảng 3 mỏ và 1 điểm quặng với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn, là nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa, đồ gốm, sứ, làm chất độn cho sơn, cho cao su, cho giấy ảnh, giấy in tiền… Các mỏ cao lanh được khai thác từ năm 1965, mỗi năm tiêu thụ hàng ngàn tấn. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 6 mỏ Puzolan, tổng trữ lượng 4,2 triệu tấn.
Nhóm vật liệu xây dựng: Gồm sét gạch ngói khoảng 10 mỏ với tổng trữ lượng 51,8 triệu m³, sét đồng bằng, sét vùng đồi, sét màu xám đen, xám nâu, cát sỏi lòng sông và bậc thềm, cát cuội sỏi xây dựng (có 4 mỏ, tổng trữ lượng 4,75 triệu m³, đá xây dựng và đá ốp lát (granit và riolit) có 3 mỏ với tổng trữ lượng 307 triệu m³, đá ong có 3 mỏ, tổng trữ lượng 49 triệu m³.
- Tài nguyên du lịch
Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn. Trong đó có Tam Đảo là dãy núi hình cánh cung dài 50 km, rộng 10 km với phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ. Đặc biệt có Vườn Quốc gia Tam Đảo và các vùng phụ cận thuộc loại rừng nguyên sinh có nhiều loài động thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có hệ thống sông ngòi, đầm hồ tương đối phong phú, địa thế đẹp có thể vừa phục vụ sản xuất vừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Vân Trục, Đầm Vạc, đầm Dưng, Thanh Lanh… ;Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm, Tháp Bình Sơn, đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu…
Sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên kể trên là những tiềm năng tạo ra thế mạnh cho tỉnh Vĩnh Phúc để phát triển kinh tế.
3.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
- Kết cấu hạ tầng
Hạ tầng kinh tế – xã hội của tỉnh trong những năm qua đang ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Cơ sở hạ tầng giao thông được chú trọng đầu tư xây dựng và nâng cấp, phân bổ rộng khắp.
- Dân số và lao động
Dân số tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay là 1.041,4 nghìn người. Lực lượng lao động dồi dào, chiếm 65,7% dân số. Mỗi năm, tỉnh có trên một vạn người bước vào độ tuổi lao động. Dân số tương đối trẻ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên những năm gần đây khá cao.
Về chất lượng lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 36,4% lực lượng lao động năm 2017. Năm 2018, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên đáng kể đạt 42,9%, năm 2021 đạt 54%, năm 2022 là 55,8% (tăng 2,5% so với năm 2021), trong đó tỷ lệ qua đào tạo nghề là 41,8% (tăng 1,7% so với năm 2021), năm 2023 đạt khoảng 62 – 63% và năm 2024 đạt khoảng 67%.
Có thể thấy điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh.
3.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH CỦA TỈNH VĨNH PHÚC Ở GIAI ĐOẠN 2016 – 2024 Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
3.2.1. Cơ cấu giá trị
3.2.1.1. Cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh liên tục đứng ở vị trí tốp đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong bảng xếp hạng những năm gần đây. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa ba nhóm ngành kinh tế thể hiện xu hướng vận động và trình độ phát triển của một nền kinh tế. Việc đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Vĩnh Phúc được thể trước tiên qua những phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhóm ngành .
Từ khi tách tỉnh đến nay, nhìn chung cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
Giai đoạn 2016 – 2020: Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 18,0%/năm, trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,07%, công nghiệp – xây dựng tăng 18,57%, dịch vụ tăng 16,13%. Bảng trên cho thấy tốc độ tăng của năm sau so với năm trước là khá cao, mặc dù năm 2019 tốc độ tăng hơi thấp do gặp rất nhiều khó khăn và thách thức như khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh xảy ra ảnh hưởng nặng nề đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh nhưng với nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ, nhân dân và các doanh nghiệp trong tỉnh nên đã vượt qua khó khăn và đạt được những thành tựu nhất định: nông – lâm – ngư nghiệp tăng 1,13%, công nghiệp – xây dựng tăng 6, 12%, dịch vụ tăng 11,03%.
Giai đoạn 2021 tới nay: Quy mô kinh tế tiếp tục tăng với tốc độ khá, cao hơn mức bình quân cả nước. Giai đoạn 2021 – 2024, GRDP của tỉnh tăng trưởng bình quân 6,04%/năm, giá trị tăng thêm tăng bình quân 8,65%/năm (trong đó: nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,62%/năm; công nghiệp và xây dựng tăng 10,10%/năm; dịch vụ tăng 7,25%/năm), cao hơn so vớ tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cả nước cùng thời kỳ (5,6%/năm) nhưng thấp hơn so với giai đoạn 2016 – 2020 (18,0%/năm). Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục có được sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp. Đến năm 2024, công nghiệp, dịch vụ hơn 90% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Quá trình tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Phúc trong những năm qua có thể nói gắn liền với sự gia tăng mạnh mẽ của khu vực công nghiệp mà đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời có sự đột biến trong một số năm như năm 2017 (tăng 30,12%) và năm 2020 (tăng 21,30%) do một số dự án công nghiệp có quy mô lớn đi vào hoạt động. Đây là những thời điểm mà các dự án công nghiệp đi vào hoạt động làm gia tăng sản lượng công nghiệp.
Cùng với tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu kinh tế trong tỉnh cũng có sự thay đổi đáng kể:
Bảng 3.2: Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh
Phúc giai đoạn 2016 – 2024
(Đơn vị: %) Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
| Năm | Nông, lâm, ngư nghiệp | Công nghiệp và xây dựng | Dịch vụ |
| 2016 | 16,86 | 57,12 | 26,02 |
| 2017 | 14,37 | 59,93 | 25,70 |
| 2018 | 15,7 | 58,3 | 26,0 |
| 2019 | 15,12 | 56,81 | 28,07 |
| 2020 | 14,91 | 56,16 | 28,93 |
| 2021 | 15,5 | 54,6 | 29,9 |
| 2022 | 13,5 | 53,4 | 33,1 |
| 2023 | 10,72 | 61,1 | 28,18 |
| 2024 | 9,76 | 62,54 | 27,7 |
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngành công nghiệp và xây dựng đang chiếm vị thế cao và là ngành chủ chốt mang lại giá trị lớn cho kinh tế của tỉnh.
Từ năm 2016 đến năm 2024, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp đã giảm từ 16,86% năm 2016 xuống còn 10,1% năm 2024, bình quân giảm 0,76%/năm, nhường chỗ cho sự tăng lên về tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 57,12% năm 2016 lên 62,54% năm 2024, tức là bình quân mỗi năm tăng 0,37%. Khu vực dịch vụ cũng có thay đổi, từ 26,02% năm 2016 tăng lên 27,7% năm 2024, bình quân tăng 0,39%/năm. Mặc dù, ngành nông nghiệp có tỷ trọng giảm nhanh nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng khá trong điều kiện sản xuất có nhiều khó khăn nhờ chuyển đổi cơ cấu nội bộ ngành theo hướng khai thác tiềm năng thế mạnh và đây cũng là thành tựu quan trọng. Như vậy, trong hơn 8 năm qua, sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô đã chủ yếu diễn ở cả ba ngành nông nghiệp, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Đồng thời, mức giảm của ngành nông nghiệp bằng với mức tăng của ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ.
- Nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2024 liên tục tăng trưởng, sản xuất phát triển toàn diện và đúng hướng, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch tích cực, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh hoặc thâm canh cao với phương thức sản xuất tiên tiến theo hướng CNH, HĐH. Tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2024, tăng bình quân 5,7%/năm. Cơ cấu kinh tế trong ngành chuyển dịch mạnh.
Về trồng trọt: Tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng và mùa vụ theo hướng sản xuất hàng hóa, nhất là đưa lúa xuân muộn ngày càng tăng diện tích ở tất cả các vùng, các tiến bộ kỹ thuật tiếp tục được áp dụng rộng rãi, cơ giới hóa được đưa vào nhiều khâu của quá trình sản xuất, đã làm tăng năng xuất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp – nông thôn. Từ năm 2016 tới nay, đã xây dựng trên 20 mô hình trình diễn cơ giới hóa sản xuất trồng trọt, chuyển giao máy làm đất đa năng, máy tuốt liên hoàn, giàn gieo thẳng lúa… thay thế lao động thủ công, các mô hình đã và đang được nhân rộng. Giá trị thu nhập bình quân trên một đơn vị diện tích đất canh tác tăng từ 30 triệu đồng/ha năm 2016 lên 80 triệu đồng/ha năm 2020 và đạt 130 triệu đồng/ha năm 2024. Giai đoạn từ năm 2016 tới nay đã xây dựng một số vùng trồng trọt sản xuất hàng hóa với diện tích 17.187 ha.
Về chăn nuôi – thủy sản: Từ năm 2016 – 2020, tăng trưởng bình quân của chăn nuôi đạt 13%/năm, thủy sản đạt 8,15%/năm. Năm 2020, tỷ trọng chăn nuôi – thủy sản chiếm 52,05% giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản, năm 2023, đạt 63,2%. Sản xuất thủy sản đã chuyển hẳn sang hướng chuyên canh hoặc một lúa – một cá ở nhiều vùng. Đã xuất hiện nhiều điển hình thâm canh thủy sản và cải tạo vùng trũng có hiệu quả thuộc các huyện Lập Thạch, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc, làm tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích. Năm 2023, giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh tăng 4,4% so với năm 2022. Trong những năm gần đây, cùng với ngành chăn nuôi đang có những chuyển biến tích cực, ngành thủy sản cũng có những bước phát triển khá ổn định, tiếp tục đem lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi trồng. Trong năm 2024, sản lượng nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng.
Về lâm nghiệp: Những năm qua, công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng đã có những chuyển biến tích cực, góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực có rừng và ven rừng. Công tác khuyến lâm đã giúp các chủ rừng và người dân khu vực có rừng nâng cao vai trò, trách nhiệm và ý thức tự giác bảo vệ rừng. Phát triển rừng đã tạo ra sức sống mới cho nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc, góp phần giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, góp phần cải thiện môi trường sinh thái và phát triển bền vững kinh tế – xã hội của tỉnh.
Giai đoạn từ năm 2016 đến nay, được kế thừa các thành tựu của giai đoạn trước đặc biệt là khoán hộ và các chương trình, đề án, dự án cụ thể phát triển nông nghiệp – nông thôn, kinh tế nông nghiệp đã dần khẳng định và nâng cao vị thế, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
- Nhóm ngành công nghiệp – xây dựng
Từ sau khi tái lập tỉnh, nhiều năm liền chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) luôn nằm trong tốp đầu của cả nước.
Nhờ có sự chủ động của các doanh nghiệp nên đã hạn chế được những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh và ngành công nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng phát triển của tỉnh
Nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng bình quân giai đoạn 2021 – 2024 đạt 10,3%/năm, trong đó: công nghiệp tăng 9,9%/năm, xây dựng tăng 18,2%/năm. Dự kiến giai đoạn 2021 – 2025 GTSX toàn ngành tăng bình quân khoảng 9,6%/năm, trong đó: công nghiệp tăng khoảng 9,2%/năm, xây dựng tăng khoảng 17,6%/năm.
Bảng 3.3: Tăng trưởng GTSX công nghiệp – xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2021 – 2025
| TT | Chỉ tiêu | 2020 | 2023 | ƯTH 2024 | KH 2025 | Tốc độ tăng trưởng BQ (%) | |
| 11-14 | 11-15 | ||||||
| Giá trị sản xuất CN – XD (giá SS 2020) | 83.502,6 | 117.177,2 | 123.525,4 | 132.077 | 10,3 | 9,6 | |
| 1. | GTSX Công nghiệp | 80.060,3 | 111.125,5 | 116.801,7 | 124.327 | 9,9 | 9,2 |
| – Nhà nước | 878,2 | 1.016,5 | 1.156,8 | 1.300 | 7,1 | 8,2 | |
| – Ngoài Nhà nước | 10.490,3 | 16.916,7 | 19.444,6 | 21.700 | 16,7 | 16,0 | |
| – Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài | 68.691,9 | 93.192,3 | 96.200,4 | 101.327 | 8,8 | 8,0 | |
| 2. | GTSX ngành Xây dựng | 3.442,26 | 6.051,7 | 6.723,6 | 7.750 | 18,2 | 17,6 |
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Vĩnh Phúc, Dự thảo báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2025. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
- Trong năm 2024, ngành công nghiệp của tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi
Hầu hết các doanh nghiệp lớn như công ty Toyota, Honda, Piagio, phanh Nissin, VPCI1, Microshine, tập đoàn Prime, thép Việt Đức… đều có sản lượng sản xuất, tiêu thụ tăng khá hơn, duy trì được sự đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, cụ thể: sản lượng sản xuất của sản phẩm xe ô tô 5-14 chỗ ngồi tăng 20,8%, gạch ốp lát tăng 15,9%, gạch xây dựng tăng 5,1%, quần áo các loại tăng 3,2%, thức ăn gia súc, gia cầm tăng 43,8%… chỉ riêng sản phẩm xe máy giảm (giảm 0,9%) do phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ và do điều chỉnh chiến lược kinh doanh của các nhà đầu tư. Dự kiến, cả giai đoạn 2021-2025 nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp (giá cố định 2020) bình quân đạt 9,2%/năm, thấp hơn nhiều so với các giai đoạn trước đây.
- Trong sản xuất công nghiệp, khu vực FDI vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh
Ước đến năm 2024 giá trị sản xuất (giá 2020) của khu vực này đạt 96.200 tỷ đồng, chiếm 82,2% GTSX ngành công nghiệp của tỉnh, nhịp độ tăng bình quân giai đoạn 2021-2024 đạt 8,8%/năm. Khu vực công nghiệp trong nước tuy gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển bình quân khoảng đạt 7,1%/năm, tăng trưởng mạnh nhất là khu vực tư nhân trong nước với tốc độ 16,7%/năm.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu như: xe máy tăng 5,4%/năm, gạch ốp lát tăng 4,1%/năm, quần áo may sẵn tăng 12,4%/năm, ống thép tăng 19,2%/năm… Riêng sản phẩm ô tô do sự suy giảm về kinh tế, nhu cầu tiêu dùng xã hội giảm, mặt khác một số chính sách thuế, phí thay đổi đã ảnh hưởng đến tiêu thụ, nên sản lượng ô tô giảm bình quân 10,3%/năm.
Tiểu thủ công nghiệp làng nghề vẫn giữ vai trò quan trọng, góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Cùng với phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp làng nghề đã được quan tâm đầu tư phát triển, góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có có 22 làng nghề được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn, trong đó, có 05 cụm công nghiệp làng nghề đã tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là Thanh Lãng, thị trấn Yên Lạc, Tề Lỗ, Vĩnh Sơn và thị trấn Lập Thạch.
Nhiều năm liền, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh nằm trong tốp đầu cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của Vĩnh Phúc đã được khẳng định như sản xuất ô tô, xe máy, gạch ốp lát, may mặc… Cùng với sự phát triển của ngành cơ khí chế tạo, trong những năm qua ngành công nghiệp hỗ trợ của tỉnh đã được hình thành và từng bước phát triển mạnh mẽ, nhất là công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp cơ khí chế tạo và công nghiệp điện tử – tin học.
- Nhóm ngành dịch vụ
Các ngành dịch vụ phát triển ổn định, đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân. Giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ giai đoạn 2016 – 2024 tăng bình quân 16,6%/năm. Kinh doanh thương mại diễn ra khá sôi động. Du lịch có bước phát triển mới, nhiều khu du lịch tập trung có chất lượng cao được hình thành, vận chuyển hàng hóa và vận tải hành khách tăng mạnh, bưu chính viễn thông có tốc đọ tăng trưởng cao; cơ sở vật chất phát triển khá nhanh; khai thác internet phát triển, hoạt động ngân hàng có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng lên. Các dịch vụ tài chính, bảo hiểm có bước phát triển khá so với giai đoạn trước. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Từ năm 2016, Vĩnh Phúc đã xác định tập trung phát triển và nâng cao chất lượng một số ngành dịch vụ có lợi thế só sánh như giáo dục đào tạo, y tế chất lượng cao, du lịch (tâm linh, nghĩ dưỡng, thể thao…). Đến nay tỉnh đã và đang thu hút được nhiều dự án đầu tư các trường đại học, bệnh viện cao cấp và các dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch trên địa bàn. Hệ thống nhà hàng được đầu tư nâng cấp ngày càng hiện đại. Nhiều dự án đầu tư về lĩnh vực du lịch đã và đang được triển khai tích cực.
3.2.1.2. Cơ cấu nội bộ trong từng ngành
- Chuyển dịch cơ cấu nhóm ngành nông nghiệp
Vĩnh Phúc luôn là điểm sáng của cả nước và đạt kết quả tích cực. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, để giải quyết vấn đề lương thực, Vĩnh Phúc đã có Nghị quyết về giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, là cơ sở để hình thành lên khoán hộ sau này. Nối tiếp truyền thống đó, Vĩnh Phúc cũng là địa phương đi đầu cả nước về trồng cây vụ đông mà khởi nguồn từ trồng ngô vụ đông, hình thành tập quán sản xuất 3 vụ/năm. Năm 2016, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân, trong đó đưa ra chủ trương, định hướng tương đối toàn diện về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Những nội dung của Nghị quyết đã được Trung ương đánh giá cao tham khảo để ra Nghị quyết số 26 năm 2018 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Với cách làm sáng tạo, đổi mới nên nông nghiệp Vĩnh Phúc luôn là điểm sáng của cả nước và đạt những kết quả tích cực.
Cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong giai đoạn 2016 đến năm 2024 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.4: Cơ cấu giá trị sản xuất (GO) nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn năm 2016 – 2024
| Năm | Tổng GO (tr, đ) | Nông nghiệp | Lâm nghiệp | Thủy sản | |||
| GO (tr,đ) | Cơ cấu % (*) | GO (tr,đ) | Cơ cấu % (*) | GO (tr,đ) | Cơ cấu % (*) | ||
| 2016 | 3.162.512,7 | 2.959.617 | 93,58 | 43.664,7 | 1,38 | 159.231,0 | 5,04 |
| 2017 | 3.628.184,6 | 3.391.955 | 93,48 | 43.822,6 | 1,2 | 192.407,0 | 5,32 |
| 2018 | 6.438.428 | 6.088.084 | 94,55 | 64.371,5 | 0,99 | 285.972,5 | 4,46 |
| 2019 | 6.101.513,8 | 5.703.478 | 93,47 | 57.940,0 | 0,95 | 340.095,8 | 5,58 |
| 2020 | 8.276.389 | 7.796.518 | 93,5 | 79.498 | 0,96 | 400.373 | 5,54 |
| 2021 | 10.480.817 | 9.759.319 | 92,91 | 91.150 | 0,87 | 630.348 | 6,22 |
| 2022 | 9.873.331 | 9.144.843 | 92,83 | 94.555 | 0,96 | 633.933 | 6,21 |
| 2023 | 10.586.422 | 9.613.404 | 92,29 | 89.764 | 0,85 | 883.254 | 6,86 |
| 2024 | 10.891.685 | 9.815.923 | 90,12 | 90.750 | 0,83 | 985.012 | 9,05 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020, 2023 và các số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
- (*): Tính toán của tác giả. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Cơ cấu giá trị sản xuất nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2016 – 2024 đã có sự chuyển dịch giữa hai ngành nông nghiệp và thủy sản. Tỷ trọng giá trị sản xuất trong cơ cấu nhóm ngành của ngành nông nghiệp đã giảm từ 93,58% năm 2016 còn 93,5% năm 2020 và 90,12% năm 2024 Ngược lại, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thủy sản trong cơ cấu nhóm ngành đã tăng lên từ 5,04% năm 2016 lên 5,54% năm 2020 và 9,05% năm 2024.
Đối với ngành lâm nghiệp, tỷ trọng của ngành này trong nhóm ngành có xu hướng giảm nhẹ: 0,42% giai đoạn 2016 – 2020 và 0,13% giai đoạn 2021 – 2024.
Sự thay đổi cơ cấu trên đây, về cơ bản phù hợp với xu hướng khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nội bộ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của Vĩnh Phúc. Điều đó khẳng định tính đúng đắn trong chủ trương phát triển kinh tế của tỉnh những năm gần đây, coi nông nghiệp (gồm trồng trọt và chăn nuôi) là ngành chính và chú trọng phát triển ngành thủy sản, đưa năng xuất thủy sản tăng cao hơn nữa.
- Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp
Đặc điểm nổi bật của ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc ở giai đoạn 2016 – 2024 là liên tục tăng trưởng, sản xuất phát triển toàn diện và đúng hướng, cơ cấu cây trồng – vật nuôi chuyển dịch tích cực, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh hoặc thâm canh cao với phương thức sản xuất tiên tiến theo hướng công nghiệp, hiện đại, tỷ trọng trồng trọt giảm, tỷ trọng chăn nuôi – thủy sản tăng.
Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp và sự chuyển dịch của nó trong giai đoạn 2016 – 2024 được thể hiện bảng dưới đây:
Bảng 3.5: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) ngành nông nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
| Năm | Tổng (GO) (tr đ) | Trồng trọt | Chăn nuôi | Dịch vụ TT,chăn nuôi | |||
| GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | ||
| 2016 | 2.959.617 | 1.541.158 | 52,08 | 1.273.335 | 43,02 | 145.124 | 4,90 |
| 2017 | 3.391.955 | 1.665.849 | 49,12 | 1.571.367 | 46,32 | 154.739 | 4,56 |
| 2018 | 6.088.084 | 2.930.620 | 48,13 | 2.908.708 | 47,78 | 248.756 | 4,09 |
| 2019 | 5.703.478 | 2.377.334 | 41,68 | 3.064.537 | 53,73 | 261.607 | 4,59 |
| 2020 | 7.796.518 | 3.540.757 | 45,41 | 3.973.010 | 50,96 | 282.751 | 3,63 |
| 2021 | 9.759.319 | 4.176.812 | 42,80 | 5.089.326 | 52,15 | 493.181 | 5,05 |
| 2022 | 9.144.843 | 3.402.534 | 37,21 | 5.004.647 | 54,73 | 737.662 | 8,06 |
| 2023 | 9.613.404 | 3.547.861 | 36,91 | 5.142.554 | 53,49 | 922.989 | 9,60 |
| 2024 | 9.643.205 | 3.376.086 | 35,01 | 5.301.835 | 54,89 | 965.284 | 10,01 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020, 2023 và các số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
- (*) Tính toán của tác giả. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Như vậy, tổng giá trị mà ngành nông nghiệp tạo ra là khá lớn và tăng dần. Trong nội bộ ngành nông nghiệp (chỉ tính trồng trọt và chăn nuôi), tỷ trọng ngành trồng trọt có xu hướng giảm, nhường chỗ cho sự tăng lên về tỷ trọng của ngành chăn nuôi. Chăn nuôi có bước tăng trưởng khá và có sự chuyển dịch tích cực. Chăn nuôi phát triển nhanh và đã trở thành ngành chính trong nông lâm thủy sản. Ngành chăn nuôi tăng trưởng mạnh không chỉ về GTSX mà cả tỷ trọng. Năm 2016 chiếm 43,02%, con số này đã tăng lên 50,96 vào năm 2020 và đến năm 2024, GTSX ngành chăn nuôi đã chiếm 54,89% tổng GTSX ngành nông nghiệp (tốc độ tăng trung bình 6,7%/năm giai đoạn 2021 – 2024). Đây là sự khác biệt lớn của Vĩnh Phúc so với các tỉnh vùng ĐBSH cũng có công nghiệp phát triển thì chỉ Vĩnh Phúc đã đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành hàng chính trong sản xuất nông, lâm, thủy sản.
Dịch vụ trồng trọt và chăn nuôi cũng có bước thay đổi rõ, trong giai đoạn 2016 – 2020, tỷ trọng của nó trong ngành nông nghiệp đã giảm nhẹ. Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 2020 – 2024 tỷ trọng ngành này lại tăng trở lại, từ 3,63% năm 2020 lên 10,01% năm 2024.
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp của tỉnh cụ thể trên các ngành sản xuất như sau:
Trồng trọt: Mặc dù tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng của trồng trọt giảm dần, song quy mô ngành trồng trọt vẫn không ngừng tăng. Đồng thời trong nội bộ ngành đã có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng sản xuất hàng hóa và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2016 – 2020) trong trồng trọt đạt 2,5%/năm, từ năm 2021 – 2024 đạt 2,07%/năm.
Bảng 3.6: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) ngành trồng trọt Tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
| Năm | Ngành TT | Lương thực | Rau, đậu, hoa, cây cảnh | Cây CNHN | Cây CNLN | Cây ăn quả | |||||
| GO (tr đ) | GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | GO (tr đ) | Cơ cấu (%) (*) | |
| 2016 | 1.541.158 | 944.716 | 61,30 | 158.899 | 10,31 | 102.322 | 6,64 | 1.295 | 0,08 | 171.007 | 11,10 |
| 2017 | 1.665.849 | 1.072.810 | 64,40 | 162.612 | 9,76 | 103.983 | 6,24 | 1.472 | 0,09 | 189.579 | 11,38 |
| 2018 | 2.930.620 | 1.953.438 | 66,66 | 244.526 | 8,34 | 242.073 | 8,26 | 1.579 | 0,05 | 302.680 | 10,33 |
| 2019 | 2.377.334 | 1.489.788 | 62,67 | 214.488 | 9,02 | 137.887 | 5,80 | 2.914 | 0,12 | 370.364 | 15,58 |
| 2020 | 3.337.637 | 1.929.054 | 57,80 | 536.915 | 16,09 | 227.562 | 6,82 | 3,672 | 0,11 | 429.554 | 12,87 |
| 2021 | 4.176.812 | 2.497.266 | 59,79 | 655.279 | 15,69 | 219.833 | 5,26 | 4.555 | 0,11 | 510.369 | 12,22 |
| 2022 | 3.402.534 | 1.948.439 | 57,26 | 533.651 | 15,68 | 187.739 | 5,52 | 4.460 | 0,13 | 509.905 | 14,99 |
| 2023 | 3.547.861 | 1.999.865 | 56,39 | 538.735 | 15,18 | 175.599 | 4,95 | 4.776 | 0,13 | 529.345 | 14,92 |
| 2024 | 3.583.687 | 1.978.554 | 55,21 | 538.270 | 15,02 | 175.912 | 4,87 | 4.968 | 0,13 | 536.119 | 14,96 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 -2024 và các số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
Bảng trên cho thấy trong ngành trồng trọt, cây lương thực là loại cây trồng chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất trên 55%. Cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả có xu hướng tăng nhưng không đáng kể. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Như vậy, cơ cấu cây trồng lại có sự chuyển dịch theo xu hướng tăng dần diện tích các loại cây có giá trị kinh tế, hàng hóa cao và giảm dần diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp. Việc chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống được thực hiện ngày càng rộng rãi và trở thành tập quán sản xuất. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, biện pháp thâm canh, bảo quản và tiêu thụ nông sản sau thu hoạch được áp dụng đã góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Chăn nuôi: Chăn nuôi công nghiệp theo mô hình trang trại đã và đang thay thế dần chăn nuôi nhỏ lẻ ở từng hộ gia đình.
Trong vài năm gần đây, chăn nuôi vẫn phát triển với tốc độ khá cao, tăng trưởng bình quân đạt 13%/năm. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, các ngành, sự chủ động triển khai các biện pháp đồng bộ phòng, chống dịch bệnh, do vậy, năm 2023, tổng đàn gia súc, đàn gia cầm đều tăng so với cùng kỳ năm 2022 như đàn lợn tăng 3,84%, đàn trâu tăng 0,1%, đàn bò tăng 1,48% và đàn gia cầm 6,29%. Quy mô đàn trong nông hộ được mở rộng theo hướng sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, cung cấp cho thị trường trong nước và nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thực phẩm xuất khẩu. Đến nay, toàn tỉnh có hàng trăm trang trại chăn nuôi lợn với quy mô trung bình từ 50 – 100 con, các trang trại chăn nuôi bò thịt, bò sữa với quy mô từ 20 – 40 con và hàng trăm trang trại gà tập trung ở các huyện Tam Dương, Lập Thạch, Thành phố Vĩnh Yên và Thị xã Phúc Yên. Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi trong giai đoạn 2016 – 2024 được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.7: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi ỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
| Hạng mục | 2016 | 2019 | 2020 | 2021 | 2023 | 2024 |
| 1.Số lượng (nghìn con) | ||||||
| Trâu | 27,879 | 26,012 | 26,1 | 24,230 | 21,42 | 20,18 |
| Bò | 177,143 | 139,999 | 137,2 | 120,660 | 95,49 | 94.198 |
| Lợn | 555,04 | 533,923 | 523,1 | 498,050 | 495,0 | 484.676 |
| Gia cầm | 5842,3 | 7033,6 | 7175 | 8460 | 9247,23 | 9581,5 |
| 2.Sản lượng thịt hơi (tấn) Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh. | ||||||
| Thịt trâu | 979,2 | 1.346,6 | 1.600,1 | 1.864,0 | 2.012,0 | 2.267,0 |
| Thịt bò | 2.836 | 4.324,6 | 4.700,5 | 5.475,0 | 5.801,2 | 6.031,2 |
| Thịt lợn | 59.800 | 59.381,2 | 63.700,3 | 64.134,8 | 67.026,0 | 36.811 |
| Thịt gia cầm | 16.900 | 19.507,3 | 27.000,1 | 20.826,2 | 24.107,0 | 11.000 |
| Trứng (triệu quả) | 140,48 | 173,58 | 240,12 | 307,46 | 380,0 | 419,25 |
| Sữa tươi (nghìn lít) | 2105 | 1863 | 1701 | 1.616 | 1341 | 1194 |
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
Nhìn chung, trong giai đoạn 2016 –2024, số lượng gia súc giảm, gia cầm tăng lên đáng kể. Mặc dù, số lượng đàn gia súc có giảm nhưng vẫn cho sản lượng tốt và tăng lên qua các năm. Sản lượng thịt trâu tăng từ 979,2 tấn năm 2016 lên 1600,1 tấn năm 2020 và 2267,0 tấn năm 2024. Sản lượng thịt bò tăng từ 2836 tấn năm 2016 lên 4700,5 tấn năm 2020 và 6031,2 tấn năm 2024; các sản lượng gia cầm, trứng gia cầm, sản lượng sữa cũng đều tăng với tốc độ cao nhờ vào tiến bộ kỹ thuật mới trong công tác giống, sản xuất thức ăn, thú y và các phương thức tổ chức sản xuất chăn nuôi mới được ứng dụng vào sản xuất. Phương thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp đã và đang thay thế phương thức chăn nuôi truyền thống, vừa giải quyết việc làm, tăng thu nhập, vừa tích cực chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp.
Chăn nuôi được coi là mũi nhọn của tỉnh nhưng với số lượng về đàn gia súc, gia cầm như vậy chưa thực sự khẳng định vị trí quan trọng của nó.
- Cơ cấu giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp:
Những năm qua, công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng đã có những chuyển biến tích cực, hàng năm đã triển khai nhân rộng các mô hình trồng rừng có hiệu quả, triển khai dự án trồng mới 5 triệu ha rừng… Giai đoạn 2016 – 2020, toàn tỉnh trồng mới được khoảng 8.000 ha rừng; khoanh nuôi tái sinh hơn 3.000 ha; bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, đưa độ che phủ rừng lên 22,55% năm 2020. Từ năm 2021, công tác trồng và chăm sóc rừng tiếp tục được triển khai. Tuy nhiên, tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp trong tổng giá trị sản xuất của nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong giai đoạn 2016 – 2024 là con số rất nhỏ, khoảng dưới 3,27%. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Bảng 3.8: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 –2024
| Năm | Tổng GO (tr đ) | Trồng và nuôi rừng | Khai thác gỗ và lâm sản | Dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp khác | |||
| GO (Tr đ) | Cơ cấu (%) | GO (Tr đ) | Cơ cấu (%) | GO (Tr đ) | Cơ cấu (%) | ||
| 2016 | 43.664,7 | 4.964,5 | 11,4 | 35.389,0 | 81,0 | 3.311,2 | 7,6 |
| 2017 | 43.822,6 | 5.076,7 | 11,6 | 34.218,6 | 78,1 | 4.527,3 | 10,3 |
| 2018 | 64.371,5 | 7.444,9 | 11,6 | 47.961,2 | 74,5 | 8.965,4 | 13,9 |
| 2019 | 57.940,0 | 5.456,7 | 9,4 | 46.803,0 | 80,8 | 5.683,3 | 9,8 |
| 2020 | 79.498 | 2.674 | 7,9 | 54.706,5 | 83,3 | 5.811,1 | 8,8 |
| 2021 | 91.150 | 6.026 | 6,61 | 60.083 | 65,92 | 25.041 | 27,47 |
| 2022 | 92.555 | 5.423 | 5,74 | 83.240 | 88,03 | 5.892 | 6,23 |
| 2023 | 89.764 | 4.674 | 5,21 | 79.232 | 88,27 | 5.858 | 6,53 |
| 2024 | 90.912 | 4.564 | 5,02 | 80.48 | 88,52 | 5.746 | 6,32 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016 – 2024 và số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
Khai thác gỗ và lâm sản là hoạt động chủ yếu, đóng góp lớn vào giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp. Tỷ trọng giá trị sản xuất của hoạt động này trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp chiếm tới trên 65,92% và tăng dần trong giai đoạn từ năm 2020 tới nay.
Hoạt động trồng và nuôi rừng chiếm một tỷ trọng không lớn trong giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp và có xu hướng ngày càng giảm. Vào năm 2016, hoạt động này chiếm 11,4% nhưng đã giảm xuống còn 5,02% năm 2024.
Dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp khác cũng chiếm một tỷ trọng tương đối trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp và mức đóng góp của hoạt động này có sự thay đổi thất thường từng năm 2016 tới nay.
Như vậy, cơ cấu giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp chưa hợp lý. Hoạt động nuôi trồng vẫn ở mức thấp và có xu hướng giảm trong khi đó hoạt động khai thác đang tăng lên. Vì vậy, cần có sự can thiệp tích cực từ các chính sách cũng như những nhà quản lý để có những thay đổi tích cực, phù hợp với xu hướng vừa phát triển kinh tế nhưng phải đảm bảo cho việc duy trì và phát triển các tài nguyên rừng, nâng cao độ che phủ, chống xói mòn, hạn chế mưa bão ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế.
- Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản: Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Nuôi trồng thủy sản cũng từng bước đi vào thâm canh. Thủy sản được coi là khâu đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh.
Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản cũng có sự chuyển dịch khá mạnh trong giai đoạn 2016 –2024 theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng và giảm tỷ trọng khai thác. Giai đoạn 2016 – 2020, giá trị ngành thủy sản tạo ra thấp hơn nhiều so với giai đoạn từ năm 2021 tới nay. Nhiều dự án cải tạo vùng trũng được triển khai và kết quả về cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản như sau:
Bảng 3.9: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
(Đơn vị: Tỷ đồng, %)
| Năm | Ngành thủy sản Tr đồng | Khai thác | Nuôi trồng | Dịch vụ thủy sản | |||
| Giá trị Tr đồng | Cơ cấu % | Giá trị Tr đồng | Cơ cấu % | Giá trị Tr đồng | Cơ cấu % | ||
| 2016 | 86.866 | 4.643 | 5,34 | 70.439 | 81,09 | 11.784 | 13,57 |
| 2017 | 98.621 | 4.707 | 4,77 | 79.945 | 81,06 | 13.969 | 14,17 |
| 2018 | 110.902 | 4.796 | 4,33 | 88.032 | 79,38 | 18.074 | 16,29 |
| 2019 | 123.065 | 5.842 | 4,75 | 95.572 | 77,66 | 21.651 | 17,59 |
| 2020 | 400.373 | 33.075 | 8,26 | 329.162 | 82,21 | 38.136 | 9,53 |
| 2021 | 495.007 | 30.311 | 6,12 | 441.054 | 89,1 | 23.642 | 4,78 |
| 2022 | 569.259 | 34.857 | 6,12 | 507.212 | 89,1 | 27.190 | 4,78 |
| 2023 | 629.247 | 36.544 | 5,8 | 456.996 | 72,63 | 135.707 | 21,57 |
| 2024 | 651.025 | 36.457 | 5,6 | 582.667 | 89,5 | 30.598 | 4,7 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018, 2020 ,2023 và số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
Giá trị ngành thủy sản tạo ra đang ngày một tăng và sự gia tăng là khá lớn. Quá trình biến đổi tỷ trọng các tiểu ngành trong nội bộ của ngành thủy sản đang diễn ra với tốc độ cao. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Trong ngành thủy sản, hoạt động nuôi trồng thủy sản chiếm vị trí chủ đạo, giá trị mà ngành này tạo ra tăng dần qua các năm, tỷ trọng của nó chiếm tới hơn 72,63%. Như vậy, nuôi trồng thủy sản có vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị sản xuất của ngành. Vào năm 2016, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo ra 70.439 triệu đồng và con số này đã tăng lên rất nhanh qua các năm: 329.162 triệu đồng năm 2020 và 582.667 triệu đồng năm 2024, những con số này chứng tỏ ngành nuôi trồng thủy sản những năm qua đã có chuyển biến tích cực và đang ngày càng có đóng góp quan trọng vào trong nền kinh tế của tỉnh. Đồng thời, khẳng định trong những năm qua ngành nuôi trồng thủy sản đã được chú trọng quan tâm phát triển. Tuy nhiên, tỷ trọng của nó lại có sự giảm đi nhường chỗ cho sự tăng lên nhanh chóng của lĩnh vực dịch vụ thủy sản.
Dịch vụ thủy sản ở Vĩnh Phúc trong từng giai đoạn nhỏ có sự phát triển khác nhau: giai đoạn 2016 – 2020, tỷ trọng của lĩnh vực này trong ngành tăng đáng kể, năm 2020 chỉ giảm đôi chút. Tuy nhiên từ năm 2020 – 2024, tỷ trọng của nó giảm đi đáng kể, (trừ năm 2023, tăng vọt lên tới con số 21,57%. Sở dĩ như vậy là do giá trị tạo ra của hoạt động nuôi trồng thủy sản năm đó giảm mạnh đã nhường chỗ).
Hoạt động khai thác thủy sản cũng tạo ra giá trị sản xuất ngày càng tăng nhưng tỷ trọng còn nhỏ, dưới 6,68%.
Quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu trên đây khẳng định tính đúng đắn của chính sách tăng cường đầu tư và phát triển ngành thủy sản trong thời gian qua, nhằm khai thác đầy đủ và có hiệu quả tài nguyên thủy sản ở khu vực, từ đó nâng cao đóng góp của ngành theo nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản và cho sự phát triển kinh tế của mỗi tỉnh nói riêng.
Từ phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2016 – 2024, có thể rút ra một số nhận xét khái quát sau:
Trong cơ cấu nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, nông nghiệp là ngành chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 90%). Trong thời gian qua, cơ cấu của nhóm ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành thủy sản và lâm nghiệp. Tuy vậy, quy mô phát triển của hai ngành này còn nhỏ bé.
Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu nhưng có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu chậm. Trong trồng trọt, sản xuất lương thực đang chiếm tỷ trọng cao. Các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm có quy mô nhỏ bé, phát triển chậm. Trong chăn nuôi, đàn gia súc có sự giảm về số lượng thể hiện sự lúng túng trong giải quyết vấn đề an ninh lương thực, bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng và phát triển sản xuất hàng hóa.
Trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp, tỷ trọng trồng và nuôi rừng giảm xuống là không phù hợp với tiềm năng đất đai và yêu cầu phát triển bền vững nền kinh tế.
Ngành thủy sản có tốc độ tăng trưởng tốt, cơ cấu giá trị sản xuất nội bộ ngành đã có sự chuyển dịch nhanh chóng, tích cực theo hướng phát triển mạnh hoạt động nuôi, trồng. Xu hướng chuyển dịch đó là phù hợp với điều kiện của Vĩnh Phúc. Tuy vậy, quy mô phát triển ngành thủy sản hiện nay còn nhỏ so với tiềm năng.
Thực trạng trên đây cho thấy trong thời gian tới cần có chủ trương và giải pháp thích hợp để thúc đẩy nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển và chuyển dịch cơ cấu nhanh chóng, vững chắc.
- Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp và xây dựng
Trong những năm qua, giá trị đóng góp của lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đang ngày một gia tăng:
Bảng 3.10: Cơ cấu toàn ngành công nghiệp và xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
| Năm | Tổng GO (tr, đ) | Công nghiệp | Xây dựng | ||
| GO (tr, đ) | Cơ cấu (%) | GO (tr, đ) | Cơ cấu (%) | ||
| 2016 | 29.470.634 | 28.093.219 | 95,32 | 1.431.415 | 4,68 |
| 2017 | 41.570.698 | 39.825.228 | 95,8 | 1.745.470 | 4,2 |
| 2018 | 55.390.948 | 52.900.687 | 95,5 | 2.490.261 | 4,5 |
| 2019 | 61.711.220 | 58.680.138 | 95,09 | 3.031.082 | 4,91 |
| 2020 | 83.823.207 | 80.060.348 | 95,51 | 3.762.859 | 4,49 |
| 2021 | 111.317.606 | 106.117.765 | 95,33 | 5.199.841 | 4,67 |
| 2022 | 119.575.113 | 112.971.786 | 94,48 | 6.603.327 | 5,52 |
| 2023 | 129.110.992 | 121.746.711 | 94,3 | 7.364.281 | 5,7 |
| 2024 | 132.593.979 | 125.021.960 | 94,28 | 7.572.019 | 5,72 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc các năm 2018, 2020, 2023 và 2024.
Ta thấy trong ngành công nghiệp và xây dựng, đóng góp của từng ngành trong GDP có sự khác nhau về lượng khá rõ. Tuy nhiên tỷ trọng của nó trong ngành lại không thay đổi nhiều, chỉ là sự chuyển dịch đôi chút và sự thay đổi về lượng không ổn định. Ngành công nghiệp giữ vị trí và vai trò quan trọng trong toàn ngành, nó chiếm trên 94%, giảm nhẹ từ năm 2022 tới nay. Ngành xây dựng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên. Nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng bình quân giai đoạn 2021 – 2024 đạt 10,3%/năm, trong đó: công nghiệp tăng 9,9%/năm, xây dựng tăng 18,2%/năm. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành của công nghiệp ở Vĩnh Phúc trong những năm qua có những bước thay đổi đáng kể, đóng góp lớn vào nền kinh tế của tỉnh. Trong nội bộ ngành công nghiệp có sự chuyển dịch tích cực và sự chuyển biến ấy được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 3.11: Cơ cấu ngành công nghiệp ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
| Năm | Tổng GO công nghiệp (tr,đ) | Công nghiệp khai khoáng | Công nghiệp chế biến | CNSXPP điện, khí đốt, nước | Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải | ||||
| GO (tr, đ) | Cơ cấu (%) | GO (tr, đ) | Cơ cấu (%) | GO (tr, đ) | Cơ cấu (%) | GO (tr, đ) | Cơ cấu (%) | ||
| 2016 | 28.093.219 | 54.037 | 0,19 | 28.012.520 | 99,71 | 26.662 | 0,1 | – | – |
| 2017 | 39.825.228 | 83.032 | 0,21 | 39.710.252 | 99,71 | 31.944 | 0,08 | – | – |
| 2018 | 52.900.687 | 132.238 | 0,25 | 52.720.037 | 99,65 | 48.412 | 0,1 | – | – |
| 2019 | 58.680.138 | 70.149 | 0,12 | 58.567.825 | 99,81 | 42.164 | 0,07 | – | – |
| 2020 | 80.060.348 | 187.182 | 0,23 | 79.528.475 | 99,33 | 172.308 | 0,22 | 172.383 | 0,22 |
| 2021 | 106.117.765 | 214.886 | 0,20 | 105.491.280 | 99,41 | 233.493 | 0,22 | 178.106 | 0,17 |
| 2022 | 112.971.786 | 262.035 | 0,23 | 112.045.519 | 99,18 | 309.481 | 0,27 | 354.752 | 0,32 |
| 2023 | 121.746.711 | 98.643 | 0,08 | 120.904.344 | 99,31 | 435.176 | 0,36 | 308.548 | 0,25 |
| 2024 | 125.021.960 | 18.753 | 0,15 | 124.234.321 | 99,37 | 512.590 | 0,41 | 375.065 | 0,3 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc các năm 2018, 2020, 2023 và 2024.
Trong giai đoạn 2016 – 2024, giá trị sản xuất của lĩnh vực công nghiệp tăng từ 28.093.219 triệu đồng năm 2016 lên 80.060.348 triệu đồng năm 2020 và 125.021.960 triệu đồng năm 2024. Trong số các tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn năm 2024, Vĩnh Phúc là tỉnh có chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2024 tăng cao nhất cả nước, với mức tăng 15,1%.
Những con số trên cho thấy ngành công nghiệp chế biến đang có vị trí đi đầu trong các ngành công nghiệp ở Vĩnh Phúc và có vai trò chủ chốt trong việc tạo ra giá trị đóng góp vào nền kinh tế. Tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến luôn lớn hơn 99% tổng giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp và tỷ trọng này có sự biến đổi không đáng kể trong suốt giai đoạn 2016 – 2024.
Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp khai khoáng và công nghiệp sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước chỉ chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp. Tỷ trọng của hai ngành này chỉ chiếm khoảng dưới 1% giá trị sản xuất của ngành công nghiệp. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Cơ cấu các ngành trong công nghiệp ở Vĩnh Phúc có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước, giảm dần tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch rất chậm, cơ cấu ngành hầu như không có sự chuyển dịch đáng kể. Mặc dù các ngành công nghiệp của tỉnh trong thời gian qua có sự tăng trưởng nhanh chóng nhưng ngành công nghiệp chế biến vẫn đang là ngành chủ đạo. Các ngành công nghiệp khác đang trong quá trình hình thành và phát triển với quy mô còn nhỏ.
Trong giai đoạn 2016 – 2024, cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến của tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại, khoáng phi kim loại; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; dệt; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất, sản xuất da và các sản phẩm liên quan đến da,chế biến thực phẩm. Một số ngành được coi là thế mạnh của tỉnh như sản xuất phương tiện vận tải, sản xuất đồ uống, sản xuất giường, tủ, bàn ghế… có tỷ trọng giá trị sản xuất trong cơ cấu ngành giảm xuống nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao trong suốt giai đoạn. Sự chuyển dịch đó phù hợp với xu hướng đa dạng hóa ngành nghề và đa dạng hóa sản phẩm. Một số ngành sản xuất kém hiệu quả, không có điều kiện thuận lợi để phát triển có tỷ trọng giảm hoặc ngừng sản xuất như sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị… Bên cạnh đó, hình thành một số ngành sản xuất mới như sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh.
Như vậy, trong những năm qua ngành công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc đã có những biến đổi ngoạn mục, từ một tỉnh thuần nông, hiện nay ngành công nghiệp của tỉnh đã chuyển hướng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với các ngành công nghiệp chủ chốt là công nghiệp chế biến. Giai đoạn 2016 – 2024, các ngành công nghiệp mũi nhọn đã được khai thác lợi thế phát triển. Các ngành công nghiệp có tiềm năng của tỉnh đã có những bước tiến tích cực, công nghiệp hiện đại như chế tạo máy, lắp ráp linh kiện điện tử… ngày càng chiếm ưu thế trong tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp. Chỉ tính riêng hai công ty Toyota và Honda Việt Nam hàng năm cũng đóng góp từ 60 – 70% giá trị sản xuất ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp cơ khí đã được phát huy tiềm năng lợi thế để trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn và là tiền đề, cơ sở thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển.
Ngành công nghiệp điện tử, tin học đã khẳng định được thế mạnh của mình và đạt mức tăng trưởng cao. Tuy nhiên, đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh còn thấp, cần phát huy hơn nữa về quy mô phát triển của ngành.
Trong quá trình phát triển đã hình thành một số ngành công nghiệp mới như sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Các ngành công nghiệp khác như công nghiệp dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, đồ uống, công nghiệp dược phẩm và hóa chất… cũng được khai thác hiệu quả và ngày càng đóng góp vào giá trị sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong quá trình phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với công nghiệp hiện đại đã có mặt hàng chủ lực xuất khẩu và được tiêu thụ khắp trong cả nước…
Trong giai đoạn 2016 –2024, cơ cấu công nghiệp Vĩnh Phúc chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế. Nhờ vào các cơ chế chính sách thu hút đầu tư cũng như lợi thế về vị trí đị lý của tỉnh, ngành có hàm lượng kỹ thuật và chất xám cao ngày càng được đầu tư nhiều và chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên có một số ngành đang trong quá trình hình thành và phát triển, quy mô còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh.
- Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành dịch vụ
Giai đoạn 2016- 2020, giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ bình quân tăng 20,4%/năm. Kết cấu hạ tầng về dịch vụ được đầu tư, nâng cấp; chất lượng dịch vụ được cải thiện, các loại hình dịch vụ phát triển nhanh và ngày càng phong phú, đa dạng với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Ngành du lịch đã có bước phát triển, số lượng khách du lịch đến tỉnh tăng bình quân 14%/năm. Một số dự án lớn về du lịch đang được triển khai, từng phần đưa vào khai thác, sử dụng. Hoạt động thương mại phát triển rộng khắp; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 26,3%/năm; tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 36,5%/năm; các dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành bước đầu đáp ứng nhu cầu của du khách. Hệ thống giao thông được đầu tư nâng cấp; dịch vụ vận tải phát triển mạnh, khối lượng vận tải hàng hóa tăng bình quân 30,5%/năm, vận tải hành khách tăng bình quân 45,3%/năm. Mạng lưới viễn thông và các dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin phát triển mạnh. Dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Các dịch vụ về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, chăm sóc sức khỏe có nhiều tiến bộ, đổi mới và phát triển.
Giai đoạn 2021 – 2024, tốc độ tăng bình quân của dịch vụ 10,5%/năm. So với giai đoạn trước có sự giảm sút, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành dịch vụ chỉ tăng thêm 1% từ 27,5% năm 2020 lên khoảng 28,5% năm 2024. Tốc độ tăng bình quân ngành thương mại giai đoạn 2021- 2024 là 17- 19%/năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đến năm 2024 đạt 40 nghìn tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt 3,5 tỷ USD; Dịch vụ tín dụng, ngân hàng tăng trưởng thấp hơn giai đoạn trước; đóng góp của khoa học công nghệ vào GDP đạt 40%; Chất lượng các dịch vụ bưu chính viễn thông được nâng lên, hạ tầng mạng lưới viễn thông, Internet tiếp tục được đầu tư phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là mạng di động 3G.
Bảng 3.12: Chuyển dịch cơ cấu nhóm ngành dịch vụ của Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
(Đơn vị: %) Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
| Chỉ tiêu | ĐVT | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 |
| Tổng GO | Tỷ,đ | 2.770,2 | 3.005,5 | 3.611.9 | 4.162,9 | 5.280,5 | 6.132 | 6.877,1 | 7.913,6 | 8.905,3 |
| Cơ cấu | % | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 |
| 1.Thương mại | % | 30,92 | 31,46 | 31,2 | 30,07 | 28,73 | 28,2 | 28,1 | 27,98 | 26,14 |
| 2. Du lịch, khách sạn, nhà hàng | % | 18,50 | 18,52 | 18,63 | 18,68 | 18,82 | 19,32 | 19,11 | 19,71 | 19,95 |
| 3. Vận tải, bưu chính viễn thông | % | 17,38 | 17,21 | 17,77 | 18,01 | 18,12 | 18,37 | 18,75 | 18,59 | 19,47 |
| 4.Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm | % | 15,56 | 15,54 | 15,48 | 15,47 | 15,46 | 15,45 | 15,41 | 15,35 | 15,32 |
| 5.Giáo dục và đào tạo | % | 17,38 | 17,05 | 17,1 | 17,47 | 18,57 | 18,27 | 18,28 | 17,99 | 17,76 |
| 6. Khoa học và công nghệ | % | 0,26 | 0,22 | 0,26 | 0,3 | 0,3 | 0,39 | 0,35 | 0,38 | 0,36 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018, 2020, 2023,2024 và số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
Tỷ trọng của các lĩnh vực dịch vụ về cơ bản không thay đổi nhiều, chỉ là sự chuyển dịch rất chậm. Trong các ngành dịch vụ chủ chốt trên, ngành du lịch, khách sạn, nhà hàng có tỷ trọng tăng đều qua các năm, mặc dù sự gia tăng rất nhỏ nhưng cũng chứng tỏ trong xu thế hội nhập, mở cửa giao lưu và hợp tác quốc tế Vĩnh Phúc đã tận dụng được thế mạnh của mình để phát triển du lịch, để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
- Thứ nhất, dịch vụ chưa phát huy được tiềm năng Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm ngành dịch vụ của tỉnh đạt mức cao hơn so với trung bình chung cả nước (giai đoạn 2021 – 2024, dịch vụ của tỉnh ước tính tăng 7,6%/năm, trong khi chỉ tiêu này của cả nước trong cùng thời kỳ ước khoảng 6,6%/năm) nhưng còn chưa tương xứng với tiềm năng và tốc độ tăng trưởng của công nghiệp. Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế còn thấp, đến năm 2024 mới chiếm 26,4%, thấp hơn mức bình quân chung cả nước và một số địa phương trong vùng. Chất lượng dịch vụ còn thấp, thiếu nhiều dịch vụ chất lượng cao.
- Thứ hai, hoạt động xuất khẩu còn có quy mô nhỏ, chưa đa dạng
Quy mô xuất khẩu bình quân đầu người còn nhỏ, là địa phương quy mô xuất khẩu thấp nhất trong các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm Bắc. Sản phẩm xuất khẩu ít thay đổi, không đa dạng, phụ thuộc vào một số ít mặt hàng chủ lực (xe máy, giày dép, dệt may, sản phẩm gỗ, chè,… ) nên dễ bị ảnh hưởng khi nhu cầu thị trường đối với các mặt hàng này biến động.
- Thứ ba, năng lực cạnh tranh của các dịch vụ còn chưa cao
Khả năng cạnh tranh của dịch vụ tài chính, giáo dục và đào tạo, y tế, vận tải hàng hóa chưa cao. Hiệu quả của các hoạt động quảng bá, xúc tiến, liên doanh, liên kết, giới thiệu và thu hút đầu tư phát triển dịch vụ còn chưa cao.
Dịch vụ du lịch phát triển còn chậm, sản phẩm du lịch lịch đơn điệu, thiếu hấp dẫn; chưa tạo được mối liên kết với các tỉnh, vùng, khu vực, quốc tế; chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn thấp, trong đó đội ngũ cán bộ quản lý, hướng dẫn viên còn thiếu và nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp.
3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Cơ cấu lao động là tiêu chí phản ánh rõ chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Vĩnh Phúc từ năm 2016 đến nay. Tương ứng với sự thay đổi tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế thì cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch nhất định. Một lượng lớn lao động trong ngành nông nghiệp chuyển sang ngành công nghiệp, dịch vụ mà tập trung chủ yếu vào các khu công nghiệp. Kết quả về nguồn lao động và sử dụng lao động toàn tỉnh trong giai đoạn 2016 – 2024 thể hiện ở bảng 4.11 dưới đây:
Bảng 3.13: Hiện trạng nguồn lao động và cơ cấu lao động tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
| Năm | Nguồn lao động (người) | Dân số trong độ tuổi lao động | Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế | |||||
| Nông, lâm, ngư nghiệp | Công nghiệp và xây dựng | Dịch vụ | ||||||
| Người | Cơ cấu (%) | Người | Cơ cấu (%) | Người | Cơ cấu (%) | |||
| 2016 | 983.130 | 788.740 | 383.490 | 57,37 | 130.240 | 19,48 | 154.720 | 23,15 |
| 2017 | 989.657 | 804.180 | 375.140 | 55,1 | 140.920 | 20,7 | 164.770 | 24,2 |
| 2018 | 993.819 | 583.090 | 338.520 | 58,82 | 126.500 | 21,98 | 110.490 | 19,2 |
| 2019 | 1.000.356 | 604.693 | 341.570 | 57,35 | 128.870 | 21,64 | 125.150 | 21,01 |
| 2020 | 1.008.337 | 620.140 | 341.460 | 55,87 | 139.690 | 22,85 | 129.990 | 21,28 |
| 2021 | 1.014.598 | 628.172 | 334.370 | 54,04 | 148.830 | 24,05 | 135.550 | 21,91 |
| 2022 | 1.020.597 | 626.010 | 321.800 | 51,94 | 154.800 | 24,99 | 142.900 | 23,07 |
| 2023 | 1.027.000 | 675.000 | 311.000 | 50,13 | 156.500 | 25,26 | 152.900 | 24,61 |
| 2024 | 1.029.412 | 683.132 | 302.020 | 48,61 | 159.986 | 25,75 | 159.275 | 25,64 |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc các năm 2020, 2023 và số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
Số liệu trên cho thấy, lực lượng lao động của tỉnh dồi dào về số lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa. Tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động cao. Mỗi năm tỉnh có trên 1 vạn người bước vào độ tuổi lao động. Đây là nguồn lực lao động quan trọng cho Vĩnh Phúc trong phát triển kinh tế – xã hội, nhưng đồng thời cũng là thách thức của tỉnh trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế tương đối hợp lý, có sự chuyển dịch tích cực trong quá trình đổi mới nền kinh tế. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Lực lượng lao động chủ yếu tập trung nhiều trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp nhưng tỷ trọng này có xu hướng giảm xuống, từ 57,37% năm 2016 giảm xuống còn 55,87% năm 2020 và năm 2024 chỉ còn 48,61%, trong khi đó trong ngành công nghiệp và xây dựng, dịch vụ thì tỷ trọng lao động trong các ngành này đang tăng lên đáng kể. Ngành công nghiệp và xây năm 2016 mới chỉ có 19,48% thì năm 2020 đã tăng lên là 22,85% và năm 2024 là 25,75. Còn ngành dịch vụ cũng đang từng bước đổi thay. Từ năm 2016 tới nay, tỷ trọng lao động ngành dịch vụ đã tăng từ 23,15% năm 2016 lên 25,64% năm 2024. Vậy các ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch và cân bằng đảm bảo cho phát triển kinh tế. Tuy diễn ra chậm và kết quả chuyển đổi cơ cấu theo ngành chưa tỷ lệ thuận với chuyển đổi cơ cấu lao động nhưng tiến trình chuyển đổi cơ cấu lao động trên là một bước tiến bộ trong phân bổ nguồn nhân lực lao động xã hội vào quỹ đạo chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Như vậy, cơ cấu lao động đã có sự dịch chuyển theo hướng tích cực và phù hợp với xu thế chung là giảm tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ.
3.2.3. Cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành kinh tế
Trong thời gian qua cơ cấu đầu tư vào các ngành kinh tế có sự chuyển biến lớn. Vốn đầu tư vào ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần qua các năm, từ năm 2016 đến năm 2024 tăng 5 lần và làm tăng giá trị sản phẩm trên toàn xã hội lên 3,6 lần. Vốn đầu tư vào các ngành dịch vụ tăng lên 32,1 lần, giá trị sản phẩm dịch vụ tăng 3 lần. Đầu tư vào công nghiệp tăng 47,8 lần, giá trị sản phẩm công nghiệp tăng 6,2 lần. Đầu tư vào nông nghiệp tăng 3,7 lần, giá trị sản phẩm ngành nông nghiệp tăng lên 3,2 lần.
Bảng 3.14. Cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc
(Đơn vị tính: %)
| Năm | 2016 | 2020 | 2022 | 2024 |
| Nông nghiệp | 5,1 | 15,3 | 20,6 | 21,5 |
| Dịch vụ | 6,5 | 20,5 | 25,8 | 28,4 |
| Công nghiệp và xây dựng | 88,4 | 64,2 | 43,6 | 50,1 |
Nguồn: Cục thống kê Vĩnh Phúc năm 2024
Qua số liệu trên ta thấy, từ năm 2016 đến nay, lượng vốn đầu tư của xã hội vào ngành dich vụ và công nghiệp tăng mạnh hơn nông nghiệp, hầu hết vốn đầu tư tăng thêm của xã hội được tập trung vào hai ngành này. Đó là một sự chuyển dịch tích cực về vốn đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc, để khai thác được hết thế mạnh của tỉnh một cách hiệu quả nhất. So sánh giữa tăng vốn đầu tư và giá trị sản phẩm để thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thấy tốc độ tăng tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn chậm hơn sự gia tăng vốn đầu tư.
Xem xét số liệu ta thấy, việc sử dụng vốn trên địa bàn tỉnh hiệu quả chưa cao. Trong công nghiệp và dịch vụ, tốc độ gia tăng vốn đầu tư rất nhanh, nhưng tốc độ gia tăng sản phẩm vẫn còn chậm hơn nhiều.
Từ đó đặt ra vấn đề là, trong quá trình thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh không chỉ tập trung vào việc huy động vốn mà còn tập trung nâng cao hơn nữa hiệu quả vốn đầu tư vào các ngành kinh tế.
3.2.4. Cơ cấu hàng xuất khẩu Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2020 đạt 1.790 triệu USD. Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người đã tăng gần 21,6 lần từ 22,9 USD/người năm 2010 lên khoảng 539 USD/người năm 2020, thấp hơn so với bình quân chung cả nước 1.028 USD/người. Đóng góp chính cho xuất khẩu của tỉnh thời kỳ này là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Giai đoạn 2016 – 2020 xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 87,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Năm 2016 tỷ trọng khu vực kinh tế trong nước bằng 22% tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng đến năm 2020 chỉ còn 14,1%. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Vĩnh Phúc là hàng dệt may, xe máy, giày dép, sản phẩm gỗ, chè.
Tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn năm 2020 đạt 1.609 triệu USD, tăng bình quân 22,7%/năm trong giai đoạn 2011-2020. Nhập khẩu của tỉnh trong thời gian qua chủ yếu phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh là thiết bị, nguyên vật liệu dành cho sản xuất: linh kiện ô tô, xe máy, vải may mặc, phụ liệu giày dép, thức ăn gia súc… Trong đó, linh kiện ô tô, xe máy của các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ lệ 75 – 80% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trừ các mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI, trên địa bàn Vĩnh Phúc hiện chưa có mặt hàng xuất khẩu mang tính cạnh tranh cao, đặc trưng cho tỉnh. Giá trị xuất khẩu khiêm tốn, chưa tương xứng với quy mô nền kinh tế và tiềm năng của tỉnh.
Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh ước đạt 1,41 tỷ USD, tăng 36% so với năm 2023 và tăng 22% so với kế hoạch. Cũng theo UBND tỉnh Vĩnh Phúc, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, thị trường hồi phục chậm, xong các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đã nỗ lực vượt qua khó khăn, duy trì các đơn hàng đã ký, tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ nên tình hình xuất khẩu trong năm 2024 có nhiều tín hiệu khả quan.
Trong đó các mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng cao như hàng điện tử tăng 65%, giày dép các loại tăng 61%, xe máy tăng 30%. Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1,95 tỷ USD, tăng 8,7% so năm 2023, trong đó chủ yếu nhập nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất như linh kiện sản xuất ô tô, linh kiện điện tử.
Cũng trong năm 2024, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều giải pháp nhằm giữ vững thị trường truyền thống và mở rộng thêm thị trường các nước: EU, Hoa Kỳ, Nga, Asean, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Có thể thấy rằng những năm qua đã có sự thay đổi lớn về cơ cấu hàng xuất khẩu, từ việc xuất khẩu mặt hàng gia công, công nghệ thấp đã tiến tới xuất khẩu mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao và đem lại kết quả khả quan.
3.3. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH CỦA TỈNH VĨNH PHÚC Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
3.3.1. Thành tựu và nguyên nhân
3.3.1.1. Thành tựu
Trong giai đoạn 2016 – 2024, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, đạt được những thành tựu quan trọng.
Về kinh tế, liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, giai đoạn 2016 – 2024 tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 17,4%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông – lâm – thủy sản. Đến năm 2024, công nghiệp, dịch vụ chiếm gần 90% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Thu ngân sách liên tục tăng nhanh, năm 2024 đạt trên 19,2 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 15,7 nghìn tỷ đồng, GDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 64,77 triệu đồng/năm, gấp 20 lần so với khi tái lập tỉnh.
Kinh tế nông nghiệp liên tục tăng trưởng, sản xuất phát triển toàn diện và đúng hướng cơ cấu, cây trồng, vật nuôi chuyển dịch tích cực.
Lĩnh vực công nghiệp có bước tăng trưởng vượt bậc, giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng bình quân 34,0%/năm, đưa Vĩnh Phúc nằm trong tốp đầu cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất của ngành dịch vụ cũng đạt mức cao, tăng bình quân 16,6%/năm trong giai đoạn 2016 – 2024.
Các hoạt động xúc tiến đầu tư được đổi mới, nhiều chính sách về cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư được tích cực triển khai như đề án cải thiện, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh giai đoạn 2023 – 2025. Tỉnh quan tâm đầu tư cho các dự án lớn, các ngành kinh tế mũi nhọn, chủ động phát huy nội lực của mọi thành phần kinh tế, khai thác tốt tiềm năng thế mạnh của địa phương cho phát triển kinh tế.
3.3.1.2. Nguyên nhân dẫn đến thành tựu
Sở dĩ có được những thành công như vậy là nhờ Đảng bộ tỉnh có sự chỉ đạo đúng đắn, biết chủ động nhạy bén nắm bắt cái mới, chớp thời cơ, đề ra hướng đi đúng,bước đi thích hợp, cách làm sáng tạo.
“Lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng; coi phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng; lấy phát triển du lịch làm mũi nhọn”. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Từ Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 12, nhiệm kỳ 1996 – 2010, Vĩnh Phúc đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là phải tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ sang công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ. Tỉnh ủy đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để cụ thể hóa nhiệm vụ trọng tâm đó. Trong nhiệm kỳ qua (2015 – 2020), Tỉnh ủy đã ban hành nhiều nghị quyết mở đường cho sự phát triển vượt bậc của Vĩnh Phúc; trong đó, có các nghị quyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ. Cụ thể hóa các nghị quyết này, các cấp ủy Ðảng, chính quyền các cấp triển khai hiệu quả hàng loạt các chương trình, đề án trọng điểm.
Ðiểm nổi bật trước tiên là các cấp ủy tỉnh Vĩnh Phúc đã sớm khai thác thế mạnh nổi trội của tỉnh về đất đai, lợi thế về giao thông đường bộ, đường sắt và cảng hàng không và nằm cận kề Thủ đô Hà Nội để đầu tư phát triển, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế. Chỉ tính trong năm năm qua, tỉnh đã thu hút hơn 500 dự án mới, trong đó có 113 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 1,85 tỷ USD; 394 dự án đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký 20.497,8 tỷ đồng.
- Sớm thực hiện chính sách “tam nông”
Từ tháng 12 – 2016, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết 03 về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Vĩnh Phúc đã đi trước cả nước về thực hiện chính sách “tam nôn”. Tỉnh đã xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới hỗ trợ nông dân; huy động các nguồn lực đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Chỉ riêng giai đoạn 2016-2020, kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách tỉnh cho khu vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 2.300 tỷ đồng. Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp, nhất là các công trình trọng điểm, các tuyến giao thông chính, hạ tầng đô thị và nông thôn.
Trong nhiệm kỳ qua, Ðảng bộ Vĩnh Phúc xác định coi phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nông dân, xây dựng nông thôn mới, từng bước khắc phục sự chênh lệch giữa các vùng, các địa phương về đời sống, thu nhập. Trong quá trình CNH, HÐH, Vĩnh Phúc chủ trương phát triển công nghiệp làm nền tảng để tạo sự tăng trưởng, thúc đẩy sự phát triển của các khu vực kinh tế khác, tạo thêm nhiều việc làm mới, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch phần lớn lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang làm công nghiệp; thu được ngân sách cao để tăng tích lũy, tăng đầu tư phát triển, nhất là tái đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ nông dân, góp phần giảm nghèo, nâng cao đời sống nông dân. Trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, các cấp ủy Ðảng, chính quyền các cấp đã biết dựa vào dân, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân; thường xuyên tổng kết thực tiễn để kịp thời bổ sung, điều chỉnh, xây dựng các cơ chế, chính sách mới cho phù hợp, đúng pháp luật, bảo đảm lợi ích của nhân dân
Vĩnh Phúc đã chọn được hướng đi đúng cho quá trình phát triển, đó là coi phát triển công nghiệp làm nền tảng và thu hút đầu tư nước ngoài là động lực trong phát triển kinh tế như Nhật Bản nửa sau thế kỷ XIX và của Đài Loan nửa đầu thế kỷ XX. Đồng thời Vĩnh Phúc có chính sách trải thảm đỏ cho các nhà đầu tư đến hoạt động tại tỉnh, coi sự thành công của các nhà đầu tư cũng là thành công của tỉnh Vĩnh Phúc và mong muốn các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đều gặt hái được thành quả. Vì thế, khi các nhà đầu tư vào đầu tư sẽ được hưởng ưu đãi đặc biệt, chẳng hạn các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp là 15% thay vì 28%, miễn thuế nhập khẩu đối với các dự án thuộc danh mục phụ tùng, cơ khí điện tử, miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu vật tư, linh kiện trong vòng 5 năm kể từ ngày đi vào sản xuất đối với các dự án đầu tư vào các địa bàn kinh tế xã hội khó khăn… Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Đồng thời nhận thức rõ và phát huy lợi thế so sánh, có biện pháp tích cực để tiến hành CNH, HĐH. Tỉnh luôn quan tâm tới việc phát huy nguồn lực con người.
Sau khi tái lập, Vĩnh Phúc đã rất chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sau nhiều năm xây dựng cơ sở hạ tầng và kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp, đến nay Vĩnh Phúc đã quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh và cụm công nghiệp các huyện, thành phố. Tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, các tập đoàn kinh tế lớn, vốn vay, tài trợ và lớn nhất là đóng góp của nhân dân, tỉnh đã đầu tư nâng cấp, xây mới và đưa vào sử dụng nhiều công trình quan trọng bao gồm: Hạ tầng giao thông vận tải, cung cấp nước sạch, điện lực, thủy lợi, bưu chính viễn thông một số dự án công nghiệp, dịch vụ chủ lực… từng bước hạn chế những khó khăn, tạo ra bước phát triển vượt bậc.
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khách quan khác:
Vĩnh Phúc có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế công nghiệp, ngành kinh tế quan trọng ở nước ta hiện nay, gần thủ đô Hà Nội, gần khu tăng trưởng kinh tế phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh). Tất cả những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, truyền thống văn hóa xã hội đã tạo cho Vĩnh Phúc lợi thế đặc biệt, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của địa phương.
Vĩnh Phúc có nguồn nhân lực dồi dào, vốn vẫn được coi là miền đất học, con người Vĩnh Phúc sáng dạ, có khả năng tiếp thu nhanh trình độ khoa học công nghệ hiện đại. Những năm vừa qua, tỉnh đã rất chú trọng việc xây dựng các trường đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và giúp các tỉnh bạn.
3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
3.3.2.1. Hạn chế
Từ khi tái lập năm 1997 đến nay, nền kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc bước đầu được cấu trúc lại theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Qua quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh trong thời gian qua đã ghi nhận những thay đổi nhất định trong cơ cấu GDP. Tuy nhiên sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh vẫn còn không ít mặt hạn chế.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế của tỉnh chưa thực sự ổn định, vững chắc, từ đó dẫn tới tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế còn thay đổi nhiều, cơ cấu ngành còn mất cân đối. Nền kinh tế của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, nhiều nguồn lực và tiềm năng kinh tế của tỉnh chưa được huy động và sử dụng tốt. Chất lượng hoạch định chính sách còn hạn chế là nguyên nhân quan trọng dẫn đến chính sách tổ chức thực hiện thiếu tính khả thi và không đạt mục tiêu của chính sách.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất, chất lượng sản phẩm còn thấp, nhất là các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước… Lĩnh vực dịch vụ phát triển chậm, chất lượng còn thấp, chưa tương xứng với phát triển công nghiệp. Hệ thống kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập, nhu cầu đầu tư cho hạ tầng rất lớn song khả năng đáp ứng của ngân sách còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Trong nông nghiệp bôc lộ nhiều hạn chế bất cập. Ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ; việc dồn điền đổi thửa còn chậm nên hạn chế việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa cơ giới hoá vào sản xuất, chậm hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung.
Trình độ lao động nông nghiệp không đồng đều, tỷ lệ lao động là người già và trẻ em có xu hướng tăng, gây khó khăn cho ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
Việc hình thành các vùng trồng trọt sản xuất hàng hoá và khu chăn nuôi tập trung còn chậm; nguyên nhân chủ yếu do công tác tổ chức thực hiện còn nhiều lúng túng, cơ chế quản lý chưa được đổi mới cho phù hợp.
Chương trình giống cây trồng vật nuôi chưa khai thác hết tiềm năng. Nguyên nhân do việc cụ thể hoá nội dung Nghị quyết số 06/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh chậm, mặt khác do các đơn vị, địa phương chưa chủ động đề xuất các nội dung, dự án cụ thể để tổ chức thực hiện.
Chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán vẫn chiếm tỷ lệ cao gây rất nhiều khó khăn trong kiểm soát dịch bệnh và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng chống dịch. Nhận thức của hộ chăn nuôi về vận chuyển, buôn bán, giết mổ động vật còn hạn chế, chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về phòng chống dịch bệnh, là nguy cơ tiềm ẩn tái phát và lây lan dịch bệnh, nhất là dịch cúm gia cầm, long móng lở mồm gia súc, tai xanh ở lợn.
Một số chính quyền cấp cơ sở chưa thực sự quan tâm đến công tác thú y, còn có tư tưởng chủ quan và thường giao thẳng cho cán bộ thú y cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc…Hệ thống thú y cơ sở tuy đã được kiện toàn nhưng cán bộ thú y vẫn kiêm nhiệm nhiều việc của địa phương; trình độ, năng lực của nhiều cán bộ còn yếu, địa bàn nhiều xã rộng, nên việc quản lý, giám sát dịch bệnh, tham mưu tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch thực hiện chưa tốt.
Các HTX, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phát triển tuy có cao hơn năm trước nhưng vẫn còn sản xuất manh mún, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý điều hành của cán bộ còn yếu. Năng suất lao động trong nông nghiệp – nông thôn thấp, đời sống của một bộ phận nông dân còn nhiều khó khăn.
3.3.2.2. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế
Những tồn tại trên đều có nguyên nhân chung là chưa có chính sách đầu tư và phát triển hợp lý để triển khai thực hiện và cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan liên quan dưới sự chỉ đạo chung của tỉnh.
Công tác lập quy hoạch còn chậm, chất lượng quy hoạch chưa cao; việc điều chỉnh, bổ sung, cập nhật quy hoạch chưa kịp thời; Năng lực quản lý, thực hiện quy hoạch còn yếu. Công tác chuẩn bị đầu tư chậm. Hệ thống cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông dân và nông thôn chưa đồng bộ và còn nhiều vướng mắc.
Biên chế cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất và các phương tiện, thiết bị, kinh phí hoạt động cho ngành nông nghiệp chưa đáp ứng với nhiệm vụ chuyên môn. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Tổ chức bộ máy quản lý về nông nghiệp, nông thôn đang trong quá trình hoàn thiện còn nhiều bất cập, hiệu quả hoạt động chưa cao, nhất là cấp huyện và cấp xã. Số lượng cán bộ thiếu và yếu cả về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý nhà nước.
Nhận thức của người sản xuất, người tiêu dùng về VSATTP nông – lâm – thuỷ sản còn hạn chế; một số nơi chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức; Bộ máy quản lý nhà nước về chất lượng VSATTP nông lâm thuỷ sản các cấp còn mỏng, điều kiện và phương tiện, kinh phí hoạt động còn hạn chế; vai trò giám sát của cơ quan QLNN các cấp, của cộng đồng về VSATTP chưa được phát huy; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP còn thiếu, chưa đồng bộ, còn chồng chéo trong việc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, đơn vị…
- Ngoài ra, cũng còn do một số nguyên nhân khách quan như:
Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới (lạm phát, giảm phát, giá cả biến đổi bất thường, tỷ lệ thất nghiệp cao…).
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất đặc thù, có tính rủi ro cao do chịu tác động trực tiếp của các điều kiện tự nhiên (đặc biệt là trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu mà nước ta được cảnh báo là một trong những nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng và nặng nề nhất); thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi luôn tiềm ẩn và có nguy cơ bùng phát…
Một số chính sách về xuất nhập khẩu nông sản hàng hoá của Chính phủ gây nên những biến động về thị trường và tâm lý tiêu dùng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp trong nước. Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh.
Tích lũy từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh còn thấp, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

