Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Dựa trên cơ sở lý thuyết ở chương 2, chương 3 sẽ xây dựng mô hình hồi quy bắt đầu từ việc thiết kế, lựa chọn nhân tố, xử lý dữ liệu và lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp với nghiên cứu và tiếp đó sẽ đánh giá các kết quả thu được ở chương 4.

3.1. Mô hình thực nghiệm và dữ liệu

Bài nghiên cứu tiến hành thông qua số liệu của 551 doanh nghiệp được thu thập từ năm 2010 đến 2021 với tổng 6.612 quan sát. Các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu thuộc nhiều ngành khác nhau tại Việt Nam được niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).

Số liệu biến vĩ mô của quốc gia được tập hợp từ các nguồn thông tin được cung cấp nằm trong hệ thống dữ liệu của World Bank (Ngân hàng thế giới) và IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế). Số liệu về tình hình tài chính và các thông tin khác của doanh nghiệp được tập hợp từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính nằm trong cơ sở dữ liệu FIINPRO. Ngoài ra, số liệu cũng đã được sàng lọc và so sánh với một số nguồn chia sẻ khác nhằm đảm bảo sự chính xác cho bộ dữ liệu.

Dựa theo các mô hình nghiên cứu của Tandon và Malhotra (2013), Irfan và cộng sự (2002), bài nghiên cứu xem xét sự tác động được dự đoán thay đổi của các yếu tố được biểu thị bằng các dấu “+” hoặc “-” đối với biến động giá cổ phiếu. Trong đó, biến động giá cổ phiếu (PV) là biến phụ thuộc, các yếu tố quyết định đến biến động giá cổ phiếu là biến độc lập được đề xuất bao gồm: lạm phát (INF), biến động lãi suất tiết kiệm (INT), tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (RGDP), chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA), biến động giá vàng (GOLD), lợi nhuận của mỗi cổ phiếu (EPS), tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS), hệ số giá trên thu nhập của mỗi cổ phiếu (P/E) và quy mô doanh nghiệp (SIZE). Mô hình này cung cấp một thử nghiệm thô về mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến động giá cổ phiếu một cách riêng lẻ. Do đó cung cấp tác động của mỗi biến đối với biến động giá cổ phiếu nếu các yếu tố khác không được xem xét.

Mô hình hồi quy được xây dựng như sau: 𝐏𝐕𝒊𝒕 = 𝜶 + 𝛃𝟏 ∗ 𝑰𝑵𝑭 + 𝛃𝟐 ∗ 𝐈𝐍𝐓𝒊𝒕 + 𝛃𝟑 ∗ 𝐑𝐆𝐃𝐏𝒊𝒕 + 𝛃𝟒 ∗ 𝐃𝐉𝐈𝐀𝒊𝒕 + 𝛃𝟓 ∗ 𝐆𝐎𝐋𝐃𝒊𝒕 + 𝛃𝟔 ∗ 𝐄𝐏𝐒𝒊𝒕 + 𝛃𝟕 ∗ 𝐃𝐏𝐒𝒊𝒕 + 𝛃𝟖 ∗ 𝐏/𝐄𝒊𝒕 + 𝛃𝟗 ∗ 𝐒𝐈𝐙𝐄𝒊𝒕 + 𝛆𝒕

  • Trong đó:

PV – Biến động giá cổ phiếu: Theo nghiên cứu của Võ Xuân Vinh (2014), biến động giá cổ phiếu trong bài nghiên cứu được tính toán dựa trên sự khác biệt khoảng cách giữa giá trị thị trường thấp nhất và cao nhất của mỗi loại cổ phiếu được ghi nhận của từng năm nghiên cứu tương ứng trong giai đoạn 2010 – 2021, cụ thể như sau:

Trong đó: 𝑃𝑚𝑎𝑥𝑡 và 𝑃𝑚𝑖𝑛𝑡 lần lượt là thị giá cao nhất và thấp nhất của mỗi loại cổ phiếu trong năm t.

Parkinson (1980) cũng đã cho thấy ưu điểm vượt trội của phương thức này so với việc chỉ sử dụng giá đầu và cuối mỗi giai đoạn do nó phản ảnh chính xác hơn sự chênh lệch trong biến động giá cổ phiếu.

INF – Lạm phát: sức mua của đồng tiền suy giảm khi lạm phát xảy ra, tức là cùng một số lượng hàng hóa, dịch cụ chúng ta phải mua với số tiền lớn hơn nhiều so với trước khi có lạm phát. Một trong những công cụ phổ biến để đo lường lạm phát là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Chỉ số giá tiêu dùng là chỉ số mức giá tiêu thụ trung bình cho giỏ hàng hóa hay dịch vụ của một người. Chỉ số biểu hiện sự thay đổi về giá cả của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian có đơn vị tính là phần trăm. CPI và lạm phát thường đi liền với nhau trong những báo cáo kinh tế. Lạm phát được tính dựa theo CPI với công thức sau:

Cụ thể hơn, lạm phát trong mô hình nghiên cứu cũng được tính toán từ dữ liệu CPI thu thập theo năm từ nguồn dữ liệu của Tổng cục thống kê. Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

INT – Biến động lãi suất: là biến động trong lãi suất tiền gửi quy năm của Việt Nam được báo cáo trong cơ sở dữ liệu của IMF. Tương tự như lạm phát INF, INT trong bài nghiên cứu được xem xét thông qua chênh lệch giữa lãi suất tiết kiệm năm nay so với năm trước bằng công thức:

RGDP – Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội: RGDP được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm tăng trưởng hàng năm của GDP từ nguồn dữ liệu chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới (Worldbank – WB). Theo cách thức tính toán của WB, tổng sản phẩm quốc nội được tính toán căn cứ vào giá thị trường tính theo đồng nội tệ. Tổng hợp theo giá cố định năm 2015 và được biểu thị bằng đô la Mỹ. GDP được định nghĩa là tổng giá trị của tất cả các dịch vụ và hàng hóa cuối cùng được sản xuất trong phạm vi một quốc gia cộng với bất kỳ loại thuế sản phẩm nào và trừ đi bất kỳ khoản trợ cấp nào không được tính vào giá trị của sản phẩm.

DJIA – Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones: Tên gọi đầy đủ là Dow Jones Industrial Average Index (DJIA), đây là một chỉ số quan trọng trên TTCK Mỹ. Chỉ số Dow Jones được xác định từ mức giá đóng cửa của danh sách 30 mã cổ phiếu blue chip được niêm yết trên Sàn chứng khoán Nasdaq và New York. Lĩnh vực kinh doanh của 30 công ty này bao gồm tài chính, bán lẻ, công nghệ, tiêu dùng, giải trí,…

GOLD – Biến động giá vàng: đây là chỉ tiêu tương đối thể hiện mức độ và chiều hướng thay đổi của giá vàng theo thời gian. Giá vàng bình quân được tính bằng bình quân của giá vàng các ngày trong năm được thu thập tại các điểm bán lẻ. Công thức tính chỉ số giá vàng cụ thể như sau:

Trong đó: GOLDt là chỉ số giá vàng năm nghiên cứu (t), GPt là giá vàng bình quân năm (t), GPt−1 là giá vàng bình quân năm trước năm nghiên cứu (t-1). Dữ liệu giá vàng trong bài nghiên cứu được thu thập theo năm từ nguồn dữ liệu của Tổng cục thống kê trong giai đoạn 2010 – 2021.

EPS – Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu: là phần lợi nhuận mà doanh nghiệp phân bổ cho từng cổ phiếu thường đang lưu hành trên thị trường.

DPS – Tỷ lệ chi trả cổ tức: là tỷ lệ cổ tức mà doanh nghiệp chi trả cho NĐT dựa trên công bố báo cáo tài chính của công ty.

P/E – Hệ số giá trên thu nhập của mỗi cổ phiếu: được tính toán dựa trên giá thị trường của cổ phiếu so với thu nhập trên một cổ phiếu.

SIZE – Quy mô của doanh nghiệp: là biến số thể hiện giá trị của doanh nghiệp. Quy mô doanh nghiệp có thể được đo lường qua nhiều cách như: doanh thu thuần, lợi nhuận, tổng tài sản, vốn hóa thị trường… Trong mô hình nghiên cứu này, logarit tự nhiên của giá trị vốn hóa thị trường căn cứ số lượng cổ phiếu đang lưu hành bình quân trong năm của từng doanh nghiệp được xem xét sẽ đại diện cho quy mô của doanh nghiệp.

3.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

Dựa trên các cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm của các nhà nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của các yếu tố thị trường cũng như các yếu tố nội tại trong doanh nghiệp đến biến động giá cổ phiếu, nghiên cứu đã xây dựng các giả thuyết và thông qua mô hình thực nghiệm để làm rõ chiều hướng và sự tác động của các yếu tố đối với sự biến động trong giá cổ phiếu của các doanh nghiệp.

  • Giả thuyết 1: lạm phát và biến động giá cổ phiếu

Kết quả nghiên cứu của Campbell và Vuolteenaho (2004), Al-Tamimi và cộng sự (2011) đều đưa ra kết luận cho rằng tồn tại sự tương quan nghịch chiều giữa biến động giá cổ phiếu và lạm phát. Theo các nhà nghiên cứu, khi lạm phát tăng quá cao vượt quá tầm kiểm soát sẽ khiến TTCK suy giảm nhanh. Song song với đó, lạm phát tăng cũng sẽ khiến kỳ vọng của thị trường giảm xuống, gây áp lực giá cổ phiếu giảm.

Do đó tác giả xây dựng giả thuyết 1 như sau:

Giả thuyết 1: lạm phát (INF) có tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV).

  • Giả thuyết 2: biến động lãi suất tiết kiệm và biến động giá cổ phiếu

Menike (2006) đã điều tra tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu của TTCK Sri Lanka bằng cách nghiên cứu dữ liệu hàng tháng trong giai đoạn từ tháng 09/1991 đến tháng 12/2002. Hồi quy đa biến trong nghiên cứu được thực hiện với tám biến kinh tế vĩ mô cho từng cổ phiếu riêng lẻ. Ở mức ý nghĩa 5%, mô hình cũng đã bác bỏ giả thuyết cho rằng lãi suất không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến giá cổ phiếu. Kandir (2008) cũng cho thấy kết quả tương tự khi phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố vĩ mô, đặc trưng doanh nghiệp và lợi nhuận chứng khoán. Các nhà nghiên cứu này đều cho rằng lãi suất biến động ngược chiều so với biến động giá cổ phiếu. Trên cơ sở đó, giả thuyết tiếp theo được xem xét sẽ là:

Giả thuyết 2: biến động lãi suất tiết kiệm (INT) có tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV).

  • Giả thuyết 3: tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến động giá cổ phiếu

Bằng chứng thực nghiệm rút ra từ nghiên cứu của Sohail và Hussain (2011) khi thực hiện phân tích tại thị trường Pakistan cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế có tương quan dương với biến động lợi nhuận cổ phiếu. Kandir (2008) đã thông qua mô hình kinh tế giai đoạn kéo dài từ tháng 07/1997 đến tháng 06/2005 để điều tra vai trò của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong việc giải thích biến động giá cổ phiếu tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và nhận thấy rằng tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến tất cả biến động giá của các cổ phiếu trong danh mục. Do vậy, tác giả xây dựng giả thuyết 3 cần kiểm định là:

Giả thuyết 3: tốc độ tăng trưởng kinh tế (RGDP) có mối tương quan thuận chiều (+) với biến động giá cổ phiếu (PV).

  • Giả thuyết 4: chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones và biến động giá cổ phiếu

Trên thực tế, trước đây nhiều nhà nghiên cứu như Hamao và cộng sự (1990) hay Liu và Pan (1997) đã tiến hành tìm hiểu về sự tác động mang tính quốc tế của các thị trường lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ đến các thị trường nhỏ hơn. Hay như thông qua việc phân tích các chỉ số hàng ngày của MSCI (Morgan Stanley Capital International) từ 55 TTCK, Mollah và cộng sự (2016) đã kết luận rằng có sự lây lan từ TTCK Hoa Kỳ sang một số TTCK khác trên thế giới trong các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Về cơ bản, các nghiên cứu này hầu hết đều khẳng định tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa TTCK lớn và TTCK nhỏ hơn. Và để góp phần làm rõ quan điểm này tại TTCK Việt Nam thông qua chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones để đại diện cho TTCK lớn là Hoa Kỳ, tác giả đã xây dựng giả thuyết như sau:

Giả thuyết 4: có mối tương quan thuận chiều (+) giữa chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) và biến động giá cổ phiếu (PV). Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

  • Giả thuyết 5: biến động giá vàng và biến động giá cổ phiếu

Nghiên cứu của Furstenberg và cộng sự (1989) về các nhân tố tác động lên giá cổ phiếu trên các sàn chứng khoán: New York, London, Frankfurl và Tokyo cho thấy mặc dù không tồn tại mối quan hệ giữa giá vàng và giá chứng khoán ở thị trường New York, nhưng tại thị trường London, Frankfurt và Tokyo, giá vàng lại có mối quan hệ ngược chiều với mức giá trung bình của giá chứng khoán. Không những vậy, nghiên cứu của Rahman và Mustafa (2018) cũng đã đánh giá tác động hàng ngày giữa giá vàng và TTCK Hoa Kỳ và nhờ đó, cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ âm giữa biến động giá vàng và biến động giá chứng khoán. Dựa trên cơ sở này, tác giả xây dựng giả thuyết 5:

Giả thuyết 5: giữa biến động giá vàng (GOLD) và biến động giá cổ phiếu (PV) tồn tại mối tương quan nghịch chiều (-).

  • Giả thuyết 6: lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và biến động giá cổ phiếu

Nghiên cứu của Islam và cộng sự (2014) chỉ ra rằng giá cổ phiếu không tăng mặc dù EPS đang tăng hoặc EPS không có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Trên thực tế, EPS đại diện cho thu nhập vốn của cổ đông, EPS tăng nghĩa là vốn của cổ đông đang được sử dụng hiệu quả, cổ phiếu càng hấp dẫn đối với các NĐT và từ đó giá cổ phiếu sẽ tăng. Các nghiên cứu của Adefila và cộng sự (2004) hay Al-Tamimi và cộng sự (2011) cũng đều cho kết quả EPS có tác động cùng chiều lên giá cổ phiếu. Do vậy, tác giả đề xuất giả thuyết để kiểm tra mối quan hệ này như sau:

Giả thuyết 6: có mối quan hệ tương quan thuận chiều (+) giữa lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) và biến động giá cổ phiếu (PV).

  • Giả thuyết 7: tỷ lệ chi trả cổ tức và biến động giá cổ phiếu

Nguyễn Thanh Hiếu và cộng sự (2020) cho rằng công ty càng trả nhiều cổ tức hơn thì giá cổ phiếu của nó càng biến động thuận chiều. Trong khi đó, với mẫu nghiên cứu là 142 công ty tại Malaysia giai đoạn 2005 – 2010, Hashemijoo Ardekari, and Younasi (2012) lại tìm thấy mối quan hệ ngược giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và giá cổ phiếu. Tuy vậy, về mặt lý thuyết, khi tỷ lệ chi trả cổ tức càng tăng, thu nhập của cổ đông cũng theo đó gia tăng, niềm tin của NĐT đối với cổ phiếu đó càng ổn định, mức độ biến trong giá cổ phiếu sẽ vì vậy càng giảm. Do đó, để làm rõ mối quan hệ giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và biến động giá cổ phiếu, tác giả tiến hành kiểm định giả thuyết sau:

Giả thuyết 7: tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS) có mối tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV).

  • Giả thuyết 8: hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu và biến động giá cổ phiếu

P/E ở mức cao có nghĩa là cổ phiếu có tiềm năng tốt, NĐT kỳ vọng cho việc tăng trưởng thu nhập của cổ phiếu trong tương lai từ đó mức cầu cổ phiếu tăng, tác động giá cổ phiếu tăng và ngược lại. Nghiên cứu thực nghiệm của Bhattarai (2016), Tandon và Malhotra (2013) cũng cho thấy hệ số giá trên thu nhập của mỗi cổ phiếu có tác động cùng chiều với giá cổ phiếu. Tuy vậy, tương tự như DPS, P/E càng tăng thì cổ phiếu càng hấp dẫn, giá cổ phiếu càng ít biến động cho nên tác giả tiến hành kiểm định giả thuyết với kỳ vọng chiều hướng tác động như sau: Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

Giả thuyết 8: hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E) có mối tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV).

  • Giả thuyết 9: quy mô doanh nghiệp và biến động giá cổ phiếu

Căn cứ vào nền tảng cở sở lý luận, các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và nước ngoài như của Rashid và Rahman (2008), Hussainey và cộng sự (2011) hay Vinh (2014) đều cho kết luận mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô doanh nghiệp và biến động giá cổ phiếu. Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết 9 như sau:

Giả thuyết 9: có mối quan hệ tương quan nghịch chiều (-) giữa quy mô doanh nghiệp (SIZE) và biến động giá cổ phiếu (PV).

Bảng 3.1: Tóm tắt các biến số dữ liệu và chiều tác động kỳ vọng

Biến độc lập Ký hiệu Cách thức đo lường Chiều tác động kỳ vọng
Biến động lạm phát INF (-)
Biến động lãi suất tiết kiệm INT (-)
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội RGDP Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu. (+)
Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones DJIA Bình quân giá đóng cửa của danh sách 30 mã cổ phiếu blue chip được niêm yết trên Sàn chứng khoán New York và Nasdaq theo từng tháng trong năm tương ứng. (+)
Biến động giá vàng GOLD GP𝑡 − GP𝑡−1 𝐺𝑂𝐿𝐷 = GP𝑡−1 (-)
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu EPS Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (+)
Tỷ lệ chi trả cổ tức DPS Tỷ lệ chi trả cổ tức mỗi cổ phiếu (-)
Hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu P/E Hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (-)
Quy mô của doanh nghiệp SIZE Logarit tự nhiên của giá trị vốn hóa thị trường (-)

(Trong đó: “+”: mối quan hệ tỷ lệ thuận với biến phụ thuộc; “-”: mối quan hệ tỷ lệ nghịch với biến phụ thuộc).

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

3.3. Phương pháp định lượng và các kiểm định 

3.3.1. Mô hình hồi quy 

Dữ liệu dùng cho việc phân tích định lượng gồm có ba loại cơ bản: dữ liệu chéo, dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu bảng. Trong đó, dữ liệu bảng (hay còn được gọi là dữ liệu gộp) là sự kết hợp của dữ liệu chéo và chuỗi thời gian, xem xét đến sự thay đổi theo thời gian của các đơn vị chéo. Và do vậy, cần thu thập dữ liệu của nhiều đối tượng tại cùng một hoặc nhiều thời điểm khác nhau để xây dựng bộ dữ liệu bảng.

Dữ liệu bảng là tập hợp các thông tin được trình bày dưới dạng bảng, trong đó dữ liệu được sắp xếp theo cột và hàng để tạo thành một mạng lưới. Mỗi ô trong bảng chứa một giá trị số hoặc văn bản đại diện cho một mục tiêu hoặc biến được nghiên cứu. Dữ liệu bảng thường được sử dụng để tổng hợp hay trình bày các kết quả thống kê, phân tích chi tiết các đặc tính của mẫu nghiên cứu hoặc để so sánh kết quả giữa các nhóm khác nhau. Trong nghiên cứu khoa học, dữ liệu bảng thường được sử dụng để trình bày các kết quả thống kê và phân tích cung cấp cho người đọc cách nhìn tổng quan về các mô hình, kết quả nghiên cứu.

Các nghiên cứu định lượng thường ưu tiên sử dụng dữ liệu bảng để thực hiện các mô hình hồi quy bởi dữ liệu bảng có khá nhiều ưu điểm như: có thể tính đến tính không đồng nhất giữa các biến một cách rõ ràng bằng cách bao gồm các biến chuyên biệt; làm tăng quy mô mẫu nghiên cứu có thể giải quyết các vấn đề về phân phối chuẩn của các biến; có thể nghiên cứu những thay đổi trạng thái động của các đơn vị chéo theo thời gian; có thể nghiên cứu các mô hình hành vi phức tạp, kể cả các biến không đổi qua thời gian; các ước lượng bị chệch cũng được giảm đáng kể hoặc bị triệt tiêu khi sử dụng dữ liệu bảng,…

Trong bài nghiên cứu này, để đánh giá sự tác động của các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu của các doanh nghiệp, tác giả sẽ sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Vì nghiên cứu được thực hiện cho nhiều doanh nghiệp (551 doanh nghiệp) trong nhiều năm liền (2010 – 2021) nên dữ liệu bảng sẽ là loại dữ liệu phù hợp nhất. Ngoài ra, do số lượng quan sát lớn (6.612 quan sát) nên tác giả sẽ tiến hành xử lý dữ liệu thông qua việc lọc dữ liệu ngoại lai (Outliers) trước khi hồi quy mô hình để giảm thiểu tác động của các nhóm dữ liệu này đến độ chính xác của các mô hình hồi quy.

Các phương pháp được sử dụng thường gặp trong mô hình hồi quy dữ liệu bảng là: mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS),… Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

Xuất phát điểm từ mục đích đánh giá tác động của các nhân tố khác nhau đối với sự thay đổi của biến động giá cổ phiếu, với dữ liệu bảng thu thập được, mô hình OLS được sử dụng để xem xét tác động nói trên. Tuy nhiên, mô hình OLS lại ràng buộc quá chặt về các đơn vị chéo (ở đây là các doanh nghiệp được lựa chọn nghiên cứu) khi xem các đơn vị chéo là đồng nhất, bỏ qua việc giữa các doanh nghiệp có sự khác biệt nào hay không tất cả các quan sát đều được gom chung lại. Việc này sẽ không thể hiện đúng bản chất của các đơn vị chéo vì mỗi doanh nghiệp đều có những đặc thù riêng có thể tác động đến biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó. Khi đó, các ước lượng trong mô hình OLS có thể bị sai lệch do không xem xét đến những ảnh hưởng riêng biệt này.

Ở phương hướng khác, mô hình FEM và REM, có thể kiểm soát được những ảnh hưởng riêng biệt mà OLS đã bỏ qua. Điều này cho thấy nếu như mô hình OLS không thực sự phù hợp với dữ liệu thì việc sử dụng phân tích bằng mô hình FEM và REM sẽ có nhiều ý nghĩa hơn.

Cả mô hình REM và FEM có điểm chung là đều tồn tại giả thiết phần dư (sai số ngẫu nhiên) không tồn tại hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi. Nếu những giả định này bị vi phạm, thì FEM và REM vẫn sẽ cho các ước lượng phù hợp nhưng không hiệu quả và vẫn bị chệch. Khi đó, ước lượng GLS có thể được sử dụng để khắc phục vấn đề này.

3.3.1.1. Mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS)

Mô hình được tiến hành dựa trên giả định tất cả các hệ số đều không thay đổi theo thời gian và không gian. Mặc dù mô hình hồi quy thu được khá đơn giản nhưng việc xây dựng dựa trên những giả định hết sức hạn chế có thể dẫn đến việc bóp méo mối quan hệ thực tế giữa các biến số kinh tế trong mô hình nghiên cứu.

3.3.1.2 Mô hình tác động cố định (FEM) Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

Giả định của mô hình FEM cho rằng các đơn vị chéo có cùng hệ số độ dốc, ngược lại, hệ số chặn không đổi theo thời gian nhưng sẽ thay đổi theo từng đơn vị chéo nhưng. FEM được sử dụng trong nhiều trường hợp khi mà hệ số chặn đặc thù của mỗi đơn vị chéo có thể tương quan với một hoặc nhiều biến giải thích. Khi đó, mô hình ước lượng sử dụng:

𝐘𝒊𝒕 = 𝛂𝒊 + 𝜷 ∗ 𝐗𝒊𝒕 + 𝐮𝒊𝒕

Trong đó:

  • Yit là biến phụ thuộc, t là thời gian quan sát và i là đơn vị chéo thứ i.
  • Hệ số chặn αi xem xét những ảnh hưởng không đồng nhất giữa các đơn vị chéo từ các biến không được quan sát.
  • Hệ số β là một vector cột của các hệ số độ dốc chung cho nhóm quan sát.
  • Xit lần lượt là các biến độc lập trong mô hình.
  • Sai số uit đi theo giả định uit ~ N(0,σ2u).

3.3.1.3 Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

Mô hình REM tuân theo giả định cho rằng các đơn vị chéo có cùng hệ số độ dốc trong khi hệ số chặn là một giá ngẫu nhiên được rút từ một tổng thể lớn hơn nhiều với một giá trị trung bình không đổi (αi = α + εi với α là bình quân các hệ số chặn của tất cả các đơn vị chéo, εi ~ N (0, σ2ε) là sai số ngẫu nhiên thể hiện những khác biệt của hệ số chặn mỗi đơn vị chéo).

REM thích hợp trong trường hợp hệ số chặn (ngẫu nhiên) của mỗi đơn vị chéo không tương quan với các biến giải thích, do đó, có thể đưa ra các biến giải thích không đổi theo thời gian vào mô hình (việc không thực hiện được ở mô hình FEM do gặp phải hệ tượng đa cộng tuyến với hệ số chặn đặc thù của từng đơn vị). Ý tưởng cơ bản của REM cũng bắt đầu từ FEM nhưng kết hợp thêm điều kiện αi = α + εi, từ đó có được công thức cơ bản của REM như sau: 𝐘𝒊𝒕 = 𝜶 + 𝜷 ∗ 𝐗𝒊𝒕 + 𝐯𝒊𝒕

Với vit = εi + uit, cho thấy vit và vis (với t ≠ s)

3.3.1.4 Ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS)

Giả định của ước lượng GLS cho rằng phương sai của phần dư phụ thuộc vào một số biến zi khác, cụ thể var(ut) = σ2zi2. Để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình, lấy 2 vế của phương trình hồi quy chia cho zi:

Với sai số hồi quy mới trong mô hình mới sẽ là vt = ut/zi.

Khi đó, var(vt) = var(ut/zi) = var(ut)/zi2 = σ2zi2/zi2 = σ2 và hiện tượng phương sai thay đổi của phần dư trong mô hình mới sẽ bị loại bỏ. Lúc này, kết quả hồi quy thu được của ước lượng GLS sẽ hiệu quả và vững hơn so với hai mô hình REM và FEM.

3.3.2. Kiểm định mô hình Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

3.3.2.1 Hiện tượng đa cộng tuyến

Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình hồi quy phụ thuộc lẫn nhau. Hiện tượng này xảy ra khi các biến độc lập có mối quan hệ tuyến tính chặt chẽ với nhau thì sẽ có hiện tượng đa cộng tuyến, đó và thể hiện được dưới dạng hàm số.

Đa cộng tuyến xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau: chọn các biến độc lập có quan hệ nhân quả hay có tương quan cao vì đồng thời phụ thuộc vào một điều kiện cụ thể; mẫu được thu thập không đặc trưng cho tổng thể (mẫu quá nhỏ hoặc có tính đặc trưng khá giống nhau…); chọn biến độc lập có độ biến thiên nhỏ…

Hậu quả của đa cộng tuyến: khi xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, nghĩa là giữa các biến độc lập có thể có sự tương quan, các biến độc lập lúc này sẽ có xu hướng thay đổi đồng nhất, sự thay đổi trong một biến sẽ liên kết làm thay đổi một biến khác. Đặc biệt, mối tương quan càng mạnh thì càng khó thay đổi một biến mà không thay đổi một biến khác. Mô hình trở nên khó khăn trong việc ước tính mối quan hệ giữa từng biến độc lập và biến phụ thuộc một cách độc lập, dẫn đến gia tăng sai số chuẩn của các hệ số, khoảng tin cậy lớn và kiểm định t ít ý nghĩa. Các ước lượng trong phân tích hồi quy không thật chính xác, có khả năng mô hình hồi quy không thể hiện đúng bản chất của các mối quan hệ cần xem xét.

Do đó, một số phương pháp thường được sử dụng khi nghiên cứu để phát hiện có hiện tượng đa cộng tuyến là: ma trận hệ số tương quan và hệ số phóng đại phương sai (VIF).

3.3.2.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Tự tương quan là hiện tương xảy ra khi tôn tại sự tương quan giữa các thành phần của dãy quan sát được sắp xếp theo thứ tự không gian hoặc thời gian, cụ thể hơn, đây là hiện tượng mà sai số tại các thời điểm hoặc không gian khác nhau lại có mối quan hệ với nhau.

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tự tương quan về cơ bản được phân loại theo hai nhóm bao gồm: nguyên nhân khách quan (chuỗi dữ liệu có tính chất quán tính theo chu kỳ, hiện tượng mạng nhện, chuỗi dữ liệu có độ trễ (ví dụ tiêu dùng ở thời kỳ này phụ thuộc vào cả thu nhập kỳ này và tiêu dùng của kỳ trước)); nguyên nhân chủ quan (chọn dạng mô hình sai, sai sót trong quá trình xử lý số liệu, sai sót trong lập mô hình do bỏ sót biến quan trọng hoặc dạng hàm sai).

Hiện tượng tự tương quan có thể dẫn đến những hậu quả sau: các ước lượng OLS vẫn là các ước lượng không chệch và nhất quán, nhưng không còn là ước lượng hiệu quả; hiện tượng tự tương quan cũng sẽ khiến cho giá trị t-value lớn hơn (hoặc P-value nhỏ hơn) so với giá trị chính xác của nó dẫn đến khả năng kết luận nhầm tác động của một yếu tố nào đó trong mô hình nhưng thực tế lại không đúng. Đặc biệt, nếu hiện tượng phương sai thay đổi diễn ra đồng thời với hiện tượng này thì các ước lượng trở nên không đáng tin cậy ngay cả khi mẫu nghiên cứu lớn.

Để xác định xem liệu hiện tượng tự tương quan có xảy ra trong mô hình hồi quy đang sử dụng hay không, nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định được đề xuất bởi Wooldridge (2002) với giả thiết H0: mô hình hồi quy không có hiện tượng tự tương quan.

3.3.2.3 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi

Hiện tượng phương sai thay đổi là hiện tượng các yếu tố nhiễu xuất hiện trong hàm hồi quy có phương sai thay đổi (hay các yếu tố nhiễu không đồng nhất phương sai) nghĩa là hiện tương mà phương sai của các sai số ước lượng không bằng nhau. Hiện tượng này xảy ra khi phương sai của sai số không phải là hằng số, mà tăng hoặc giảm khi biến độc lập tăng.

Nguyên nhân chính của hiện tượng phương sai thay đổi là do một hoặc một số biến có các quan sát có giá trị quá khác biệt so với các quan sát còn lại. Hoặc cũng có thể do việc sử dụng cách thước đo khác nhau để đo lường các quan sát của cùng một biến. Không những vậy, khi phát sinh sai sót trong quá trình xử lý dữ liệu hoặc sử dụng sai dạng hàm cũng có thể khiến hiện tượng này cũng có thể xảy ra. Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

Phương sai thay đổi làm cho: Các ước lượng OLS tuy vẫn là các ước lượng tuyến tính không chệch nhưng không còn là ước lượng tốt nhất, khoảng tin cậy và kiểm định giả thuyết về các hệ số không còn giá trị sử dụng…

Nếu như mô hình chỉ xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi thì ước lượng OLS vẫn là ước lượng không chệch và nhất quán nhưng sẽ không còn là ước lượng hiệu quả nhất và khi đó, việc sử dụng các khoảng tin cậy hay các kiểm định hệ số hồi quy của mô hình trở nên không đáng tin cậy. Do đó, việc kết luận dựa trên các kiểm định này sẽ không còn chính xác.

Có nhiều cách để phát hiện hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình hồi quy như dùng đồ thị phần dư, kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian, kiểm định White,… Bài nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định Wald (trong trường hợp mô hình FEM được sử dụng) hoặc kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian (nếu mô hình REM được chọn) để kiểm tra xem giả thiết hồi quy về phương sai không đổi có bị vi phạm trong mô hình hồi quy hay không.

Tóm tắt chương 3

Trong chương 3, tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy về biến động giá cổ phiếu (PV). Dựa trên những thực nghiệm nghiên cứu trước đây của chương 2, tác giả đã xây dựng giả thuyết cho các biến liên quan, trong đó biến động của lạm phát, lãi suất, giá vàng, tỷ lệ chi trả cổ tức, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu và quy mô doanh nghiệp tác giả kỳ vọng tồn tại mối quan hệ ngược chiều với biến động giá cổ phiếu, những biến còn lại có mối quan hệ cùng chiều với biến động giá cổ phiếu.

Trong chương 3, còn cung cấp các khung lý thuyết về các phương pháp định lượng được đưa vào mô hình trong chương 4 như mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS). Các kiểm định mô hình như kiểm định hiện tượng đa công tuyến, kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi nhằm khác phục những sai số trong mộ hình từ đó có thể đảm bảo sự tin cậy của mô hình. Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537