Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
- Tiêu đề: “Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam”
- Tóm tắt:
Năm 2022, Việt Nam bước vào giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid -19, hoạt động sản xuất kinh doanh được khôi phục và duy trì xuyên suốt. Trong đó, các ngân hàng cũng đang đẩy mạnh hoạt động kinh doanh khi tung ra thị trường hàng loạt các chương trình ưu đãi để thu hút khách hàng vay vốn kinh doanh, bên cạnh việc tăng trưởng lợi nhuận thì ngân hàng phải đối mặt với các loại rủi ro trọng yếu như rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường do đó cần được giám sát và quản trị chặt chẽ trên cơ sở tuân thủ toàn diện và cân bằng giữa rủi ro, tăng trưởng và hiệu quả . Nhận thấy tầm quan trọng của việc giám sát rủi ro tín dụng trong quá trình điều hành quản lý ngân hàng, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu với phương pháp định tính.Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thu thập và phân tích số liệu, tư liệu…Việc vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu trên sẽ đánh giá khách quan thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại VIB. Kết quả của bài nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao công tác giám sát rủi ro tín dụng tại VIB trong giai đoạn 12/2018 -06/2022.
3. Từ khoá: Giám sát, rủi ro tín dụng, ngân hàng thương mại
ABSTRACT
1. Title: “Credit risk monitoring at Vietnam International Commercial Joint Stock Bank”
2.Abstract:
In 2022, Vietnam entered the recovery period after the Covid-19 pandemic, production and business activities were restored and maintained throughout. In which, banks are also promoting business activities when launching a series of preferential programs to attract customers to borrow business capital, besides profit growth, banks have to face with material risks such as strategic risk, operational risk, credit risk and market risk, therefore, need to be closely monitored and managed on the basis of comprehensive compliance and a balance between risks. , growth and efficiency . Realizing the importance of credit risk monitoring in the process of banking management, I have decided to choose the topic: “Credit risk supervision at Vietnam International Commercial Joint Stock Bank” as a topic. research paper with qualitative method.Research methods used by the author in the thesis: analytical and synthesis methods; comparative method; methods of collecting and analyzing data and documents… The combined application of the above research methods will objectively assess the status of credit risk supervision at VIB. The results of the study will provide specific solutions to improve credit risk supervision at VIB in the period 12/2018 06/2022. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
- Keywords: supervision, credit risk, commercial banks
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam đang ngày càng hòa nhập vào môi trường cạnh tranh toàn cầu, các ngân hàng đã, đang và sẽ luôn hướng đến trở thành ngân hàng an toàn, lành mạnh và minh bạch hàng đầu, tiên phong trong việc ứng dụng các chuẩn mực quốc tế tốt nhất trong thiết kế chiến lược, vận hành và kiểm soát hoạt động bao gồm việc giám sát rủi ro, xếp hạng tín nhiệm và các chuẩn mực tiên tiến về quản trị doanh nghiệp.
Cụ thể tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam là một trong số các ngân hàng (NH) tương đối trẻ nhưng lạ có định hướng phát triển nhanh và mạnh mẽ đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, trong đó mảng bán lẻ thuộc top đầu ngành. Từ bối cảnh chung của nền kinh tế đến nội lực vững vàng đã được xây dựng qua giai đoạn 1 (2019 – 2026) của hành trình 10 năm chuyển đổi. VIB hướng đến vị trí dẫn đầu thị trường bán lẻ về chất lượng và quy mô trên nền tảng công nghệ, quản trị đã được xây dựng vững chắc trong thời gian qua. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam không ngừng mở rộng về quy mô. Theo báo cáo thường niên năm 2023, thu nhập đem lại cho VIB hằng năm chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng. Tổng thu nhập hoạt động NH đạt 14.800.481 triệu đồng, trong đó thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm 79.80% tổng thu nhập hoạt động, đạt 11.810.929 triệu đồng. Một con số phụ thuộc vào hoạt động tín dụng tương đối cao. Hơn nữa, công tác cấp tín dụng đa phần tập trung chủ yếu vào phân khúc khách hàng cá nhân với tỷ trọng đóng góp lên đến 86.73% trên tổng cho vay khách hàng (KH) . Có thể thấy, việc tập trung vào một phân khúc như vậy dễ phát sinh rủi ro tập trung bởi khách hàng cá nhân thông thường thời gian vay vốn sẽ dài hơn (trung, dài hạn) so với khách hàng là tổ chức (ngắn hạn). Đi cùng với tăng trưởng quy mô tín dụng ngày càng mở rộng thì một vấn đề đáng quan tâm là nợ nhóm 2 – nhóm 5 có xu hướng gia tăng so với năm 2022. Đặc biệt, nợ nhóm 2 tăng trên 50% so với năm 2022. Điều đó cho thấy chất lượng trong hoạt động cấp tín dụng tại một số đơn vị Chi nhánh/PGD vẫn chưa được chú trọng.
Đại dịch Covid -19 đã đi qua nhưng hệ quả để lại đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế -xã hội cũng như ngành NH và VIB cũng không phải ngoại lệ. Việc đẩy mạnh hoạt động tín dụng sau đại dịch đã dẫn đến một bộ phận cán bộ làm việc tại các phòng ban của ngân ngân chưa thật sự quan tâm đúng mức đến việc xác minh thẩm định để cấp tín dụng đối với KH mới hoặc tái đánh giá, kiểm tra sau cho vay đối với KH cũ dẫn đến nợ chú ý và nợ quá hạn có xu hướng gia tăng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải giám sát rủi ro tín dụng là vô cùng quan trọng trong việc đánh giá chất lượng trong hoạt động cho vay.
Nhận thức được vấn đề rủi ro tín dụng (RRTD) của NH mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng ở cả cấp độ vĩ mô lẫn vi mô như đã nêu trên. Tuy nhiên việc tìm hiểu và nghiên cứu cụ thể về quản trị RRTD nói chung, giám sát RRTD nói riêng được thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam còn nhiều hạn chế. Do đó, đề tài “Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt ”được thực hiện
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường giám sát rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Từ mục tiêu tổng quát trên, bài luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng giám sát rủi ro tín dụng Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, chỉ ra những ưu nhược điểm và các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác giám sát RRTD.
- Kiến nghị đề xuất các giải pháp tăng cường giám sát RRTD tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam trong thời gian tới.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào các mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra bao gồm:
- Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam như thế nào?
- Cần thực hiện những giải pháp nào nhằm tăng cường công tác giám sát rủi ro tín dụng tại VIB
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát RRTD tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian là giám sát RRTD của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam.
- Thời gian: Số liệu được thu thập từ năm tháng 12/2020 đến tháng 06/2024.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được trình bày theo hướng nghiên cứu định tính để tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu mà thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đang cần. Luận văn sẽ sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp….để làm sáng tỏ luận điểm, luận cứ đặt ra
Phương pháp thu thập dữ liệu dựa trên các số liệu báo cáo tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam. Các số liệu báo cáo từ các chi nhánh của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam.
Kết hợp các phương pháp khác nhau như phân tích, diễn dịch cũng được sử dụng để tiến hành phân tích số liệu hoặc quy nạp đối với các nội dung cần phân tích trong quá trình nghiên cứu.
Áp dụng phương pháp so sánh : thông qua các số liệu vừa thu thập được ở trên tiến hành biểu diễn các số liệu đó thông qua các biểu đồ, đồ thị, bảng biểu,..tính toán và so sánh các số liệu với nhau từ đó làm cơ sở và tiền đề để tiến hành các nhận định đánh giá về thực trạng rủi ro tín dụng và việc giám sát rủi ro tín dụng đó tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam trong giai đoạn 12/2020 -06/2024 nói chung và các NHTM khác nói riêng.
6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Nội dung bài nghiên cứu dự kiến thực hiện thành các phần nhằm giải đáp các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Phần thứ nhất diễn giải định nghĩa và các khía cạnh quan trọng của rủi ro hệ thống. Phần thứ hai mô tả phương pháp cũng như thứ tự các công việc thực hiện giám sát RRTD tại NH. Dựa trên nền tảng lý thuyết đã có, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam trong phần thứ ba. Từ đó, một số đề xuất nhận xét sẽ được rút ra trong phần cuối cùng của bài viết.
7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về giám sát RRTD và các giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế hồi phục sau đại dịch Covid-19 và sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành NH sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tăng trưởng bền vững và an toàn của NH trong thị trường. Nghiên cứu này hy vọng mang lại những nội dung và giải pháp giúp tăng cường hiệu quả và an toàn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam.
8. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang tính nhạy cảm và rủi ro cao. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cũng là điều kiện tiền đề cho sự phát của nền kinh tế – xã hội. Một số nghiên về rủi ro tín dụng và giám sát rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng đã chỉ ra tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Ngân hàng thương mại ở Việt Nam: Vận dụng nguyên tắc của Hiệp ước Basel để hạn chế nợ xấu của tác giả Huỳnh Thị Hương Thảo đăng trên Tạp chí Tài chính -Bảo hiểm năm 2016. Mục tiêu của bài viết nêu ra các nguyên tắc quản lý nợ xấu của Basel, thực trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam từ đó đưa ra một số gợi ý trên cơ sở vận dụng nguyên tắc Basel nhằm hạn chế nợ xấu tại các NHTM ở Việt Nam. Với dữ liệu thứ cấp về nợ xấu của các NHTM Việt Nam qua 8 năm, từ năm 2005 -2014 từ NHNN và các NHTM, tác giả đã đề xuất các giải pháp chủ yếu như:áp dụng phương pháp phân loại nợ có khả năng cảnh báo sớm RRTD, thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng, thẩm định tín dụng chặt chẽ và nâng cao vai trò của CIC và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập.
Kiểm soát rủi ro tín dụng theo Basel II tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam của nhóm tác giả Ngô Thị Thu Mai và Nguyễn Ngọc Bích, đăng trên tạp chí Tài chính năm 2019. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp thống kê, so sánh nợ xấu, nợ quá hạn của BIDV với dữ liệu từ báo cáo thường niên từ 2015 -2018 để chỉ ra dấu hiệu gia tăng nợ quá hạn, nợ xấu của BIDV. Nghiên cứu đã đưa ra đánh giá RRTD tại BIDV theo Basel II trong các hoạt động đo lường rủi ro tín dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng, công tác dự phòng và xử lý RRTD.
Tác giả Trần Hữu Dào (2021), Quản trị RRTD tại Agribank Cẩm Mỹ, Đồng Nai. Trong phần cơ sở lý luận tác giả đã trình bày đầy đủ về RRTD và kiểm soát RRTD. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Tuy nhiên, trong phần 2, phần kiểm soát RRTD tác giả chỉ nêu các hình thức giám sát và cảnh báo RRTD trong quá trình cho vay, cụ thể là kiểm tra giám sát tuân thủ chính sách, qui trình nghiệp vụ tín dụng. Luận văn này đã kế thừa được các nghiên cứu về lý luận về RRTD, các nội dung của kiểm soát RRTD. Tuy nhiên, hạn chế của đề tài của tác giả là do đề tài nghiên cứu ở phương diện rộng nên việc tập trung nghiên cứu kiểm soát RRTD còn hạn chế. Tác giả chưa đề cập cụ thể các biện phát kiểm soát RRTD như né tránh, hạn chế, chuyển giao, giảm thiểu và các hạn chế này được sẽ được tiếp tục nghiên cứu trong luận văn này
Tác giả Đỗ Đoan Trang (2021), Nghiên cứu về quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam, trong nghiên cứu tác giả tập trung phân tích RRTD của các NHTM thông qua các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng gồm dư nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu.Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đã đưa ra nhiều kiến nghị cũng như giải pháp nhằm giúp các NHTM nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả trong việc quản trị RRTD. Luận án dựa trên những số liệu như là chất lượng tín dụng,các phân tích cụ thể về tình hình hoạt động giám sát tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam, chưa đi sâu vào việc phân tích tình hình hoạt động.Từ đó nghiên cứu cũng dẫn tới một số vấn đề chưa thực sự khách quan trong quá trình đánh giá.
Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (2022) đã tập trung “nghiên cứu kinh nghiệm quản trị RRTD của một số ngân hàng nước ngoài và trong nước làm bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam”. Nghiên cứu tập trung vào các ngân hàng BIDV, Vietinbank, Ngân hàng Phát triển Nhật Bản và Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc. Mô hình tổ chức quản trị RRTD, kết quả xếp hạng tín nhiệm và kiểm soát rủi ro tập trung trong hoạt động tín dụng là những điểm đáng chú ý trong nghiên cứu. Bài nghiên cứu cũng sử dụng kinh nghiệm từ mô hình quản lý, xếp hạng tín nhiệm và kiểm soát rủi ro tập trung. Tuy nội dung không trùng lắp hoàn toàn nhưng có liên quan đến đề tài.
Nguyễn Như Dương (2019), “Nghiên cứu tập trung giới thiệu các mô hình quản trị RRTD cho các NHTM”. Nghiên cứu giới thiệu mô hình 5C và các mô hình đo lường RRTD như mô hình điểm số Z và mô hình điểm số tín dụng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc nhận diện và đo lường RRTD trong quá trình giám sát tại NH.
Điểm mà tác giả kế thừa của các nghiên cứu trước đây là tiếp tục hoàn thiện các cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và vận dụng trong điều kiện thực tế tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam. Điểm mới của đề tài sẽ phân tích thực trạng công tác kiểm soát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế phục hồi sau ảnh hưởng mạnh mẽ của dịch Covid –19 trên cơ sở phân tích số liệu giai đoạn 12/2020 – tháng 6/2024, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường công tác giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam giai đoạn 2025 –2028. 9. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về giám sát rủi ro tín dụng tại các NHTM
- Chương 2: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp tăng cường giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIÁM SÁT RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là định chế tài chính trung gian trong việc huy động vốn cũng như cấp tín dụng cho những chủ thể có nhu cầu trong nền kinh tế.
Một cách khái quát, tín dụng là một mối quan hệ giữa người cho vay và người vay, trong đó người cho vay chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho người vay trong một thời gian cụ thể. Người vay có trách nhiệm trả lại số tiền hoặc hàng hóa đã vay khi đến hạn, có thể kèm theo lãi suất hoặc không
Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2015), RRTD xảy ra khi khách hàng không thể hoặc chậm trả nợ theo thỏa thuận với ngân hàng, gây ra tổn thất và thiệt hại cho ngân hàng
1.1.2 Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng
Theo Ken Brown & Peter Moles (2016), rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa là khả năng mà một bên hợp đồng sẽ không thực hiện được cũng như đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thoả thuận.
Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2015), RRTD xảy ra khi khách hàng vay vốn chậm trả hoặc không trả được nợtheo thỏa thuận đối với ngân hàng, gây ra những tổn thất, thiệt hại cho ngân hàng.
Tại Việt Nam, quan điểm về rủi ro tín dụng cũng tương đồng với các quan điểm trên. Theo đó tại Khoản 1, Điều 3 Thông tư 02/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”(Ngân hàng nhà nước, 2015). Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả về rủi ro tín dụng nhưng tất cả đều đề cập đến các vấn đề:
- RRTD đề cập đến vấn đề người đi vay không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã cam kết, bao gồm vốn/ hoặc lãi.
- RRTD sẽ gây ra tổn thất về tài chính cho cả ngân hàng và khách hàng
- Đối với ngân hàng, RRTD sẽ làm giảm thu nhập ròng và gia tăng tỷ lệ nợ xấu, dẫn đến hiệu quả kinh doanh của NH suy giảm. Trong trường hợp nghiêm trọng, NH có thể dẫn đến thua lỗ,hoặc ở mức cao hơn là dẫn đến phá sản.
1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Theo Nguyễn Văn Tiến (2005), rủi ro tín dụng được chia thành hai loại nếu căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến rủi ro: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch: Là loại rủi ro đối với các khoản cấp tín dụng của từng khách hàng. Rủi ro giao dịch thường phát sinh liên quan đến quy trình thẩm định và xét duyệt cấp tín dụng, kiểm soát các khoản vay hoặc việc thực hiện các báo cáo tài sản đảm bảo cho khoản cấp tín dụng. Rủi ro này đươc chia thành các phần nhỏ cụ thể là : Rủi ro trong việc lựa chọn, rủi ro trong tác nghiệp và rủi ro liên quan đến tài sản đảm bảo.
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến công tác trước khi đưa ra quyết định cho vay bao gồm đánh giá, thẩm định khách hàng, phân tích (báo cáo tài chính, thu nhập…).
Rủi ro tác nghiệp (nghiệp vụ):là rủi ro đến công tác quản trị hoạt động cấp tín dụng bao gồm việc sử dụng công nghệ kỹ thuật (phần mền hệ thống…)
Rủi ro đảm bảo: là rủi ro liên quan đến các điều khoản hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, liên quan đến tài sản đảm bảo và giá trị cấp tín dụng trên giá trị tài sản của khoản vay.
Rủi ro danh mục: Rủi ro danh mục thường phát sinh do sự kết hợp nhiều khoản cấp tín dụng khác nhau trong danh mục tại các ngân hàng do sản phẩm không phù hợp hoặc do chỉ chú tâm đến một khoản vay hay nghành nghề, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao. Rủi ro danh mục có hai thành phần rủi ro khác đến từ rủi ro nội tại ( do khách hàng vay có nghành nghề đặc thù ) rủi ro tập trung ( chỉ tập trung vào một lĩnh vực thiếu sự đa dạng hóa).
Rủi ro nội tại liên quan đến ngành nghề của khách hàng vay và không thể hoàn toàn tránh được hoặc đo lường trước. Ví dụ, ngành nông nghiệp có rủi ro mất mùa do thiên tai, lũ lụt. Ngân hàng, đặc biệt khi có nhiều khách hàng trong lĩnh vực này, phải đối mặt với rủi ro nội tại liên quan đến điều kiện tự nhiên của ngành nông nghiệp. Do đó, ngân hàng cần có phương án hợp lý để giảm tổn thất gây ra bởi rủi ro này.
Rủi ro tập trung xảy ra khi ngân hàng chỉ tập trung cấp tín dụng cho một nhóm nghành nghề không đa dạng hóa danh mục cấp tín dụng, ví dụ: Ngân hàng chỉ tập trung cấp tín dụng cho nhóm khách hàng hoạt động trong lĩnh vực bất động sản chiếm tỷ lệ 70% còn lại là các lĩnh vực kinh doanh khác, nếu kinh tế xảy ra khủng hoảng, bất động sản không bán được dẫn đến hiện tượng mất thanh khoản và rủi ro đối với hoạt động ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế.
1.1.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Trên cơ sở xem xét các nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Phương (2016); Trần Kiên Nghị (2019) và RRTD xuất phát từ nhiều nhóm nguyên nhân khác nhau:
1.1.4.1 Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân về môi trường tự nhiên bao gồm thời tiết, khí hậu, dịch bệnh, thiên tai… Đây là nhóm nguyên nhân khách quan ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của KH và NH. Những nguyên nhân này thường rất khó dựđoán một cách chính xác và rõ ràng, do đó việc phòng ngừa và kiểm soát đối với nhóm nguyên nhân này chỉ ở mức giới hạn.
Nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh: môi trường kinh doanh bao gồm các điều kiện về thủ tục, điều kiện về hoạt động của các doanh nghiệp, của hệ thống NH, sự thông thoán
Nguyên nhân từ môi trường pháp lý: các quy định, chính sách của nhà nước và pháp luật cũng như hệ thống văn bản pháp quy trong lĩnh vực ngân hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho sự phát triển hoạt động kinh doanh của NH và KH. Ngoài ra, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của NHNN sẽ là cơ sở cho hệ thống NHTM hoạt động hiệu quả và gia tăng các hoạt động đầu tư. Đồng thời các công tác thanh tra, giám sát, quản lý của NHNN giúp phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật của NH cũng như KH khi tham gia hoạt động kinh doanh về lĩnh vực tài chính –tiền tệ.
Nguyên nhân từ môi trường chính trị-xã hội: nguyên nhân này liên quan đến vấn đề an ninh –chính trị xã hội của một quốc gia, khủng hoảng quân sự, chiến tranh, khủng hoảng kinh tế… Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
1.1.4.2 Nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng
Tính minh bạch và đầy đủ của thông tin do khách hàng cung cấp: một số KH vì muốn được NH chấp nhận hồ sơ vay vốn nên đã cố tình làm giả hoặc cung cấp sai lệch thông tin cho NH, làm cho quá trình đánh giá, thẩm định thông tin của NH không chính xác. Điều này gia tăng khả năng xảy ra RRTD.
Ý thức của KH trong việc thực hiện các cam kết với NH: KH cố tình sử dụng sai mục đích vay vốn như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Việc quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của KH không hiệu quả
1.1.4.3 Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng cần được điều chỉnh để trở nên hợp lý. Chính sách tín dụng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Điều này giúp đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ tín dụng của khách hàng (KH) một cách đầy đủ. Tuy nhiên, Chính sách tín dụng cần phải phù hợp với từng nhóm KH cụ thể, bao gồm điều kiện vay vốn, mức lãi suất, kỳ hạn vay và trả nợ, cùng với việc đảm bảo an toàn cho khoản vay.
Quy trình tín dụng chưa chặt chẽ và còn nhiều bước không cần thiết:quy trình tín dụng là thứ tự các bước mà ngân hàng thực hiện cho vay đối với KH(Mai Văn Bạn, 2009). Quy trình tín dụng phản ánh nguyên tắc cho vay, trình tự giải quyết hồ sơ KH, đánh giá khả năng trả nợ,thẩm định TSĐB… Trong trường hợp, các thông tin cần thiết ở các bước trong quy trình không triển khai và thực thi một cách chặt chẽ và đúng quy định sẽ dẫn đến khả năng phát sinh RRTD cho cả NH và KH. Một số trường hợp do mối quan hệ KH lâu năm, hoặc do quen biết hoặc KH không cung cấp đầy đủ và minh bạch thông tin của mình, dẫn đến việc NH đánh giá sai khả năng trả nợ vay, và làm khả năng xảy ra RRTD tăng lên trong quá trình cấp tín dụng.
Yếu tố nguồn nhân lực: con người là yếu tố cần thiết và quan trọng trong việc cung cấp và chuyển tải các sản phẩm dịch vụ tài chính của NH đến KH. Yếu tố con người liên quan đến trình độ nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp. Trong trường hợp cán bộ – nhân viên ngân hàng có trình độ chuyên môn thấp, kỹ năng giao tiếp với KH kém sẽ làm giảm sự hài lòng của KH và đồng thời làm cho hình ảnh, uy tín của NH giảm xuống. Hoạt động NH dựa trên lĩnh vực tài chính -tiền tệ, một lĩnh vực nhạy cảm, vì vậy nếu có sự thông đồng, gian lận trong quá trình cung cấp dịch vụ đến KH, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH bị giảm sút và lợi nhuận kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Do đó, trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, yêu cầu về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và phẩm chất là yêu cầu tất yếu đối với các cán bộ-nhân viên phải tuân thủ.
Một số vấn đề khác có thể đề cập đến là : vấn đề về tính thanh khoản, việc đầu tư vào những lĩnh vực mạo hiểm hoặc tập trung đầu tư vào một số nghành có rủi ro kinh tế cao như chứng khoán…
1.1.5 Ảnh hưởng rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
1.1.5.1 Tác động đến hoạt động của ngân hàng
Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2015), RRTD sẽ dẫn đến tình trạng căng thẳng thanh khoản cho ngân hàng. Một khi khách hàng chậm trả hoặc không trả được nợ sẽ tác động đến dòng tiền của NH, làm thay đổi kế hoạch quản lý vốn của NH, từ đó dẫn đến tình trạng căng thẳng thanh khoản.
Không chỉ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, RRTD còn làm cho NH giảm sút thu nhập, thua lỗ kéo dài dẫn đến tình trạng mất vốn. Hoạt động tín dụng tạo ra nguồn thu nhập từ lãi cho ngân hàng. Do đó, khi khách hàng không trả được nợ NH không những không thu được lãi mà còn phải tăng chi phí trích lập dự phòng RRTD và các chi phí khác có liên quan làm cho lợi nhuận của NH giảm sút.Việc kinh doanh thua lỗ. Nếu tình trạng này kéo dài với việc hàng loạt người gởi tiền rút tiền, ngân hàng sẽ buộc phải đóng cửa và tuyên bố phá sản.
Khi thông tin trở nên minh bạch, công khai trên thị trường, việc NH có chất lượng tín dụng thấp tương ứng với RRTD cao sẽ làm giảm uy tín, năng lực cạnh tranh của NH trên thị trường. Nói cách khác, nếu NHTM có RRTD cao sẽ làm cho khách hàng mất niềm tin vào ngân hàng. Các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu cao sẽ là dấu hiệu ảnh báo cho khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền thấy được hoạt động của ngân hàng không thực sự tốt, tiềm ẩn nhiều rủi ro và ngân hàng phải trả chi phí để huy động vốn cao hơn, hoặc khó khăn hơn trong việc tìm kiếm khách hàng có rủi ro thấp để cấp tín dụng. Điều này vô hình gây ra khó khăn cho ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt
1.1.5.2 Tác động đến nền kinh tế
RRTD của các NHTM có thể dẫn đến tình trạng suy yếu hệ thống tài chính. Nợ xấu, nợ quá hạn của các NHTM được xem như là cục máu đông của nền kinh tế, làm tắc nghẽn quá trình luân chuyển vốn giữa chủ thể thừa sang chủ thể thiếu. Đồng thời, làm cho lòng tin vào hệ thống trung gian tài chính suy giảm, ảnh hưởng đến hoạt động của các trung gian tài chính, làm cho dòng vốn trong nền kinh tế không được sử dụng hiệu quả.
Nếu RRTD của NHTM không được kiểm soát có thể dẫn đến tình trạng khủng hoảng tài chính không chỉ ở một quốc gia mà còn lan rộng ra toàn cầu. Nhiều quốc gia gặp khủng hoảng tài chính do nợ xấu, nợ quá hạn của ngân hàng cao như khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ các khoản nợ dưới chuẩn của ngân hàng Mỹ. Việc không thu hồi được nợ đã làm cho nhiều ngân hàng rơi vào tình trạng thua lỗ, buộc phải phá sản và dẫn đến hiện tượng đổ vỡ ngân hàng, dẫn đến khủng hoảng tài chính
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁM SÁT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
1.2.1 Khái niệm giám sát rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Theo Ủy ban Basel (1999) về giám sát ngân hàng cho rằng, mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là tối đa hóa lợi suất rủi ro hiệu chỉnh của ngân hàng bằng cách duy trì mức độ rủi ro ở một tỷ lệ chấp nhận được. Ngân hàng cần quản trị rủi ro tín dụng cho cả danh mục tổng thể và từng khoản vay hoặc giao dịch khác để đảm bảo hiệu quả.
Tóm lại, giám sát rủi ro tín dụng là quá trình phân tích liên quan đến các RRTD trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đây là hoạt động cần thiết và quan trọng trong việc kiểm soát, xử lý, giám sát hoạt động tín dụng, qua đó giúp hạn chế những rủi ro xảy ra trong quá trình cấp tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của NH.
1.2.2 Các nguyên tắc giám sát rủi ro tín dụng của Ủy ban giám sát Basel
Mục tiêu của giám sát RRTD là tối đa hóa lợi nhuận điều chỉnh bởi ngân hàng bằng cách duy trì RRTD ở mức chấp nhận được. Ngân hàng cần giám sát RRTD trong toàn bộ danh mục đầu tư và các khoản tín dụng hoặc giao dịch cụ thể. Để đạt được mục tiêu này, ngân hàng cần xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát RRTD, đồng thời đảm bảo có đủ vốn và nguồn bù đắp cho rủi ro phát sinh. Basel đã phát hành các nguyên tắc quản trị RRTD để khuyến khích ngân hàng trên toàn cầu thực hiện các biện pháp phù hợp để quản trị RRTD. Trong việc giám sát RRTD, Ngân hàng TMCP cần tuân thủ 4 nguyên tắc chính: xây dựng môi trường tín dụng thích hợp, thực hiện cấp tín dụng lành mạnh, duy trì quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp, và đảm bảo kiểm soát đầy đủ đối với nợ xấu
- Các nguyên tắc xây dựng môi trường tín dụng thích hợp:
Nguyên tắc 1:Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và thực hiện việc rà soát chiến lược rủi ro tín dụng và chính sách RRTD của ngân hàng, với tần suất định kỳ ít nhất là mỗi năm. Các chiến lược này phải phản ánh sự chấp nhận của ngân hàng đối với rủi ro và mức độ lợi nhuận mà ngân hàng mong muốn đạt được khi xảy ra các tình huống rủi ro và thất thoát tín dụng khác nhau. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Nguyên tắc 2:Quản lý cấp cao có trách nhiệm thực hiện chiến lược rủi ro tín dụng đã được Hội đồng Quản trị phê duyệt, đồng thời xây dựng chính sách và thủ tục để xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng. Những chính sách và thủ tục này cần đáp ứng các rủi ro tín dụng trong tất cả các hoạt động của ngân hàng, bao gồm cả mức tín dụng cá nhân và danh mục đầu tư.
Nguyên tắc 3: Ngân hàng cần nhận dạng và quản lý rủi ro tín dụng trong tất cả các sản phẩm và hoạt động của mình. Đối với các sản phẩm và hoạt động mới, ngân hàng cần xây dựng quy trình quản lý rủi ro và kiểm soát phù hợp trước khi triển khai và phải được Hội đồng Quản trị phê duyệt.
- Các nguyên tắc thực hiện cấp tín dụng lành mạnh:
Nguyên tắc 4:Ngân hàng cần hoạt động dựa trên các tiêu chí cấp tín dụng rõ ràng và được định nghĩa một cách chính xác. Các tiêu chí này cần cung cấp thông tin rõ ràng về thị trường mục tiêu của ngân hàng, sự hiểu biết thấu đáo về bên vay hoặc bên đối tác, cũng như mục đích và cơ cấu tín dụng và nguồn trả nợ. Các tiêu chí này cần được xác định rõ ràng để đảm bảo sự minh bạch và tính khách quan trong quá trình cấp tín dụng
Nguyên tắc 5:Ngân hàng cần thiết lập hạn mức tín dụng tổng thể cho từng khách hàng và nhóm khách hàng vay để quản lý các loại rủi ro tín dụng khác nhau. Các hạn mức này cho phép ngân hàng so sánh và theo dõi các hoạt động tín dụng trong sổ ngân hàng, sổ sách kế toán và bảng cân đối kế toán một cách hiệu quả.. – Nguyên tắc 6: Ngân hàng cần thiết lập quy trình rõ ràng để phê duyệt các khoản tín dụng mới và cũng như xem xét, gia hạn và tái tài trợ các khoản tín dụng hiện có.
Nguyên tắc 7: Tất cả các khoản tín dụng phải tuân thủ theo hợp đồng và được quản lý cẩn thận. Đặc biệt, các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân liên quan phải được ủy quyền, giám sát chặt chẽ và áp dụng các biện pháp hợp lý để kiểm soát hoặc giảm thiểu rủi ro trong các khoản vay không bình thường.
- Các nguyên tắc duy trì một quá trình quản lý, đo lường và giám sát tín dụng phù hợp:
Nguyên tắc 8: :Các ngân hàng cần quản lý đúng và cập nhật danh mục đầu tư có RRTD thông qua hệ thống quản lý hiện đại…
Nguyên tắc 9: Ngân hàng cần có hệ thống theo dõi điều kiện tín dụng, bao gồm xác định dự phòng và dự trữ đầy đủ cho mỗi khoản vay.
Nguyên tắc 10: Ngân hàng nên phát triển và áp dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ để quản lý rủi ro tín dụng, phù hợp với hoạt động, quy mô và tính phức tạp của ngân hàng
Nguyên tắc 11: Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và phân tích để đo lường rủi ro tín dụng trong các hoạt động nội bộ và ngoại bảng. Hệ thống thông tin quản lý phải cung cấp thông tin đầy đủ về cơ cấu danh mục tín dụng, bao gồm sự tập trung rủi ro.
Nguyên tắc 12: Ngân hàng cần hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng danh mục tín dụng toàn diện.
Nguyên tắc 13: Ngân hàng cần đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điều kiện kinh tế phức tạp và tính đến các thay đổi tương lai.
- Các nguyên tắc nhằm bảo đảm kiểm soát đầy đủ đối với nợ xấu:
Nguyên tắc 14: Ngân hàng cần xây dựng hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng độc lập và cập nhật, đồng thời báo cáo định kỳ cho cấp lãnh đạo cao nhất Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Nguyên tắc 15: Ngân hàng cần đảm bảo chức năng cấp tín dụng được quản lý hợp lý và mức độ RRTD tuân thủ các tiêu chuẩn và giới hạn nội bộ. Các NH cần thiết lập và thực thi KSNB và hoạt động khác để báo cáo kịp thời các trường hợp ngoại lệ cho chính sách, thủ tục và giới hạn, đồng thời đưa ra các hành động phù hợp.
Nguyên tắc 16: Ngân hàng cần khắc phục sớm các khoản tín dụng xấu và quản lý các khoản tín dụng gặp vấn đề.
Nguyên tắc 17: Các cơ quan giám sát cần yêu cầu các NH có hệ thống hiệu quả để quản lý RRTD. Các cơ quan này cần đánh giá độc lập các chiến lược, chính sách, thủ tục và quản lý tín dụng của ngân hàng.
Ở Việt Nam, vấn đề quản trị RRTD cũng từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế, đó là các quy định của Ủy ban giám sát Basel. Cách đây hơn 10 năm, định hướng triển khai thực hiện Basel II tại Việt Nam đã được NHNN xác định là một trong những trọng tâm của ngành Ngân hàng tại Đề án “Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2012 và định hướng đến năm 2022” (Vũ Thị Phương Thụy, 2021). Trong đó, các ngân hàng triển khai thí điểm Basel II gồm: Vietcombank, Vietinbank, BIDV, VPBank, Techcombank, VIB, Maritime Bank, MB, Sacombank, ACB. Đến ngày 19/12/2021, VIB là ngân hàng hoàn thành triển khai cả 3 trụ cột của Basel II, tiếp theo là ngân hàng VPBank. Mỗi hệ thống Basel ra đời sau, ngày càng hoàn thiện hơn và giúp các NH có những công cụ quản trị RRTD và dự đoán rủi ro trong tương lai.
1.2.3 Nội dung giám sát rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
- Nội dung giám sát rủi ro tín dụng bao gồm:
Giám sát trước cho vay:
- Thiết lập các quy định chính sách, quy chế cấp tín dụng
- Thu thập chứng từ (HSPL, tài sản, chứng từ thu nhập), thực hiện công tác xác minh thẩm định khách hàng
- Trình hồ sơ tín dụng
- Duyệt hồ sơ tín dụng
- Thông báo đồng ý cấp tín dụng cho khách hàng
Giám sát trong cho vay:
- Soạn thảo Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, lập biên bản định giá tài sản, phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp tài sản.
- Giám sát quy trình giải ngân, đảm bảo tính đầy đủ tính pháp lý của chứng từ giải ngân và pháp lý tài sản đảm bảo thế chấp phải được hoàn thiện.
- Lưu hồ sơ chứng từ đầy đủ vào kho quỹ theo quy định
Giám sát sau cho vay:
- Giám sát theo dõi dòng tiền sau giải ngân của khách hàng có đúng mục đích vay vốn.
- Gọi điện hỏi thăm khách hàng, chủ động nhắc nợ và thu nợ khi đến hạn
- Kiểm tra giám sát sau cho vay theo định kỳ và đột xuất để đánh giá thu nhập và tài sản của khách hàng.
- Đánh giá tính hiệu quả và phù hợp của chính sách tín dụng đẻ kịp thời điều chỉnh
Giám sát rủi ro tín dụng là bước quan trọng nhất trong công tác quản trị RRTD. Ngân hàng sẽ xây dựng một hệ thống quản lý và kiểm soát bao gồm việc xây dựng, thành lập các phòng ban chuyên môn với từng chức năng, nhiệm vụ cụ thể, đồng thời sẽ ban hành các quy định, chính sách, công cụ hỗ trợ cũng như các biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý khi phát sinh rủi ro tín dụng trong công tác vận hành của ngân hàng bao gồm chính sách cấp tín dụng, quy trình cấp tín dụng, hệ thống quản trị RRTD, các giới hạn cấp tín dụng..
Quá trình nhìn nhận, phát hiện liên tục và có hệ thống trong quy trình giám sát RRTD. Bất kỳ khoản vay dù giá trị nhỏ hay giá trị lớn như thế nào cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro, việc sớm nhận biết những rủi ro này và luôn chủ động xây dựng các biện pháp theo dõi khoa học và hợp lý sẽ giúp các tổ chức có thể giảm thiệt hại đến mức thấp nhất khi rủi ro xảy ra. Những đặc điểm mang tính đặc thù của từng loại rủi ro sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết rủi ro một cách nhanh nhất và từ đó kịp thời đưa ra các giải pháp xử lý một cách hiệu quả. Các ngân hàng tập trung vào các dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính của khách hàng vay để nhận biết rủi ro. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Theo Nguyễn Như Dương (2020), rủi ro tín dụng có thể phát hiện kịp thời thông qua những dấu hiệu đến từ khách hàng vay và những dấu hiệu đến từ quy trình nội bộ của ngân hàng:
- Dấu hiện nhận diện từ phía khách hàng
Dấu hiện liên quan đến thông tin báo cáo tài chính:sự chuẩn bị không đầy đủ và kịp thời của các báo cáo tài chính theo quy định khi ngân hàng yêu cầu cung cấp. Chất lượng báo cáo không thể hiện đúng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp như doanh số bán hàng so với quy mô sản xuất không hợp lý. Các báo cáo về thu nhập và chi phí có những sự thay đổi đột biến: doanh số bán hàng giảm hoặc gia tăng một 21 cách đáng ngờ, đột biến, doanh thu bán hàng tăng nhưng lợi nhuận lại giảm hay xuất hiện các khoản lỗ từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Dấu hiệu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: có sự thay đổi về phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp khi đẩy mạnh các lĩnh vực, ngành nghề không chuyên một cách mạnh mẽ nhưng lại thu hẹp phạm vi của ngành nghề truyền thống; doanh nghiệp gặp các vấn đề trong việc thanh toán công nợ cho nhà cung cấp hoặc xuất hiện tình trạng khách hàng trả lại hàng hoá do chất lượng không đảm bảo; xuất hiện tình trạng đầu cơ hàng tồn kho với số lượng lớn so với quy mô bình thường của doanh nghiệp hoặc hàng tồn kho kém chất lượng. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Dấu hiệu từ lịch sử giao dịch với ngân hàng:số dư tài khoản tiền gửi giảm đáng kể tại ngân hàng; lịch sử tín dụng với ngân hàng thường xuyên trễ hạn, quá hạn, điều chỉnh cơ cấu nợ liên tục.
Dấu hiệu liên quan đến công tác quản trị của doanh nghiệp:thiếu tinh thần hợp tác, thiện chí với cán bộ ngân hàng; người đứng đầu doanh nghiệp thiếu trình độ chuyên môn hay sức khoẻ không đảm bảo thường xuyên đau ốm vắng mặt tại doanh nghiệp; có dấu hiệu chậm trễ trong công tác thanh toán lương nhân viên.
Dấu hiện nhận diện từ phía ngân hàng về công tác quản lý tín dụng: Không tuân thủ đúng quy trình cấp tín dụng so với quy định cũng như quy trình nội bộ của đơn vị; cán bộ tín dụng có mối quan hệ với chính khách hàng vay; sự độc đoán trong tư duy lãnh đạo trong công tác xét duyệt khoản vay; giải ngân khoản vay khi chưa đáp ứng đầy đủ các chứng từ và bút phê của lãnh đạo; công tác kiểm cho sau cho vay không được thực hiện thường xuyên và đột xuất; các hợp đồng, thoả thuận hợp đồng không được ký kết đúng quy định, đúng đối tượng.
Dấu hiệu liên quan đến khoản vay: Hồ sơ vay của khách hàng thiếu chặt chẽ: tính pháp lý chưa cao, độ tin cậy những thông tin trong hồ sơ có dấu hiệu nghi ngờ; tài sản đảm bảo được định giá cao hơn so với giá thị trường; nguồn trả nợ của khách hàng không đúng với tình hình thực tế phát sinh cũng như kế hoạch vay vốn tại ngân hàng.
Dấu hiệu nhận biết thông qua cơ cấu tín dụng: Có thể dựa vào chỉ tiêu cơ cấu tín dụng để phân tích và xác định mức độ rủi ro của ngân hàng là cao hay thấp. Nếu cơ cấu tín dụng quá tập trung vào một ngành, nghề hoặc đối tượng chủ thể cho vay thì có mức độ rủi ro cho ngân hàng là rất lớn nếu như ngành nghề, lĩnh vực hay đối tượng chủ thể kinh tế đó bị tác động tiêu cực bởi môi trường kinh doanh hay bất kỳ lý do ngoại cảnh khác
1.2.4 Các mô hình giám sát rủi ro tín dụng Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
1.2.4.1 Mô hình giám sát rủi ro tín dụng cho từng khoản vay
Trong tài liệu của Bùi Diệu Anh và cộng sự (2015), Nguyễn Như Dương (2019) trình bày các mô hình sử dụng trong giám sát RRTD, Trong việc đánh giá các khoản vay riêng lẻ, các ngân hàng thường sử dụng các mô hình như “mô hình 6C”, “mô hình CAMPARI”, “mô hình điểm số Z” và xếp hạng tín nhiệm. Trong số các mô hình này, mô hình 6C và xếp hạng tín nhiệm được sử dụng phổ biến như phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại tương ứng. Trong đó:
- Mô hình 6C:
Nội dung của phân tích tín dụng theo mô hình 6C gồm các yếu tố: (1)tư cách người vay; (2)năng lực pháp lý và năng lực hoạt động của người vay; (3) dòng tiền trả nợ của người vay; (4) bảo đảm tiền vay; (5) Điều kiện môi trường và (6) các yếu tố kiểm soát. Trong đó:
Tư cách người vay (Character): phản ánh năng lực hành vi dân sự, thiện chí và uy tín của khách hàng vay.
Năng lực của người vay (Capacity): năng lực hoạt động, sử dụng vốn của người vay.
Dòng tiền trả nợ của người vay (Cashflow): đánh giá nguồn tiền dùng để trả nợ của khách hàng như thế nào, mức độ biến động của dòng tiền trả nợ, dòng tiền này có đủ để trả nợ hay không.
Bảo đảm tiền vay (Collateral): đánh giá tình trạng pháp lý, tình trạng thực tế và giá trị, khả năng thanh khoản của tài sản bảo đảm cho khoản vay.
Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng trong từng thời kỳ.
Kiểm soát (Control): Môi trường kinh doanh có thể ảnh hưởng đến thiện chí và khả năng trả nợ của khách hàng. Mô hình đánh giá được ưu điểm là có thể đo lường các yếu tố liên quan đến thiện chí và đưa ra đánh giá về rủi ro trong tương lai. Tuy nhiên, kết quả đánh giá phụ thuộc vào nhân viên thực hiện và thường mất nhiều thời gian và chi phí
Phương pháp hệ thống điểm số (Score System): Nguyễn Như Dương (2019) trình bày phương pháp điểm số được sử dụng phổ biến trong các khoản vay tiêu dùng cá nhân. Thông qua các tiêu chí được xây dựng, nhân viên ngân hàng chấm điểm khách hàng. Tương ứng với số điểm, NH đánh giá khách hàng có rủi ro cao hay thấp. Với mức độ rủi ro của khách hàng, NH xác định các giới hạn cấp tín dụng phù hợp. Ưu điểm của mô hình này là khách quan, chấm điểm dựa trên các tiêu chí được xây dựng sẵn, chấm điểm nhanh chóng. Tuy nhiên, các tiêu chí phần lớn còn khá đơn giản, chưa thể đo lường RRTD đầy đủ. Do đó, đây là phương pháp chỉ phù hợp với các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân nhỏ lẻ.
Xếp hạng tín nhiệm nội bộ:Theo Basel (2002), XHTNNB là mô hình bắt buộc trong hoạt động đo lường RRTD tại các NH. NH sẽ đánh giá mức độ RRTD của khách hàng dựa trên đặc tính rủi ro của KH và của từng giao dịch cụ thể. Thông qua các chỉ tiêu đánh giá, NH sẽ thực hiện đo lượng mức độ RRTD của khách hàng, tính toán xác suất vỡ nợ (PD) của một hay một nhóm khách hàng được cấp tín dụng bằng phương pháp tiếp cận IRB. Theo Basel, ngân hàng sử dụng các mô hình dựa trên dữ liệu nội bộ về khách hàng để ước tính khả năng mất mát tín dụng tại mỗi giai đoạn đánh giá như sau: EL = PD x EAD x LGD
Trong đó: Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
- EL:khoản lỗ dự kiến (Expected Loss) của một khoản vay.
- PD:xác xuất khách hàng không trả được nợ (Propability of Default)
- EAD: Tổng dư nợ của khách hàng tại tời điểm khách hàng không trả được nợ (Exposure At Default) EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức
- LEQ:tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng trong tín dụng hạn mức mà có nhiều khả năng khách hàng sẽ rút thêm tại thời điểm không trả được nợ.
- LGD:tỷ trọng tổn thất ước tính (Loss Given Default) được xác định như sau:LGD = (EAD –Số tiền có thể thu hồi) / EAD
Ngân hàng tập trung xếp hạng tín nhiệm cho hai nhóm chính là doanh nghiệp và cá nhân. Quá trình xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để đánh giá. Trong khi đó, việc xếp hạng tín nhiệm cá nhân tập trung vào các chỉ tiêu về nhân thân, quan hệ với ngân hàng, lịch sử vay – trả nợ, tài sản đảm bảo, nợ quá hạn và khả năng thanh toán.
1.2.5 Các chỉ tiêu tăng cường giám sát rủi ro tín dụng
1.2.5.1 Các tiêu chí đánh giá định tính
Có thể sử dụng mô hình 6C (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2015) để phân tích, đánh giá rủi ro từ khách hàng. Cán bộ ngân hàng đánh giá dựa vào 6 yếu tố: (1)tư cách người vay; (2)năng lực pháp lý và năng lực hoạt động của người vay; (3) dòng tiền trả nợ của người vay; (4) bảo đảm tiền vay; (5) Điều kiện môi trường và (6) các yếu tố kiểm soát.
Đồng thời, để đánh giá về hiệu quả quản trị RRTD theo hướng định tính, có thể quan tâm đến chiến lược hoạt động kinh doanh có phù hợp với môi trường hoạt động và năng lực hoạt động của NHTM để kiểm soát RRTD trong mức độ cho phép, tính khách quan trong cơ cấu tổ chức liên quan đến quá trình đó, người có trách nhiệm sẽ kiểm tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro xuất phát từ đạo đức, năng lực của nhân viên.Sự phối hợp giữa các phòng ban trong quy trình tín dụng cũng liên quan đến việc giám sát RRTD tại ngân hàng
1.2.5.2 Các tiêu chí đánh giá định lượng
- Chỉ tiêu tổng dư nợ so với tổng nguồn vốn huy động
Tổng dư nợ so với tổng vốn huy động = Tổng dư nợ/Tổng vốn huy động
Đây là chỉ tiêu cho thấy quy mô tín dụng so với nguồn vốn huy động. Chỉ tiêu này quá thấp cho thấy vốn không cho vay được, nghĩa là ngân hàng sử dụng đồng vốn không hiệu quả khi không thể cho vay trong khi vẫn phải trả lãi huy động. Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng không đạt được mục tiêu lợi nhuận. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này quá cao, quy mô tín dụng quá lớn là cơ sở cho thấy xác suất rủi ro tín dụng tăng lên, tiềm ẩn nhiều rủi ro do hạn chế ở khả năng lựa chọn khách hàng tốt cũng như khả năng kiểm soát dư nợ tín dụng theo mục tiêu hoạt động kinh doanh đề ra.
- Chỉ tiêu hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng = Tổng dư nợ/tổng tài sản có
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng của hoạt động tín dụng trong danh mục tài sản có của ngân hàng tại thời điểm phân tích. Hệ số này càng cao càng cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng nhưng đồng thời cũng cho thấy mức độ rủi ro tín dụng tại ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn/tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng mặc dù không phản ánh chính xác được mức độ rủi ro do nợ quá hạn chưa phải là tổn thất của ngân hàng. Khi tỷ lệ này càng cao cho thấy chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng đó càng thấp, chứng tỏ mức độ rủi ro tín dụng tại ngân hàng đó càng cao.
- Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ= Nợ xấu/tổng dư nợ Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ phản ánh mức độ trầm trọng hơn của các khoản nợ chậm trả trong tổng dư nợ ngân hàng. Đây là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp mức độ thiệt hại của khi rủi ro xảy ra (Dương Ngọc Hào, 2017). Để kiểm soát rủi ro tín dụng theo kế hoạch được xây dựng, ngân hàng phải luôn tìm biện pháp giảm tỷ lệ này trong giới hạn cho phép ở mức 3%
- Tỷ lệ lãi, phí phải thu/ tổng dư nợ
Tỷ lệ lãi, phí phải thu/tổng dư nơ = Lãi, phí phải thu/ tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng mặc dù không phản ánh chính xác được mức độ rủi ro do nợ nhóm 1 vì chưa phải là tổn thất của ngân hàng. Nhưng cũng cần lưu ý đến bởi đây là những khoản vay đến hạn thanh toán lãi nhưng khách hàng vẫn chưa thanh toán đúng hạn. Khi tỷ lệ này càng cao cho thấy chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng đó càng thấp, chứng tỏ mức độ rủi ro tín dụng tại ngân hàng đó càng cao.
- Tỷ số dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng dư nợ
Tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng = Dự phòng tổn thất tín dụng/tổng dư nợ
Một nội dung giám sát RRTD quan trọng là trích lập dự phòng RRTD. Do đó, đây là tỷlệ phản ánh khả năng bù đắp cho các khoản tổn thất tín dụng như thế nào khi rủi ro tín dụng xảy ra. Chỉ tiêu này cao cho thấy rủi ro tương ứng của ngân hàng cao cũng như sẽ tác động làm giảm thu nhập của ngân hàng.Đồng thời đánh giá việc tuân thủ quy định trích lập dự phòng RRTD cũng là nội dung trong hoạt động giám sát RRTD, phản ánh hiệu quả hoạt động giám sát RRTD của NH
- Tỷ trọng dư nợ một ngành so với tổng dư nợ
Tỷ trọng dư nợ một ngành = Dư nợ theo ngành/tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá rủi ro nội tại và rủi ro tập trung trong hoạt động tín dụng của NHTM. Nếu tỷ trọng dự nợ theo ngành nghề được phân tán nhiều ngành sẽ giúp NH hạn chế được rủi ro tập trung. Bên cạnh đó, phân tích cơ cấu giúp cho NH chủ động đối phó với các rủi ro nội tại của ngành nghề trong danh mục tín dụng. Tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh, chiến lược quản trị RRTD được xây dựng mà tỷ trọng này cần đánh giá phù hợp
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến giám sát rủi ro tín dụng.
1.2.6.1 Nhóm nhân tố khách quan (nhóm nhân tố vĩ mô)
Lạm phát:Nền kinh tế mà xuất hiện lạm phát đồng nghĩa với việc vật giá tăng quá nhanh thì bong bóng đầu cơ, tích trữ hàng hoá thường xuyên xảy ra, gây nên sự mất cân trong lưu thông của nền kinh tế. Điều này làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn thu nhập của các thành phần kinh tế. Nền kinh tế có lạm phát sẽ làm nguồn tiền trong lưu thông bị sụt giảm nhanh chóng, các chủ thể tham gia vào nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng dẫn đến mất khả năng thanh toán, các tính toán, dự đoán về cơ hội kinh tế ít nhiều sẽ bị sai lệch, từ đó gây khó khăn cho các hoạt động đầu tư, do đó xảy ra RRTD là điều tất yếu và sớm muộn, hiệu quả quản trị RRTD cũng trở sẽ thấp hơn và không hiệu quả so với thời kỳ kinh tế lạm phát thấp. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Lãi suất: Một cụm từ không còn quá xa lạ khi nhắc đến ngân hàng. Và lãi suất cũng là một trong những yếu tố có sự tác động đến RRTD và quản trị RRTD,lãi suất cao đồng nghĩa với việc hệ khách hàng sẽ khan hiếm từ đó ngân hàng sẽ nới lỏng quy trình kiểm soát tín dụng để hồ sơ khách hàng được phê duyệt và ngược lại. Nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng lên thì đồng nghĩa với việc RRTD cũng sẽ gia tăng, hiệu quả quản trị RRTD sẽ có dấu hiệu suy giảm và ngược lại.
1.2.6.2 Nhóm nhân tố chủ quan (nhóm nhân tố thuộc về nội tại của ngân hàng)
Theo Nguyễn Thuỳ Linh (2022), quy mô của ngân hàng và tốc độ tăng trưởng tín dụng là hai nhân tố có tác động đến quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM. Xét về quy mô của ngân hàng:Đối với các ngân hàng có quy mô hoạt động lớn, đối tượng khách hàng thường là các doanh nghiệp với doanh thu cao trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau, vì vậy một khi xảy ra sự biến động của thị trường, các doanh nghiệp thường dễ nhạy cảm và bị ảnh hưởng, xấu nhất có thể phá sản, giải thể, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác suất không thực hiện được nghĩa vụ tín dụng theo các cam kết hợp đồng vay đối với ngân hàng là khá cao. Bên cạnh đó, hệ khách hàng như thế này thường có tâm lý chung là mong muốn các ngân hàng đơn giản hoá các thủ tục tín dụng, vì vậy rất dễ tạo ra lỗ hỏng trong quy trình cấp tín dụng từ đó sẽ dẫn đến các RRTD. Xét về tốc độ tăng trưởng tín dụng:Tốc độ tăng trưởng tín dụng một cách nhanh chóng luôn chứa đựng những tiềm ẩn về một chất lượng tín dụng không cao, xác suất xảy ra RRTD là rất lớn, hiệu quả trong công tác quản trị RRTD thấp, sẽ không được như mong muốn của ban lãnh đạo ngân hàng. Cơ cấu tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ, giai đoạn thời gian khác nhau cũng ảnh hưởng ít nhiều đến RRTD (cơ cấu theo ngành nghề, cơ cấu theo đối tượng khách hàng…)Xét về nhân sự của ngân hàng:Đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng, nếu như chất lượng nguồn nhân lực còn quá yếu kém, thậm chí không đủ năng lực chuyên môn để thực hiện các bước thẩm định theo yêu cầu của nghiệp vụ cấp tín dụng cho khách hàng thì xác suất RRTD phát sinh là điều không thể tránh khỏi (Nguyễn Hùng Tiến, 2018). Điều này cũng thể hiện năng lực quản trị RRTD của ngân hàng chưa thực sự tốt. Bên cạnh đó, ngành ngân hàng là ngành có độ nhạy cảm cao nên đạo đức nghề nghiệp của mỗi cán bộ tín dụng nói riêng và nhân viên ngân hàng nói chung cũng là vấn đề cần được quan tâm. Cán bộ tín dụng vì tư lợi bản thân mà có thể làm sai lệch hồ sơ xin cấp tín dụng của khách hành hoặc bỏ qua, xem nhẹ việc thẩm định, tạo lập chứng từ giả cho khách hàng, không tuân thủ các quy định cấp tín dụng cũng chính là nguyên nhân làm cho ngân hàng đối mặt với RRTD
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số ngân hàng thương mại
1.3.1.1 Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)
Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) là một trong những NHTM tư nhân hàng đầu của Việt Nam. Mặc dù có nhiều biến cố xảy ra đối với ngân hàng nhưng ACB luôn là một trong những ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt bậc nhất khi kiểm soát được tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp. Một trong những nguyên nhân quan trọng đó là ACB theo đuổi mô hình quản trị RRTD tập trung, đồng thời thực hiện phân quyền phê duyệt tín dụng cho các chi nhánh ở mức thấp. Việc phân tích thẩm định tín dụng tập trung tại Trung tâm thẩm định tín dụng. Bên cạnh đó, hoạt động quản trị RRTD của ACB được triển khai theo mô hình tập trung do những đặc điểm về quy mô, mạng lưới và năng lực tài chính. Mặc dù các chi nhánh không có phòng quản trị RRTD nhưng có một nhân viên chuyên trách trong bộ phận hỗ trợ tín dụng sẽ lập các báo cáo hàng tháng với các nội dung theo quy định để ban lãnh đạo chi nhánh cũng như Hội sở nhanh chóng nắm bắt những vấn đề trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh để có những điều chỉnh phù hợp. Hoạt động kiểm soát nội bộ được chú trọng để nhanh chóng nhận diện những sai sót và điều chỉnh kịp thời trong việc tuân thủ các chính sách, quy định được ban hành. Đặc biệt, ngân hàng Á Châu thực hiện nghiêm ngặt việc giám sát khoản vay thông qua việc thường xuyên giám sát, đánh giá khách hàng nhằm xử lý kịp thời các trường hợp xảy ra rủi ro tín dụng. Ngoài ra, Á Châu còn có chính sách cho vay nghiêm ngặt đối với một số lĩnh vực cho vay có độ rủi ro cao như bất động sản. Các hoạt động đào tạo nhân sự cũng được ngân hàng chú trọng triển khai nhằm rèn luyện đạo đức và kiến thức nghề nghiệp cho nhân viên thông qua việc xây dựng trung tâm đào tạo Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Các đợt đào tạo tùy thuộc vào mục đích nội dung có thể triển khai tập trung, hoặc riêng lẻ tại chi nhánh. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là hệ thống công nghệ thông tin vào trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng.
1.3.1.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
Thứ nhất, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) đã triển khai áp dụng chính sách quản lý RRTD cho toàn bộ hệ thống với rất nhiều nội dung khác nhau: phân tán rủi ro, danh mục đầu tư tín dụng được đa dạng hoá, ban hành các giới hạn cấp tín dụng, chú trọng ưu tiên phát triển tín dụng tập trung vào lĩnh vực, loại hình kinh tế có hệ số rủi ro thấp cũng như siết chặt các điều kiện cấp tín dụng đối với lĩnh vực, loại hình kinh tế có hệ số rủi ro cao, đồng thời kiểm tra giám sát chặt chẽ toàn bộ các giai đoạn trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng nhằm phát hiện sớm, kịp thời để cảnh báo cũng như ngăn chặn RRTD; chủ động trong hoạt động kinh doanh khách hàng đặc biệt là công tác nhận diện rủi ro, đề ra các kế hoạch tín dụng phù hợp.
Thứ hai, VietinBank đã xây dựng bộ máy quản lý RRTD với sự phân định trách nhiệm rõ ràng của các bộ phận.Ủy ban Quản lý rủi ro là đơn vị tham mưu, ý kiến cho HĐQT các nội dung liên quan đến công tác xác định khẩu vị rủi ro; xây dựng cơ chế, chính sách quản trị rủi ro cũng như tham mưu định hướng quản lý rủi ro bao gồm RRTD.Tại trụ sở chính, công tác quản lý RRTD do khối Quản lý rủi ro phụ trách với lực lượng nòng cốt là Phòng Quản lý RRTD và đầu tư. Tại các điểm Chi nhánh của Vietinbank thì vai trò này được Phòng Tổng hợp chịu trách nhiệm. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Công việc chung của các đơn vị này trong khâu quản lý RRTD: thiết lập báo cáo thẩm định liên quan đến RRTD của từng khách hàng và quản lý nợ có vấn đề.
Thứ ba, VietinBank rất chú trọng công tác tín dụng bao gồm việc đo lường RRTD và chấm điểm, xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được xây dựng tương ứng theo hai đối tượng khách hàng: khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Đối với hệ khách hàng doanh nghiệp, VietinBank phân loại thành bốn nhóm ngành (nông –lâm –ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại –dịch vụ, xây dựng) theo ba nhóm quy mô (doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏvà doanh nghiệp vừa); tương tự như BIDV thì VietinBank cũng chấm điểm tín dụng theo hai tiêu chí tài chính và phi tài chính đểxếp hạng khách hàng theo 10 nhóm hạng có mức RRTD tăng dần từ (AA+ -> AA -> AA --> BB+ -> BB -> BB- -> CC+ -> CC -> CC- -> C).
Điểm quan trọng nhất trong công tác xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng của VietinBank đó chính là việc xây dựng và hoàn thiện các chỉ tiêu để đánh giá năng lực của từng doanh nghiệp cụ thể một cách chi tiết. Bởi vậy, công tác đo lường và lượng hoá RRTD cho từng đối tượng khách hàng cụ thể tại Vietinbank được thực hiện một cách chính xác và dễ dàng.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro tín dụng cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
Qua kinh nghiệm của một số ngân hàng trong quản trị rủi ro tín dụng có thể rút ra một số bài học cho đơn vị nghiên cứu như sau:
Một là, chú trọng xây dựng chiến lược hoạt động phù hợp với đặc điểm của ngân hàng. Trong đó, cần xác định đối tượng khách hàng mục tiêu cũng như khẩu vị rủi ro trong quá trình lựa chọn khách hàng. Mỗi thời kỳ, giai đoạn cần cụ thể hóa mục tiêu liên quan đến hoạt động tín dụng, quản trị RRTD nhằm định hướng cho toàn ngân hàng trong quá trình hoạt động. Việc này giúp ngân hàng có cái nhìn tổng quan về thị trường tiềm năng cũng như đánh giá được mức độ rủi ro tương ứng. Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ đánh giá được yếu tố quy mô và chất lượng của đối tượng khách hàng mà mình nhắm đến. Đây là cơ sở để các chi nhánh triển khai hoạt động phù hợp với chiến lược được xây dựng.
Hai là, chính sách tín dụng cần phải được cải thiện theo hướng đầy đủ các nội dung liên quan đến hoạt động tín dụng và quản trị RRTD. Trong đó, phải trình bày chi tiết các quy định của ngân hàng trong hoạt động tín dụng làm kim chỉ nam cho các bộ phận trong quá trình triển khai. Chú trọng đến quy trình tín dụng, các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng như đối tượng được vay vốn, giới hạn cấp tín dụng, các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng.
Ba là, ngân hàng cần chú trọng xây dựng và tăng cường bộ máy quản trị RRTD. Đặc biệt, bộ máy quản trị RRTD cần đảm bảo tính độc lập trong xử lý các khoản cho vay giữa cán bộ tín dụng, cán bộ quản lý nợ với cán bộ quản trị RRTD, cán bộ thẩm định. Điều này giúp hạn chế việc xảy ra rủi ro đạo đức cũng như tăng tính khách quan, khoa học trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng. Bốn là, đội ngũ nguồn nhân lực cần thường xuyên đào tạo và bồi dưỡng kiến thức nhằm nâng cao năng lực đánh giá, phân tích RRTD cho cán bộ thẩm định RRTD, cán bộ rủi ro chuyên trách, từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia về quản trị RRTD. Năm là, hệ thống công nghệ thông tin quan trọng trong việc lưu trữ, phân tích và tổng hợp thông tin trong hoạt động giám sát RRTD, do đó, cần chú trọng phát triển hệ thống công nghệ thông tin.
Kết luận chương 1
Hoạt động tín dụng là hoạt động chính yếu và mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng, tuy nhiên hoạt động tín dụng lại mang nhiều rủi ro đến từ nhiều phía: khách hàng, nội bộ ngân hàng hay môi trường kinh tế -xã hội –chính trị với những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau.
Chương 1 tác giả đã đưa ra các khái niệm, định nghĩa về tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng cũng như trình bày những nguyên nhân phát sinh rủi ro và trình bày lợi ích về tiêu chuẩn Basel –một trong những tiêu chuẩn quốc tế hiện đại được áp dụng tại các ngân hàng trên thế giới và Việt Nam thông qua các bài học kinh nghiệm quản trị RRTD tại các NHTM lớn. Những nội dụng lý thuyết chương 1 sẽ là cơ sở để tác giá đánh giá tình trạng hoạt động đang diễn ra tại Ngân hàng TMCP Quốc tể Việt Nam cả về hoạt động tín dụng lẫn hoạt động giám sát rủi ro tín dụng. Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB […]