Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

NỘI DUNG TÓM TẮT

Tiêu đề: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Tóm tắt:

Chiến lược kinh doanh hoàn thiện là chiến lược vừa khai thác được tối ưu nguổn lực của doanh nghiệp vừa kiểm soát được rủi ro trong quá trình kinh doanh. Tăng trưởng an toàn và bền vững luôn là tiêu chí các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội hướng đến. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc số hóa quy trình sẽ hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu nguồn lực cũng như hỗ trợ kiểm soát rủi ro trong kinh doanh, tôi đã quyết định chọn đề tài “Số hóa quy trình cấp tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín” để thực hiện nghiên cứu với phương pháp khoa học là phương pháp định tính.

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên cứu: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thu thập và phân tích số liệu …. Kết hợp các phương pháp nghiên cứu nêu trên đánh giá khách quan thực trạng số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank. Trên cơ sở đánh giá thực trạng tác giả sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện công tác số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank đến năm 2025.

Từ khóa: số hóa, quy trình cấp tín dụng, Sacombank

ABSTRACT

Title: Digitalizating the credit procedure at Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank.

Abtracts:

A perfect business strategy is a strategy that both optimally exploits the resources of the enterprise and controls risks in the business process. Safe and sustainable growth is always the goal of businesses in all socia-economic fields. Realizing the importance of process digitalization that will help enterprises optimize resources as well as support risk control in business, I have decided to choose the topic “Digitalizating the credit procedure at Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank” to conduct research with the specific method in my case is the Qualilative Research.

In this thesis, the reseacrh mothods uesd by the author are analysis and systhesis methods, data and documentary collection and analysis methods…The combine application of these methods will objectively assess the status of digitalization of the the credit procedure at Sacombank. Based on the assessment of the current situation, the author will offer specific solutions to improve the digitalization of the credit procedure at Sacombank by 2025.

Keywords: digitalization, credit procedure, Sacombank.

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Số hóa các dịch vụ ngân hàng đã tăng cường nỗ lực hướng tới loại bỏ các thách thức liên quan đến khoảng cách địa lý trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính (Schweizer, 2019). Ngân hàng số không chỉ cho phép các ngân hàng trong nước tiếp cận số lượng khách hàng cao hơn mà còn cải thiện tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng bằng giảm chi phí hoạt động trong các tổ chức tài chính (Pirainen, 2017). Do đó, các dịch vụ được cung cấp được cho là sẽ tăng sức hấp dẫn đối với người tiêu dùng ngân hàng và các bên liên quan (Weiss và Ndemo, 2017).

Các dịch vụ ngân hàng như (dịch vụ tài khoản, Dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân quỹ) có thể được truy cập thông qua máy ATM, ngân hàng trên máy tính, ngân hàng qua email và ngân hàng di động. Việc sử dụng công nghệ tài chính (FINTECH) tạo điều kiện tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính. Với công nghệ này, khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản và xem lại thông tin tài khoản của mình. Omariba và cộng sự (2012) lập luận rằng, khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng số có thể mở tài khoản ngân hàng thông qua video được phát rộng trên trình duyệt web của họ, chuyển tiền, đáp ứng thời hạn quy định, tạo điều kiện tiết kiệm, khuyến khích chuyển tiền và tạo điều kiện trả nợ mà trước đây không thể quan tâm.

Việc áp dụng công nghệ mới còn giúp việc cấp tín dụng dễ dàng hơn (Sharma, 2019). Các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Thụy Điển, Vương quốc Anh, Tây Ban Nha và Pháp, những người sáng lập cốt lõi của mạng kỹ thuật số hầu như không phải đối mặt với thách thức kết nối mạng kém trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính (Porkelsson, 2017). Lục địa châu Phi cụ thể hơn là Sahara và Châu Phi cận Sahara, không xa việc sử dụng dịch vụ ngân hàng số. Nó đã chuyển từ hệ thống ngân hàng thủ công sang ngân hàng số vào cuối những năm 1980 và 1990 (Pasola và Reixach, 2001). Tuy nhiên, các quốc gia như Nam Phi, Mauritius, Tunisia và Ai Cập đã phát triển các dịch vụ ngân hàng số như Ngân hàng Phát triển Châu Phi (2015) đã đề cập. Sự tiến bộ của công nghệ ở các quốc gia này đã tạo điều kiện cho việc tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng số thông qua truy cập các dịch vụ mạng được đề cập là một trong những hạn chế cản trở ngành tài chính kỹ thuật số. Các quốc gia như Sudan, Somalia được cho là có khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng kém do công nghệ kém như trích dẫn của Aguayo (2020).

Yêu cầu chuyển đổi số doanh nghiệp, chuyển đổi phương thức làm việc từ trực tiếp sang trực tuyến, áp dụng văn phòng không giấy đã đặt các doanh nghiệp cũng như ngân hàng trước yêu cầu cao trong việc kết hợp các giải pháp/ứng dụng công nghệ như: phương thức xác thực như dữ liệu điện tử, chữ ký số, mã định danh, chương trình xử lý dữ liệu từ xa… để hoạt động kinh doanh được duy trì liên tục. Yêu cầu này được chứng minh là cấp thiết hơn khi xảy ra những biến cố bất thường ảnh hưởng đến hoạt động giao lưu kinh tế, đến đời sống xã hội như đại dịch COVID19 trên toàn cầu bắt đầu từ năm 2020. Từ bối cảnh chung đó, năm 2022 đã được các ngân hàng xác định là một năm quan trọng trong việc đẩy mạnh chiến lược số hóa để gia tăng trải nghiệm của khách hàng và đáp ứng nhu cầu quản trị của chính nội bộ ngân hàng đó. Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Trong cơ cấu kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam, tín dụng là mảng kinh doanh chiếm tỷ trọng khá cao, được vận hành và kiểm soát bởi một hệ thống quy trình, văn bản phức tạp đòi hỏi đơn vị cấp tín dụng phải tuân thủ mà vẫn phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh và kiểm soát được rủi ro. Trước áp lực tuân thủ các Hiệp ước Quốc tế trong kinh doanh ngân hàng, áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng và đòi hỏi gia tăng trải nghiệm của khách hàng trong bối cảnh công nghệ đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội, các NHTM Việt Nam đã và đang tăng tốc trong việc ứng dụng công nghệ số trong cả sản phẩm dịch vụ cũng như ứng dụng số trong quản trị điều hành, nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh cũng như tăng cường công tác quản trị rủi ro trong quá trình kinh doanh. Tính đến nay hầu hết các NHTM lớn tại thị trường Việt Nam đã và đang thực hiện số hóa hoạt động cấp tín dụng khi cung cấp một số sản phẩm tín dụng qua các kênh ứng dụng số, ngân hàng số, ngân hàng điện tử…cũng như tăng tốc chuyển đổi số các kênh giao tiếp nội bộ.

2. Tính cấp thiết của đề tài

Qua hơn 31 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đã khẳng định thị phần và vị thế trên thị trường tài chính Việt Nam khi cung ứng các sản phẩm dịch vụ đa dạng đến với khách hàng. Dù đang trong quá trình tái cấu trúc toàn diện nhưng kết quả kinh doanh của ngân hàng vẫn có sự chuyển biến tích cực. Đầu năm 2020 Sacombank đã chính thức triển khai áp dụng tiêu chuẩn Basel 2 trong quản trị kinh doanh, đồng thời cũng triển khai các chương trình/ứng dụng nội bộ trong hầu hết quy trình hoạt động nhằm mục tiêu cải thiện hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực quản trị điều hành.

Một trong các hệ thống nội bộ được vận hành và đi vào hoạt động chính là Hệ thống khởi tạo, phê duyệt hồ sơ tín dụng (Loan Origination System – LOS) với các chức năng chính là quản lý hạn mức, khoản vay, tài sản bảo đảm, là nguồn dữ liệu đầu vào hệ thống Core Banking của các giao dịch cấp tín dụng, đồng thời hệ thống cũng cung cấp các dữ liệu báo cáo phục vụ công tác quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn Basel 2…

Với những yêu cầu và giá trị thiết thực nêu trên, việc số hóa quy trình tín dụng bằng các hệ thống, chương trình công nghệ thông tin là hết sức cần thiết, có ý nghĩa đóng góp quan trọng nhằm thực hiện thành công đề án phát triển, tái cấu trúc, gia tăng năng lực cạnh tranh, quản trị rủi ro tín dụng trên phạm vi toàn hàng trong chu kỳ chiến lược đến 2025 – 2030 của Sacombank. Tuy nhiên trong quá trình triển khai hoạt động số hóa quy trình cấp tín dụng có nhiều vấn đề nảy sinh như: chuẩn hóa dữ liệu, đồng bộ quy trình giữa thực tế và hệ thống, cập nhật và cải tiến sản phẩm trên hệ thống, công tác trích xuất dữ liệu báo cáo theo yêu cầu quản trị điều hành và quản lý rủi ro vẫn còn nhiều vướng mắc, thách thức trong quá trình chuyển đổi. Một ví dụ cơ bản nhất là về công tác kết chuyển, đấu nối dữ liệu hiện hữu của ngân hàng vào hệ thống mới gặp nhiều khó khăn trong việc đồng bộ dữ liệu hoặc cấu trúc dữ liệu cũ chưa thật sự tương thích với cơ sở dữ liệu mới. Đó là lí do tôi chọn đề tài “Số hóa quy trình cấp tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp.

3. Mục tiêu của đề tài

3.1 Mục tiêu tổng quát

Phân tích các cơ sở lý thuyết liên quan đến hoạt động cấp tín dụng, quy trình cấp tín dụng và hoạt động số hóa, so sánh đối chiếu với thực trạng hoạt động số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank, từ đó tìm ra các hạn chế và đề xuất các giải pháp để góp phần hoàn thiện công tác số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank.

3.2 Mục tiêu cụ thể

  • Phân tích, đánh giá thực trạng số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank giai đoạn 2018 – 2022.
  • Đề xuất, kiến nghị các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank.

4. Câu hỏi nghiên cứu

  • Thực trạng số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank hiện nay?
  • Giải pháp nào cần thực hiện để hoàn thiện việc số hóa quy trình cấp tín dụng và vận hành quy trình thuận lợi tại Sacombank trong thời gian tới?

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: số hóa quy trình cấp tín dụng.
  • Không gian nghiên cứu: tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
  • Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2018 đến 2022.

6. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp định tính được sử dụng trong bài gồm:

Phương pháp tổng hợp: tổng hợp các lý thuyết liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động ngân hàng nói chung và quy trình cấp, kiểm soát rủi ro tín dụng nói riêng. Tổng hợp các dữ liệu, thông tin thực tế để có cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cấp tín dụng tại Sacombank.

Phương pháp phân tích, so sánh: phân tích dữ liệu thực tế, so sánh kết quả thực hiện trước và sau khi ứng dụng công nghệ trong quy trình cấp tín dụng để đánh giá kết quả triển khai ứng dụng công nghệ vào quy trình cấp tín dụng.

Phương pháp khảo sát, phỏng vấn chuyên gia để thu thập ý kiến các đơn vị và người dùng sử dụng hệ thống LOS tại Sacombank nhằm tìm tìm ra ưu, nhược điểm khi triển khai LOS giai đoạn 2018 – 2022 làm cơ sở rút ra các kết luận về công tác số hóa quy trình cấp tín dụng. Thông tin khảo sát gồm:

Đối tượng khảo sát: đội ngũ nhân sự được cấp quyền thao tác trên hệ thống (Chuyên viên khách hàng, Giao dịch viên, Chuyên viên quản lý tín dụng, Kiểm soát viên/Các cấp lãnh đạo).

  • Thời gian khảo sát: tháng 9/2022.
  • Nội dung khảo sát: mức độ nắm bắt hệ thống, mức độ hài lòng của người dùng đối với hệ thống LOS cũng như thu thập các nội dung kiến nghị cần cải tiến, phương thức đào tạo sử dụng hệ thống.

7. Đóng góp đề tài

Luận văn chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank giai đoạn 2018 – 2022.

Đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank.

Đề tài mang tính ứng dụng được thực hiện trong quá trình công tác tại Sacombank, đồng thời, có thể phát triển, xây dựng các phần mềm, ứng dụng, chương trình tích hợp với hệ thống LOS để phục vụ cho ban lãnh đạo trong hoạt động kiểm soát rủi ro, phân hạng khách hàng, chấm điểm xếp hạng tín dụng, truy xuất báo cáo theo quy định hiện hành…

8. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

Trong bối cảnh vận động và phát triển của thế giới hiện nay, công nghệ thông tin và tài chính ngân hàng đóng vai trò quan trọng cũng như tính liên kết giữa hai lĩnh vực ngày càng chặt chẽ. Ngoài ứng dụng công nghệ trong các sản phẩm số của mình, ngân hàng cũng là một trong những đơn vị vận hành nhiều hệ thống, chương trình công nghệ trong quá trình hoạt động và tác nghiệp.

Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu như:

Tác giả Bùi Văn Trịnh và Phạm Minh Trí với đề tài “Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp”, tạp chí ngân hàng, số tháng 11/2022.

Bài viết của tác giả cho thấy ứng dụng công nghệ số trong các hoạt động ngân hàng tại Việt Nam đã và đang có những dấu hiệu tích cực đến tình hình hoạt động kinh doanh, tối ưu hệ thống quy trình nghiệp vụ nội bộ cũng như khả năng cung ứng các sản phẩm dịch vụ đến với khách hàng. Theo đó chuyển đổi số gồm 3 giai đoạn chính là: một là giai đoạn số hóa, hai là chuyển đổi kỹ thuật số và cuối cùng là tái tạo số; trong đó tại từng giai đoạn việc ứng dụng các công nghệ mới sẽ từng bước được thiết lập để từ đó đạt được các mục tiêu như nâng cao năng lực xử lý thông tin, chi phí phát sinh thấp, cuối cùng là cung ứng đến khách hàng những sản phẩm tối ưu nhất, đảm bảo lợi ích và tính tiến lợi của khách hàng xuyên suốt quá trình giao dịch với ngân hàng.

Tác giả Phạm Tiến Dũng với đề tài “Chuyển đổi số – Xu hướng tất yếu trong hoạt động ngân hàng”, tạp chí Chính sách và sự kiện số 1 – tháng 1/2021. Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Bài viết đã đề cập việc NHNN yêu cầu các NHTM phải xây dựng và thực hiện chuyển đổi số trong giai đoạn 2020 – 2025 để đạt mục tiêu “chuẩn hóa tự động, nghiệp vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ…phát triển các dịch vụ ngân hàng số trên không gian mạng”. Theo kết quả khảo sát tháng 9/2020 của tác giả thì hơn 88% NHTM tại Việt Nam chọn mô hình số hóa cả kênh giao tiếp khách hàng (front end) và kênh nghiệp vụ nội bộ (back end) hoặc số hóa toàn bộ, chỉ 6% NHTM chọn số hóa kênh giao tiếp khách hàng. Ngoài đầu tư, tích hợp công nghệ vào sản phẩm dịch vụ, hệ thống các NHTM còn chú trọng đầu tư hạ tầng công nghệ nhằm đảm bảo hoạt động ổn định, an toàn bảo mật dữ liệu, giảm thiểu rủi ro hệ thống. Khuyến nghị được tác giả đưa ra là công tác phát triển hạ tầng công nghệ cần được thực hiện đồng bộ, tập trung, thống nhất, có khả năng tích hợp đa hệ thống nhằm hạn chế rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động của các ngân hàng.

Tác giả Nguyễn Hồng Hạnh với đề tài nghiên cứu “Số hóa trong tài trợ thương mại quốc tế nhằm ứng phó ảnh hưởng của đại dịch Covid 19”, tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 231 – tháng 08/2021.

Đề tài đặt vấn đề về việc đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng trong bối cảnh phong tỏa bởi Covid – 19 và vấn đề này đã được giải quyết bằng phương thức số hóa. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu thứ cấp trong và ngoài nước, tác giả đã trả lời được các câu hỏi là: (i) Quy trình truyền thống dựa trên chứng từ giấy của nghiệp vụ tài trợ thương mại đã gặp những thách thức gì dưới ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19? (ii) Các hình thức số hóa hoạt động tài trợ thương mại đang được các ngân hàng thực hiện như thế nào và nhận diện rủi ro phát sinh khi thực hiện số hóa?

Trong giai đoạn phong tỏa, giãn cách để phòng chống Covid, các ngân hàng đã triển khai các hình thức số hóa để đảm bảo hoạt động tài trợ thương mại được vận hành liên tục như chữ ký điện tử (e – signature), chứng từ điện tử (e – documents), đẩy mạnh giao dịch các nền tảng số (digital platform). Dù còn nhiều rủi ro phát sinh trong quá trình triển khai số hóa tài trợ thương mại như khó đảm bảo tính xác thực của giao dịch, nguy cơ lộ thông tin nội bộ liên quan đến khách hàng/ngân hàng, đối diện với nguy cơ lừa đảo của tội phạm công nghệ…nhưng bước đầu việc thực hiện số hóa cho thấy các ngân hàng đã bắt kịp xu hướng vận động của mảng tài trợ thương mại tương lai nói riêng và của lĩnh vực tài chính ngân hàng nói chung.

Tác giả Nguyễn Quang Nhi với bài nghiên cứu “Công nghệ số trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng”, chuyên đề Công nghệ và Ngân hàng số, tạp chí Chính sách và sự kiện, số 08/2020 cho thấy ngành ngân hàng đã và đang ứng dụng công nghệ trong việc quản lý vận hành hệ thống, nâng cao chất lượng dịch vụ như tạo nền tảng cho sự ra đời của các sản phẩm mới.

Bài viết của tác giả nghiên cứu ứng dụng công nghệ số Blockchain vào hoạt động thanh toán quốc tế (cụ thể là giao dịch thư tín dụng – LC) tại ba ngân hàng như Barclays, HSBC (Anh) và ING Bank (Đức). Dù chỉ mới thí điểm một số trường hợp và chưa triển khai đại trà nhưng thực tiễn đã cho thấy việc ứng dụng các công nghệ mới đã giúp các ngân hàng tiết giảm chi phí giao dịch, đảm bảo sự an toàn minh bạch và hạn chế rủi ro gian lận/ giả mạo chứng từ trong hoạt động thanh toán quốc tế. Đối với hiện trạng thực tế tại Việt Nam, tác giả nêu rõ việc thử nghiệm công nghệ số trong thanh toán quốc tế mới chỉ áp dụng qua vài giao dịch như: giao dịch nhập khẩu hàng hóa giữa khách hàng của HSBC Việt Nam và HSBC Hàn Quốc thông qua ứng dụng Voltron (nền tảng của Blockchain). Hoặc giao dịch nhập khẩu hàng hóa giữa khách hàng của BIDV Việt Nam phối hợp với các ngân hàng Standard Chartered

Thái Lan, ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cũng như giao dịch thư tín dụng giữa khách hàng của HD Bank và Vietinbank.

Dù còn nhiều hạn chế khách quan và chủ quan trong việc ứng dụng công nghệ số, cần có sự đồng thuận toàn diện giữa các bên liên quan trong hoạt động thanh toán quốc tế nhưng bài nghiên cứu của tác giả đã đưa ra hàm ý xu thế công nghệ mới ngày càng phát triển mạnh mẽ đã đặt ra nhu cầu cấp thiết cho các ngân hàng trong việc đổi mới quy trình, sản phẩm dịch vụ với nền tảng ứng dụng công nghệ cao trong toàn diện mọi hoạt động.

Bài nghiên cứu của (Gimblett, 2018) đã đề cập đến vấn đề số hóa quy trình quản lý rủi ro hoạt động tại hệ thống các ngân hàng Thụy Sỹ. Theo đó, quản lý rủi ro hoạt động là một trong những vấn đề quan trọng đối với các ngân hàng, cùng với sự phát triển của công nghệ số hay còn gọi là số hóa, nhu cầu và đánh giá của khách hàng đối với ngân hàng ngày càng khắt khe, điều này đã buộc các ngân hàng phải đánh giá lại toàn bộ mô hình và quy trình kinh doanh của họ, từ đó công tác quản lý rủi ro hoạt động cũng sẽ bị thay đổi từ sự thay đổi/đánh giá lại này. Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Dựa trên kết quả phỏng vấn định tính và khảo sát các chuyên gia tại bốn ngân hàng khác nhau tại Thụy Sỹ, bài viết đưa ra ý kiến rằng mức độ tác động của số hóa đến công tác quản lý rủi ro hoạt động là ở mức vừa phải, không có rủi ro hoạt động mới phát sinh trong tương lai, mà rủi ro chính các ngân hàng phải đối mặt liên quan đến hoạt động số hóa chính là rủi ro mạng, rủi ro mô hình và rủi ro lan tỏa. Tác giả cũng khẳng định số hóa quy trình đóng vai trò quan trọng trong phần thượng nguồn của công tác quản lý rủi ro hoạt động, hỗ trợ cho con người nhưng hoạt động này không thể hoàn toàn thay thế con người, khi hệ thống số hóa đi vào hoạt động thì tác nghiệp của đội ngũ nhân sự phụ trách công tác này sẽ có sự thay đổi.

Nghiên cứu của (Kitsios và c.s., 2021) đã cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng là một quá trình liên tục ảnh hưởng đến môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức thông qua việc thiết kế lại mô hình kinh doanh và quy trình vận hành nội bộ. Bằng phương pháp hồi quy đa biến và mô hình chấp nhận công nghệ, phạm vi bài nghiên cứu là đánh giá mức độ chấp nhận sự thay đổi công nghệ trong tác nghiệp hàng ngày của đội ngũ nhân sự tại hệ thống ngân hàng Hy Lạp.

Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng đều có lợi cho cả hai bên tổ chức lẫn khách hàng khi đạt được tiêu chí tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí hoạt động và tối ưu hóa các phương pháp giám sát, kiểm soát và quản lý rủi ro. Covid – 19 cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số tại các ngân hàng, từ đó mang lại thách thức và cơ hội khi quá trình số hóa ngày càng được tăng tốc. Thông qua phương pháp phân tích hồi quy đa biến đối với dữ liệu khảo sát, tác giả đã khẳng định đa số nhân viên ngân hàng đồng ý rằng số hóa sẽ giúp họ thực hiện khối lượng công việc lớn hơn với thời gian ngắn hơn và dễ dàng hơn, đồng thời kết quả phân tích cũng cho thấy thái độ tích cực với việc chấp nhận bắt buộc phải sử dụng các chương trình/ứng dụng tích hợp công nghệ mới trong tác nghiệp hàng ngày. Kết luận cuối cùng của tác giả nêu rõ chuyển đổi số, số hóa là việc làm phù hợp cho các tổ chức ngân hàng trong bối cảnh môi trường kinh tế ngày càng nhiều ngành dịch vụ được thúc đẩy áp dụng công nghệ nhằm mục tiêu phục vụ khách hàng và cải thiện quy trình nội bộ tốt hơn.

Số hóa là một trong những xu hướng chính trong sự phát triển của ngành tài chính (Yadgarov et al. 2019). Cải thiện hiệu quả công nghệ của các quy trình ngân hàng có thể giúp đơn giản hóa và tối ưu hóa các hoạt động truyền thống, ngăn chặn gian lận, tạo ra các ưu đãi mới và được cá nhân hóa hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ các vùng sâu vùng xa và giảm chi phí vận hành (Artemenko và Zenchenko 2021; Kitsios et al .2021). Bài nghiên cứu của Begg (2016) đưa ra 5 lý do cần hiện đại hóa và cải tiến quy trình tín dụng trong công ty. Hiệu quả của quy trình, nâng cao tiêu chuẩn (tính minh bạch và nhất quán), dữ liệu, quyết định tín dụng tốt hơn và cải thiện dịch vụ khách hàng, mà Rehfisch (2018) sẽ bổ sung cho các yêu cầu quy định (Begg, 2016; Rehfisch, 2018).

Các đề tài, công trình nghiên cứu nêu trên đã phần nào cho thấy ứng dụng công nghệ số (chuyển đổi số) là một trong những xu hướng được lĩnh vực tài chính ngân hàng tiên phong triển khai, trong đó tiêu biểu là số hóa. Tuy nhiên hạn chế của các đề tài là chưa có bài nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Gòn Thương Tín (Sacombank), chưa phân tích đánh giá cụ thể cho từng bối cảnh ngân hàng cũng như chưa nghiên cứu về số hóa quy trình cấp tín dụng (hoạt động chính yếu và quan trọng hàng đầu của các ngân hàng). Đó là khoảng trống khoa học mà đề tài nghiên cứu lần này sẽ đi vào phân tích và đánh giá.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG  CẤP TÍN DỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG SỐ HÓA

1.1 Cơ sở lý thuyết về cấp tín dụng, quy trình cấp tín dụng

1.1.1 Khái niệm tín dụng

Khái niệm tín dụng và quan hệ tín dụng đã hình thành và tồn tại từ rất lâu trong chế độ xã hội loài người cùng với nhiều hình thái kinh tế xã hội, xuất phát từ nhu cầu giao thương, hình thức trao đổi thô sơ nhất là hàng hóa với hàng hóa. Theo đó trong nền kinh tế hàng hóa, luôn luôn có tình trạng người thừa vốn, có nhiều vốn nhàn rỗi đồng thời cũng có người đang thiếu hụt vốn, từ đó phát sinh một quan hệ kinh tế xã hội mà vốn được chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu với điều hiện có hoàn trả kèm theo phần thặng dư được gọi là tiền lãi (đối với người có thừa vốn) hoặc giá vốn (đối với người nhận chuyển giao giao vốn nhàn rỗi từ người khác). Đây chính là quan hệ tín dụng (Ludwg Von Mises, 2013).

Khái niệm tín dụng được đưa ra là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trên nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ gốc và lãi trên cơ sở đáp ứng nhu cầu giữa chủ thể, là quan hệ bình đẳng các bên cùng có lợi.

Mark (2013) cho rằng bản chất của tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị (bằng tiền hoặc hiện vật) trong một khoảng thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng, được hoàn trả khi tới hạn với phần giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Phần giá trị chênh lệch này được gọi là lãi suất tín dụng. Điểm khác biệt giữa quan hệ tín dụng với các quan hệ kinh tế khác là sự chuyển giao quyền sử dụng vốn trong một thời hạn nhất định mà không phải là sự chuyển giao quyền sở hữu phần vốn giữa người cho vay và người cho vay. Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Quan hệ tín dụng ra đời do nhu cầu giao thương và trao đổi hàng hóa, khi các hoạt động này ngày càng phát triển thì nhu cầu vốn của các chủ thể, thành phần tham gia trong nền kinh tế sẽ ngày càng cao, đa dạng và phức tạp. Từ đó hoạt động tín dụng ngân hàng đã ra đời và đóng vai trò kênh điều tiết vốn ngày càng quan trọng cho nền kinh tế.

Tín dụng ngân hàng thể hiện mối quan hệ vay mượn vốn giữa ngân hàng và khách hàng là các cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó điểm khác biệt với khái niệm tín dụng sơ khởi là nguồn vốn không đi trực tiếp từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn mà luân chuyển thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng, điểm chung là vẫn tuân thủ bản chất của mối quan hệ tín dụng khi người vay sẽ hoàn trả vốn sau một thời hạn kèm theo phần lãi vay (Macleod, 1855).

“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” và “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy hoạt động vay mượn của ngân hàng đối với khách hàng được tách bạch ra thành một nghiệp vụ khác gọi là nhận tiền gửi (còn gọi là huy động vốn), còn hoạt động ngân hàng cho vay đối với khách hàng được gọi là cấp tín dụng.

Trong phạm vi của luận văn, tín dụng sẽ được xem xét ở khía cạnh ngân hàng là bên cấp tín dụng cho khách hàng (người được cấp tín dụng) thông qua các phương thức nêu trên.

Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng, với các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản (Tiền tệ) cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.

Về cơ bản, trong các ngân hàng nhà nước hiện nay tín dụng được chia thành 2 mảng:

Tín dụng cá nhân: nhu cầu tiêu dùng (mua nhà, mua xe, du học, phục vụ nhu cầu tiêu dùng), nhu cầu sản xuất kinh doanh (bổ sung vốn lưu động, thuê (sửa chữa) bất động sản phục vụ sản xuất kinh doanh, góp vốn hợp tác kinh doanh, máy móc thiết bị)

Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh như: cho vay bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản, thanh toán công nợ khác (trừ trường hợp vay trả nợ ngân hàng khác).

1.1.2 Phân loại tín dụng Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Hoạt động cấp tín dụng được phân loại theo nhiều tiêu chí cơ bản:

  • Phân loại theo phương thức tài trợ: gồm

Cho vay: là hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng sẽ chuyển giao hoặc cam kết chuyển giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào mục đích xác định trên nguyên tắc thanh toán đầy đủ gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định. Đây là hình thức cấp tín dụng phổ biến nhất trong tất cả các nghiệp vụ, đóng vai trò quan trọng mang lại lợi nhuận cao trong hoạt động ngân hàng.

Chiết khấu: là việc mua lại có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.

Bảo lãnh: là hình thức tài trợ theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện được hoặc thực hiện chưa đúng nghĩa vụ đã cam kết.

Bao thanh toán: theo đó tổ chức tín dụng cấp tín dụng cho bên mua hoặc bên bán bằng việc mua lại có truy đòi các khoản phải trả hoặc khoản phải thu phát sinh từ giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng đã giao kết giữa hai bên mua/bán.

Cho thuê tài chính: là việc tổ chức tín dụng bỏ vốn mua tài sản theo nhu cầu của khách hàng và cho khách hàng thuê lại theo thỏa thuận giữa các bên, kèm theo ưu quyền được mua lại chính tài sản đó khi kết thúc hợp đồng thuê.

  • Phân loại theo kỳ hạn: gồm

Tín dụng ngắn hạn: là các khoản cấp tín dụng có thời hạn vay tối đa 1 năm. Các khoản cấp tín dụng này thường được tài trợ cho các nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc nhu cẩu tiêu dùng của cá nhân.

Tín dụng trung hạn: là các khoản cấp tín dụng có thời hạn vay trên 1 năm và tối đa 5 năm. Thường được dùng để tài trợ cho các hoạt động mua sắm đầu tư máy móc thiết bị, tài sản cố định có quy mô nhỏ hoặc thời hạn thu hồi vốn nhanh của cả cá nhân và doanh nghiệp.

Tín dụng dài hạn: là các khoản cấp tín dụng có thời hạn vay trên 5 năm. Thường được áp dụng đối với các khoản tín dụng có mục đích tương tự như trên nhưng có quy mô lớn hoặc thời gian thu hồi vốn là lâu dài.

  • Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: gồm Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Tín dụng phục vụ hoạt động kinh doanh: là việc tổ chức tín dụng cấp tín dụng đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn không thuộc mục đích phục vụ đời sống, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ sở hữu.

Tín dụng phục vụ đời sống: là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng cá nhân để thanh toán chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân và gia đình của cá nhân đó.

  • Phân loại theo đối tượng khách hàng:

Tín dụng đối với khách hàng cá nhân: tài trợ cho các nhu cầu của đối tượng khách hàng là cá nhân, mục đích chủ yếu là hoạt động tiêu dùng và sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ.

Tín dụng đối với khách hàng tổ chức: tài trợ nhu cầu của đối tượng khách hàng là tổ chức như các loại hình doanh nghiệp, mục đích tài trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư dự án…

Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác nhau theo quy định của ngân hàng nhà nước.

Trong nền kinh tế thị trường, hiện nay các ngân hàng thương mại đang cung cấp cho doanh nghiệp và cá nhân những hình thức tín dụng sau:

Tín dụng ngắn hạn: là hình thức tín dụng có thời hạn dưới 1 năm. Đối với doanh nghiệp đa số là các khoản vay huy động và bổ sung vốn lưu động, còn với cá nhân là các khoản vay phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cấp thiết.

Tín dụng trung và dài hạn: là hình thức tín dụng có thời hạn trên 1 năm. Đối với doanh nghiệp là các khoản vay đầu tư sản xuất kinh doanh (bất động sản, máy móc thiết bị…). Đối với cá nhân là các khoản vay tiêu dùng, phục vụ nhu cầu đời sống như: vay mua ô tô, mua nhà để ở, sửa chữa bất động sản, du học sinh….

1.1.3 Chức năng của tín dụng ngân hàng

Tập trung và phân phối cho nền kinh tế: Đó là sự phân phối lại các nguồn vốn tiền tạm thời nhãn rỗi từ người này sang người khác thông qua quá trình huy động vốn và cho vay.

Chức năng sinh lợi: tín dụng tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng.

Kiểm soát hoạt động của nền kinh tế thông qua hoạt động huy động và cho vay. Qua việc quản lý tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, ngân hàng thấy được tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của các đơn vị cá nhân. Và ngân hàng sẽ kiểm soát mọi việc sử dụng vốn của các đơn vị cá nhân trước, trong và sau khi cho vay.

1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng  Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Hoạt động tín dụng góp phần tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại mở rộng được các hoạt động kinh doanh khác nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng.

Tín dụng được xem như là xương sống của ngân hàng, quyết định sự tồn tại phát triển của mọi ngân hàng thương mại. Và cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định vị thế của ngân hàng.

Tín dụng đã giải quyết được nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất được liên tục.

Tín dụng là kênh nhà nước có thể thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, đồng thời cũng là công cụ chủ yếu đề đầu tư cho các ngành kinh tế then chốt và các ngành kinh tế kém phát triển.

Tín dụng ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ kiểm toán, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng nền kinh tế trong hoạt động kinh doanh vì các ngân hàng chỉ cho vay vốn khi các doanh nghiệp làm ăn có lãi.

Tín dụng có vai trò quan trọng trong việc thúc đấy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu quốc tế. Là cầu nối đến nền kinh tế các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển trong việc mở rộng sản xuất hàng hóa.

1.1.5 Khái niệm quy trình cấp tín dụng

Quy trình cấp tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, qui định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng, bao gồm các bước nghiệp vụ kể từ khi bắt đầu cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng.

Đây là một quy trình gồm nhiều bước mang tính liên hoàn, theo một trật tự nhất định, các giai đoạn trong quy trình có tính liên kết chặt chẽ và kết quả của giai đoạn trước sẽ là tiền đề triển khai thực hiện các giai đoạn sau.

Có nhiều cách để phân chia quy trình cấp tín dụng, cơ bản nhất là chia theo trình tự diễn biến thời gian thì quy trình được chia thành 3 giai đoạn cơ bản: trước khi cấp tín dụng (gồm tiếp nhận nhu cầu của khách hàng, thẩm định thực tế và lập hồ sơ vay vốn), trong khi cấp tín dụng (gồm phân tích, xếp hạng, ra quyết định cấp tín dụng và tiến hành giải ngân) và sau khi cấp tín dụng (gồm kiểm tra giám sát khoản vay và thanh lý hợp đồng tín dụng).

1.1.6 Sự cần thiết phải thiết kế và vận hành quy trình cấp tín dụng

Cấp tín dụng là một trong những chức năng quan trọng của ngân hàng thương mại, thu nhập từ hoạt động này chiếm tỷ trọng tương đối trong cơ cấu lợi nhuận, tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro có thể gây tổn thất đáng kể cho ngân hàng bắt nguồn từ hai yếu tố: yếu tố bên ngoài (thường là môi trường, chính sách vĩ mô) và yếu tố bên trong (thường là những sai sót trong quá trình quản lý và các hoạt động bất hợp pháp). Để có thể nhận diện và kiểm soát rủi ro thì hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng cần phải được giám sát chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả tính tuân thủ các chính sách, nội dung điều hành của ngân hàng. Để đạt được các vấn đề nêu trên, ngân hàng sẽ xây dựng chính sách tín dụng và thiếp lập quy trình cấp tín dụng bằng văn bản nhằm làm cơ sở áp dụng trong suốt quá trình cấp tín dụng đối với khách hàng.

Thiết lập và xây dựng quy trình cấp tín dụng cũng chính là một trong những tiêu chí căn bản trong quản trị ngân hàng, khi công việc này được thực hiện tốt sẽ góp phần đáng kể trong việc xây dựng mô hình tổ chức, kiểm soát rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng và cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Việc ngân hàng thiết lập một quy trình cấp tín dụng phù hợp có các ý nghĩa như sau: Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Quy trình cấp tín dụng là văn bản nghiệp vụ bắt buộc trong nội bộ mỗi ngân hàng, thường được lập thành văn bản nhằm hướng dẫn việc triển khai thống nhất các bước, giai đoạn nghiệp vụ liên quan đến công tác cấp tín dụng tại chính ngân hàng đó. Là cơ sở để phân định quyền, trách nhiệm giữa các cá nhân, các bộ phận, phòng ban có liên quan đến công tác cấp tín dụng tại ngân hàng.  Một quy trình cấp tín dụng khoa học, hợp lý, chặt chẽ sẽ hỗ trợ cho các bên liên quan xác định được vai trò của mình và các công việc cần thực hiện tại từng giai đoạn trong toàn bộ quy trình. Từ đó các bên sẽ có thái độ và hành động đúng đắn khi thực hiện chức năng cấp tín dụng.

Dựa vào quy trình cấp tín dụng, ngân hàng sẽ tiến hành thiết lập các thủ tục hành chính phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp quy trình cũng như đảm bảo mục tiêu kiểm soát rủi ro trong quá trình hoạt động. Tiêu biểu như thiết kế các thủ tục cấp tín dụng linh hoạt và phù hợp theo từng đối tượng khách hàng, theo từng nghiệp vụ cấp tín dụng để có thể thu thập thông tin ở mức toàn diện, đầy đủ, phục vụ cho chức năng cấp tín dụng mà vẫn đảm bảo hài hòa giữa các yếu tố chăm sóc khách hàng, thẩm định tín dụng, kiểm soát rủi ro và hiệu quả kinh doanh.

Mặt khác, quy trình cấp tín dụng là tập hợp các bước nghiệp vụ đan xen lẫn nhau nhằm triển khai, kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn phát sinh tại từng thời điểm, từng giai đoạn. Thông qua việc kiểm soát triển khai các bước nghiệp vụ trong quy trình cấp tín dụng, ngân hàng có thể nhanh chóng xác định những điểm cần điều chỉnh của chính quy trình đó, cũng như hướng đào tạo trọng yếu, phân công phân nhiệm cụ thể đối với các cá nhân tham gia vào công tác cấp tín dụng. Tất cả các công việc nêu trên nhằm đảm bảo tăng cường giám sát và kiểm soát rủi ro trong công tác cấp tín dụng.

1.1.7 Nội dung quy trình cấp tín dụng:

  • Bước 1: Thu thập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng

Chứng từ thể hiện nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ tín dụng của khách hàng đối với ngân hàng chính là giấy đề nghị cấp tín dụng cùng với các chứng từ liên quan.

Do đó, nền tảng pháp lý đầu tiên của một hồ sơ tín dụng chính là hồ sơ, chứng do khách hàng cung cấp.

Tại bước này cán bộ tín dụng thực hiện các nghiệp vụ như sau: tiếp nhận nhu cầu, tư vấn sản phẩm và phỏng vấn một số thông tin cơ bản của khách hàng. Hướng dẫn khách hàng cung cấp chứng từ, tài liệu như: hồ sơ pháp lý, hồ sơ chứng minh nhu cầu sử dụng vốn và năng lực tài chính của khách hàng, hồ sơ liên quan đến các biện pháp đảm bảo tiền vay (nếu có) cùng với giấy đề nghị/phương án cấp tín dụng.

  • Bước 2: Đề xuất, thẩm định cấp tín dụng Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Đây là bước thứ hai trong quy trình cấp tín dụng được thực hiện bởi các nhân sự như cán bộ tín dụng, chuyên viên thẩm định hoặc các chức danh khác (nếu có). Đề xuất, phân tích là phân tích khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng về tính khả thi của phương án sử dụng vốn cũng như năng lực thực hiện nghĩa vụ trong suốt quá trình cấp tín dụng.

Tại giai đoạn này, cơ sở của việc phân tích, thẩm định chính là thông tin thu thập từ nhiều phương pháp thu thập khác nhau như chứng từ giấy, phỏng vấn khách hàng, các nội dung/khía cạnh về lĩnh vực có liên quan đến khách hàng. Sau khi kiểm tra, xác thực nội dung thông tin, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành đề xuất, thẩm định nội dung cấp tín dụng.

Nội dung phân tích, thẩm định: gồm 2 khía cạnh là phân tích định tính và phân tích định lượng.

Phân tích định tính: thực hiện đánh giá các yếu tố như tính pháp lý khách hàng, tính hợp lý của mục đích sử dụng vốn, các tiêu chí như nhân thân, lịch sử tín dụng, uy tín thanh toán cũng như chính bản thân khách hàng cùng các đối tượng liên quan có thuộc nhóm hạn chế/không được cấp tín dụng theo quy định hay không… Việc đánh giá, phân tích định tính này sẽ dựa trên quy định pháp luật và chính sách tín dụng, nội dung hướng dẫn cụ thể trong quy trình cấp tín dụng do mỗi ngân hàng ban hành.

Phân tích định lượng: thực hiện phân tích đánh giá các yếu tố thuộc về tài chính, dự phóng năng lực tài chính của khách hàng trong tương lai gần nhằm tìm kiếm và tiên lượng các khả năng rủi ro có thể phát sinh, khả năng suy giảm khả năng trả nợ trong toàn bộ quá trình cấp tín dụng. Phân tích định lượng gồm đánh khá về tình hình quản trị nguồn vốn và các hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính và tình hình luân chuyển vốn trên bề mặt chứng từ kết hợp với các thông tin chung của lĩnh vực hoạt động kinh doanh mà ngân hàng thu thập được trong quá trình hoạt  động.

Một vấn đề không thể thiếu trong quá trình phân tích định lượng chính là đánh giá tính hợp lý của khía cạnh “lượng” đối với nhu cầu/phương án vay vốn do khách hàng đề xuất. Nhu cầu vay sẽ được xác định tùy theo khả năng hoạt động, quy mô nguồn vốn để thực hiện phương án kinh doanh, tỷ trọng tham gia của các nguồn vốn như vốn tự có, vốn tài trợ bởi ngân hàng và vốn khác (nếu có). Thông số tiếp theo liên quan đến hoạt động cấp tín dụng cũng được ngân hàng phân tích định lượng chính là xác định sự phù hợp của thời hạn vay vốn, kỳ hạn trả nợ và các thông số này sẽ được đánh giá dựa trên hoạt động kinh doanh nói riêng của khách hàng, nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với tình hình chung của ngành nghề hoạt động cũng như quy định cụ thể trong chính sách/quy trình cấp tín dụng do ngân hàng ban hành.

Do tính chất quan trọng của công tác thẩm định trong hoạt động cấp tín dụng, là nền tảng cho việc ra quyết định nên để đảm bảo tính khách quan thì công tác cấp tín dụng ở giai đoạn trước triển khai phán quyệt hiện nay được tách bạch rõ 3 bên là đề xuất – thẩm định – phê duyệt.

  • Bước 3: Phê duyệt cấp tín dụng

Tổ chức tín dụng quyết định cấp tín dụng sau khi tiếp cận và phân tích dữ liệu khách hàng, đánh giá tài sản bảo đảm và xác định xem người tiêu dùng có khả năng trả nợ hay không, họ đã xác định rằng các điều kiện cần thiết đã được đáp ứng. Tổ chức tín dụng sẽ từ chối cho vay nếu không đáp ứng các điều kiện.

Bước 4: Triển khai phán quyết. Thực hiện triển khai hạn cấp tín dụng theo hạn mức hoặc từ chối cấp tín dụng.

Bước 5: Kiểm tra, giám sát khoản cấp tín dụng và thu nợ. Sau khi cấp tín dụng, bước tiếp theo là đánh giá và theo dõi việc sử dụng vốn vay thực sự của người đi vay, tình trạng tài sản thế chấp, tình hình tài chính của họ, v.v. để đảm bảo việc thu hồi nợ. 

1.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế và vận hành quy trình cấp tín dụng Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

  • Chính sách tín dụng của mỗi ngân hàng

Chính sách tín dụng luôn phải thỏa tiêu chí tuân thủ quy định pháp luật tại mọi thời điểm, đồng thời đây cũng là đường lối chủ trương nhằm mục đích định hướng công tác cấp tín dụng của ngân hàng được triển khai theo đúng quỹ đạo, là một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến hiệu quả của hoạt động này. Chất lượng tín dụng của bất kỳ ngân hàng nào đạt được tính hiệu quả cao đều phải xuất phát từ chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng, phù hợp với điều kiện của thị trường (Aghevli & Khan, 1980). Theo đó, chính sách này gồm nhiều chính sách khác nhau về các tiêu chí liên quan đến hoạt động cấp tín dụng như khách hàng mục tiêu, lãi suất, thời gian cho vay, hạn mức cho vay theo ngành hoặc lĩnh vực, tài sản bảo đảm…Chính sách tín dụng không mang tính chất cố định mà sẽ được ngân hàng điều chỉnh tại từng thời kỳ phú hợp với diễn biến thực tế và các chỉ số dự báo về môi trường kinh tế vĩ mô, khi có các tín hiệu tích cực thì ngân hàng sẽ ban hành chính sách nới lỏng tín dụng, ngược lại khi nhận thấy các tín hiệu tiêu cực thì sẽ điều chỉnh chính sách thắt chặt tín dụng.

  • Cấu trúc tổ chức

Cơ cấu tổ chức ảnh hưởng đến môi trường tài chính và việc áp dụng các mô hình ra quyết định của quy trình cấp tín dụng (Schäfermeyer và cộng sự, 2012; García và cộng sự, 2019). Schotten và Morais (2019) cho rằng quá trình ra quyết định của các tổ chức tài chính đòi hỏi phải đánh giá liên tục và phải đáp ứng kỳ vọng của họ một cách có hệ thống. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra rằng hoạt động tín dụng có rủi ro đáng kể và các quyết định của một nhóm không chỉ giới hạn ở việc xem xét của một cá nhân mà là nhận thức của nhiều người, sau khi đã sẵn sàng tham gia vào quá trình, có thể đóng góp vào chiều sâu của phân tích và phát huy tính quyết đoán cao hơn.

Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, phân công phân quyền cụ thể nhiệm vụ, vai trò của từng phòng ban nói chung, từng cá nhân nói riêng sẽ giúp hoạt động kinh doanh được vận hành thuận lợi, đảm bảo sự ổn định trong quá trình triển khai chiến lược kinh doanh. Đối với hoạt động cấp tín dụng, công tác thiết kế vận hành quy trình cấp tín dụng cần chú trọng vào đặc điểm phân bổ nguồn lực trong cấu trúc tổ chức nhằm phát huy hiệu quả của quy trình ở mức cao nhất, giúp ngân hàng đạt được mức tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cũng như đáp ứng nhu cầu kiểm soát rủi ro tín dụng trong quá trình tác nghiệp.

  • Yêu cầu quản trị nội bộ Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Quy trình cấp tín dụng được xây dựng nhằm mục tiêu hướng dẫn, định hướng nghiệp vụ, phân định trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị tham gia vào quá trình này, đồng thời cũng là văn bản tham chiếu để thực hiện quá trình hậu kiểm, giám sát tính tuân thủ trong quá trình triển khai cấp tín dụng. Công tác kiểm tra, giám sát nội bộ cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp ngân hàng chỉnh sửa, hoàn thiện quy trình cấp tín dụng một cách chặt chẽ trong công tác cấp tín dụng.

  • Đặc điểm của sản phẩm tín dụng

Tín dụng là nghiệp vụ phổ biến ở tất cả các ngân hàng tại Việt Nam, tuân theo quy luật cung cầu và là một trong những kênh quan trọng cung cấp vốn cho nền kinh tế. Vì vậy tính cạnh tranh trong hoạt động tín dụng giữa các ngân hàng là rất cao, thực tế các ngân hàng thiết kế sản phẩm, quy trình tín dụng đều tương đồng nhau mà sự khác biệt giữa các sản phẩm tín dụng sẽ thể hiện ở chính sách tín dụng, khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng. Đội ngũ quản lý tại ngân hàng sẽ căn cứ vào thông tin vĩ mô, diễn biến thị trường và các hàn thử biểu dự báo xu hướng để hoạch định chính sách, định hướng tín dụng trong từng thời kỳ. Ngân hàng nào làm tốt công tác này sẽ có thể tạo ra ưu thế trong thị trường cạnh tranh quyết liệt như hiện nay.

Cấp tín dụng gồm nhiều nghiệp vụ như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán…mỗi nghiệp vụ lại phân chia theo nhiều loại kỳ hạn như ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, phân chia theo mục đích tài trợ vốn, có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm. Để đảm bảo đầy đủ thông tin cũng như kiểm soát rủi ro trong quá trình cấp tín dụng, các ngân hàng sẽ quy định chi tiết bằng văn bản các tiêu chí, khía cạnh, kỹ thuật thẩm định đối với từng sản phẩm tín dụng, đòi hỏi các công việc cần thực hiện trong việc tổng hợp thông tin, cách thức nhận diện và kiểm soát rủi ro, ra quyết định cho từng trường hợp là khác nhau.

  • Cơ sở hạ tầng công nghệ

Đây là yếu tố hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh ngân hàng và chiếm tỷ trọng rất lớn trong chi phí đầu tư. Ngân hàng luôn là đơn vị tiên phong trong đầu tư về cơ sở vật chất, trụ sở văn phòng, tạo lập hình ảnh và ưu tiên hàng đầu luôn là hệ thống công nghệ thông tin. Trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu thì việc đầu tư vào công nghệ là một trong những yêu cầu bắt buộc tại các ngân hàng. Công nghệ sẽ giúp tập hợp – phân tích dữ liệu, gia tăng hiệu suất lao động, tiết kiệm thời gian trong quá trình cấp tín dụng cũng như tránh thất thoát thông tin, bảo mật dữ liệu khách hàng. Hạ tầng công nghệ ngoài vai trò quan trong công tác vận hành, đảm bảo hoạt động của ngân hàng được diễn ra một cách trơn tru, minh bạch.

Hiện nay, hạ tầng công nghệ được nâng tầm lên một vai trò mới khi trở thành một trong những kênh tiếp cận khách hàng hiệu quả nhất trong mô hình ngân hàng hiện đại, đối với hoạt động quản trị điều hành thì công nghệ đã hỗ trợ cho các nghiệp vụ ngân hàng được tác nghiệp thuận lợi trong bối cảnh kinh doanh ngày càng phức tạp cũng như là một trong những công cụ quan trọng hỗ trợ công tác kiểm soát rủi ro.

  • Chất lượng đội ngũ nhân sự

Chất lượng nhân lực là yêu cầu hàng đầu đối với mỗi ngân hàng vì nó tác động trực tiếp đến khả năng hoạt động và khả năng tạo lợi nhuận. Con người là yếu tố quyết định đến hiệu quả quản lý hiệu quả hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung (Rahman & Akhter, 2021). Các ngân hàng có thể tương đồng về vốn, sản phẩm, thị trường nhưng điểm khác biệt dễ nhận thấy chính là công tác nhân sự, được thể hiện qua các chương trình đào tạo, quy định tuyển dụng, chính sách đãi ngộ và phúc lợi đối với nhân sự. Làm tốt công tác này, ngân hàng sẽ có được đội ngũ nhân lực giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng cũng như có khả năng thu hút, giữ chân đối với nhân sự có năng lực.

1.2 Cơ sở lý thuyết về số hóa Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

1.2.1 Khái niệm số hoá

Số hóa dữ liệu là một giai đoạn trong quá trình chuyển đổi số, khi các dữ liệu thông tin từ định dạng thông thường như vật chất, vật lý sang định dạng kỹ thuật số. Quá trình này không làm thay đổi thông tin của dữ liệu mà các dữ liệu này chỉ được mã hóa, truyền tải bằng ngôn ngữ công nghệ thông tin để làm thay đổi từ định dạng này sang định dạng khác, cụ thể là từ các tài liệu giấy sang tài liệu dưới định dạng file mềm, hình ảnh.

Số hóa quy trình là việc sử dụng công nghệ kỹ thuật và các dữ liệu được số hóa ở khái niệm nêu trên để thay đổi cách thực hiện công việc, phương thức tác nghiệp để đạt được mục tiêu của tổ chức, cụ thể là các mục tiêu như tăng doanh thu, giảm chi phí vận hành, nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc, kiểm soát rủi ro và tăng tính minh bạch, lưu trữ dữ liệu, đơn giản hóa quy trình trong quá trình kinh doanh. Nó được thúc đẩy bởi sự tiến bộ trong công nghệ, sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh mới và những thay đổi trong kỳ vọng của khách hàng (Valdez-de-Leon, 2016).

Một số định nghĩa bổ sung của thuật ngữ “số hóa” hiện đã được chấp nhận rộng rãi. Theo Gartner (2020), số hóa thể hiện sự cải tiến của các mô hình kinh doanh hiện có, tạo ra doanh thu mới và các cơ hội gia tăng giá trị với sự trợ giúp của công nghệ kỹ thuật số. Nó có thể được hiểu là một vấn đề phức tạp bao gồm một số lĩnh vực như (i) thay đổi tư duy, (ii) thay đổi lãnh đạo, (iii) áp dụng công nghệ, (iv) số hóa tài nguyên và (v) chấp nhận đổi mới. Như đã trở nên rõ ràng từ sự phân loại trước đó, thuật ngữ “số hóa” nên được phân biệt với thuật ngữ tương tự, “số hóa”; cái trước đề cập đến tác động của công nghệ kỹ thuật số đối với tổ chức, trong khi cái sau thể hiện sự chuyển đổi từ giải pháp tương tự sang giải pháp kỹ thuật số. Số hóa là đổi mới tổ chức thông qua các công nghệ thông tin và truyền thông mới (Hensmans, 2021). Theo Matt và cộng sự, chuyển đổi kỹ thuật số là một vấn đề phức tạp diễn ra trong khuôn khổ bao gồm (i) thay đổi trong việc tạo ra giá trị, (ii) thay đổi cấu trúc và (iii) sử dụng công nghệ và các khía cạnh tài chính (Matt, Hess và Benlian, 2015). Những thông tin trên cho thấy quá trình chuyển đổi số của tổ chức sẽ phát sinh các rào cản cản trở gây trở ngại, thậm chí có khả năng làm sụp đổ toàn bộ quá trình chuyển đổi. Chuyển đổi số được coi là nhân tố thúc đẩy đưa ra giải pháp cho những thách thức mà các ngân hàng đang phải đối mặt hiện nay. Các thực hành chuyển đổi kỹ thuật số cốt lõi, chẳng hạn như khả năng lãnh đạo, xu hướng kỹ thuật số, kỹ năng chuyển đổi kỹ thuật số, chiến lược kỹ thuật số, triển khai công nghệ kỹ thuật số và cách tiếp cận lấy khách hàng làm trung tâm, được coi là những ảnh hưởng mang lại mức độ trưởng thành kỹ thuật số (Lotriet, Kokotwane Dltshego, 2020).

1.2.2 Đặc điểm hoạt động số hoá

Hoạt động số hóa của mỗi loại hình doanh nghiệp, ngành dịch vụ, sản phẩm, quốc gia, nhu cầu của người sử dụng trong từng thời kỳ đều mang bản sắc và đặc trưng riêng. Tuy nhiên, hoạt động số hóa tóm lại có những đặc điểm chung cơ bản như sau:

  • Tính chung và tính bao quát: Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Như đã làm rõ ở phần khái niệm, số hóa là một quá trình chuyển đổi dữ liệu thông tin từ định dạng thông thường như vật chất, vật lý sang định dạng kỹ thuật số, cụ thể là từ các tài liệu giấy sang tài liệu dưới định dạng file mềm, hình ảnh.

Bản chất của số hóa là việc chứa đựng, mô tả các dữ liệu thông tin rời rạc ở nhiều dạng bản thể vật lý khác nhau thành các dữ liệu thông tin điện tử theo nguyên tắc thống nhất, thông thường gọi là ngôn ngữ lập trình. Tiếng nói chung này (ngôn ngữ) phải bao quát, có tính chung, đồng nhất cách hiểu dữ liệu nhằm chuyển tải, tích hợp vào trong hệ thống để xử lý thông tin qua các bước và trả kết quả cuối cùng. Vì vậy, số hóa thông thường có tính chung, tính bao quát, đây là đặc điểm nổi bật của hoạt động số hóa.

  • Tính hệ thống, tính logic và tính kết nối:

Số hóa được hiểu là việc biến đổi các giá trị thực sang giá trị số hay chuyển đổi thông tin từ dạng vật lý, analog sang dạng kỹ thuật số (được biểu hiện bởi các dãy số nhị phân 0 và 1). Các thông tin được đưa lên hệ thống máy tính và được xử lý bằng các phần mềm, giúp việc lưu trữ và tìm kiếm dễ dàng. Như vậy, dữ liệu số đó phải được lưu trữ, cất giữ một cách khoa học, dễ dàng truy xuất, tìm kiếm và nhanh chóng xử lý hiệu quả. Đây là một trong những đặc trưng về tính hệ thống của dữ liệu số hóa.

Số hóa quy trình là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình vận hành, giúp quá trình xử lý thông tin trở nên đơn giản hơn, góp phần tăng hiệu suất công việc cho nhân viên và doanh nghiệp. Như vậy, bên cạnh các dữ liệu số hóa đã được đồng nhất theo phương pháp chuẩn hóa dữ liệu nhất định, việc kết nối các dữ liệu số hóa đã xử lý này theo nguyên tắc, quy trình làm việc nhất định. Nói cách khác, đặc trưng của số hóa là dữ liệu phải mang tính kết nối và logic.

  • Tính cập nhật:

Mục tiêu hàng đầu của số hóa dữ liệu hoặc số hóa quy trình nhằm gia tăng tốc độ xử lý thông tin và giảm thiểu sai sót tác nghiệp do con người vận hành. Tuy nhiên, đây vẫn là một sản phẩm do con người tạo lập trên cơ sở dữ liệu thông tin cơ bản đầu tiên và được thiết kế theo quy trình vận hành mong muốn của họ cho từng giai đoạn phát triển khác nhau, nên tính cập nhật, thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu dữ liệu, cải tiến quy trình là đặc điểm chung ở tất cả hoạt động số hóa.

  • Tính bảo mật: Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Trong thời đại ngày nay, thông tin là tài sản quý giá của doanh nghiệp, đồng thời, đây cũng là vũ khí cạnh tranh mang tính chiến lược và sống còn trên thương trường. Các bí quyết kinh doanh, thông tin tài chính, chiến lược nhân sự, định hướng phát triển doanh nghiệp…đều được đồng nhất dữ liệu và xử lý theo các quy trình số hóa hệ thống như đã phân tích bên trên, đều có khả năng bị xâm nhập và mất cắp, phá hủy nhanh chóng do tính kết nối thuận tiện. Vì vậy, yêu cầu bảo mật, phòng vệ số hóa là một đặc tính then chốt phải đặt ra ngay từ khi tiến hành số hóa, xây dựng hệ thống.

  • Tính tuân thủ:

Ba đặc tính căn bản của hoạt động số hóa bao gồm tính bao quát (tính chung), tính hệ thống kết nối, và tính bảo mật, đặt ra yêu cầu thứ tư, cũng là đặc trưng chung của số hóa, đó là tính tuân thủ. Bản thân hoạt động số hóa luôn gắn liền với hai yếu tố, đó là dữ liệu chuẩn hóa và quy trình hệ thống, đều đã mang tính chất tuân thủ ngay trước khi giai đoạn chuyển đổi số được tiến hành, và điều này luôn được thực hiện nghiêm túc trong suốt vòng đời doanh nghiệp, tổ chức. Nội dung tuân thủ cũng đảm bảo nguyên tắc bảo mật hệ thống trên cơ sở phân quyền truy cập, khởi tạo, phê duyệt và hủy bỏ dữ liệu, cũng như so sánh, đối chiếu, nhận dạng các lớp phòng vệ tổn thất hoặc thao tác không đúng quy luật vận hành hệ thống, hoặc virus, hacker… Tính bảo mật số hóa không chỉ bảo mật bằng công nghệ thông tin, mà hiện đã được nâng cấp, kết hợp với các công nghệ sinh học (sinh trắc học, nhận diện vân tay, màu mắt, ngữ điệu giọng nói..) hoặc vật lý (token, keypad…).

  • Tính ứng dụng:

Đặc điểm cuối cùng của số hóa chính là tính ứng dụng. Chuyển đổi số, số hóa quy trình, số hóa dữ liệu là sản phẩm của cách mạng công nghệ internet vạn vật, cũng có thể xem là cách mạng công nghiệp lần thứ 4 của nhân loại. Và cũng như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, thành tựu khoa học luôn được đưa vào ứng dụng trong hoạt động sản xuất, dịch vụ, quản trị nhân sự, nhằm gia tăng năng suất lao động, của cải vật chất, gia tăng tiện nghi phục vụ cuộc sống con người. Với các ứng dụng số hóa, con người có thể thông qua thiết bị kết nối không dây, khai thác và sử dụng nền tảng bigdata, Iot, robot tự động, trí tuệ nhân tạo, xử lý khối lượng thông tin, công việc cực lớn, ở tại bất cứ nơi đâu, với độ trễ thời gian gần như không có. Các ứng dụng số hóa có thể do tổ chức, cá nhân tự phát triển hoặc được thiết kế, đặt hàng, gia công từ bên thứ ba nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý công việc đặc thù của chính tổ chức, cá nhân đó. Vì vậy, sẽ không có một chương trình, hoạt động số hóa nào không mang tính ứng dụng được ra đời nếu không mang lại giá trị, đặc điểm nêu trên.

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động số hóa quy trình Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

  • Chỉ tiêu về Chiến lược công nghệ:

Theo đó tổ chức cần xác định chiến lược công nghệ sẽ áp dụng trong suốt quá trình hoạt động cũng như trước, trong và sau khi triển khai số hóa. Chiến lược đó phải giúp tổ chức đạt được mục tiêu nâng cao giá trị kinh doanh, giá trị của tổ chức, đồng thời cũng phải xác định, xây dựng hệ sinh thái công nghệ ứng dụng để hỗ trợ tổ chức xuyên suốt trong toàn quá trình số hóa. Một vấn đề cần quan tâm là chiến lược quản trị quá trình số hóa đòi hỏi tổ chức phải có các phòng ban, bộ phận cùng phối hợp triển khai nhịp nhàng các công đoạn cũng như các đơn vị này phải có sự liên kết chặt chẽ trong quá trình số hóa khi phải thực hiện tốt các nhiệm vụ như xây dựng quy trình, phân bổ nguồn lực, giám sát tiến độ và hiệu quả thực hiện của từng công đoạn.

  • Chỉ tiêu về Hạ tầng công nghệ và công tác vận hành:

Trước khi thực hiện số hóa, một bước cần phải được thực hiện chính là đánh giá về hạ tầng công nghệ nội tại trong chính tổ chức, từ đó có thể xác định lộ trình số hóa, lộ trình chuyển đổi công nghệ phù hợp với chiến lược kinh doanh cũng như phù hợp với kiến trúc thượng tầng công nghệ của chính tổ chức đó. Các yếu tố được đánh giá có thể về vấn đề bảo mật, an toàn thông tin, các giải pháp nguồn, các ứng dụng hiện hữu kết hợp công nghệ mới phải linh hoạt, có hiệu quả trong việc đáp ứng toàn bộ nhu cầu hoạt động kinh doanh và quản trị điều hành của tổ chức như nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí, kiểm soát rủi ro.

Công tác vận hành hệ sinh thái các chương trình, ứng dụng công nghệ trong tổ chức cần đảm bảo phòng ngừa gian lận, quản lý được các rủi ro tiềm ẩn cũng như có giải pháp ứng phó cụ thể trong trường hợp phát sinh rủi ro.

  • Chỉ tiêu về Dữ liệu và tài sản thông tin:

Chỉ tiêu này liên quan đến việc đánh giá công tác quản trị dữ liệu, quản trị kỹ thuật cũng như xác định giá trị của dữ liệu –  tài sản có giá trị nhất của quá trình số hóa quy trình. Trong đó công tác quản trị dữ liệu là xác định việc cung cấp thông tin thống nhất, toàn vẹn tính xác thực của dữ liệu, chịu trách nhiệm quản lý dữ liệu, xây dựng chính sách quản lý, truy cập và  sử dụng dữ liệu đối với từng vai trò, cá nhân trong tổ chức nhằm mục đích dữ liệu sẽ được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và mang lại giá trị mà tổ chức mong muốn.

1.3. Số hóa quy trình cấp tín dụng Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

1.3.1 Khái niệm số hoá quy trình cấp tín dụng

Số hóa quy trình cấp tín dụng là việc thay thế các tác nghiệp trên giấy tờ hoặc trên các hệ thống khác nhau thành một hệ thống thống nhất nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: (i) Tiết kiệm thời gian: giảm chi phí khi thực hiện thẩm định và phê duyệt. (ii) Kiểm soát rủi ro tín dụng ở mọi góc độ như giảm số lượng lỗi tác nghiệp, có khả năng dự báo – dự đoán trên cơ sở dữ liệu lớn được tích hợp vào hệ thống mới. (iii) Tăng thu nhập ròng và giảm chi phí phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng. Tăng khả năng ứng biến trong môi trường kinh doanh cạnh tranh cao khi ngân hàng có sự điều chỉnh các yếu tố liên quan đến chính sách tín dụng hoặc triển khai các sản phẩm, cơ chế tín dụng mới ra thị trường.

Số hóa đang thay đổi mạnh mẽ quy trình tín dụng và cho vay trong các ngân hàng. Các ngân hàng đã nhận ra rằng có nhiều thách thức cũng như cơ hội mà số hóa có thể mang lại cho các tổ chức của họ. Mặc dù “chức năng rủi ro số hóa cung cấp khả năng giám sát và kiểm soát tốt hơn cũng như tuân thủ quy định hiệu quả hơn”, nhưng việc đại tu hệ thống của họ và trở thành kỹ thuật số hoàn toàn có thể phức tạp đối với các ngân hàng.

Trong khi đối với một số tổ chức tài chính, việc thay đổi cách họ tiếp cận quản lý rủi ro là một thông lệ tuân thủ, thì đối với những tổ chức khác, đây được coi là cơ hội để cải thiện hiệu quả hoạt động, dịch vụ khách hàng và lợi thế cạnh tranh trong ngành. “Tại một ngân hàng thương mại trung bình, các tài sản liên quan đến tín dụng tạo ra khoảng 40% tổng doanh thu… Các quy trình tín dụng được thiết kế tốt có thể giảm chi phí hoạt động từ 15 đến 20% và hơn 20% chi phí rủi ro, đồng thời cải thiện trải nghiệm của khách hàng.” Khi các loại rủi ro mới xuất hiện do số hóa (mạng, lây lan, v.v.), các kỹ năng và công cụ mới cần được phát triển theo cách không làm tăng đáng kể chi phí hoạt động của ngân hàng.

Quá trình số hóa quy trình cấp tín dụng được coi là một dự án chiến lược đòi hỏi sự hợp tác giữa các đơn vị kinh doanh và các phòng ban nghiệp vụ có liên quan. Do đó, nhiệm vụ của ban quản lý là bắt đầu điều phối và thực hiện quá trình khởi tạo dần dần quá trình chuyển đổi kỹ thuật số. Các chiến lược và kế hoạch dài hạn nên được phát triển, được triển khai dưới dạng các tiểu dự án trong quy trình của ngân hàng. Bằng cách tăng hiệu quả của các quy trình hiện có liên quan đến chuyển đổi kỹ thuật số, tính minh bạch và kiểm soát cao hơn đạt được ở cấp chức năng để điều phối nhân viên tốt hơn (Buhler, Lemerle, Chiarella, Lal, Heidegger, & Moon, 2015). Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Ngoài ra, các quy trình số hoá cấp tín dụng hỗ trợ công việc hàng ngày của đội ngũ nhân sự trong luồng nghiệp vụ tín dụng, do đó họ có thể tập trung vào năng lực cốt lõi của mình và đưa ra các đề xuất thiết thực hơn cho cấp kiểm soát, phê duyệt. Đặc biệt, các giải pháp cải tiến để phân tích tín dụng có thể góp phần giảm thời gian xử lý và thực hiện trong quy trình tín dụng, đặc biệt là việc xác minh độ tin cậy tín dụng và dịch vụ nợ của khách hàng ngân hàng mang lại tiềm năng tự động hóa cao và thường không được sử dụng. Nền tảng rủi ro tín dụng kỹ thuật số có tác động mạnh mẽ đến tất cả các quy trình quản lý rủi ro và thúc đẩy tính minh bạch, nhất quán và kiểm soát quy trình tín dụng. Điều quan trọng là phải tuân theo các khuyến nghị từ cấp quản lý, bởi vì số hóa có tác động mạnh mẽ đến các công cụ của nhân viên. Đặc biệt, điều quan trọng là phải thúc đẩy sự phát triển năng lực giữa các nhân viên, để dự án chuyển đổi của các ngân hàng có thể cùng nhau thực hiện thành công thông qua các thay đổi mục tiêu trong quá trình số hóa (Balachander, & Zacharias, 2017; Begg, 2016; Rehfisch, 2018).

1.3.2 Sự khác biệt quy trình cấp tín dụng truyền thống và quy trình tín dụng số hoá

Quy trình nghiệp vụ tín dụng là một trong những quy trình cốt lõi của các ngân hàng thương mại. Quy trình được bắt đầu từ lúc tìm kiếm, tiếp xúc với các đối tượng có nhu cầu vay vốn, thuyết phục, thu thập hồ sơ, trải qua quá trình thẩm định phức tạp với sự tham gia của nhiều bộ phận, nhiều cấp phê duyệt tùy thuộc vào bản chất của nghiệp vụ và giá trị khoản vay, sau đó đến bước đề xuất phê duyệt giải ngân và thu hồi nợ.

Liên quan đến nghiệp vụ tín dụng, đa số các phần mềm Core banking chỉ làm tốt được công việc từ khi hồ sơ vay vốn đã được duyệt, việc nhập dữ liệu vào hệ thống chỉ đơn thuần mang tính chất hạch toán, tính lãi, thu nợ sau cho vay. Phương pháp này không đáp ứng được nhu cầu quản trị và theo dõi tiến độ thực thi nghiệp vụ tín dụng trong quá trình phê duyệt cho vay vốn và thu hồi nợ. Việc quản trị và theo dõi tiến độ thực thi nghiệp vụ tín dụng phức tạp và kéo dài hơn so với thực thi xử lý trên phần mềm Core banking.

So với quy trình cấp tín dụng được thao tác theo phương thức truyền thống, các bước triển khai thao tác tương ứng trên quy trình số hóa so có những điểm khác biệt như sau:

  • Đảm bảo tính thống nhất toàn diện về dữ liệu khách hàng giữa các hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng. 

Tại giai đoạn trước khi cấp tín dụng, theo phương thức cũ thì các thông tin liên quan đến khách hàng sẽ được người dùng tập hợp từ việc thu thập chứng từ giấy, từ các chương trình của ngân hàng như hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ, hệ thống theo dõi tình hình giao dịch, báo cáo thu nhập đóng góp của khách hàng (TOI – Total Operating Income), chương trình tra soát thông tin tín dụng (CICs)… rồi nhập liệu thủ công trên tờ trình thẩm định. Trên cơ sở các thông tin đã được tổng hợp thủ công, cán bộ tín dụng sẽ thực hiện bài phân tích, tổng hợp và đề xuất các nội dung liên quan đến nhu cầu cấp tín dụng của khách hàng. Với quy trình số hóa, tất cả các thông tin dữ liệu khách hàng như thông tin pháp lý, mã khách hàng, thành viên góp vốn, lịch sử giao dịch, thông tin khách hàng và nhóm khách hàng liên quan sẽ được gọi từ các hệ thống nội bộ khác về hệ thống mới. Khi đó thông tin khách hàng sẽ có tính đồng nhất trong cơ sở dữ liệu ngân hàng, tạo thành một chuỗi khép kín từ khâu nhập liệu thông tin, quản lý giao dịch đến các hệ thống nội bộ mà người dùng được phép truy cập để thao tác trên chính thông tin của khách hàng đó. Sau khi hồ sơ tín dụng được phê duyệt trên hệ thống, người dùng sẽ tiếp tục triển khai phán quyết với các công tác cơ bản như hạch toán tài sản, nhập kho chứng từ tài sản, hoàn thiện hạn mức, giải ngân và tất cả dữ liệu này sẽ được kết chuyển ngược lại qua hệ thống Core Banking để hạch toán kế toán theo quy định ngân hàng. Như vậy với quy trình luân chuyển dữ liệu giữa các hệ thống sẽ đảm bảo tính đồng nhất dữ liệu, tránh phát sinh sai lệch thông tin như khi áp dụng quy trình truyền thống trước đây. Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

  • Chuẩn hóa dữ liệu tín dụng với các hệ thống liên quan khác.

Một trong những lợi ích tiêu biểu và cũng là thách thức lớn khi thực hiện số hóa quy trình cấp tín dụng chính là công tác chuẩn hóa dữ liệu. Đây là một quá trình nhằm đảm bảo các bản ghi đầu vào được nhập liệu bởi người dùng hoặc các bản ghi được kết chuyển về từ các hệ thống khác có được tính đồng nhất về cấu trúc dữ liệu, tính hợp lý về thông tin giữa dữ liệu cũ và dữ liệu mới, giữa dữ liệu mới với tính tương thích, ổn định trong toàn chu trình luân chuyển dữ liệu giữa các hệ thống với nhau.

Trên cơ sở các nguyên tắc dữ liệu đã được quản trị viên quy định và lập trình trong hệ thống, người dùng tiến hành nhập liệu tuần tự các thông tin như thông tin chung về khách hàng, thông tin khoản tín dụng, số tiền cấp tín dụng, mục đích, sản phẩm tín dụng, phương thức tài trợ, phương án kinh doanh, thông tin tài sản bảo đảm, tình hình tài  chính… để từ đó hình thành các thông tin cần thiết theo đúng quy trình cấp tín dụng của ngân hàng và đệ trình hồ sơ cấp tín dụng. Trong quá trình nhập liệu, hệ thống sẽ tự động xác thực định dạng dữ liệu được nhập vào phải đúng quy ước kỹ thuật cũng như định hướng lần lượt hiển thị các màn hình thông tin mang tính chất trọng yếu của một hồ sơ tín dụng để người dùng thao tác, đồng thời sẽ phát ra những cảnh báo khi phát hiện sai sót, yêu cầu người dùng bắt buộc phải nhập liệu chính xác.

Như vậy, tính đồng nhất của dữ liệu đã được chuẩn hóa ngày từ khâu nhập liệu ban đầu, từ đó làm cơ sở cho quá trình kết chuyển dữ liệu từ hệ thống này qua các hệ thống khác.

  • Kiểm soát rủi ro tín dụng trên cơ sở thao tác đúng thứ tự các bước đã được quy định trong hệ thống cũng như truy xuất báo cáo từ hệ thống quản lý thông tin xuyên suốt trong toàn bộ quy trình cấp tín dụng.

Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro trọng yếu trong hoạt động ngân hàng, do đó nhận diện, kiểm soát và phát hiện các rủi ro tín dụng là công tác cần được thực hiện chặt chẽ và thường xuyên. Bất kỳ khoản vay nào dù quy mô lớn hay nhỏ cũng đều tiềm ẩn những yếu tố rủi ro, theo phương thức tác nghiệp cũ thì việc nhận diện rủi ro đa phần đều phụ thuộc vào con người nên việc bỏ sót hoặc phát sinh yếu tố chủ quan trong việc kiểm soát rủi ro là hoàn toàn có thể xảy ra. Khi triển khai số hóa, với sự hỗ trợ của công nghệ công tác quản trị hồ sơ tín dụng sẽ được thực hiện xuyên xuốt trong suốt quá trình vay vốn của khách hàng khi hệ thống sẽ phát đi các cảnh báo liên quan đến việc vi phạm, chưa tuân thủ, chưa hoàn thành đúng hạn hoặc trễ hạn có điều kiện có thời hạn cụ thể hoặc hệ thống sẽ ghi nhận lịch sử các thao tác có thực hiện điều chỉnh dữ liệu kèm theo bắt buộc giải trình lí do điều chỉnh trong chính màn hình giao dịch đó. Việc phát đi cảnh bảo cũng như ghi nhận lịch sử điều chỉnh dữ liệu sẽ giúp ngân hàng phát hiện những rủi ro phát sinh đến từ khách hàng hay lỗi tác nghiệp của các cá nhân được phân quyền cụ thể trong luồng tác nghiệp tín dụng. Từ đó kịp thời đưa ra nội dung chấn chỉnh hoặc đưa ra từng hành vi ứng xử cụ thể đối với các rủi ro đã phát sinh hoặc dự báo rủi ro có khả năng phát sinh trong tương lai.

1.3.3 Lợi ích của số hóa quy trình cấp tín dụng

  • Thứ nhất, số hóa quy trình giúp tăng năng suất và tiết kiệm chi phí trong hoạt động cấp tín dụng. 

Với phương thức truyền thức áp dụng trong công tác cấp tín dụng, cán bộ tín dụng phải tập hợp các thông tin bằng chứng từ giấy với số lượng là tương đối nhiều tùy theo quy mô và độ phức tạp của hồ sơ cấp tín dụng kéo theo thời gian xử lý, tổng hợp, sàng lọc các dữ liệu theo từng nhóm điều kiện là khá dài, chi phí phát sinh cho giai đoạn này là không nhỏ. Sau số hóa, ngoài các thông tin trọng yếu bắt buộc phải thu thập bằng chứng từ giấy thì những thông tin còn lại đang được quản lý trên các hệ thống cơ sở dữ liệu tại ngân hàng sẽ được kết chuyển về một hệ thống chỉ sau vài thao tác của người dùng. Nhờ đó, đội ngũ nhân viên kinh doanh thuộc luồng tín dụng sẽ không tốn nhiều thời gian cho việc thu thập, sàng lọc chứng từ, tiết kiệm chi phí do không phải in ấn nhiều giấy tờ kèm theo. Kết quả là người dùng có thể gia tăng hiệu suất làm việc nhờ kéo giảm được cả thời gian tác nghiệp và chi phí phát sinh.

  • Thứ hai, số hóa quy trình cấp tín dụng giúp ngân hàng phòng chống hành vi gian lận, quản lý rủi ro, tăng tính minh bạch trong hoạt động cấp tín dụng. 

Như đã nêu trên, trong quá trình tổng hợp thông tin, cán bộ tín dụng khi lập báo cáo phân tích thẩm định sẽ tiến hành nhập liệu lên tờ trình giấy, khi đó sẽ có các khả năng như sai sót thông tin hoặc phát sinh hành vi gian lận . Với việc số hóa, việc gọi dữ liệu thông tin đang có sẵn trong cơ sở dữ liệu ngân hàng sẽ giúp đồng nhất dữ liệu và hạn chế rủi ro nêu trên.

  • Thứ ba, số hóa quy trình cấp tín dụng giúp ngân hàng tối ưu hóa việc lưu trữ thông tin. 

Với chứng từ giấy như phương thức cũ, do quy định đặc thù của hoạt động tín dụng, ngân hàng sẽ tốn nhiều thời gian, không gian để thực hiện công tác bảo quản, lưu trữ và sẽ đối mặt với các rủi ro như thất lạc, an toàn cháy nổ, suy giảm chất lượng theo thời gian…Khi đã triển khai số hóa, ngoài các chứng từ gốc được chỉ định bắt buộc phải lưu trữ bằng phiên bản vật lý thì các chứng từ khác sẽ được lưu trữ dưới dạng file mềm trên hệ thống. Đồng thời, với tính chất đặc thù của công nghệ, dữ liệu được lưu trữ này hầu như đều có cơ chế sao chép nhằm đảm bảo khả năng phục hồi sau các sự cố kỹ thuật.

1.3.4 Rủi ro của số hóa quy trình cấp tín dụng Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

  • Thứ nhất, về an toàn bảo mật thông tin.

Bản chất hoạt động cấp tín dụng là thu thập toàn bộ thông tin, dữ liệu khách hàng, thị trường, chính sách tín dụng, khẩu vị rủi ro của Ngân hàng, và các thông tin ngành nghề liên quan, từ đó, đánh giá, phân tích, nhận định các nội dung như năng lực tài chính, thẩm định tính khả thi của phương án kinh doanh, hoặc dự án đầu tư, khung pháp lý và điều kiện bên vay, bên bảo lãnh, phương thức tài trợ vốn, định giá tài sản đảm bảo, từ đó, Ngân hàng ra quyết định tín dụng thích hợp. Như vậy, số hóa quy trình cấp tín dụng là tập hợp toàn bộ các thông tin quan trọng có ảnh hưởng trọng yếu đến quyết định cấp tín dụng từ các cơ sở dữ liệu hiện hữu về một hệ thống duy nhất chuyên quản lý hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng. Nói cách khác, việc bảo mật thông tin các bên liên quan trong quy trình cấp tín dụng, bao gồm ngân hàng, khách hàng, thị trường, chính sách tín dụng, tài sản đảm bảo, bí quyết kinh doanh, thông tin tài chính và thuế, pháp lý công ty, pháp lý các thành viên góp vốn, bên bảo lãnh, cũng như chứng từ, hồ sơ chứng minh được đính kèm trên hệ thống, là hết sức quan trọng, đặc biệt trong kỷ nguyên số như giai đoạn hiện nay, thông tin là tài sản và là phương thức cạnh tranh sống còn của các định chế tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng.

Ngoài ra, trên phương diện toàn cầu hóa phạm vi rộng lớn, xu thế hội nhập các hiệp định tự do thương mại và thanh toán song phương, đa phương, phối hợp với định hướng ngân hàng bán lẻ đa năng, việc chia sẻ thông tin và khai thác dữ liệu, nhu cầu khách hàng của ngân hàng với các bên liên quan, một mặt đẩy nhanh khả năng mở rộng thị phần và gia tăng năng lực cạnh tranh trong tài trợ chuỗi cung ứng, mặt khác lại đặt ra thách thức về bảo mật thông tin trong quá trình khai thác thông tin trong hoạt động cấp tín dụng khách hàng (chia sẻ dữ liệu lớn trong cấp tín dụng qua thẻ, bao thanh toán, tài trợ thương mại với các đơn vị như đối tác chiến lược, tông ty bảo hiểm, nhà bán lẻ, chủ đầu tư dự án…)

Bên cạnh đó, nhằm gia tăng tiện ích cho người dùng, đặc biệt là lực lượng kinh doanh (front office) trong quá trình tiếp cận, tiếp thị khách hàng và cần ra quyết định tín dụng nhanh chóng so với đối thủ, việc chia sẽ dữ liệu trên các thiết bị ngoại vi ngoài hệ thống máy tính tại quầy giao dịch, máy chủ ngân hàng như phê duyệt hồ sơ, chữ ký số thông qua các thiết bị thông tin, máy tính bảng, trên băng thông internet (thay vì intranet và gsm, hoặc xa hơn là hồ sơ giấy, chứng từ vật lý, chữ ký pháp định) đặt ra yêu cầu bảo mật thông tin cấp thiết hơn rất nhiều so với quy trình phê duyệt tín dụng hồ sơ vật lý trước đây.

Việc triển khai số hóa giúp cho hoạt động luân chuyển hồ sơ giữa các phòng ban, chi nhánh và hội sở, chiết xuất báo cáo giữa các cấp đề xuất và cấp quyết định tín dụng dễ dàng hơn, đã thay đổi toàn diện đến khái niệm thẩm định tín dụng, quản lý tài sản đảm bảo, giám sát tiến độ xử lý hồ sơ và năng suất lao động của toàn bộ bộ máy liên quan hoạt động tín dụng, một hoạt động truyền thống đóng góp trọng yếu đến cơ cấu lợi nhuận cũng như phạm vi rủi ro của các ngân hàng trong thời kỳ số hóa, trong đó, rủi ro về bảo mật thông tin là nội dung mà các ngân hàng cần phải đặc biệt quan tâm.

  • Thứ hai, về tổn thất không xác định Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

Do hệ thống số hóa quy trình cấp tín dụng gắn liền với việc xử lý thông tin các bên liên quan nên việc tổn thất thông tin là không thể đo lường được. Quá trình cấp tín dụng đòi hỏi khách hàng phải chia sẻ các thông tin liên quan đến tình trạng pháp lý, thông tin giao dịch ngân hàng, năng lực tài chính, quá trình hoạt động kinh doanh, kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tài sản đảm bảo, phương án kinh doanh, cũng như tất cả các thông tin khác kể cả bên thứ ba (bên bảo lãnh, thành viên công ty, đối tác, khách hàng, và nhà cung cấp…) có khả năng ảnh hưởng đến rủi ro cũng như tiềm năng phát triển tín dụng. Các thông tin này không chỉ được cung cấp, thẩm định, quản lý, truy xuất, tổng hợp đánh giá trước khi thực hiện giải ngân, mà còn được cập nhật, kiểm tra định kỳ, và bổ sung trong suốt quá trình cấp tín dụng và sau giải ngân, nhằm đảm bảo quản lý rủi ro và tuân thủ quy định pháp luật (Điều 20 Nghị định 58/2021/NĐ-CP, “(1) thông tin tín dụng phải được lưu giữ an toàn, bảo mật, phòng tránh các sự cố, thảm họa có thể xảy ra và ngăn chặn sự xâm nhập, truy cập bất hợp pháp từ bên ngoài. (2) thông tin tín dụng được lưu giữ tối thiểu là 5 năm, kể từ ngày thông tin tín dụng được thu thập”). Việc lưu giữ thông tin tín dụng có liên quan đến khách hàng trước đây được lưu trữ thủ công và rời rạc trên các hồ sơ, chứng từ giấy, bảo quản tại các kho trung tâm theo từng khu vực hoạt động của ngân hàng, được phân loại, đánh số thứ tự và danh mục lưu trữ, truy xuất văn thư. Sau khi thực hiện chuyển đổi quy trình cấp tín dụng thông qua hoạt động số hóa, toàn bộ các hồ sơ, dữ liệu, chứng từ liên quan đến cấp tín dụng khách hàng được cập nhật, chia sẽ, đồng nhất dữ liệu trên hệ thống máy chủ, và kết nối hoạt động thẩm định, xử lý dữ liệu, theo các cấp phân quyền, từ đó thông tin khách hàng và thông tin đã được xử lý dữ liệu sẽ được lưu trữ trên hệ thống cơ sở dữ liệu (data warehouse) và hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking) (bao gồm tất cả dữ liệu số của hoạt động ngân hàng bao gồm tín dụng, tiền gửi, dịch vụ thanh toán, ngoại hối, kho quỹ).

Như vậy, tổng hợp số lượng thông tin khách hàng được thu thập và xử lý, cập nhật, lưu trữ trong suốt quá trình cấp tín dụng (dữ liệu thô: hồ sơ, chứng từ giấy), sau quá trình thẩm định, đánh giá, thực hiện thủ tục đảm bảo tiền vay và giải ngân, quản lý hồ sơ thông tin trong và sau khi cho vay (dữ liệu đã được xử lý: dữ liệu nhập trên hệ thống số hóa), kết hợp với các bút toán giải ngân, chuyển tiền, thanh toán quốc tế, dịch vụ ngân quỹ, và các dịch vụ tương thích khác trên Core Banking là một khối lượng thông tin to lớn, tương ứng với quy mô kinh doanh, và tiềm năng phát triển của một ngân hàng thương mại. Đây có thể xem là tài sản vô hình, không chỉ mang ý nghĩa về mặt tài chính và giá trị doanh nghiệp, mà còn có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý và truyền thông, uy tín thương hiệu, thị giá cổ phiếu cũng như mức độ thiệt hại không thể xác định trước, nếu công tác quản lý, bảo mật thông tin trên hệ thống quản lý hồ sơ tín dụng không được tuân thủ nghiêm ngặt và tổn thất xảy ra.

Qua đó cho thấy việc bảo mật thông tin hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống số hóa quy trình cấp tín dụng nói riêng, là vô cùng quan trọng vì rủi ro liên quan đến thông tin có thể dẫn đến nhiều tổn thất mà chưa có công cụ nào có thể đo lường.

  • Thứ ba, việc không theo kịp sự thay đổi của công nghệ.

Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển quá nhanh đã làm cho vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn, tuy nhiên nhu cầu xử lý dữ liệu của ngân hàng là ngày càng lớn cũng như nội dung xử lý ngày càng phức tạp nhằm đáp ứng nhu cầu quản trị điều hành. Chi phí đầu tư của ngân hàng vào công nghệ thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng chi phí hoạt động và trong bối cảnh như hiện nay thì chi phí này có xu hướng ngày càng gia tăng. Do đó các ngân hàng thường phải cân đối và cân nhắc rất kỹ trong việc đầu tư vào công nghệ vì chính bản thân các ngân hàng cũng không thể liên tục thay đổi công nghệ do rào cản chi phí cũng như trước khi quyết định phải thực hiện đánh giá tổng thể sự thay đổi công nghệ có tác động như thế nào đến hoạt động kinh doanh trong bối cảnh ngành tài chính ngày càng diễn biến phức tạp.

  • Thứ tư, về mức độ phụ thuộc các bên liên quan.

Ứng dụng công nghệ mới, hiện đại là một trong những đặc điểm nổi bật của ngân hàng, đặc biệt trong mô hình kinh doanh hiện nay của các ngân hàng, hầu hết các hoạt động đều được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin nên vai trò quan trọng hành đầu của công nghệ trong hoạt động ngân hàng là không thể phủ nhận. Sự phức tạp của các hệ thống được vận hành bởi ngân hàng là ngày càng cao tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng phụ thuộc vào các bên liên quan như đối tác, nhà cung cấp dịch vụ là không thể tránh khỏi. Đồng thời, trong quá trình vận ứng dụng các hệ thống công nghệ thông tin đã làm phát sinh thêm một vấn đề mới mang tính thách thức trong hoạt động ngân hành chính là quản lý rủi ro từ việc sử dụng nền tảng kỹ thuật của bên thứ ba.

1.3.5 Điều kiện để thực hiện số hóa quy trình cấp tín dụng

  • Sự quan tâm và tư duy của ban lãnh đạo về công nghệ số.

Nếu Ban lãnh đạo ngân hàng có quyết tâm, định hướng và nỗ lực trong việc thúc đẩy hoạt động số hóa ngân hàng. Với vai trò, sức ảnh hưởng của mình, ban lãnh đạo phải là những người tiên phong trong việc nhận diện, định hướng, tham gia vào các toàn bộ hoạt động số hóa của tổ chức . Cụ thể là các công việc như xác định đúng trọng tâm cần thực hiện số hóa; nắm bắt và quản trị sự thay đổi của tổ chức trong trong quá trình thực hiện số hóa các hoạt động; thúc đẩy văn hóa thích nghi với sự thay đổi của đội ngũ nhân sự khi triển khai số hóa cũng như có tầm nhìn chiến lược, theo dõi sát sao tất cả các hoạt động số hóa đang diễn ra trong chính ngân hàng. Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

  • Ngân hàng cần có chiến lược ứng dụng công nghệ số trong hoạt động kinh doanh.

Để có thể thục hiện số hóa thành công cho toàn bộ hoạt động ngân hàng hay cho một nghiệp vụ cụ thể, ví dụ cấp tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải có chiến lược cụ thể mới có cơ sở triển khai, hành động. Chiến lược số hóa ngân hàng trước hết phải bám sát chiến lược phát triển chung của ngân hàng và bao gồm thêm chiến lược riêng cho hoạt động số hóa. Chiến lược cho hoạt động số hóa bao gồm việc thực hiện đánh giá nội bộ về kiến trúc hạ tầng công nghệ của ngân hàng, từ đó lựa chọn đầu tư kiểu: “Quả cầu gai” (tập trung ứng dụng công nghệ số vào toàn diện hoạt động của tổ chức) hoặc “con nhím” (chỉ tập trung vào một số mảng hoạt động mũi nhọn của mình). Số hóa hoạt động cấp tín dụng –  một trong những hoạt động trọng yếu của ngân hàng là hoạt động tất yếu  sẽ diễn ra do đó song song với việc triển khai số hóa, ứng dụng các công nghệ  trong toàn bộ quy trình cấp tín dụng, ngân hàng cũng cần phải xây dựng các kịch bản xử lý các rủi ro liên quan trong quá trình số hóa như các rủi ro kỹ thuật, rủi ro thất thoát dữ liệu, rủi ro phục hồi dữ liệu liên quan đến các cuộc tấn công độc hại hoặc thảm họa như cháy nổ, lũ lụt…

Đầu tư vào công nghệ số là một quá trình lâu dài, liên quan đến nhiều công nghệ khác nhau và chi phí đầu tư thường rất cao nên việc cân đối ngân sách để triển khai các ứng dụng công nghệ số là rất quan trọng. Do đó, các ngân hàng phải lựa chọn các ứng dụng và đối tác công nghệ một cách cẩn thận dựa trên ngân sách cũng như hiện trạng cơ sở hạ tầng, năng lực công nghệ của chính bản thân họ.

  • Ngân hàng cần có các mô hình cấp tín dụng phù hợp.

Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều gặp phải những thách thức đáng kể trong quá trình này do hệ thống Core Banking đều khá cũ, cấu trúc dữ liệu tín dụng không mang tính chất toàn diện, chưa tương thích với các hệ thống công nghệ mới và cũng như khung pháp lý kỹ thuật là chưa rõ ràng. Hầu hết các tổ chức nói chung, các ngân hàng nói riêng đều nhận thức được rằng việc đơn giản hóa mô hình, đơn giản hóa quy trình – cụ thể là quy trình cấp tín dụng có thể giúp nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng lợi nhuận, giảm chi phí và kiểm soát rủi ro tín dụng xuyên suốt trong toàn quá trình hoạt động cấp tín dụng. Do đó nếu có được mô hình cấp tín dụng theo hướng đơn giản hóa (lựa chọn những yêu cầu chủ yếu xây dựng mô hình), cắt giảm những thủ tục không cần thiết hoặc kém ý nghĩa  nhưng vẫn đảm bảo an toàn thì việc số hóa quy trình sẽ đạt hiệu quả cao.

  • Năng lực của đội ngũ nhân sự đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.

Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng của bất kỳ tổ chức nào, ngày nay sự phát triển công nghệ đã làm tạo nên sự thay đổi cơ cấu và yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao đối với trình độ của đội ngũ nhân sự, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng. Ngành ngân hàng hiện đại đã và đang trải  qua những sự thay đổi mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng nói riêng cũng như đáp ứng nhu cầu phát triển nội bộ của cả tổ chức, của ngành nghề nói chung. Nhân sự là những người sẽ trực tiếp tương tác  với khách hàng, nắm bắt nhu cầu mong muốn của khách hàng cũng như là đội ngũ trực tiếp tương tác, vận hành các hệ thống công nghệ thông tin trong tổ chức đó. Do đó một trong những điều kiện thiết yếu để thực hiện số hóa chính là nâng cao năng lực số của đội ngũ nhân sự trong lĩnh vực ngân hàng. Cụ thể là nhân sự trong lĩnh vực ngân hàng không những cần phải có kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có kiến thức về công nghệ thông tin, có khả năng thích nghi và làm chủ được công nghệ. Yếu tố này được chuẩn bị tốt sẽ làm cho hoạt động số hóa ngân hàng trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này tác giả đưa ra cơ sở lý thuyết về cấp tín dụng và số hoá quy trình cấp tín dụng. Số hóa đã và đang thay đổi mạnh mẽ quy trình cấp tín dụng tại các ngân hàng khi hầu hết các ngân hàng đã nhận ra rằng có nhiều thách thức cũng như cơ hội mà số hóa có thể mang lại cho chính tổ chức của họ. Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng số hóa quy trình cấp tín dụng tại Sacombank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Số hóa quy trình cấp tín dụng tại NH Sacombank […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537