Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả và sự tương quan trong mô hình nghiên cứu

4.1.1. Kết quả thống kê mô tả

Thống kê mô tả dữ liệu bảng nhằm cung cấp khái quát thông tin về các biến trong mô hình nghiên cứu, bao gồm các chỉ tiêu về số quan sát, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của các biến trong mô hình nghiên cứu. Từ đó, kết quả thống kê mô tả đưa ra cái nhìn tổng quan về đặc tính của dữ liệu phân tích. Kết quả thống kê mô tả được trình bày tại bảng 4.1 dưới đây.

Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến số định lượng trong mô hình nghiên cứu

Tên biến Số quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
FGAP 240 -0.0917 0.1164 -0.3805 0.2899
SIZE 240 8.1655 0.4599 7.1796 9.2459
ROE 240 0.1241 0.0910 -0.0510 0.4456
CAP 240 0.0865 0.0323 0.0372 0.2205
TLA 240 0.5846 0.1308 0.2224 0.9771
NPL 240 0.0212 0.0151 0.0047 0.1581
LLR 240 0.0132 0.0051 -0.0106 0.0278
GDP 240 0.0583 0.0169 0.0256 0.0746
INF 240 0.0380 0.0230 0.0063 0.0909

Nguồn: Báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Mỗi biến trong mô hình đều có 240 quan sát từ 24 ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian 10 năm. Tác giả đã loại bỏ các ngân hàng không thu thập được đủ thông tin, do đó 240 quan sát trên tạo thành dữ liệu dạng bảng cân xứng. Kết quả thống kê mô tả của từng biến của mô hình cụ thể như sau: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Khe hở tài trợ: Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021, khe hở tài trợ FGAP của các ngân hàng có giá trị trung bình là -0,0917 với độ lệch chuẩn là 0,1164. Như vậy giá trị trung bình của FGAP nằm trong khoảng từ -0,2081 đến 0,0247. FGAP thấp nhất là -0,3805 của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (mã chứng khoán: MSB) vào năm 2014. FGAP cao nhất là 0,2899 của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (mã chứng khoán: VPB) ở năm 2021. Giá trị khe hở tài trợ giữa các quan sát có sự chênh lệch là bởi các ngân hàng đều có sự biến động qua từng năm. Các ngân hàng có nguy cơ đối diện với rủi ro thanh khoản nhiều hơn khi mức độ cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng ngày càng tăng lên. Cụ thể là cạnh tranh ở hai mảng hoạt động kinh doanh truyền thống là nguồn vốn huy động và tăng trưởng tín dụng. Giá trị FGAP âm cho thấy tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng đó cao hơn giá trị cho vay, nghĩa là ngân hàng đó kiểm soát tốt vấn đề thanh khoản. Giá trị FGAP càng lớn nghĩa là khoảng cách giữa giá trị cho vay và giá trị vốn huy động càng thu hẹp lại, đồng nghĩa với rủi ro thanh khoản của ngân hàng gia tăng. Khi đó các ngân hàng sẽ phải tìm nguồn tài chính khác để phục vụ nhu cầu cho vay và sẽ dẫn tới nguy cơ mất khả năng thanh khoản nếu ngân hàng không có khả năng thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng. Hình 4.1 dưới đây thể hiện diễn biến về khe hở tài trợ của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu từ năm 2012 – 2021. Từ đây thấy được với nhóm 3 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước là BIDV, VietinBank và Vietcombank có xu hướng giá trị FGAP giảm dần và có giá trị nhỏ, được duy trì ổn định trong những năm gần đây. Các ngân hàng còn lại có FGAP thay đổi khá nhiều trong giai đoạn 2012 – 2021, trong đó một số ngân hàng có xu hướng FGAP tăng như các ngân hàng có mã chứng khoán sau: ABB, MBB, MSB, SHB, VPB, ….

Hình 4.1. Khe hở tài trợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

Quy mô tổng tài sản (SIZE): Quy mô của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu có giá trị trung bình là 8,1655 với độ lệch chuẩn là 0,4599. Giá trị trung bình về quy mô tổng tài sản của các ngân hàng trong khoảng từ 7,7056 đến 8,6254. SIZE nhỏ nhất là 7,1796 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong (mã chứng khoản: TPB) năm 2012 và SIZE lớn nhất là 9,2459 của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (mã chứng khoán: BID, tên viết tắt: BIDV) vào năm 2021. BIDV là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tính đến năm 2021, tổng quy mô tài sản của 24 ngân hàng trong mẫu nghiên cứu đã đạt hơn 10,5 triệu tỷ đồng. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) và Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) là nhóm 3 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước và luôn dẫn đầu về quy mô tài sản trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Năm 2021 tổng tài sản của nhóm 3 ngân hàng này lần lượt là 1.761.695.792 tỷ đồng (BIDV), 1.531.587.398 tỷ đồng (VietinBank) và 1.440.648.255 tỷ đồng (Vietcombank). Biểu đồ diễn biến quy mô tổng tài sản của 24 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021 được thể hiện ở Hình 4.2 dưới đây.

Hình 4.2. Quy mô tổng tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE trong bộ dữ liệu nghiên cứu có giá trị trung bình là 0,1241 với độ lệch chuẩn là 0,0910. Giá trị trung bình của ROE nằm trong khoảng từ mức 0,0331 đến 0,2151. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp nhất là của Ngân hàng TMCP Việt Á (mã chứng khoán: VAB) năm 2016 là 0,0510 và tỷ lệ cao nhất thuộc về Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt (mã chứng khoán: LPB) năm 2017 là 0,4456. Chỉ số ROE đo lường hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Như vậy, ROE cho biết với một đồng vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp làm ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hình 4.3 thể hiện diễn biến của tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của 24 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2012 – 2021, trong đó giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015 thì ROE của các ngân hàng có xu hướng giảm, từ năm 2015 đến năm 2017 tăng trở lại nhưng sau đó giảm xuống vào năm 2018. Từ năm 2018 trở về sau đến năm 2021 thì ROE có xu hướng ổn định hơn và tăng nhẹ qua các năm.

Hình 4.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP): Thống kê mô tả tại bảng 4.1 cho thấy CAP có giá trị trung bình là 0,0865 và độ lệch chuẩn của biến này là 0,0323, tương ứng giá trị trung bình của CAP biến động từ 0,0542 đến 0,1188. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản nhỏ nhất là 0,0372 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong (mã chứng khoán: TPB) vào năm 2016. CAP lớn nhất là 0,2205 của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (mã chứng khoán: VPB) vào năm 2021. Hình 4.4 thể hiện diễn biến tỷ lệ CAP qua các năm của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021. Theo đó hầu hết các ngân hàng đều có xu hướng duy trì ổn định hoặc giảm nhẹ tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, ngoại trừ VPBank và Techcombank thì có tỷ lệ CAP tăng rõ nét ở giai đoạn 2017 – 2021.

Hình 4.4. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA): Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có giá trị trung bình là 0,5846 và độ lệch chuẩn là 0,1308. Giá trị trung bình của TLA ở mức từ 0,4538 đến 0,7154. TLA nhỏ nhất là 0,2224 của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (mã chứng khoán: SSB) vào năm 2012. TLA cao nhất là 0,9771 của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (mã chứng khoán: VPB) ở năm 2016. Hình 4.5 thể hiện diễn biến tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản từ năm 2012 đến năm 2021 của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Qua đó thấy được tỷ lệ CAP của các ngân hàng có xu hướng tăng nhẹ trong giai đoạn nghiên cứu. Riêng VPBank có tỷ lệ CAP tăng vượt trội trong khoảng thời gian năm 2015 – 2016. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Hình 4.5. Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

Tỷ lệ nợ xấu (NPL): Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam ở giai đoạn năm 2012 – 2021 có giá trị trung bình là 0,0212, độ lệch chuẩn là 0,0151. Từ năm 2012 đến năm 2021 NPL có giá trị trung bình từ 0,0061 đến 0.0363. NPL nhỏ nhất là 0,0047 của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương (mã chứng khoán: TCB) ở năm 2020. NPL lớn nhất là 0,1581 của Ngân hàng TMCP Phát triển TP.Hồ Chí Minh (mã chứng khoán: HDB) ở năm 2017. Hình 4.6 thể hiện diễn bến của tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2021. Các ngân hàng đã duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp và giảm dần qua các năm, tuy nhiên diễn biến cho thấy Ngân hàng TMCP Nam Á (mã chứng khoán: NAB) có tỷ lệ nợ xấu tăng rất cao vào khoảng thời gian năm 2016 – 2018 nhưng cũng đã duy trì ổn định trở lại vào các năm sau đó. Nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước là Vietcombank, VietinBank và BIDV (mã chứng khoán lần lượt là VCB, CTG và BID) có tỷ lệ nợ xấu gần như là thấp nhất trong hệ thống và luôn duy trì ở mức ổn định.

Hình 4.6. Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR): Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng giai đoạn 2012 – 2021 của các ngân hàng thương mại Việt Nam có giá trị trung bình là 0,0132, độ lệch chuẩn là 0,0051 tương ứng với giá trị trung bình của biến LLR từ 0,0081 đến 0,0183. LLR nhỏ nhất là -0,0106 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong năm 2017 và giá trị LLR lớn nhất là 0,0278 của 2 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Đông Nam Á năm 2012 và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng năm 2021. Giữa các quan sát có chênh lệch khá lớn về giá trị của biến LLR. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên nhưng biên độ dao động khá thấp thể hiện qua các đồ thị ở Hình 4.7 dưới đây.

Hình 4.7. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): Trong giai đoạn 2012 – 2021 tốc độ tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam có giá trị trung bình là 0,0583. Với độ lệch chuẩn là 0,0169 thì GDP trung bình biến động từ 0,0414 đến 0,0752. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tương đối ổn định, mức độ biến động không quá nhiều, giá trị nhỏ nhất của GDP là 0,0256 của năm 2021 và giá trị lớn nhất là 0,0746 của năm 2018.

Trong giai đoạn 2012 – 2021 tỷ lệ lạm phát (INF) của Việt Nam có sự biến động lớn, giá trị trung bình là 0,038, độ lệch chuẩn là 0,023 tương ứng với giá trị trung bình của biến INF từ 0,015 đến 0,061. INF thấp nhất là 0,0063 là tỷ lệ lạm phát của năm 2015. INF cao nhất là 0,0909 ở năm 2012. Hình 4.8 dưới đây thể hiện diễn biến của GDP và INF của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021.

Hình 4.8. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và Tỷ lệ lạm phát (INF) của Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021

4.1.2. Kết quả phân tích sự tương quan Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Phân tích sự tương quan nhằm mục đích xác định mức độ tương quan mạnh hay yếu, cùng chiều hay ngược chiều giữa từng cặp biến với nhau trong mô hình nghiên cứu. Phân tích sự tương quan còn nhằm mục đích nhận diện được có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến hay không. Kết quả phân tích tương quan được trình bày tại bảng 4.2 sau:

Bảng 4.2. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

SIZE ROE CAP TLA NPL LLR GDP INF
SIZE 1.0000
ROE 0.3732 1.0000
CAP -0.4069 -0.0836 1.0000
TLA 0.3782 0.1436 0.0166 1.0000
NPL -0.2039 -0.2357 0.1946 -0.0730 1.0000
LLR 0.1696 -0.0327 0.1554 -0.0841 0.2364 1.0000
GDP -0.1543 -0.0852 -0.0891 -0.0673 0.0440 -0.1687 1.0000
INF -0.2611 -0.0842 0.2457 -0.3032 0.2488 0.2696 -0.0290 1.0000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata

Theo Gujarati (2011), hệ số tương quan của cặp biến độc lập bất kỳ có giá trị tuyệt đối lớn hơn 0,8 thì mô hình nghiên cứu đó sẽ có hiện tượng đa cộng tuyến. Kết quả phân tích sự tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu này cho thấy hệ số tương quan giữa các biến độc lập đều có giá trị nhỏ hơn 0,8. Do đó kết luận không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến trong mô hình nghiên cứu đã đề xuất (Farrar và Glauber, 1967).

4.2. Kết quả mô hình hồi quy Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Để phân tích xu hướng và mức độ tác động của các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng, bài nghiên cứu này tiếp cận hai cách ước lượng mô hình gồm: Mô hình hồi quy tác động cố định (FEM – Fixed Effects Model) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM Random Effects Model). Kiểm định Hausman được sử dụng để kiểm định sự phù hợp của mô hình.

4.2.1. Kết quả mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM)

Bảng 4.3. Tổng hợp kết quả hồi quy của mô hình FEM và mô hình REM

Các biến độc lập Mô hình FEM Mô hình REM
Hệ số hồi quy Giá trị kiểm định P Hệ số hồi quy Giá trị kiểm định P
SIZE 0.2199*** 0.000 0.1111*** 0.000
ROE 0.05778 0.327 0.0953 0.110
CAP 1.0729*** 0.000 0.8893*** 0.000
TLA 0.5582*** 0.000 0.5853*** 0.000
NPL -0.5106* 0.087 -0.4896 0.113
LLR -2.5899** 0.014 -2.9984** 0.005
GDP 0.3844 0.156 -0.1122 0.669
INF 1.3697*** 0.000 0.9346*** 0.000
R-Squared 0.6421 0.6228
***, **, * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Kết quả hồi quy với mô hình FEM cho thấy: Biến ROE, NPL và GDP không có ý nghĩa thống kê vì có giá trị kiểm định P lớn hơn 5%. Kết quả ước lượng cho thấy quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA) và tỷ lệ lạm phát (INF) có mối quan hệ cùng chiều với khe hở tài trợ (FGAP), nghĩa là khi các yếu tố này tăng lên thì rủi ro thanh khoản của ngân hàng cũng tăng lên. Các biến độc lập SIZE, CAP, TLA, INF được chấp nhận để giải thích cho biến phụ thuộc FGAP với mức ý nghĩa thống kê 1%. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) có mối quan hệ ngược chiều với khe hở tài trợ, nghĩa là khi tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tăng thì rủi ro thanh khoản giảm và ngược lại. Biến LLR được chấp nhận giải thích cho biến phụ thuộc FGAP với mức ý nghĩa thống kê là 5%.

Ước lượng với mô hình REM cũng cho kết quả tương tự với kết quả của mô hình FEM khi có 3 biến không có ý nghĩa thống kê là ROE, NPL và GDP vì có giá trị kiểm định P lớn hơn 5%. Biến SIZE, CAP, TLA và INF có mối quan hệ cùng chiều với FGAP và có mức ý nghĩa thống kê 1%. Trong khi đó biến LLR có mối quan hệ ngược chiều với FGAP và được chấp nhận để giải thích cho biến phụ thuộc FGAP với mức ý nghĩa là 5%.

4.2.2. Kiểm định sự phù hợp giữa mô hình FEM và REM

Kiểm định Hausman được sử dụng trong bài nghiên cứu để lựa chọn mô hình phù hợp hơn giữa mô hình FEM và mô hình REM. Giả thuyết như sau:

  • H0: Mô hình REM là phù hợp (không có tương quan giữa các biến độc lập và phần dư).
  • H1: Mô hình FEM là phù hợp (có tương quan giữa các biến độc lập và phần dư).

Kết quả kiểm định Hausman như sau:

Bảng 4.4. Kết quả kiểm định Hausman

Kiểm định Chi bình phương P-value
Hausman 34.37 0.0000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata

Sau khi thực hiện kiểm định Hausman cho việc lựa chọn giữa mô hình FEM và REM, kết quả cho thấy giá trị Prob>chi2 = 0.0000 < 0,05 nên kết luận bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy, phương pháp ước lượng FEM là mô hình phù hợp hơn để nghiên cứu. Từ kết quả kiểm định trên, mô hình FEM được chọn là mô hình hồi quy của mô hình nghiên cứu để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

4.3. Kiểm định các giả thuyết hồi quy, khuyết tật mô hình và khắc phục khuyết tật của mô hình Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Để đảm bảo kết quả nghiên cứu vững chắc, tác giả thực hiện các kiểm định khuyết tật mô hình gồm: Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi và kiểm định hiện tượng tự tương quan.

4.3.1. Kiểm định phương sai thay đổi

Bảng 4.5. Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi

Kiểm định Chi-Square P-value
Wald 336.70 0.0000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stat a

Tác giả sử dụng kiểm định Wald để kiểm định hiện tượng phương sai thay đổ i của mô hình lựa chọn với giả thuyết kiểm định như sau:

  • H0: Không có hiện tượng phương sai thay đổi
  • H1: Có hiện tượng phương sai thay đổi

Kết quả kiểm định phương sai thay đổi cho kết quả Prob>chi2 = 0,0000 < 0,05 .

Do đó giả thuyết H0 bị bác bỏ, chấp nhận giả thuyết H1. Kết luận rằng có hiệ n tượng phương sai thay đổi trong mô hình FEM. Vì vậy, nghiên cứu sẽ tiếp tục thự c hiện xử lý khuyết tật để thu được mô hình chính xác.

4.3.2. Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Bảng 4.6. Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan

Kiểm định Giá trị thống kê F Prob > F
Woolridge 29.735 0.0000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata

Tác giả sử dụng kiểm định Woolridge để kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình lựa chọn với giả thuyết kiểm định như sau:

  • H0: Không có hiện tượng tự tương quan
  • H1: Có hiện tượng tự tương quan

Kiểm định hiện tượng tự quan cho kết quả Prob > F = 0,0000 < 0,05. Như vậy giả thuyết H0 bị bác bỏ và chấp nhận giả thuyết H1. Kết luận rằng có hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM.

Vì mô hình FEM có cả hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan nên tác giả tiến hành xử lý khuyết tật để có được mô hình chính xác.

4.3.3 Khắc phục khuyết tật của mô hình lựa chọn Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Sau khi thực hiện các kiểm định trên thì mô hình hồi quy tác động cố định FEM có hiện tương phương sai thay đổi và hiện tương tự tương quan. Do vậy, để khắc phục khuyết tật của mô hình, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy FGLS. Mô hình FEM có kết quả ước lượng như bảng 4.7 sau khi đã khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan.

Bảng 4.7. Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS

Các biến độc lập FGAP
Hệ số hồi quy Sai số chuẩn Giá trị P-value
SIZE 0.0446** 0.0191 0.020
ROE 0.1154** 0.0534 0.031
CAP 0.6517*** 0.2158 0.003
TLA 0.5242*** 0.0539 0.000
NPL -0.3888* 0.2258 0.085
LLR -0.4508 0.9797 0.645
GDP 0.0607 0.2307 0.792
INF 0.4414** 0.1878 0.019
Số quan sát 240
Wald chi2 (8) 165.55
Prob>chi2 0.0000
***, **, * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata

Sau khi thực hiện ước lượng FGLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan, mô hình có ý nghĩa ở mức 1% do có Prob = 0,0000.

Kết luận mô hình hồi quy xây dựng là phù hợp.

Kết quả mô hình FEM sau khi khắc phục khuyết tật cho kết quả các biến NPL, LLR, GDP có giá trị p-value lớn hơn 5% – không có ý nghĩa thống kê nên bị loại ra khỏi mô hình. Các biến còn lại gồm SIZE, ROE, CAP, TLA và INF có tương quan dương với biến phụ thuộc FGAP.

4.3.4. Kiểm định các giả thuyết thống kê sau khi khắc phục khuyết tật

Căn cứ vào kết quả ước lượng FGLS từ bảng 4.7, mô hình nghiên cứu có phương trình hồi quy như sau:

FGAP = -0,8316 + 0,0446SIZEi,t + 0,1154ROEi,t + 0,6517CAPi,t + 0,5242TLAi,t – 0,3888NPLi,t – 0,4508LLRi,t + 0,0607GDPt + 0,4414INFt + ɛi Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Bảng 4.8. Tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

Các biến độc lập Biến phụ thuộc FGAP
Giả thuyết Kết quả
Ảnh hưởng Ảnh hưởng Mức ý nghĩa
SIZE + **
ROE + + **
CAP + + ***
TLA + + ***
NPL + Không có ý nghĩa thống kê
LLR + Không có ý nghĩa thống kê
GDP Không có ý nghĩa thống kê
INF + + **
R-Squared 0.6421
***, **, * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata

4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.4.1. Kết quả về mô hình nghiên cứu

Kết quả hồi quy của mô hình FEM và REM cho dữ liệu bảng của 24 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 – 2021 thì cả hai mô hình đều tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan. Để khắc phục khuyết tật của mô hình, ước lượng FGLS được tác giả thực hiện và cho kết quả mô hình phù hợp hơn là mô hình FEM. Kết quả của mô hình FGLS được dùng để thảo luận kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2021.

Với mức ý nghĩa 5%, hệ số xác định R-square của mô hình 0,642 cho thấy các biến độc lập trong mô hình gồm SIZE, ROE, CAP, TLA và INF giải thích được 64,2% sự thay đổi của biến phụ thuộc là FGAP trong giai đoạn 2012 – 2021.

Biến SIZE, ROE và INF có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, biến CAP, TLA có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, còn các biến NPL, LLR và GDP không có ý nghĩa thống kê trong mô hình.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản của ngân hàng chịu tác động cùng chiều với các nhân tố quy mô tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ lạm phát. Ngoài ra, kết quả từ mô hình nghiên cứu không chỉ ra mối quan hệ nào giữa tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng kinh tế với rủi ro thanh khoản của ngân hàng. So với kỳ vọng ban đầu của các giả thuyết nghiên cứu thì kết quả hồi quy mô hình cho thấy chiều hướng tương quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc khá tương đồng với chiều hướng tác động kỳ vọng, ngoại trừ biến độc lập SIZE cho kết quả ảnh hưởng trái ngược với kỳ vọng ban đầu.

4.4.2. Kết luận về các giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng với mức ý nghĩa thống kê 5% trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Kết quả này đi ngược lại với giả thuyết H1 đặt ra của mô hình nghiên cứu. Tuy nhiên, kết quả của mô hình nghiên cứu này lại phù hợp với các kết quả trong nghiên cứu của tác giả Akhtar và cộng sự (2011) hay nghiên cứu của tác giả Doriana Cucinelli (2013). Các ngân hàng có quy mô lớn sẽ tận dụng điều này để giảm dữ trữ tài sản thanh khoản và tăng đầu tư vào tài sản có tính thanh khoản cao mang lại lợi nhuận cao tương ứng cho ngân hàng. Điều này gây ra nguy cơ gia tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. Với kết quả của mô hình nghiên cứu, quy mô của ngân hàng có hệ số β = 0,0446 cho thấy khi quy mô ngân hàng tăng 1 đơn vị thì khe hở tài trợ sẽ tăng lên 0,0446 đơn vị.

Kết luận: Quy mô ngân hàng (SIZE) ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Bác bỏ giả thuyết H1.

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021 với mức ý nghĩa thống kê là 5%. Điều này tương thích với giả thuyết H2 đặt ra ban đầu cho mô hình nghiên cứu và tương tự với kết quả nghiên cứu của Vodova (2013). Với kết quả của mô hình nghiên cứu, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có hệ số β = 0,1154, cho thấy khi tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu tăng 1 đơn vị thì khe hở tài trợ tăng 0,1154 đơn vị.

Các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận bằng cách tăng cường các hoạt động cấp tín dụng hoặc đầu tư vào danh mục tiềm ẩn rủi ro. Những khoản đầu tư này có giá trị lớn, nếu gặp thị trường biến động hoặc thị trường không thuận lợi thì nguy cơ ngân hàng phải đối diện với khó khăn là rất lớn, đặc biệt đe dọa đến thanh khoản của ngân hàng.

Kết luận: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chấp nhận giả thuyết H2. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP) có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn 2012 – 2021 với mức ý nghĩa thống kê là 5%. Kết quả này có nghĩa là tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng cao thì rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng cao. Kết quả này phù hợp với giả thuyết H3 của mô hình, đồng thời tương đồng với các nghiên cứu của tác giả Trương Quang Thông (2013), Vodova (2011), Aspachs và cộng sự (2005). Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản trong mô hình có hệ số β = 0,6517, như vậy khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu tăng 1 đơn vị thì khe hở tài trợ tăng 0,6517 đơn vị.

Trong giai đoạn từ năm 2012 – 2021 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bắt buộc các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ để cải thiện hệ số an toàn vốn tối thiểu (hệ số CAR) theo tiêu chuẩn của Basel. Khi ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu để nâng cao năng lực tài chính sẽ tạo ra áp lực đối với chính ngân hàng khi phải có kế hoạch gia tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng, đầu tư sao cho tốc độ gia tăng lợi nhuận tương ứng với tốc độ gia tăng vốn chủ sở hữu để không làm giảm đi tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Với áp lực phải gia tăng lợi nhuận trong khi hệ số an toàn vốn phải tăng đã buộc ngân hàng phải gia tăng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản thông qua việc mở rộng đầu tư vào các tài sản thanh khoản thấp và đẩy mạnh tín dụng. Đó chính là yếu tố làm gia tăng rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Khi nguồn vốn của ngân hàng tăng lên thì ngân hàng thường có xu hướng đầu tư vào các tài sản rủi ro cao vì mục tiêu lợi nhuận và bù đắp cho chi phí vốn. Ngoài ra, các ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu lớn sẽ phải dự trữ thanh khoản nhiều hơn, từ đó làm gia tăng rủi ro thanh khoản.

Kết luận: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP) ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chấp nhận giả thuyết H3.

Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA) có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng với mức ý nghĩa thống kê là 1%. Kết quả này phù hợp với giả thuyết H4 của mô hình và tương đồng với kết luận nghiên cứu của tác giả Trương Quang Thông (2013) và Đặng Văn Dân (2015). Mô hình hồi quy cho kết quả hệ số β = của biến tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản là 0,5242, nghĩa là khi tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản tăng 1 đơn vị thì khe hở tài trợ tăng 0,5242 đơn vị.

Theo Đặng Văn Dân (2015), ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản cao thì ngân hàng sẽ giảm dự trữ thanh khoản, dẫn tới gia tăng rủi ro thanh khoản. Hoạt động cho vay có tính thanh khoản thấp, do vậy ngân hàng cho vay càng nhiều thì nguy cơ ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản càng cao. Khi ngân hàng tăng tỷ lệ cho vay đồng nghĩa với việc giảm nắm giữ tài sản thanh khoản cao để tập trung vào cho vay và nếu có những khoản rút tiền lớn không được báo trước thì ngân hàng sẽ rơi vào trạng thái mất thanh khoản. Rủi ro thanh khoản càng cao khi ngân hàng cho vay càng nhiều. Mặc dù tỷ trọng về lợi nhuận do hoạt động tín dụng mang lại cho ngân hàng chiếm phần lớn nhưng hoạt động này lại tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngoài ra, khi ngân hàng chú trọng tăng cường tín dụng sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng, điều đó kéo theo làm gia tăng rủi ro thanh khoản (Đặng Văn Dân, 2015).

Kết luận: Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA) ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chấp nhận giả thuyết H4.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) trong mô hình không có ý nghĩa thống kê. Kết quả đi ngược lại với giả thuyết H5 của mô hình. Kết quả từ mô hình hồi quy chưa đủ cơ sở kết luận tỷ lệ nợ xấu có tác động đáng kể đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

Kết luận: Chưa đủ cơ sở kết luận tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Bác bỏ giả thuyết H5.

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu và đi ngược lại với giả thuyết H6 của mô hình. Từ kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu cho thấy chưa đủ cơ sở để kết luận tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2021.

Kết luận: Chưa đủ cơ sở kết luận tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Bác bỏ giả thuyết H6.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu. Như vậy ở giai đoạn nghiên cứu này, chưa có đủ cơ sở kết luận về tác động của tốc độ tăng trưởng kinh tế đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng.

Kết luận: Chưa đủ cơ sở kết luận tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Bác bỏ giả thuyết H7.

Tỷ lệ lạm phát (INF) có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng với mức ý nghĩa thống kê là 1%. Kết quả này phù hợp với giả thuyết H8 của mô hình. Khi tỷ lệ lạm phát tăng 1 đơn vị thì rủi ro thanh khoản tăng 0,4414 đơn vị.

Khi tỷ lệ lạm phát gia tăng sẽ làm cho môi trường kinh tế vĩ mô có chiều hướng xấu đi, từ đó khiến thanh khoản của ngân hàng giảm xuống (Vodova, 2011). Trong thời kỳ nền kinh tế có lạm phát tăng, việc huy động vốn của ngân hàng trở nên khó khăn bởi người dân lo ngại đồng tiền mất giá sẽ không dùng tiền nhàn rỗi để gửi tiết kiệm ở ngân hàng, thay vào đó người dân sẽ để tiền vào tài sản khác để tích lũy. Điều đó làm cung thanh khoản của ngân hàng sụt giảm, từ đó làm tăng rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Xét về hoạt động tín dụng, trong thời kỳ lạm phát tăng thì lãi suất cho vay tăng, khả năng trả nợ của người vay bị suy giảm do áp lực về khoản nợ lớn hơn, từ đó rủi ro thanh khoản của ngân hàng cũng có nguy cơ gia tăng. Khi nền kinh tế tăng trưởng, các ngân hàng sẽ gia tăng cấp tín dụng hơn là dự trữ tài sản có tính thanh khoản nhằm mục đích sinh lời. Điều đó cũng làm gia tăng rủi ro thanh khoản.

Kết luận: Tỷ lệ lạm phát (INF) ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chấp nhận giả thuyết H8.

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Chương 4 trình bày kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, đồng thời thể hiện kết quả phân tích sự tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Trong chương này, tác giả lần lượt thực hiện phân tích hồi quy theo mô hình FEM, REM và sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp hơn. Mô hình FEM được chấp nhận, tuy nhiên lại tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan nên phương pháp ước lượng FGLS được tiếp tục sử dụng để khắc phục khuyết tật của mô hình. Cuối cùng, tại chương 4 tác giả trình bày kết quả của nghiên cứu, thảo luận về chiều hướng tác động của các nhân tố đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Tác giả so sánh kết quả nghiên cứu với giả thuyết đặt ra ban đầu và nêu ra kết luận. Các yếu tố về quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ lạm phát có ý nghĩa thống kê và có tác động cùng chiều với rủi ro thanh khoản. Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và tốc độ tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu.

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG VIỆC QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

5.1. Kết luận của nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả của những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu đã trình bày ở chương 2 của luận văn, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp để đạt được mục tiêu nghiên cứu và trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu. Kết quả phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết đã được thực hiện và cho ra kết quả ước lượng FGLS là phù hợp nhất để phân tích về các nhân tố có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Rủi ro thanh khoản của ngân hàng là một tiêu chí vô cùng quan trọng nhằm nhận định về tính hiệu quả trong hoạt động và xem xét mức độ an toàn của các ngân hàng. Kết quả nghiên cứu về dữ liệu của 24 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021 cho thấy các nhân tố có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu bao gồm: Quy mô ngân hàng, Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và Tỷ lệ lạm phát. Các yếu tố kể trên đều có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng, kết quả này khá tương đồng so với kỳ vọng đặt ra ban đầu của tác giả và cũng tương đồng với một số nghiên cứu trước có liên quan. Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng cho thấy rủi ro thanh khoản ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021 không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố Tỷ lệ nợ xấu, Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có thể nguyên nhân do các ngân hàng công bố chưa chính xác và đầy đủ số liệu về nợ xấu hàng năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đồng thời cũng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu. Vì vậy, nhằm giảm thiểu rủi ro thanh khoản thì các ngân hàng cần tăng cường kiểm soát việc tăng trưởng nguồn vốn và kế hoạch mở rộng quy mô, nâng cao năng lực điều hành, quản trị các rủi ro, đặc biệt là kiểm soát nghiệp vụ cho vay. Cụ thể các phân tích về kết quả của nghiên cứu như sau:

Về nhóm các yếu tố nội tại của ngân hàng thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có vai trò quan trọng và ảnh hưởng mạnh đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2021. Nghiên cứu cho kết quả rằng quy mô tổng tài sản của một ngân hàng thì có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng đó. Như vậy, các ngân hàng cần quan tâm đến khả năng quản trị rủi ro sao cho tương đồng với mức độ thay đổi quy mô của ngân hàng. Ngân hàng có quy mô tổng tài sản càng lớn thì ngân hàng cần tăng cường đầu tư vào tài sản có tính thanh khoản cao, hạn chế việc chỉ tập trung vào đầu tư nhằm gia tăng lợi nhuận. Khi cần gia tăng tài sản thì ngân hàng phải sử dụng đến nợ vay, chính điều đó làm cho ngân hàng có thể phải đối diện với rủi ro thanh toán khi các khoản nợ đến hạn trong tình cảnh tình hình kinh doanh không hiệu quả. Ở trường hợp này, nếu ngân hàng nắm giữ nhiều hơn tài sản có tính thanh khoản tốt thì sẽ hạn chế được nguy cơ đối mặt với rủi ro. Vì vậy, việc xây dựng và tuân thủ các chỉ số an toàn hoạt động là việc làm cấp thiết của mỗi ngân hàng để hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động kinh doanh, song song đó các chính sách kiểm soát tài sản rủi ro cao và phân bổ hợp lý các tài sản của mình cũng là việc làm cần được các ngân hàng chú trọng.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2021. Khi các ngân hàng hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thì sẽ đi kèm với nguy cơ đối mặt với rủi ro cao. Việc đa dạng hóa trong cách thức hoạt động và sử dụng hợp lý đòn bẩy tài chính sẽ là công cụ vừa giúp ngân hàng ổn định mục tiêu lợi nhuận và vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh.

Nhân tố tiếp theo có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng đó là tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Khi ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu nhưng tỷ lệ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ tăng phí dịch vụ không tương đồng thì tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ bị giảm xuống. Do đó, việc tăng vốn chủ sở hữu đòi hỏi các ngân hàng phải đồng thời gia tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng và đầu tư. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

  • Chính điều đó khiến ngân hàng có nguy cơ đối diện với rủi ro.

Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản cũng có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Các ngân hàng cần đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm soát, giám sát nội bộ nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn phát sinh nợ xấu. Khi ngân hàng gia tăng hoạt động cho vay mà không kiểm soát được mục đích hay đối tượng vay vì mục tiêu nhanh chóng gia tăng lợi nhuận thì nợ xấu, nợ quá hạn của ngân hàng sẽ gia tăng. Nợ xấu khiến ngân hàng bị suy giảm lợi nhuận và buộc phải trích lập dự phòng, giảm dự trữ tiền mặt và giảm tỷ lệ tài sản thanh khoản cao, đồng thời phải đi vay từ thị trường tiền tệ để không làm ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng. Vì vậy, khi tỷ lệ cho vay tăng thì sẽ đẩy tỷ lệ tăng trưởng tín dụng tăng theo và từ đó mà thanh khoản của ngân hàng sẽ giảm.

Tỷ lệ lạm phát có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2012 – 2021. Trong công tác quản trị rủi ro thanh khoản, việc dự báo biến động của nền kinh tế đóng vai trò quan trọng bởi xuất phát từ dự báo đó thì ngân hàng sẽ có những điều chỉnh phù hợp, cải thiện hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.

Kết quả của bài nghiên cứu cũng đã có những đóng góp như làm rõ các khái niệm về thanh khoản, rủi ro thanh khoản và hệ thống lại cơ sở lý thuyết từ các lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản, lý thuyết khả năng thay đổi, lý thuyết thu nhập dự tính đến các phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản đã được áp dụng trong các nghiên cứu trước. Từ đó, luận văn này đã lựa chọn phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản và tiến hành phân tích trên cơ sở dữ liệu thu thập của các ngân hàng tại Việt Nam, đưa ra hàm ý chính sách đối với từng nhóm nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản nhằm giúp các ngân hàng trong việc quản trị rủi ro thanh khoản.

5.2. Một số hàm ý chính sách và các kiến nghị cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc quản trị rủi ro thanh khoản

Từ kết quả của bài nghiên cứu này, tác giả đưa ra kết luận về các nhân tố có tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng, bao gồm các nhân tố sau: Quy mô của ngân hàng, Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế. Căn cứ vào đó, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách giúp các ngân hàng thương mại trong việc quản trị rủi ro thanh khoản, cụ thể như sau:

Trước hết, các ngân hàng cần tập trung đến việc duy trì một cách hợp lý cơ cấu nguồn vốn huy động và cho vay, cân đối tài sản có và tài sản nợ, đồng thời xác định tỷ lệ phù hợp về mức dự trữ thanh khoản để vừa bảo đảm cho thanh khoản và vừa bảo đảm đạt được lợi nhuận mục tiêu trong phương án kinh doanh của ngân hàng.

Về góc độ quy mô của ngân hàng, kết quả hồi quy của mô hình trong nghiên cứu cho thấy quy mô tổng tài sản của ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Việt Nam. Do đó mà các ngân hàng thương mại nên thận trọng và có lộ trình phù hợp trong việc mở rộng quy mô và mạng lưới hoạt động. Một khi ngân hàng đã mở rộng quy mô thì đồng thời cũng cần chú ý tới việc gia tăng tài sản lưu động nhằm phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra. Các ngân hàng cần có chiến lược an toàn trong việc mở rộng quy mô để đảm bảo duy trì hoạt động ngân hàng bền vững và hiệu quả. Qua đó giúp các ngân hàng có thể hạn chế tối đa rủi ro thanh khoản.

Kết quả từ nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ đó một số hàm ý chính sách nhằm quản trị rủi ro thanh khoản cho ngân hàng được đề xuất như sau: Các ngân hàng thương mại cần sử dụng đòn bẩy tài chính một cách cân bằng để vừa đảm bảo mang lại lợi nhuận tốt mà không làm thâm hụt thanh khoản. Các ngân hàng nên tăng cường đầu tư vào danh mục tài sản ít rủi ro như trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc, … vì các tài sản này vẫn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưng sẽ đảm bảo được mức độ rủi ro rất thấp. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cũng nên đa dạng hình thức hoạt động bằng cách triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử hay cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ ủy thác, … để giảm thiểu chi phí hoạt động, tăng được nguồn thu từ phí dịch vụ. Từ đó gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng mà lại ít tiềm ẩn rủi ro. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Đối với vấn đề về vốn chủ sở hữu, từ kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng cần thiết phải có kế hoạch tăng vốn phù hợp với quy mô của ngân hàng và phù hợp với tình hình nền kinh tế để hướng tới mục tiêu quản trị rủi ro thanh khoản hiệu quả. Một số chiến lược tăng vốn bền vững có thể kể đến như việc phát hành chứng chỉ tiền gửi, không chia cổ tức hay trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ nên được các ngân hàng cân nhắc lựa chọn khi quyết định tăng vốn. Bên cạnh chiến lược tăng vốn thì các ngân hàng cần phải đồng thời lên kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả và an toàn. Các ngân hàng cũng nên hạn chế tối đa việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho vay dài hạn để tránh bị rơi vào thế bị động. Nguồn vốn với mức chi phí không cao có thể được ngân hàng tận dụng để giảm thiểu áp lực thanh toán mà vẫn đảm bảo cho việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng. Ngoài ra, các ngân hàng cần tăng cường nguồn thu từ các hoạt động ngoài lãi hay còn gọi là hoạt động phi tín dụng mà ít rủi ro hơn để giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Một số hoạt động phi tín dụng có thể kế đến như: Dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thẻ (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, …), dịch vụ thanh toán quốc tế. Từ đó, các ngân hàng có thể giảm thiểu được sự phụ thuộc vào thu nhập từ lãi vay trước nay vốn mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên, để phát triển được hoạt động phi tín dụng thì các ngân hàng cần đẩy mạnh chiến lược truyền thông, quảng bá thương hiệu và thực hiện nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút khách hàng.

Cho vay vốn là mảng kinh doanh truyền thống trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Kết quả từ bài nghiên cứu này đã cho thấy rằng tỷ lệ cho vay càng cao thì rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng tăng theo. Vì vậy, khi ngân hàng tăng cường mảng cho vay thì cần quan tâm sát sao đến công tác quản trị và công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, đặc biệt là trong quy trình thẩm định quyết định cho vay để đảm bảo việc tăng trưởng cho vay có hiệu quả, đạt mục tiêu kế hoạch lợi nhuận mà vẫn đảm bảo không làm gia tăng rủi ro thanh khoản. Mỗi ngân hàng có thể xây dựng cho mình một danh mục cho vay đa dạng về ngành nghề để phân tán rủi ro. Tăng trưởng tín dụng cần phải song hành với nâng cao chất lượng tín dụng, tránh việc phát sinh nợ xấu để giảm thiểu rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Bên cạnh việc tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng cần phải xây dựng hệ thống các biện pháp nhằm hạn chế nợ xấu và xử lý quyết liệt vấn đề nợ xấu, đồng thời không ngừng nâng cao, hoàn thiện quy trình và chính sách cho vay sao cho phù hợp với thực tế mà vẫn đảm bảo tính chặt chẽ và nhất quán trong quá trình thực hiện. Nếu tỷ lệ cho vay không được kiểm soát chặt chẽ thì có nguy cơ gây ra nhiều loại rủi ro, trong đó nghiêm trọng nhất là rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. Do đó, khả năng nhận diện rủi ro tín dụng là cơ sở cần thiết để các ngân hàng có thể đánh giá và xây dựng biện pháp phù hợp trong việc kiểm soát rủi ro, qua đó giảm thiểu được nguy cơ mất vốn và giảm thiểu thời gian trong việc xử lý nợ xấu. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Kết quả từ mô hình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản ngân hàng. Như vậy, các cơ quan ban ngành nhà nước, chính phủ có chức năng vô cùng quan trọng trong việc ổn định thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nên thiết lập và thực thi các chính sách điều hành, quản lý cẩn trọng và hiệu quả, phù hợp với thực trạng hoạt động trong từng thời kỳ của hệ thống ngân hàng và phù hợp với từng giai đoạn phát triền của nền kinh tế, từ đó tạo niềm tin cho người dân và dẫn dắt hệ thống tài chính phát triển an toàn, bền vững.

Ngoài các nhân tố đã nêu trên có tác động đến rủi ro thanh khoản thì từng rủi ro cụ thể trong ngân hàng đều có sự liên kết, ảnh hưởng lẫn nhau. Điển hình như rủi ro kỳ hạn và rủi ro tín dụng có mối liên hệ làm gia tăng rủi ro thanh khoản. Vì thế, nhằm duy trì sự ổn định cho hoạt động ngân hàng thì công tác quản trị rủi ro cần được các ngân hàng thực hiện tốt. Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro thanh khoản thì các ngân hàng thương mại cũng phải quản trị tốt nhiều loại rủi ro khác. Khi công tác quản trị rủi ro tốt thì rủi ro thanh khoản cũng sẽ được giảm thiểu. Đồng thời, do đặc thù của ngành ngân hàng là có tính hệ thống. Do vậy, việc các ngân hàng phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau cũng là một giải pháp giúp duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng. Mỗi ngân hàng sẽ có lúc tạm thời dư thừa thanh khoản hoặc có những lúc thiếu thanh khoản tạm thời, khi đó sự hỗ trợ thanh khoản qua lại giữa các ngân hàng trong hệ thống với nhau là vô cùng cấp thiết nhằm duy trì trạng thái thanh khoản cho toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Một vấn đề cũng cần được quan tâm trong công tác quản trị rủi ro thanh khoản ngân hàng đó là các ngân hàng thương mại cần chấp hành nghiêm túc quy định của Nhà nước, pháp luật và thực hiện công tác quản trị rủi ro phù hợp với các thông lệ quốc tế. Việc áp dụng các quy tắc và tiêu chuẩn của Basel III cũng là một trong những phương pháp hữu ích góp phần cho các ngân hàng quản trị tốt rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro thanh khoản.

5.3. Hạn chế của nghiên cứu

Bài nghiên cứu cơ bản đã đạt được kết quả nhất định và trả lời được các câu hỏi đặt ra ban đầu cho nghiên cứu, cũng như đã đạt được những mục tiêu mà tác giả đề ra cho nghiên cứu. Tuy nhiên, bài nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế như sau:

Nghiên cứu chỉ đo lường rủi ro thanh khoản bằng một phương pháp là khe hở tài trợ mà chưa đánh giá dựa trên các chỉ tiêu khác như hệ số thanh khoản hay khe hở chuyển đổi thanh khoản. Việc sử dụng thêm một số phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản khác sẽ giúp mở rộng cách tiếp cận và có thể đánh giá một cách tổng thể hơn về rủi ro thanh khoản của ngân hàng.

Nghiên cứu chưa thực hiện phân nhóm các ngân hàng thương mại có cùng quy mô và chưa tiến hành so sánh giữa các ngân hàng thương mại trong mẫu nghiên cứu với nhau cũng như chưa so sánh thực trạng thanh khoản tại Việt Nam với một số quốc gia tương đồng do hạn chế về mặt thời gian. Vì vậy chưa có sự so sánh cụ thể về thực trạng hoạt động của các ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu.

5.4. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Xuất phát từ những điểm hạn chế của nghiên cứu như đã nêu ở trên, hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả đề xuất như sau:

Thứ nhất là, mở rộng nội dung nghiên cứu. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nội dung nghiên cứu theo hướng phân tích thêm các yếu tố khác mà rủi ro thanh khoản ngân hàng có thể chịu ảnh hưởng, bao gồm việc mở rộng nghiên cứu cả các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài của ngân hàng. Các nghiên cứu sau có thể bổ sung một số biến về yếu tố bên ngoài ngân hàng như chỉ số Official Supervisory Power Index (OSP), chỉ số Private Monitoring Index (PMI) dùng để đo lường ảnh hưởng của thể chế và giám sát ngân hàng của chính phủ đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Đồng thời, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng bổ sung thêm phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản bằng các hệ số thanh khoản hoặc bằng phương pháp khe hở chuyển đổi thanh khoản. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Thứ hai là, nghiên cứu các ngân hàng theo từng nhóm cụ thể. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tiến hành phân tích theo nhóm các ngân hàng thương mại có cùng quy mô hoặc theo hình thức như nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần với nhau, nhóm các ngân hàng nước nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, nhóm ngân hàng liên doanh hay nhóm các ngân hàng đặc thù gồm ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng hợp tác xã. Ngoài ra, các nghiên cứu tiếp theo có thể tiếp cận theo hướng nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể một ngân hàng để có những nhận định về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng đó.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Trong chương 5, tác giả trình bày kết luận về ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Theo đó, rủi ro thanh khoản của ngân hàng chịu sự tác động cùng chiều từ các yếu tố quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ lạm phát.

Dựa trên kết quả đạt được từ nghiên cứu, nội dung của chương 5 trình bày một số khuyến nghị cho các ngân hàng thương mại trong việc quản trị rủi ro thanh khoản. Tương ứng với từng kết luận về chiều hướng tác động của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản, các hàm ý chính sách được đưa ra dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tế và phù hợp với thực trạng tài chính – ngân hàng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chương này cũng đã nêu ra một số điểm hạn chế và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho các nghiên cứu sau. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537