Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Tóm tắt:

Luận văn này được tác giả thực hiện nhằm xác định, đánh giá tác động của các nhân tố đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Kết quả từ nghiên cứu là cơ sở để tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc quản trị rủi ro thanh khoản. Mẫu nghiên cứu bao gồm 24 ngân hàng thương mại Việt Nam có niêm yết trên các sàn chứng khoán, phạm vi nghiên cứu là trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2021. Bài luận văn này sử dụng phương pháp khe hở tài trợ (FGAP) để đo lường rủi ro thanh khoản. Đối với các nhân tố có tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng được chia thành hai nhóm, bao gồm: Nhóm các yếu tố nội tại của ngân hàng; Nhóm các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế. Bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro thanh khoản chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau, đó là: Quy mô của ngân hàng, Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và Tỷ lệ lạm phát. Kết quả của luận văn này chưa tìm thấy có mối liên hệ nào giữa các nhân tố: Tỷ lệ nợ xấu, Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và Tốc độ tăng trưởng kinh tế đến rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả kết luận cho các giả thuyết đặt ra cho mô hình và đề ra một số kiến nghị, giải pháp giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam quản trị rủi ro thanh khoản.

Từ khóa: rủi ro thanh khoản, ngân hàng thương mại, khe hở tài trợ.

ABSTRACT

Title: Factors affecting liquidity risk of commercial banks in Vietnam.

Abstract: Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

This study aims to identify and evaluate factors affecting liquidity risk of commercial banks in Vietnam, thereby proposing some policy implications for Vietnamese commercial banks to manage liquidity risk. The research sample includes 24 commercial banks listed on the Vietnam stock exchanges in the period 2012 – 2021. Liquidity risk used in this research model is measured by Financing Gap (FGAP). Factors affecting liquidity risk are divided into two groups: Internal factors và Macro factors. Through panel data regression, research has shown that the liquidity risk is affected by the following factors: Bank’s Size, Return Over Equity Ratio, Equity to Total Assets Ratio, Lending to Total Assets Ratio and Inflation Rate. The result of this study have not found a relationship between Non-performing Loans Ratio, Loan Loss Provisions Ratio, Economic Growth Rate to liquidity risk in commercial banks in Vietnam.

Based on the result of this research, the author has made conclusions for the hypotheses posed for the model and proposed some recommendations to manage liquidity risk for commercial banks in Vietnam.

Keywords: liquidity risk, commercial banks, funding gap.

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

Thanh khoản là một trong những vấn đề cấp thiết hàng đầu quyết định đến sự an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung và của mỗi ngân hàng nói riêng (Đặng Văn Dân, 2015). Nền kinh tế ngày nay có xu hướng phát triển và diễn biến phức tạp hơn, vì thế vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại sẽ càng phải đối diện nhiều hơn với những khó khăn và thách thức. Quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm an toàn cho hoạt động không chỉ của từng ngân hàng nói riêng mà đó còn là yếu tố quyết định sống còn đối với hệ thống ngân hàng nói chung. Thị trường tài chính ngày càng lớn mạnh là nguyên nhân có thể dẫn tới việc hệ thống ngân hàng xuất hiện tình trạng “căng thẳng thanh khoản” khi mà tín dụng tăng nhanh trong khi huy động lại tăng chậm. Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 29/11/2022, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 12,2% so với cuối năm 2021, trong khi đó số liệu về tốc độ tăng trưởng huy động vốn của ngân hàng đến cuối tháng 9/2022 chỉ tăng 4,6%. Tổng nguồn vốn ngắn hạn của ngành ngân hàng chiếm khoảng 80% nhưng 50% tổng dư nợ nền kinh tế lại là cho vay trung dài hạn, cho thấy sự chênh lệch lớn giữa kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay. Điều này dẫn đến hai rủi ro cho ngành ngân hàng là rủi ro thanh khoản và rủi ro chi trả cho người gửi tiền. Rủi ro luôn là thách thức mà các ngân hàng phải đối mặt trong hoạt động kinh doanh thường ngày của ngân hàng, một trong số đó là rủi ro thanh khoản. Việc quản trị rủi ro thanh khoản sẽ càng khó khăn hơn khi nền kinh tế phải đối mặt với nhiều thách thức về thiên tai, dịch bệnh kéo dài như ngày nay. Do vậy, việc đánh giá và phân tích các nhân tố có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng cần được đặc biệt quan tâm để từ đó có các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng và duy trì hệ thống ngân hàng Việt Nam luôn vững mạnh.

Trong lịch sử tài chính thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính ở năm 2007 2008 kéo theo sự sụp đổ của một loạt các định chế tài chính đã cho thấy sự lỏng lẻo trong công tác quản lý thanh khoản của hệ thống tài chính. Theo nhận định của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel (2008) thì chính việc quan tâm chưa đúng mức đến thanh khoản ngân hàng là nguyên nhân cơ bản dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính thế giới ở năm 2008. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong giai đoạn năm 2007 – 2008 đã khiến cả hệ thống ngân hàng thế giới phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh khoản của cả hệ thống ngân hàng cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới mà Việt Nam cũng nằm trong số đó. Thanh khoản là một trong những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến sự tồn tại của một ngân hàng bởi thanh khoản cho biết năng lực trong việc đáp ứng nhu cầu tức thời về tiền của một ngân hàng. Đặc thù của hệ thống ngân hàng là có tính dây chuyền và mức độ lan truyền của rủi ro thanh khoản là rất lớn, vì thế nếu một ngân hàng trong hệ thống có vấn đề về thanh khoản thì sẽ tác động không nhỏ đến cả hệ thống ngân hàng. Khi một ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu về tiền của thị trường thì sẽ dẫn đến vỡ nợ hay hiện tượng mất khả năng thanh toán, từ đó có khả năng gây ra sự sụp đổ dây chuyền của các ngân hàng và thậm chí là sự suy yếu của toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Theo Eichberger và cộng sự (2005), rủi ro thanh khoản là loại rủi ro nguy hiểm nhất trong các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối diện. Lý do là bởi rủi ro thanh khoản có khả năng đe dọa đến sự an toàn không những của từng ngân hàng riêng lẻ mà thậm chí là toàn bộ hệ thống ngân hàng. Một trong những mục tiêu cần được ưu tiên trong hoạt động quản lý và điều hành ngân hàng đó là phải đảm bảo thanh khoản cho toàn bộ hệ thống ngân hàng, khi đó rủi ro thanh khoản của ngân hàng mới được giảm xuống. Theo Niresh (2012), các ngân hàng luôn cố gắng đạt được sự hài hòa giữa vấn đề sinh lời và vấn đề thanh khoản. Việc duy trì thanh khoản quá cao có thể làm giảm cơ hội đầu tư sinh lời cho ngân hàng, tuy nhiên khi khả năng thanh khoản ở mức quá thấp sẽ là nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và ổn định của ngân hàng. Do đó, cung – cầu thanh khoản phải luôn được điều tiết cân bằng nhằm hạn chế những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Theo Đặng Văn Dân (2015), quản trị rủi ro thanh khoản là công việc cần thiết nhằm duy trì sự an toàn cho hoạt động trong từng ngân hàng thương mại nói riêng và cho toàn hệ thống ngân hàng nói chung. Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng đã trải qua nhiều cuộc cải cách và có nhiều bước tiến mới, tuy nhiên vấn đề về thanh khoản của ngân hàng vẫn là vấn đề cốt lõi cần được chú trọng hàng đầu. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Trên cơ sở kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước đã nêu trên và căn cứ vào thực tế về thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam, tác giả nhận thấy rủi ro thanh khoản luôn là một vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ trong ngành ngân hàng nói riêng mà còn đối với nền kinh tế nói chung. Để đảm bảo hoạt động của ngân hàng hiệu quả thì vấn đề về thanh khoản rất cần được quan tâm và tiếp tục nghiên cứu xuyên suốt theo từng giai đoạn của nền kinh tế. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn. Điểm mới trong phạm vi nghiên cứu lần này đó là tác giả sẽ đánh giá các nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2021. Từ đó, kết quả của bài luận văn nhằm đưa ra một số hàm ý chính sách trong việc quản trị rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng.

1.2. Mục tiêu của nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Qua đó, bài nghiên cứu nhằm đề xuất một số hàm ý chính sách cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc quản trị rủi ro thanh khoản.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tổng quan các tài liệu và các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế nghiên cứu dữ liệu tại Việt Nam, mục tiêu cụ thể của bài nghiên cứu này gồm hai mục tiêu chính như sau:

Thứ nhất là, mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm đánh giá các nhân tố nội tại của ngân hàng và các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu nhằm làm rõ chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố đó đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Thứ hai là, dựa trên kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách liên quan đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Từ những mục tiêu đã đề ra như trên, bài nghiên cứu nhằm giải quyết và làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:

Các nhân tố nào có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam?

Các nhân tố được đánh giá có mức độ tác động như thế nào đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam?

Dựa trên kết quả của bài nghiên cứu, tác giả đề xuất các hàm ý chính sách nào cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc quản trị rủi ro thanh khoản?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam (trong đó rủi ro thanh khoản được đo lường bằng chỉ số khe hở tài trợ – FGAP) và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Tác giả tiến hành thu thập và nghiên cứu số liệu trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021 của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tác giả lựa chọn giai đoạn nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2021 nhằm phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là phân tích vấn đề thanh khoản của các ngân hàng và ảnh hưởng của các yếu tố nội tại ngân hàng cũng như ảnh hưởng của chính sách vĩ mô đến vấn đề thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Giai đoạn nghiên cứu bắt đầu từ năm 2012 vì đây là thời gian các ngân hàng đang phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính và là thời điểm có thể thu thập được đầy đủ số liệu từ báo cáo của các ngân hàng. Phạm vi thời gian nghiên cứu kết thúc tại năm 2021 vì đây là thời điểm có các số liệu cập nhật gần nhất và mới nhất của các ngân hàng tại thời điểm tác giả tiến hành nghiên cứu.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu, tác giả dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài này để đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp. Vì dữ liệu trong bài nghiên cứu là dữ liệu theo cả thời gian và không gian nên tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng phân tích hồi quy dữ liệu dạng bảng cân xứng (balanced panel data) nhằm mục đích đánh giá về mức độ tác động của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Các phương pháp ước lượng được sử dụng trong đề tài này gồm: Mô hình hồi quy tác động cố định (FEM – Fixed Effects Model) và Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM – Random Effects Model). Kiểm định Hausman được sử dụng để kiểm định sự phù hợp và lựa chọn giữa hai mô hình FEM và mô hình REM.

Nghiên cứu đồng thời cũng tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai thay đổi đối với mô hình được lựa chọn. Kết quả kiểm định nếu tồn tại một trong hai hiện tượng trên hoặc có cả hai thì nghiên cứu sẽ tiến hành khắc phục các hiện tượng, cuối cùng cho ra kết quả hồi quy đáng tin cậy.

1.6. Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài

Bài nghiên cứu này được tác giả thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam với thời gian nghiên cứu là trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021. Kết quả của nghiên cứu này có tính cập nhật vì dữ liệu thực hiện nghiên cứu đã được thu thập đến năm 2021 là thời gian gần nhất tại thời điểm tác giả thực hiện đề tài này mà các ngân hàng thương mại công bố báo cáo thường niên, báo cáo tài chính kiểm toán. Kết quả nghiên cứu của bài luận văn này sẽ đóng góp vào tài liệu khoa học trên các khía cạnh khác nhau như: Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng Việt Nam; Trên cơ sở kế thừa mô hình nghiên cứu của các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài, tác giả bổ sung thêm một số biến vĩ mô nhằm mục đích đánh giá sự ảnh hưởng của các biến vĩ mô đó đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn này giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý ngân hàng tham khảo phương pháp tiếp cận và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng trên cơ sở kết quả nghiên cứu tại Việt Nam. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để các nhà quản lý ngân hàng có thể bổ sung, hoàn thiện khung chính sách và hoàn thiện các quy định trong việc điều hành từng ngân hàng riêng lẻ cũng như điều hành hệ thống ngân hàng, từ đó nhằm kiểm soát tốt rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam ở giai đoạn hiện nay.

1.7. Bố cục của bài nghiên cứu

Bố cục của bài nghiên cứu được chia thành 5 chương với các nội dung như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu.

Nội dung chính trong chương 1 bao gồm: Lý do chọn đề tài nghiên cứu, Mục tiêu nghiên cứu, Câu hỏi nghiên cứu, Phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu và Đóng góp của đề tài nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng.

Nội dung chính của chương 2 bao gồm trình bày các các lý thuyết, khái niệm về rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Đồng thời chương này cũng trình bày sơ lược các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.

Ở chương 3, tác giả trình bày về các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, mô tả chi tiết về phương pháp nghiên cứu và giải thích cụ thể về số liệu, dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu.

Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu.

Nội dung của chương này là mô tả và trình bày kết quả có được sau khi thực hiện nghiên cứu, phân tích sự tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Chương 5: Kết luận và đề xuất một số hàm ý chính sách cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong việc quản trị rủi ro thanh khoản.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đạt được và đưa ra một số hàm ý chính sách cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc quản trị rủi ro thanh khoản. Bên cạnh đó chương 5 cũng nêu ra một số điểm hạn chế của nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Nội dung chính của chương 1 đã nêu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, đó là rủi ro thanh khoản và nêu ra được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài nghiên cứu. Theo đó, rủi ro thanh khoản là vấn đề thường trực mang tính sống còn đối với ngành ngân hàng. Việc đảm bảo được khả năng thanh khoản tốt sẽ giúp các ngân hàng ứng phó kịp thời cho hoạt động chi trả tiền gửi và khoản vay.

Xuất phát từ mục tiêu tổng quát, trong chương 1 cũng đã nêu ra những mục tiêu nghiên cứu cụ thể sẽ được giải quyết thông qua các câu hỏi nghiên cứu. Thêm vào đó, chương 1 đã xác định được đối tượng của nghiên cứu và chỉ ra giới hạn phạm vi nghiên cứu về thời gian và không gian. Cuối cùng, nội dung của chương 1 đã đề cập tổng quan về phương pháp nghiên cứu sẽ thực hiện trong luận văn này cũng như ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài nghiên cứu. Chương 1 đồng thời đã cung cấp khái quát về bố cục của luận văn.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG

2.1. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản

2.1.1. Khái niệm về thanh khoản Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Ủy ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng (2000) định nghĩa về một ngân hàng có khả năng thanh khoản là ngân hàng đó có khả năng đáp ứng được tất cả các yêu cầu về sử dụng vốn có sẵn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại bất kỳ thời điểm nào như: hoạt động chi trả tiền gửi cho khách hàng, hoạt động cho vay, hoạt động thanh toán hay các giao dịch vốn,… Basel (2008) đồng thời cũng đưa ra thêm nhận định rằng thanh khoản là khả năng của ngân hàng trong việc tài trợ cho việc gia tăng tài sản và khả năng trong việc ngân hàng có thể đáp ứng được các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gây ra tổn thất ở mức không chấp nhận được.

Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), xét về khía cạnh tài sản, thanh khoản là khả năng tài sản chuyển hóa thành tiền hay tiền chuyển hóa thành tài sản; còn xét về khía cạnh ngân hàng thì thanh khoản được định nghĩa là khả năng đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh của ngân hàng.

Theo Duttweiler (2009), thanh khoản có hai khía cạnh cần chú ý đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Các dòng lưu chuyển từ tài sản hoặc từ nợ và có thời gian đáo hạn cụ thể được gọi là “thanh khoản tự nhiên”. Còn “thanh khoản nhân tạo” được hiểu là khả năng chuyển đổi thành tiền từ tài sản vào trước ngày đáo hạn của tài sản đó.

Trương Quang Thông (2010) cho rằng thanh khoản được định nghĩa là khả năng của ngân hàng tiếp cận với tài sản và nguồn vốn ở mức chi phí hợp lý nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo Alshatti (2015), thanh khoản của ngân hàng là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn. Nguyên nhân chính của rủi ro thanh khoản là do ngân hàng xảy ra tình trạng thiếu thanh khoản tiếp diễn trong thời gian dài.

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu thanh khoản của ngân hàng là nói về khả năng của ngân hàng trong việc có thể thanh toán ngay cho các nghĩa vụ tài chính phát sinh ở một chi phí thấp nhất. Thanh khoản thể hiện cho khả năng của ngân hàng có thể thực hiện được đến mức tối đa tất cả các nghĩa vụ thanh toán đến hạn (Duttweiler, 2009). Khi ngân hàng không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán thì hậu quả là dẫn tới tình trạng ngân hàng thiếu thanh khoản. Theo Duttweiler (2009), tình trạng thiếu thanh khoản của ngân hàng kéo dài sẽ gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng đó.

2.1.2. Khái niệm về rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi đến một thời điểm nào đó mà ngân hàng bị mất khả năng thanh toán hoặc khi mà ngân hàng phải huy động thêm nguồn vốn từ các nguồn có chi phí cao để thanh toán (Đặng Văn Dân, 2015). Theo Duttweiler (2009) thì rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không thể thực hiện được nghĩa vụ thanh toán hoặc phải trả mức chi phí cao để huy động vốn nhằm đáp ứng cho nhu cầu thanh toán của ngân hàng. Điều này làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động và tình hình tài chính của tổ chức tín dụng.

Theo Decker (2000), rủi ro thanh khoản có hai hình thức gồm: rủi ro tài trợ, rủi ro thị trường. Theo đó, rủi ro thanh khoản tài trợ là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thể bán được tài sản hoặc không nhận được nguồn nào tài trợ cho việc thực hiện các nghĩa vụ nợ đến hạn. Rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro xảy ra khi thị trường gián đoạn, nghĩa là thị trường không có thông tin đầy đủ và buộc ngân hàng phải giảm giá thị trường để bù đắp rủi ro.

Các ngân hàng sẽ phải đối mặt với vấn đề thanh khoản khi đầu tư vào tài sản kém thanh khoản có kỳ hạn dài hoặc nắm giữ các khoản nợ có tính thanh khoản có thể mua trong thời gian ngắn (Distinguin và cộng sự, 2013). Nếu các ngân hàng không có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản kịp thời thì sẽ phải đối mặt với cú sốc thanh khoản, bán tháo tài sản thanh khoản và giảm cho vay (Brunnermeier, 2009). Do đó, việc đo lường, nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản và đưa ra các cảnh báo về khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản là vô cùng cần thiết đối với hệ thống ngân hàng.

2.1.3. Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản có thể xuất phát từ nhiều phương diện, tuy nhiên có hai nguyên nhân chính cần đặc biệt chú trọng đó là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan (Nguyễn Hải Long, 2017).

Nguyên nhân chủ quan là do: sự bất cân xứng trong kỳ hạn của tài sản có và nợ phải trả; mất cân xứng về cơ cấu tài sản; xác định khách hàng mục tiêu không hợp lý; chính sách cho vay ưu đãi mà chưa lường hết rủi ro; năng lực tài chính của mỗi ngân hàng; hệ quả của những rủi ro khác (Nguyễn Văn Tiến, 2010; Trần Huy Hoàng, 2011). Theo Bonfim và cộng sự (2012), để đạt mục tiêu về lợi nhuận, ngân hàng thường dùng nguồn vốn từ tiền gửi có kỳ hạn ngắn để cấp tín dụng trung dài hạn. Điều đó đã tạo ra sự bất cân xứng về kỳ hạn và là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng. Ngoài ra, việc gia tăng đầu tư vào danh mục có mức độ rủi ro cao để có tỷ suất sinh lời cao cũng là nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản xảy ra.

Nguyên nhân khách quan là do: tài sản tài chính thường nhạy cảm với những thay đổi của lãi suất, từ đó làm tác động đến tâm lý khách hàng; chính sách tiền tệ và các biến động bất thường của nền kinh tế; chu kỳ kinh doanh của khách hàng; tin đồn thất thiệt (Trần Huy Hoàng, 2011; Nguyễn Hải Long, 2017). Khi xuất hiện bất cứ thông tin gì liên quan đến vấn đề thanh khoản của ngân hàng thì sẽ ngay lập tức tác động đến tâm lý của người dân, hậu quả là người dân ồ ạt đi rút tiền gửi đe dọa đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra, theo chu kỳ kinh doanh thì vào thời điểm cuối năm nhu cầu vốn của các doanh nghiệp sẽ tăng cao để đẩy mạnh sản xuất và quyết toán, thanh toán công nợ cuối năm. Tuy nhiên, thời điểm này các ngân hàng thương mại lại thường hạn chế cấp tín dụng bởi các ràng buộc về tỷ lệ tăng trưởng tín dụng do ngân hàng nhà nước đề ra. Chính vì lý do đó mà các doanh nghiệp phải sử dụng vốn tự có của mình để trang trải cho các khoản công nợ, vì thế mà khả năng trả nợ ngân hàng có xu hướng bị kéo dài.

Theo Brunnermeier (2009), nếu rủi ro thanh khoản không được các nhà quản lý ngân hàng lưu tâm kiểm soát thì ngân hàng sẽ có nguy cơ đối diện với cú sốc thanh khoản, phải bán tháo tài sản thanh khoản và thực hiện giảm cho vay.

2.2. Cơ sở lý thuyết Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

2.2.1. Lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản

Lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản (Commercial Loan Theory and Liquidity) là lý thuyết về việc quản lý tài sản, trong đó có nêu lên vấn đề về thanh khoản do Smith (1776) khởi xướng. Lý thuyết cho vay thương mại là lý thuyết về quản lý tài sản nhấn mạnh vào tính thanh khoản. Theo đó, các ngân hàng cần duy trì tính thanh khoản cần thiết để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng (Smith, 1776).

Theo Wilson và cộng sự (2010), khi ngân hàng muốn duy trì thanh khoản thì cần nắm giữ ngân quỹ và nắm giữ các khoản cho vay thương mại. Ở điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển thì nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng. Như vậy, cho vay thương mại là khoản tài trợ ngắn hạn nên đảm bảo được sự phù hợp về mặt kỳ hạn, giúp tạo thanh khoản cho ngân hàng. Mặc dù vậy, lý thuyết này chưa quan tâm tới tính thanh khoản của ngân hàng từ các khoản cho vay phi thương mại. Theo Trương Thị Thanh Nga (2018), lý thuyết cho vay thương mại phân tích về tính thanh khoản của những khoản cho vay thương mại nhưng lại không đề cập đến tính thanh khoản của nguồn vốn cho vay phi thương mại, do đó không bảo đảm được tính thanh khoản cho ngân hàng. Thực tế, nhiều khoản tiền gửi được tiếp tục tái tục nên nguồn này có thể được ngân hàng tận dụng vào việc cho khách hàng vay trung dài hạn. Vì vậy, lý thuyết này hàm ý rằng các ngân hàng luôn có nguy cơ gặp rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro thanh khoản. Việc gia tăng các khoản cho vay sẽ làm rủi ro thanh khoản càng gia tăng.

2.2.2. Lý thuyết khả năng thay đổi

Một trong những người đầu tiên khởi xướng nền tảng của Lý thuyết khả năng thay đổi (The Shiftability Theory) là Moulton (1918). Moulton đã khẳng định rằng “thanh khoản là khả năng thay đổi”. Nội dung chính của lý thuyết này cho rằng các ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng việc nắm giữ tỷ trọng lớn tài sản có tính thanh khoản cao trong cơ cấu tài sản. Lý thuyết khả năng thay đổi chỉ ra rằng các khoản cho vay và đầu tư là nguồn gốc của vấn đề thanh khoản. Vì vậy, để đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng thương mại thì các yếu tố quan trọng là khả năng tạo ra lợi nhuận, khả năng tích lũy vốn và khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng chứ không phải là cho vay thương mại. Khi nghiên cứu về nguồn gốc của rủi ro thanh khoản dựa trên lý thuyết khả năng thay đổi, Toby (2006) cho rằng tính thanh khoản của ngân hàng được dựa vào khả năng chuyển đổi các tài sản ngắn hạn ở mức giá dự đoán trước. Các tài sản mà ngân hàng nắm giữ có thể dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường và vì thế mà ngân hàng sẽ đáp ứng được cầu thanh khoản của thị trường nếu ngân hàng có sẵn tài sản để bán.

Lý thuyết này chứng minh vấn đề chính giúp đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng đó là khả năng tạo ra thu nhập của chính ngân hàng và khả năng chuyển đổi tài sản (Trần Thị Thanh Nga, 2018). Để đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết thì các ngân hàng cần chủ động và tăng cường dự trữ nhiều hơn các tài sản có tính thanh khoản cao.

2.2.3. Lý thuyết thu nhập dự tính

Lý thuyết thu nhập dự tính (Anticipated Income Theory) do Prochnow (1949) phát triển thể hiện quan điểm rằng tài sản không chỉ mang lại khoản thu nhập khi chúng đến hạn mà tài sản còn có thể mang đến thu nhập ở nhiều thời điểm khác nhau trong suốt thời hạn của tài sản. Khi ngân hàng cho vay trung dài hạn và thu nợ gốc, lãi theo nhiều kỳ trả nợ thì khoản thu nhập dự tính này sẽ làm tăng tính thanh khoản của tài sản. Lý thuyết thu nhập dự tính đặt nền móng quan trọng trong việc nghiên cứu kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn để quản lý kỳ hạn tài sản (Trương Thị Thanh Nga, 2018). Việc lập kế hoạch thu nợ gốc, lãi dựa vào thu nhập dự tính của tài sản giúp đảm bảo tính thanh khoản của tài sản. Các ngân hàng thương mại có thể ưu tiên duy trì danh mục tài sản nghiêng về nhóm tài sản có khả năng sinh lời nhiều hơn so với nhóm tài sản có tính thanh khoản và sử dụng nguồn vốn huy động mới để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng.

2.3. Các phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Để đo lường rủi ro thanh khoản, các nghiên cứu trước đây đã sử dụng nhiều chỉ tiêu đo lường khác nhau, trong đó hệ số thanh khoản và khe hở tài trợ là hai phương pháp tương đối phổ biến và được sử dụng nhiều hơn trong các nghiên cứu trong nước và thế giới, cụ thể như sau:

2.3.1. Các hệ số thanh khoản

Phương pháp hệ số thanh khoản bao gồm nhóm các hệ số khác nhau được tính toán từ số liệu của bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Hệ số thanh khoản thường được dùng để dự đoán xu hướng thanh khoản (Vodava, 2013). Các nghiên cứu của Bunda và Desquilbet (2008), Vodova (2011), Delecha và cộng sự (2012) sử dụng các hệ số thanh khoản để đánh giá chất lượng dự trữ thanh khoản của ngân hàng. Qua đó, các ngân hàng có thể nhận diện được nguồn tài trợ nào phù hợp với chi phí có sẵn trong ngắn hạn, điển hình như dự trữ tiền mặt, trái phiếu chính phủ (là các tài sản dễ bán), các khoản tiền gửi có tính ổn định hay nguồn vốn từ tổ chức tài chính khác. Các nghiên cứu trên chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản ngân hàng càng thấp khi ngân hàng có cấu trúc thanh khoản càng cao và ngược lại.

  • Các hệ số thanh khoản được tính như sau:

Hệ số L1 đo lường khả năng chịu đựng biến động thanh khoản của ngân hàng. Hệ số L1 càng cao thì chứng tỏ ngân hàng có khả năng thanh khoản càng tốt, tức là rủi ro thanh khoản càng thấp. Tài sản thanh khoản trong công thức này gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng trung ương hay các tổ chức tín dụng khác, trái phiếu chính phủ. Tuy vậy, hệ số L1 này chỉ đánh giá về tài sản của ngân hàng mà chưa đánh giá đến khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ của ngân hàng.

Các hệ số L2, L3 đánh giá khả năng thực hiện được các nghĩa vụ nợ của ngân hàng bằng các nguồn vốn huy động và đánh giá được chất lượng dự trữ thanh khoản của ngân hàng. Ngân hàng có chất lượng dự trữ thanh khoản càng cao thì rủi ro thanh khoản càng thấp. Theo Vodova (2011), ngân hàng có nhiều tài sản có chất lượng thanh khoản thì ngân hàng đó có năng lực cho vay tốt, do đó rủi ro thanh khoản thấp. Các hệ số này chú trọng nhiều đến việc lựa chọn nguồn tài trợ cho thanh khoản của ngân hàng, qua đó thấy được mức độ nhạy cảm của ngân hàng khi sử dụng các nguồn tài trợ.

Hệ số L4 đánh giá năng lực cho vay của ngân hàng. Hệ số L4 càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ càng giảm xuống do ngân hàng tập trung tài sản vào hoạt động cho vay ẩn chứa rủi ro.

2.3.2. Khe hở tài trợ Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Saunders và Cornett (2006) đã sử dụng khái niệm Khe hở tài trợ (Financing Gap – FGAP) để đo lường rủi ro thanh khoản. Phương pháp này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu của Lucchetta (2007), Bunda và cộng sự (2008), Shen và cộng sự (2009), Trương Quang Thông (2013), Đặng Văn Dân (2015). Theo Vodova (2011), khe hở thanh khoản là chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn ở cả thời điểm hiện tại và tương lai. Khe hở tài trợ được tính bằng công thức sau:

Các yếu tố trong công thức trên được lấy từ báo cáo tài chính của ngân hàng trong năm, trong đó Tổng dư nợ tín dụng là khoản mục Cho vay khách hàng (chưa trừ đi dự phòng rủi ro) và Tổng nguồn vốn huy động là khoản mục Tiền gửi của khách hàng.

Khe hở tài trợ xảy ra khi có sự mất cân xứng giữa những khoản cho vay và những khoản ký thác. Cụ thể hơn, trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì các tài sản thường được tài trợ từ các khoản tiền ký thác, trong đó chủ yếu là tiền gửi vãng lai. Những khoản tiền gửi vãng lai có thể bị khách hàng rút ra tại bất cứ thời điểm nào và thông thường sẽ không được báo trước khiến ngân hàng mất thanh khoản, từ đó dẫn tới rủi ro thanh khoản (Arif và Nauman, 2012). Theo Trương Thị Thanh Nga (2018), khi ngân hàng có khe hở tài trợ càng lớn thì ngân hàng sẽ phải giảm dự trữ thanh khoản xuống hoặc tăng cường đi vay trên thị trường tiền tệ, điều đó làm rủi ro thanh khoản ngân hàng tăng lên.

Theo Vodava (2013), hệ số thanh khoản thường được dùng để dự báo xu hướng của thanh khoản và được tính bằng công thức theo dữ liệu lấy từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng, trong khi đó khe hở tài trợ lại là chênh lệch trong cả thời điểm hiện tại và tương lai của tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Nếu chỉ đo lường rủi ro thanh khoản bằng các hệ số thanh khoản là không đủ và không thể xử lý rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (Poorman và Blake, 2005). Việc sử dụng hệ số thanh khoản mang ý nghĩa đo lường dòng tiền tương lai bằng dữ liệu quá khứ. Do đó, để đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng thì việc sử dụng khe hở tài trợ sẽ có ưu điểm hơn so với hệ số thanh khoản.

2.3.3. Khung pháp lý về quản lý thanh khoản ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tại Việt Nam có những quy định cụ thể về vấn đề thanh khoản và quản lý thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Thông tư 36/2014/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành trong đó quy định các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Thông tư 36 quy định rõ chi tiết về tỷ lệ an toàn thanh khoản và tỷ lệ về khả năng chi trả như: Tỷ lệ dự trữ thanh khoản, Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày, Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trung và dài hạn, Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn sử dụng để đầu tư trái phiếu chính phủ, Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Việc đáp ứng theo các tỷ lệ theo quy định này nhằm phòng ngừa rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng. Trải quả nhiều lần sửa đổi bổ sung, các quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng đều hướng tới việc chú trọng hơn đến đảm bảo an toàn thanh khoản ngân hàng trong dài hạn, hạn chế tình trạng các ngân hàng lợi dụng để chuyển đổi kỳ hạn. Ngày 31/12/2022 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư 26/2022/TT-NHNN, trong đó sửa đổi bổ sung về tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (tỷ lệ LDR). Với điểm sửa đổi bổ sung mới này, Ngân hàng Nhà nước cho phép tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ được tính vào tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại với tỷ lệ khấu trừ nhất định. Tuy nhiên, điều này chỉ có ý nghĩa đối với nhóm 3 ngân hàng thương mại nhà nước là BIDV, VietinBank và Vietcombank vì chỉ có 3 ngân hàng này có tiền gửi từ kho bạc. Tỷ lệ LDR được dùng để đo lường rủi ro thanh khoản và theo Thông tư 26 quy định thì tỷ lệ LDR của các ngân hàng phải duy trì tối đa 85%. Nếu tỷ lệ LDR lớn hơn 100% nghĩa là ngân hàng đang cho vay nhiều hơn huy động. Mặc dù khả năng sinh lời cao nhưng rủi ro thanh khoản sẽ tăng theo, vì thế những ngân hàng như vậy sẽ phải tăng lãi suất huy động để bù đắp thanh khoản. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Chỉ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) cũng là một chỉ số đo lường thanh khoản quan trọng tại Việt Nam. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá về mức độ an toàn trong hoạt động của vấn đề quản trị rủi ro của các ngân hàng. Hiện nay, hệ số CAR được tính theo Thông tư số 41 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp cận theo chuẩn mực quốc tế Basel II với yêu cầu tối thiểu là 8%. Theo đề án cơ cấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng giai đoạn 2021 – 2025 thì toàn ngành ngân hàng phấn đấu tỷ lệ an toàn vốn sẽ đạt tối thiểu từ 10% – 11%, đến năm 2025 sẽ đạt tối thiểu từ 11% – 12%. Theo kết quả thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến cuối tháng 10/2022, tỷ lệ an toàn vốn của nhóm các ngân hàng thương mại nhà nước áp dụng theo Thông tư 41 đạt được ở mức 9,04%, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần đã áp dụng Thông tư 41 là 12,29%. Trong tương lai các ngân hàng đang từng bước tiến tới áp dụng theo tiêu chuẩn của Basel III để công tác quản trị rủi ro và quản trị vốn hiệu quả hơn.

2.4. Các nghiên cứu liên quan của đề tài

Đã có rất nhiều nghiên cứu ở cả trong nước và nước ngoài được thực hiện về vấn đề thanh khoản và rủi ro thanh khoản, trong đó có những nghiên cứu tiếp cận theo hướng nhận diện nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản, tiếp cận từ góc độ quản trị rủi ro thanh khoản hay nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và sức mạnh thị trường và cấu trúc vốn ngân hàng. Qua lược khảo một số nghiên cứu nước ngoài và trong nước cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng, có cả yếu tố vi mô và vĩ mô, trong đó phần lớn tập trung chính vào các nhân tố sau:

Quy mô của ngân hàng: các nghiên cứu của tác giả Shen và cộng sự (2009), Vodava (2011), Trương Quang Thông (2013) cho kết quả quy mô ngân hàng tương quan phi tuyến tính với rủi ro thanh khoản, nghiên cứu của Shah và cộng sự (2018), Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2016) cho kết quả yếu tố quy mô ngân hàng có tác động dương đến thanh khoản ngân hàng, trong khi các nghiên cứu của Lucchetta (2007), Delecha và cộng sự (2012), Đặng Văn Dân (2015), Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) cho rằng quy mô ngân hàng tác động âm đến rủi ro thanh khoản.

Khả năng sinh lời: Theo Shah và cộng sự (2018), khả năng sinh lời của ngân hàng không có tác động đáng kể đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Nghiên cứu của Bunda và Desquilbet (2008), Shen và cộng sự (2009), Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) cho kết quả rằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có tương quan dương với rủi ro thanh khoản. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng cao thì rủi ro thanh khoản của ngân hàng sẽ càng gia tăng. Vodova (2011) trong kết quả nghiên cứu của mình lại chỉ ra rằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu không có tác động rõ nét đến thanh khoản của ngân hàng.

Tỷ lệ cho vay: Theo Bonfim và Kim (2014), Delecha và cộng sự (2012), tỷ trọng cho vay của ngân hàng càng cao thì ngân hàng đó sẽ có rủi ro thanh khoản cao hơn. Nghiên cứu của Trương Quang Thông (2013), Đặng Văn Dân (2015), Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) đã chỉ ra rằng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tương quan dương với rủi ro thanh khoản. Nghiên cứu của Vũ Thị Hồng (2015), Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2016) xem xét trên tỷ lệ cho vay trên huy động và cho kết quả tỷ lệ này có tương quan nghịch biến với khả năng thanh khoản của ngân hàng.

Nguồn vốn của ngân hàng: được đo lường bằng tỷ lệ của vốn chủ sở trên tổng tài sản. Các nghiên cứu của Lucchetta (2007), Bunda và cộng sự (2008), Trương Quang Thông (2013), Vũ Thị Hồng (2015) cho rằng tỷ lệ nguồn vốn có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản, trong khi đó nghiên cứu của Delecha và cộng sự (2012), Berger và cộng sự (2013), Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2016) thì cho kết quả ngược lại rằng tỷ lệ nguồn vốn có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Theo Berger và cộng sự (2009), vốn của ngân hàng được dùng để hấp thụ rủi ro và có ảnh hưởng đến sự tạo thanh khoản của ngân hàng. Vốn ngân hàng càng lớn thì khả năng hấp thụ rủi ro càng lớn, do đó ngân hàng tăng hoạt động tạo thanh khoản. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) chỉ ra rằng một hệ số khác về nguồn vốn là tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn của ngân hàng, theo đó tỷ lệ này càng cao thì rủi ro thanh khoản của ngân hàng sẽ càng tăng.

Rủi ro tín dụng: các nghiên cứu của Delacha và cộng sự (2012), Bonfim và Kim (2014) đo lường rủi ro tín dụng theo tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ và cho kết luận rằng ngân hàng có tỷ trọng cho vay cao thì có rủi ro thanh khoản cao hơn. Trương Quang Thông (2013), Vũ Thị Hồng (2015) cho kết luận về nghiên cứu rằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu của Wei Feng (2017) phân tích tỷ lệ nợ xấu và cho kết quả tỷ lệ nợ xấu có tương quan âm đến thanh khoản ngân hàng vì khi nợ xấu gia tăng thì các ngân hàng không thể sẵn sàng tiếp nhận các rủi ro tín dụng lớn hơn và buộc phải giảm cho vay. Vodova (2011) thực hiện nghiên cứu về thanh khoản của ngân hàng thương mại tại Cộng hòa Séc và cho kết quả rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ nợ xấu và thanh khoản của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu này cũng tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Vũ Thị Hồng (2015).

Nhóm các yếu tố vĩ mô: gồm một số yếu tố như tốc độ tăng trưởng nền kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát hàng năm, khủng hoảng ngân hàng hay tốc độ tăng cung tiền, …. Trương Quang Thông (2013) cho kết quả nghiên cứu rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của năm hiện tại có tác động làm giảm rủi ro thanh khoản của ngân hàng trong cùng năm đó nhưng sẽ có tác động làm tăng rủi ro thanh khoản của ngân hàng vào năm sau. Đồng thời, nghiên cứu của Trương Quang Thông (2013) cũng cho kết luận rằng tỷ lệ lạm phát năm nay thì không có tác động đến rủi ro thanh khoản ngân hàng trong năm đó nhưng lại có khả năng làm giảm rủi ro thanh khoản ở năm sau. Đặng Văn Dân (2015) cho kết luận về nghiên cứu rằng không có mối quan hệ nào giữa rủi ro thanh khoản ngân hàng với tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khác với các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Fielding và Shortland (2005), Williams (2014), Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế tương quan thuận với thanh khoản ngân hàng. Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) cũng cho kết luận thêm về một yếu tố vĩ mô là khủng hoảng tài chính có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Trái ngược với nghiên cứu trên, Vodova (2011) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều của các yếu tố: tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh doanh và khủng hoảng tài chính đối với thanh khoản ngân hàng. Theo Trương Thị Thanh Nga (2018), lạm phát cao khiến khách hàng dễ trả nợ hơn do giá trị thực của khoản vay giảm xuống, nhờ vậy rủi ro thanh khoản giảm xuống, do đó kết luận tỷ lệ lạm phát và rủi ro thanh khoản có tác động ngược chiều nhau. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài đã tìm hiểu, tác giả nhận thấy các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng tại hầu hết các nghiên cứu đã đề cập trên có thể được chia thành hai nhóm như sau, gồm: Nhóm các nhân tố nội tại bên trong ngân hàng và nhóm các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả sẽ tập trung phân tích ảnh hưởng của các nhân tố bên trong ngân hàng bao gồm: Quy mô ngân hàng, Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, Tỷ lệ nợ xấu, Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế bao gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, Tỷ lệ lạm phát.

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

STT Tác giả Phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu trong   nước
1 Hoang Chung Nguyen (2022) 26 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX từ năm 2008-2018 Phân tích hồi quy theo mô hình FEM, REM, GMM Các yếu tố nội tại của chính ngân hàng đóng vai trò quan trọng tác động đến rủi ro thanh khoản. Không có bằng chứng thực nghiệm về việc các yếu tố vĩ mô có tác động đến rủi ro thanh khoản. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng tăng thì rủi ro thanh khoản cũng tăng lên (tác động cùng chiều).
2 Van Dan Dang (2020) 28 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2007 – 2018 Mô hình FEM với phương pháp hồi quy OLS – Chức năng tạo thanh khoản của các ngân hàng giảm dần theo thu nhập từ phân khúc ngân hàng phi truyền thống.

– Các ngân hàng mà tham gia nhiều hơn vào các hoạt động kinh doanh phi truyền thống để thu phí và thu nhập ngoài có xu hướng giảm sự tạo thanh khoản.

3 Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) 21 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 Mô hình Pooled OLS, FEM và REM Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng. – Tác giả đo lường rủi ro thanh khoản bằng khe hở tài trợ (FGAP). – Quy mô ngân hàng tương quan nghịch với rủi ro thanh khoản.

– Tỷ lệ vốn tự có/tổng nguồn vốn, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, tỷ suất sinh lời/vốn chủ sở hữu tương quan thuận với rủi ro thanh khoản.

– Ngân hàng phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài có nguy cơ gia tăng rủi ro thanh khoản.

– Khủng hoảng tài chính, tốc độ tăng trưởng kinh tế có quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản.

4 Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2016) 32 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006 2013 Mô hình hồi quy theo phương pháp bình quân bé nhất (OLS)

Có 3 nhân tố chính ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng là quy mô ngân hàng (cùng chiều), tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi khách hàng (ngược chiều), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có (ngược chiều).

5 Đặng Văn Dân (2015) 15 ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam giai đoạn 2007 2014 Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng gồm mô hình Pooled OLS, FEM, REM – Quy mô tổng tài sản ảnh hưởng ngược chiều còn tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro thanh khoản ngân hàng. – Lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế không có tác động đến rủi ro thanh khoản ngân hàng.
6 Vũ Thị Hồng (2015) 37 ngân hàng thương mại Việt Nam, giai đoạn 2006 – 2011 Mô hình hồi FEM – Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lợi nhuận và tỷ lệ nợ xấu tác động cùng chiều đến khả năng thanh khoản.

– Tỷ lệ cho vay trên huy động tác động ngược chiều đến khả năng thanh khoản.

– Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và Quy mô ngân hàng không có mối quan hệ đến khả năng thanh khoản ngân hàng.

7 Trương Quang Thông (2013) 27 ngân hàng thương mại Việt Nam từ 2002 – 2011 Kết hợp 3 cách ước lượng mô hình: Pooled, FEM, REM – Rủi ro thanh khoản đo lường bằng Khe hở tài trợ.

– Kết quả ước lượng mô hình: Rủi ro thanh khoản của ngân hàng chịu ảnh hưởng của các yếu tố quy mô tổng tài sản, dự trữ thanh khoản, vay liên ngân hàng, tỷ lệ vốn tự có (gọi là các yếu tố bên trong ngân hàng) và chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài ngân hàng gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát, độ trễ chính sách.

Nghiên cứu nước ngoài
8 Berger và cộng sự (2020) Biến giải thích lấy từ website của BBD và biến độc lập lấy từ dữ liệu ngân hàng Phân tích dữ liệu bảng – Nhóm tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách kinh tế đến việc dự trữ thanh khoản của ngân hàng.

– Các ngân hàng nhỏ dự trữ nhiều hơn thanh khoản trên mỗi tài sản. Các ngân hàng có tỷ lệ vốn thấp dự trữ nhiều thanh khoản hơn.

– Sự thay đổi chính sách về sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai thì có mối liên hệ với việc dự trữ thanh khoản của ngân hàng.

9 Denis Davydov và cộng sự (2020) Dữ liệu hàng quý của các công ty chủ quản ngân hàng ở Mỹ từ năm 2003 – 2016 Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng –  Sự tạo thanh khoản ngân hàng làm giảm rủi ro hệ thống của ngân hàng độc lập. Quy mô ngân hàng, rủi ro tài sản và đặc tính khác của ngân hàng cũng có tác động đến sự tạo thanh khoản ngân hàng.

– Rủi ro của ngân hàng riêng lẻ có liên quan ngược chiều với sự tạo thanh khoản.

– Sự tạo thanh khoản có liên hệ với những cuộc khủng hoảng hệ thống tài chính. Mức độ tạo thanh khoản có ý nghĩa quan trọng với sự ổn định tài chính và sự giám sát đối với hệ thống tài chính.

10 Shyam S.Bhati và cộng sự (2019) Dữ liệu thu thập từ nguồn dữ liệu của ngân hàng dữ trữ Ấn Độ (RBI) giai đoạn 1996 – 2016 để nghiên cứu về các ngân hàng tại Ấn Độ Mô hình hồi quy dữ liệu bảng (panel data) Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng. – Tỷ lệ tài sản lưu động trên tổng tài sản có mối liên hệ với tỷ giá chiết khấu, dự trữ ngoại hối, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng và tổng sản phẩm quốc nội.

– Tỷ lệ dữ trữ tiền mặt và khả năng sinh lời trên vốn chủ hữu không có mối liên hệ với tính thanh khoản của các ngân hàng tại Ấn Độ.

11 Ibish Mazreku và cộng sự (2019) 9 ngân hàng ở bang Balkan từ năm 2000- 2015 Phân tích OLS, mô hình FEM, REM và kiểm định Hausman – Rủi ro thanh khoản chịu ảnh hưởng của Quy mô ngân hàng, dư nợ cho vay, tỷ lệ tiền gửi, GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ suất biên lợi nhuận.

– Tỷ lệ lạm phát và khả năng sinh lời không có tác động với rủi ro thanh khoản.

12 Syed Quaid Ali Shah và cộng sự (2018) 23 ngân hàng tại Pakistan, giai đoạn 2007 – 2016 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng

– Các yếu tố nội tại như Tỷ lệ an toàn vốn, chi phí vốn, quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê nhưng liên quan khác nhau đến tỷ lệ tài sản lưu động/tổng tài sản và tỷ lệ vốn vay/tổng tiền gửi.

– Các yếu tố bên ngoài hoặc yếu tố vĩ mô như GDP có ý nghĩa thống kê

nhưng ảnh hưởng khác nhau đến thanh khoản ngân hàng.

– Tỷ lệ thất nghiệp có tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.

– Khả năng sinh lời liên quan không đáng kể đến tính thanh khoản.

13 Berger (2017) Dữ liệu ngân hàng từ 1984 – 2010 Phân tích hồi quy dữ liệu bảng – Thanh khoản ngân hàng và sản lượng kinh tế thực (GDP) có liên quan về mặt kinh tế và có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê.
14 Wei Feng (2017) 10 ngân hàng tại Trung Quốc, dữ liệu từ 2007 – 2015 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng (panel data) và OLS – Bài báo sử dụng tỷ lệ nợ vay trên tổng tiền gửi (LD) làm chỉ số đo lường về tính thanh khoản.

– Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ LD. Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ LD tương quan âm. Vì nợ xấu gia tăng nên các ngân hàng thương mại không thể sẵn sàng tiếp nhận các rủi ro tín dụng lớn hơn, vì thể giảm cho vay. – Mức độ lỏng lẻo về vốn tự có của ngân hàng tác động trực tiếp đến tính thanh khoản của các ngân hàng.

– Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo Hiệp ước Basel có vai trò giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.

15 Anthony Kimathi và cộng sự (2015) Khảo sát 128 nhân viên từ 6 tổ chức tài chính vi mô ở Kenya Phân tích hồi quy dữ liệu thu thập từ bảng câu hỏi Rủi ro thanh khoản là khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nhu cầu đến hạn mà không ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính.
16 Ahmed Arif và cộng sự (2012) Dữ liệu của 22 ngân hàng tại Pakistan từ năm 20042009 Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng – Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản tác động đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng. Khoảng trống thanh khoản có mối quan hệ ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng.

– Hạn chế của nghiên cứu: yếu tố của nền kinh tế chưa được tính đến trong việc nghiên cứu tác động đến rủi ro thanh khoản.

17 Berger (2009) Các ngân hàng ở Mỹ từ năm 1993 – 2003 Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng. – Các ngân hàng lớn, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng sáp nhập tạo ra phần lớn thanh khoản. Thanh khoản ngân hàng liên quan cùng chiều với giá trị của ngân hàng.

– Với ngân hàng lớn: vốn và thanh khoản có tương quan thuận chiều, với ngân hàng nhỏ: vốn và thanh khoản có tương quan ngược chiều. – Vốn ngân hàng càng lớn thì khả năng hấp thụ rủi ro càng lớn nên ngân hàng sẽ tăng hoạt động tạo thanh khoản.

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài

Từ những nghiên cứu nêu trên, tác giả nhận thấy các nghiên cứu tại Việt Nam thường hay tập trung vào việc nghiên cứu rủi ro thanh khoản cho toàn bộ hệ thống ngân hàng hoặc nghiên cứu rủi ro thanh khoản tại một ngân hàng cụ thể. Các nghiên cứu chưa có sự phân nhóm các ngân hàng như nhóm các ngân hàng có sở hữu nhà nước, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhóm các ngân hàng niêm yết, hoặc nếu có thì cũng chưa có nhiều các nghiên cứu cập nhật dữ liệu tài chính ngân hàng đến thời điểm gần nhất 31/12/2022. Bởi đặc tính về quy mô khác nhau nên mức độ tác động của các nhân tố đến thanh khoản của ngân hàng cũng sẽ có sự khác biệt.

Các đề tài nghiên cứu tại Việt Nam đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng trong nhiều giai đoạn nghiên cứu khác nhau với phạm vi số lượng các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu có sự khác biệt. Trong bài nghiên cứu này, tác giả vận dụng cơ sở lý thuyết về thanh khoản và rủi ro thanh khoản từ các nghiên cứu đã tổng hợp ở trên để đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Điểm mới trong phạm vi nghiên cứu lần này đó là tác giả sẽ kiểm định tác động của các nhân tố đến rủi ro thanh khoản của nhóm các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện tại có niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 2012 – 2021. Qua đó, đề tài nghiên cứu nhằm nhìn nhận xem yếu tố thị trường chứng khoán và các yếu tố vĩ mô có mức độ ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro thanh khoản ngân hàng cũng như đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 đã trình bày về cơ sở lý thuyết về thanh khoản, rủi ro thanh khoản và nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản. Theo đó, thanh khoản đại diện cho khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đến hạn. Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản và nợ phải trả là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Để đo lường rủi ro thanh khoản thì có nhiều phương pháp với các cách xác định khác nhau. Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả lựa chọn phương pháp đo lường là khe hở tài trợ (FGAP) vì theo như một số nghiên cứu nhận định thì đây là phương pháp đo lường phù hợp nhất trong nghiên cứu định lượng. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Trong chương 2, tác giả tiến hành lược khảo một số các nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài để tổng hợp kết quả về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng đã được tiến hành nghiên cứu trước đó. Theo đó, có nhiều nhân tố có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng, bao gồm cả các nhân tố nội tại ngân hàng và các nhân tố bên ngoài như thể chế, chính sách, trạng thái của nền kinh tế.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537