Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là chỉ số quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ an toàn vốn ở mức tối thiểu và phù hợp theo quy định của cơ quan chức năng thì ngân hàng đó mới có khả năng đương đầu với những rủi ro hoạt động tiềm ẩn cũng như rủi ro đến từ bên ngoài đồng thời bảo vệ được vốn của các nhà đầu tư và tạo lòng tin cho người gửi tiền. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ an toàn vốn được các ngân hàng duy trì ở mức quá cao cũng làm cho ngân hàng đó mất đi cơ hội gia tăng lợi nhuận. Do đó để xác định được tỷ lệ an toàn vốn nào là phù hợp thì trong các Hiệp ước của Ủy ban Basel cùng với định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam thì việc nghiên cứu về tỷ lệ an toàn vốn đã trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với các ngân hàng.”Bên cạnh đó, việc kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng, do đó tôi quyết định chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam” để nghiên cứu. Đề tài sử dụng số liệu 31 ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2021, dữ liệu nghiên cứu thứ cấp được lấy từ báo cáo thường niên và báo cáo tài chính của các ngân hàng, dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê. Trong đó, tỷ lệ an toàn vốn CARĐ là biến được đo lường an toàn vốn của ngân hàng TMCP Việt Nam. Bên cạnh đó các biến thể hiện yếu tố vĩ mô là: tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát (INF); các biến yếu tố nội bộ ngân hàng là quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), biên lãi ròng (NIM), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOA), khả năng thanh khoản (FDR).
“Phương pháp sử dụng trong bài nghiên cứu là phân tích hồi quy bằng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares). Kết quả nghiên cứu cho thấy biên lãi ròng, khả năng thanh khoản, tăng trưởng kinh tế và lạm phát có ý nghĩa thống kê và tác động cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn trong khi đó quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu có ý nghĩa thống kê và tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn.”
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra các gợi ý, hàm ý cho các ngân hàng TMCP liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn.
Từ khoá: Tỷ lệ an toàn vốn, Chuẩn mực Basel, FGLS, Ngân hàng TMCP, Việt Nam
ABSTRACT Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Capital adequacy ratio (CAR) is an important indicator in evaluating the bank’s business performance. When a bank ensures a minimum capital adequacy ratio and is in line with the regulations of the authorities, that bank will be able to cope with potential operational risks as well as risks from while at the same time protecting investors’ capital and creating trust for depositors. However, if the capital adequacy ratio is maintained at too high a level by banks, it will also cause the bank to lose opportunity to increase profits. Therefore, in order to determine which capital adequacy ratio is appropriate, in the Basel Committee’s treaties along with the development orientation of the Vietnamese banking system, the study of capital adequacy ratio has become an urgent requirement for banks. Besides, controlling factors affecting capital adequacy ratio is important for banks, so I decided to choose the topic “Factors affecting capital adequacy ratio of Vietnamese joint stock commercial banks” for research. The study uses data of 31 Vietnamese joint stock commercial banks in the period 2010 – 2021, secondary research data is taken from annual reports and financial statements of banks, statistical data of the World Bank. and the General Statistics Office. In which, capital adequacy ratio (CARD) is the variable measured capital adequacy of Vietnam Joint Stock Commercial Bank. Besides, the variables showing macro factors are: economic growth (GDP) and inflation (INF); The internal bank variables are bank size (SIZE), return on total assets (ROA), net profit margin (NIM), bad debt ratio (NPL), loan-to-total ratio. assets (LOA), liquidity (FDR).
The method used in this study is regression analysis using the Feasible Generalized Least Squares method. Research results show that net profit margin, liquidity, economic growth and inflation have statistical significance and have a positive impact on capital adequacy ratio while bank size, profit margin on total assets, loan-to-total assets ratio and bad debt ratio are statistically significant and have a negative impact on capital adequacy ratio.
From the research results of the topic, the author gives suggestions and implications for joint stock commercial banks related to capital adequacy ratio. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Keywords: Capital adequacy ratio, Basel standards, FGLS, Joint Stock Commercial Bank, Vietnam
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI”
“Trong chương này, tác giả sẽ trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, nêu ra lý do tại sao lại chọn lựa đề tài nghiên cứu này. Sau đó là xác định các mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu nghiên cứu cụ thể đồng thời xác định các câu hỏi nghiên cứu có liên quan cũng như phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra“trong chương này cũng trình bày các phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của đề tài và cuối cùng là trình bày kết cấu tổng thể của đề tài.”.
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngân hàng là một tổ chức có vai trò tích lũy vốn từ mọi người trong cộng đồng và trả lại cho họ một cách hiệu quả bao gồm trả gốc và lãi. Do đó, ngân hàng là đầu mối cho các bên liên kết giữa bên cung cấp vốn và những người cần vốn. Bởi chức năng của nó như là kết nối hoặc công cụ trung gian, điều quan trọng đối với một ngân hàng là duy trì niềm tin của mọi người vì mọi người mong đợi vốn của mình được tiết kiệm an toàn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính Hoa Kỳ diễn ra từ tháng 7/2007 và trở nên ngày càng trầm trọng sau sự sụp đổ của Lehman Brother – ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Hoa Kỳ vào tháng 9/2008. Từ Hoa Kì đã nhanh chóng lan sang cả châu Âu hình thành một cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng này đã tác động hết sức tiêu cực đến nền kinh tế thực (khu vực sản xuất). Cuộc khủng hoảng tài chính này được xem là cuộc khủng hoảng cả về cơ cấu và thể chế tài chính, cả trong mối quan hệ giữa kinh tế tiền tệ (kinh tế ảo) và kinh tế thực. Cũng từ sau cuộc khủng hoảng này các nhà quản trị cũng như cơ quan quản lý ngân hàng đã thiết lập các biện pháp kiểm soát hoạt động để xây dựng hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động ổn định và an toàn, họ nâng cao việc quản trị rủi ro hơn so với mục tiêu sinh lời.
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là một chỉ tiêu cực kì quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đã được tổ chức IMF đề xuất nhằm ứng phó với rủi ro có thể xảy ra cho các ngân hàng và đây cũng là một chỉ số được Ủy Ban Basel đưa vào các Hiệp ước của mình như là một trụ cột quan trọng, cụ thể là trong Basel II nêu rõ các ngân hàng cần duy trì một mức tỷ lệ an toàn vốn bắt buộc tối thiểu, cụ thể là 8%.” Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Tại Việt Nam tính đến nay NHNN cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp lý và hướng dẫn cụ thể quy định mức an toàn vốn tối thiểu. Tính đến tháng 5/2020 đã có 22 ngân hàng TMCP ở Việt Nam đã áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41/2016 của NHNN. Ngoài ra với việc ban hành Thông tư 22/2019 thì NHNN cũng quy định rõ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu mà các ngân hàng TMCP phải duy trì đã tăng từ 8% lên 9%.
Việc các ngân hàng TMCP phải áp dụng các chuẩn mực quốc tế cũng như tuân thủ quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ở Việt Nam là điều kiện tiên quyết trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước đang gặp rất nhiều khó khắn đồng thời nguy cơ về an toàn vốn trong hệ thống ngân hàng được đặt lên hàng đầu. Song song với việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu thì việc đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động một cách hiệu quả là một vấn đề bức thiết.
Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng nói chung cũng như hệ thống của các ngân hàng TMCP nói riêng là một vấn đề không mới và khi xảy ra biến cố khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 thì từ đó đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện. Do đó nhằm làm rõ hơn sự tác động của các yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”. Sau khi xác định được yếu tố nào tác động đến tỷ lệ an toàn vốn tôi sẽ đưa ra các hàm ý chính sách để giúp các nhà quản trị đưa các chính sách phù hợp để ổn định được hoạt động của hệ thống ngân hàng đồng thời góp phần cho việc phát triển nền kinh tế của Việt Nam.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Xác định các yếu tố tác động và phân tích mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đó đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam, đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu tổng quát ở trên thì tác giả sẽ xác định các mục tiêu cụ thể để nghiên cứu:
- Một là, cần xác định rõ các yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam.
- Hai là, đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam.
- Ba là, sau khi đã xác định và đo lường các yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn thì tác giả sẽ đề xuất một số hàm ý chính sách liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam.”
1.3. CÁC CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu ở trên, tác giả sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu để làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam:
- Thứ nhất, các yếu tố nào tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam?
- Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam như thế nào?
- Thứ ba, những hàm ý chính sách liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam là gì?”
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Đối tượng của bài nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam.
1.4.2. Phạm vi của bài nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu: 31 ngân hàng TMCP với dữ liệu nghiên cứu được niêm yết đầy đủ trên website chính thức của các ngân hàng đồng thời mẫu nghiên cứu này cũng đại diện được cho toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 – 2021, giai đoạn này hệ thống tài chính Việt Nam nói chung và các ngân hàng TMCP nói riêng vừa chịu sự tác động lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, cũng như sự tác động tiêu cực từ đại dịch Covid 19 hay cuộc đua tăng vốn điều lệ năm 2021 của hàng loạt các ngân hàng TMCP. Giai đoạn nghiên cứu này cũng là giai đoạn 10 năm thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam. Việc thực hiện công cuộc tái cơ cấu đã giúp cho toàn hệ thống ngân hàng nhìn chung đã ổn định, lớn mạnh hơn về nền tảng tài chính, năng lực quản trị và hoạt động giám sát ngân hàng. Bên cạnh đó một số ngân hàng cũng đã áp dụng các nền tảng công nghệ số trong hoạt động kinh doanh nhằm tăng khả năng cạnh tranh cũng như tối ưu hóa các nguồn lực tài chính. Hiện nay một số ngân hàng TMCP đã được xếp hạng tín nhiệm khá tốt và có uy tín quốc tế.
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Trong bài nghiên cứu của mình tác giả sử dụng cả 2 phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, thu thập mẫu dữ liệu của 31 ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2021.
“Phương pháp nghiên cứu định tính: Tổng hợp, đánh giá và so sánh số liệu thống kê về yếu tố vi mô và vĩ mô ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP.”
“Phương pháp nghiên cứu định lượng: Đề tài sử dụng phần mềm Stata 16 để chạy thử nghiệm theo mô hình Pooled OLS, mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình tác động cố định (FEM) và phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS (Feasible generalised least square). Kết quả của mô hình cũng sẽ được đánh giá và so sánh nhằm đưa mô hình thích hợp qua việc kiểm định các hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan và phương sai thay đổi để từ đó cho ra các phân tích về yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam.”
Nguồn số liệu về tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế được lấy từ dữ liệu của WB, các yếu tố khác thì lấy từ BCTC và BCTN của các ngân hàng TMCP, đồng thời tỷ lệ nợ xấu thì trích xuất trong báo cáo của NHNN.
1.6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP để từ đó đề xuất các hàm ý giúp cho các nhà quản trị ngân hàng đưa ra được mức an toàn vốn phù hợp với quy định của pháp luật, duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả đồng thời tạo lòng tin cho những người gửi tiền cũng như các nhà đầu tư khi gửi tiền vào ngân hàng.
1.7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
“Mở đầu của chương này, tác giả sẽ trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, nêu ra lý do tại sao lại chọn lựa đề tài nghiên cứu này. Phần tiếp theo là xác định các mục tiêu của đề tài nghiên cứu, xác định câu hỏi nghiên cứu liên quan, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Bên cạnh đó, trong chương này cũng trình bày các phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của đề tài và cuối cùng là trình bày kết cấu tổng thể của đề tài.”
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan
Chương này tác giả sẽ trình bày nội dung cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng, lý luận chung về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn và sơ lược các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình.
Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Tác giả thực hiện xây dựng mô hình nghiên cứu, thực hiện đề xuất các giả thuyết và chiều tác động kỳ vọng của các biến trong mô hình. Ngoài ra trong chương này tác giả cũng thực hiện các phương pháp nghiên cứu nhằm xác định mức độ động của các biến đó.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
“Trong chương này sẽ đề cập đến thực trạng về tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam. Trình bày các kết quả phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình, phân tích tương quan mô hình nghiên cứu, thực hiện các kiểm định để lựa chọn ra mô hình phù hợp. Cuối chương sẽ tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và từ kết quả của mô hình sẽ xác định các yếu tố nào tác động đến tỷ lệ an toàn vốn cũng như mức độ tác động của từng yếu tố.”
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Trong chương này sẽ nêu ra các kết luận chính đồng thời đưa ra các gợi ý, khuyến nghị nhằm xác định tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam dựa vào kết quả nghiên cứu có được ở chương 4. Ngoài ra tác giả cũng trình bày những điểm còn hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN
Nội dung đầu tiên trong chương này là tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn và các lý luận chung về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng. Sau đó tác giả cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài từ đó đưa ra cơ sở cho việc xây dựng mô hình và kiểm định các biến trong mô hình.”
2.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN
2.1.1. Khái niệm tỷ lệ an toàn vốn Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là tỷ lệ vốn của ngân hàng liên quan đến tài sản có tỷ trọng rủi ro và nợ phải trả hiện tại. CAR được quyết định bởi NHTW và các nhà quản trị ngân hàng để ngăn chặn các NHTM lấy đòn bẩy dư thừa và trở nên mất khả năng thanh toán trong quá trình này.
An toàn vốn là mức vốn tối thiểu mà các ngân hàng phải duy trì theo yêu cầu của cơ quan quản lý, nó xuất phát từ mục đích tối đa hóa một hàm phúc lợi xã hội có tính tới chi phí (sự gia tăng chi phí tín dụng) và lợi ích của vốn (giảm xác suất thất bại của ngân hàng) (Elizalde & Repullo, 2007)
Tỷ lệ an toàn vốn được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm tỷ lệ vốn chính của một tổ chức tài chính so với tài sản của nó và được sử dụng như một thước đo sức mạnh tài chính và sự ổn định của nó (Taherinia & Baqeri, 2018)
“Tỷ lệ an toàn vốn là cơ sở đo lường mức độ an toàn của vốn và được coi là một trong những chỉ tiêu tài chính dùng để đo về tình trạng sức khoẻ của các ngân hàng và nó cũng giúp cho ngân hàng ngăn chặn và đảm bảo các ngân hàng có thể chịu đựng các tổn thất dẫn đến bị phá sản (Aspal & Nazneen, n.d.)
“Tỷ lệ an toàn vốn là thước đo dung để đo lượng vốn của một ngân hàng được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm của rủi ro tín dụng có trọng số rủi ro (Mekonnen, 2015)”
Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ sở hữu trong ngân hàng quyết định cấu trúc tài chính của nó và tỷ lệ này là phần bổ sung của tỷ lệ nợ (Taherinia & Baqeri, 2018) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
“Khi nhắc đến tỷ lệ số an toàn vốn thì không thể không nhắc tới Uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng (The Basel Committee – Overview, 2011), vì đây là tổ chức tiên phong trong việc tiêu chuẩn hoá cách đo lường chỉ số an toàn vốn này. Theo đó, hệ số an toàn vốn được định nghĩa là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ về vốn của ngân hàng đối với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Chỉ số này biểu thị sức mạnh tài chính và mức độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
“Tại Việt Nam, tỷ lệ an toàn vốn thường được nhắc đến trong các BCTC và BCTN của các ngân hàng TMCP. Theo đó, chỉ tiêu này của các ngân hàng đảm bảo theo quy định của NHNN thể hiện sự ổn định và phát triển bền vững song song với việc tăng trưởng tín dụng an toàn và kiểm soát chất lượng tín dụng chặt chẽ. Tỷ lệ này tại Việt Nam được NHNN quy định có mức tối thiểu là 9% nếu các ngân hàng tính tỷ lệ theo Thông tư số 22/2019/TTNHNN và có mức tối thiểu là 8% nếu các ngân hàng tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN.
Vì vậy kết luận rằng tỷ lệ an toàn vốn là một thước đo về độ an toàn vốn của các ngân hàng dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Tỷ lệ này được các nhà quản trị ngân hàng dùng để đánh giá khả năng thanh toán và mức độ rủi ro của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Việc các ngân hàng tuân thủ quy định về tỷ lệ an toàn vốn giúp cơ quan quản lý hệ thống tài chính ngân hàng cụ thể ở đây là các NHTW có thể quản lý được sự ổn định của hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung. Ngoài ra việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cũng giúp nhà quản trị ngân hàng có những chính sách phát triển bền vững và đảm bảo hoạt động hiệu quả ngân hàng đồng thời giúp nhà đầu tư và người gửi tiền cũng cảm thấy an tâm đối với các khoản tiền của mình khi gửi tại ngân hàng. Đúng với vai trò của mình, ngân hàng là trung gian tài chính của nền kinh tế vì sự ổn định, an toàn và hiệu quả.”
2.1.2. Ý nghĩa tỷ lệ an toàn vốn Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Tỷ lệ an toàn vốn được xem như là thước đo cơ bản để NHTW có thể đánh giá sự lành mạnh, sự an toàn và chuẩn mực về tài chính của ngân hàng. Nếu một ngân hàng không đảm bảo được nguồn vốn chủ sở hữu, tính thanh khoản không được đảm bảo thì ngân hàng này được xem như không có khả năng hoạt động bình thường phải chịu sự kiểm soát đặc biệt của NHNN hoặc thậm chí buộc phải sáp nhập với các ngân hàng khác để đảm bảo cho hệ thống ngân hàng được hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả cũng như mang lại sự yên tâm cho người gửi tiền.
Căn cứ vào tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng cũng sẽ được đánh giá là có khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn, đảm bảo kiểm soát rủi ro hoạt động thường ngày và lường trước các rủi ro trong tương lai có thể xảy ra cho ngân hàng. Vì vậy NHTW ở các nước luôn xác định một tỷ lệ an toàn vốn được đảm bảo ở mức tối thiểu đồng thời luôn giám sát hoạt động này một cách chặt chẽ để đảm bảo các ngân hàng luôn duy trì được tỷ lệ này.
Có được một tỷ lệ an toàn vốn được đảm bảo không những giúp ngân hàng đảm bảo được hiệu quả kinh doanh mà còn giúp cho ngân hàng đó tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác, nâng cao mức xếp hạng tín nhiệm nhằm thu hút các nhà đầu tư và người gửi tiền.
Việc từng ngân hàng duy trì được mức tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không những đảm bảo cho ngân hàng mình hoạt động một cách an toàn, hiệu quả mà còn giúp cho cả hệ thống ngân hàng duy trì và phát triển một cách bền vững. Nếu một ngân hàng không duy trì được mức an toàn vốn tối thiểu, luôn trong tình trạng vốn bị thiếu hụt, thanh khoản không đảm bảo và hoạt động không hiệu quả thì sẽ kéo theo cả hệ thống ngân hàng và kinh tế tài chính rơi vào tình trạng khủng hoảng.
2.1.3. Khái niệm về lý thuyết bất cân xứng thông tin
Cleary (1999) cho rằng, sở dĩ thông tin bất cân xứng trên thị trường là do các nhà tài trợ vốn bên ngoài đánh giá dự án đầu tư dựa trên chất lượng và rủi ro của dự án. Điều này khiến chi phí nguồn vốn bên ngoài trở nên cao hơn chi phí nguồn vốn nội bộ, như là một khoản phí bảo hiểm bù đắp rủi ro. Khái niệm thông tin bất cân xứng lần đầu tiên được giới thiệu bởi Akerlof George A. vào năm 1970. Akerlof (1970) tranh cãi rằng, người bán với nhiều thông tin bên trong về tài sản của mình, nên không sẵn lòng bán sản phẩm cho người mua thiếu thông tin về tài sản đó. Còn người mua nghĩ rằng, nếu người bán sẵn lòng bán ngay tài sản của họ với giá mà người mua đưa ra, điều đó nghĩa là giá mua đã đưa ra cao hơn giá trị của tài sản. Và như vậy, tài sản được mua bán khi đó là tài sản có chất lượng xấu (lemon). Vấn đề bất cân xứng thông tin đã dẫn đến giá cả của tài sản trên thị trường bị đánh giá thấp khi người mua và người bán không có cùng mức độ thông tin và sự khác nhau này thể hiện ở một khoản phí bảo hiểm bù đắp cho rủi ro tài sản “lemon”. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Dựa trên những lập luận về thông tin bất cân xứng của Akerlof (1970), Greenwald, Stiglitz và Weiss (1984) và Myers và Majluf (1984) đã thảo luận về vấn đề lựa chọn ngược (adverse selection) trong quyết định đầu tư. Cả hai nghiên cứu này đều tranh cãi rằng, trong thị trường không hoàn hảo, tồn tại sự bất cân xứng thông tin giữa DN và nhà đầu tư bên ngoài. Khi nhà đầu tư bên ngoài không thể phân biệt giữa cơ hội đầu tư hiệu quả cao và cơ hội đầu tư hiệu quả thấp, việc DN phát hành cổ phần ra bên ngoài để huy động vốn như là một “tín hiệu” cho các nhà đầu tư bên ngoài thấy rằng dự án đầu tư đó là không hiệu quả. Ross Stephen A. (1977) lập luận rằng, các DN “tốt” sẽ dựa chủ yếu vào nợ vay khi có nhu cầu gia tăng vốn và do đó, khi các DN phát hành cổ phần mới, nó cung cấp cho thị trường với một tín hiệu tiêu cực mạnh mẽ về chất lượng của DN, điều này ảnh hưởng đến giá phát hành giảm. Myers và Majluf (1984) trình bày rằng, vốn cổ phần mới tài trợ đầu tư chỉ được thực khi và chỉ khi nó làm tăng giá trị cho các cổ đông hiện hữu sau khi đã tính các lợi ích cho cổ đông mới. Vì thế, có nhiều DN chấp nhận cắt giảm đầu tư ở một vài dự án có NPV dương nhằm đảm bảo lợi ích cho cổ đông hiện hữu, chứ không phát hành cổ phần mới để đầu tư hết cho tất cả các dự án có NPV dương.
Tuy nhiên, Myers và Majluf (1984) cũng nhận xét rằng, nếu một DN có nguồn tài chính mạnh sẽ không bao giờ bỏ qua một dự án đầu tư có NPV dương nào cả.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng hàm ý một trật tự ưu tiên trong sử dụng các nguồn tài trợ như được kết luận trong nghiên cứu của Myers (1984). Myers (1984) chỉ ra rằng, có một trật tự phân hạng (Pecking Order) trong việc sử dụng các nguồn tài trợ, chủ yếu dựa trên thông tin bất cân xứng. DN ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ trước, nhằm tránh việc cắt giảm các dự án đầu tư có NPV dương hoặc việc phát hành cổ phần mới. DN sẽ thực hiện chính sách cổ tức phù hợp với mục tiêu tăng cường nguồn vốn nội bộ và đồng thời giữ một tỷ lệ nợ tối đa có thể, để tránh rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính hoặc thiếu hụt tài chính. Điều này hàm ý rằng, DN sẽ sử dụng hết nguồn vốn nội bộ đến mức có thể, rồi mới đến nợ phải trả ngắn hạn. Khi cần nguồn vốn bên ngoài, DN sẽ tiến hành phát hành chứng khoán nợ dài hạn và việc phát hành vốn cổ phần là nguồn tài trợ được xét đến sau cùng.
2.1.4. Khái niệm về lý thuyết trật tự phân hạng Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Lý thuyết trật tự phân hạng xuất phát chủ yếu dựa trên mối quan tâm về bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lên quyết định đầu tư của các nhà đầu tư và quyết định gửi tiền của người dân với ngân hàng. Bởi vì các nhà quản trị ngân hàng có nhiều thông tin về thực trạng kinh doanh của ngân hàng hơn những nhà đầu tư, người gửi tiền hay người đi vay. Đứng ở vị thế của những nhà đầu tư đang hiện hữu thì những nhà đầu tư mới yêu cầu một mức tỷ suất sinh lời cao hơn khi đầu tư vào ngân hàng. Đứng ở vị thế của người gửi tiền thì mong muốn sẽ nhận được mức lãi suất gửi tiết kiếm cao nhất trong khi đó người đi vay thì mong muốn được vay với chính sách ưu đãi, lãi suất thấp. Chính vì vậy, khi ngân hàng có nhu cầu về vốn, họ thường sử dụng nguồn tài trợ nội bộ (lợi nhuận giữ lại) đầu tiên, sau đó là chứng khoán nợ và phát hành cổ phần thường mới là lựa chọn cuối cùng. Những nền tảng đầu tiên cho lý thuyết trật tự phân hạng là từ những nghiên cứu của Donaldson (1961).
Các nghiên cứu này đưa ra những bằng chứng cho thấy nhà điều hành doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ và chỉ cân nhắc đến nguồn tài trợ bên ngoài (nợ và phát hành cổ phần mới) trong những trường hợp mà nhu cầu vốn gia tăng bất thường không thể tránh khỏi.
2.1.5. Phương pháp đo lường tỷ lệ an toàn vốn
2.1.5.1. Theo Hiệp ước Basel
Về phương pháp đo lường tỷ lệ an toàn vốn cũng được nêu rõ và tính toán theo tiêu chuẩn của Basel I (1988) là: Vốn an toàn theo quy định là một biện pháp dự phòng mà các ngân hàng bắt buộc phải đảm bảo để nếu có xảy ra rủi ro nó sẽ có khả năng khắc phục nhưng tổn thất để không ảnh hưởng đến lợi ích của nhà đầu tư và người gửi tiền.
Đồng thời trong bản Hiệp ước cũng nêu phương pháp dùng để đo lường tỷ lệ an toàn vốn như sau:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ (%) = x 100%
- Trong đó:
Tổng tài sản Có điều chỉnh rủi ro (RWA) = Σ(Tài sản nội bảng x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng Cân Đối Kế Toán) + Σ(Tài sản cam kết ngoại bảng x Mức rủi ro ngoại bảng)
Cũng từ công thức trên các ngân hàng có mức vốn tốt là những ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn > 10%, các ngân hàng có mức vốn thích hợp khi tỷ lệ an toàn vốn > 8%, các ngân hàng sẽ bị thiếu vốn khi nếu tỷ lệ an toàn vốn < 8%, các ngân hàng sẽ có mức thiếu vốn rõ rệt khi tỷ lệ này < 6% và nếu tỷ lệ an toàn vốn < 2% các ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt vốn trầm trọng.
“Vì Basel I có nhiều điểm còn hạn chế nên Ủy ban đã đề xuất hướng cải với khung đo lường mới đồng thời 3 trụ cột chính được đưa ra gồm: một là yêu cầu vốn tối thiểu vẫn trên cơ sở kế thừa Basel I, hai là hoạt động giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính, ba là sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật thị trường. Do đó đến ngày 26/6/2004, Ủy ban Basel đã chính thức ban hành bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới được gọi tắt là Basel II.” Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Theo Basel II, tỷ lệ an toàn vốn là trụ cột đầu tiên trong 3 trụ cột của Basel II, tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức tối thiểu là 8% giống như Basel I nhưng được tính toán khác. Theo đó rủi ro mà ngân hàng thường phải đối mặt bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay còn gọi là rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. Những loại rủi ro khác không được coi là có thể lượng hoá hoàn toàn ở bước này.
So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành. Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng.
Vốn yêu cầu tối thiểu được xác định bằng công thức:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ (%) = x 100%
Theo quy định của hiệp ước Basel II, tỷ lệ vốn được tính toán dựa trên định nghĩa vốn tự có và các tài sản điều chỉnh rủi ro. Tổng tỉ lệ an toàn vốn (CAR) phải lớn hơn hoặc bằng 8 %. Vốn cấp 2 được giới hạn tối đa bằng 100% vốn cấp 1.
Tổng vốn tự có (Vốn điều chỉnh) = Vốn cấp 1 + vốn cấp 2 + vốn cấp 3
Vốn cấp 1 là nguồn vốn chính của ngân hàng bao gồm: Vốn chủ sở hữu và vốn dự trữ được tiết lộ. Đây là nguồn vốn ổn định và đáng tín cậy nhất cho hoạt động ngân hàng.
Vốn cấp 2 hay còn được gọi là vốn dự trữ bổ sung bao gồm: Các khoản dự trữ không được tiết lộ, dự trữ đánh giá lại, dự phòng chung hoặc dự phòng tổn thất cho vay chung, công cụ vốn nợ hỗn hợp và nợ có kỳ hạn phụ. Vốn cấp 2 được giới hạn không được quá 100% vốn cấp 1.
Vốn Cấp 3 là một nguồn vốn bao gồm vốn cấp 2 cộng với các khoản vay ngắn hạn cấp dưới. Vốn cấp 3 thông thường được dùng để giải quyết các rủi ro của thị trường và được giới hạn ở mức không quá 250% vốn cấp 1 của ngân hàng.
Trong đó: Các yếu tố được khấu trừ ra khỏi Vốn bao gồm:
- Lợi thế thương mại
- Sự gia tăng vốn tự có được mang đến từ các giao dịch rủi ro có đảm bảo (các giao dịch gắn liền với sự gia tăng thu nhập kì vọng tương lai FMI) bị loại trừ ra khỏi vốn cấp 1.
Tài sản điều chỉnh rủi ro Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Tổng tài sản điều chỉnh rủi ro = Σ(Tài sản có nội bảng × Hệ số rủi ro) + Σ(Tài sản ngoại bảng × hệ số chuyển đổi × Hệ số rủi ro)
Theo Hiệp ước mới này, tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro được xác định bằng cách lấy nhu cầu vốn đối với rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động nhân với 12.5 (tương đương với tỷ lệ vốn tối thiểu bằng 8%) cộng với kết quả tính toán của tài sản có rủi ro tín dụng hay nói cách khác mẫu số của tỷ số tổng vốn tối thiểu sẽ bao gồm 3 phần: tổng tài sản đã điều chỉnh với rủi ro đối với rủi ro tín dụng, cộng với 12.5 lần tổng tỷ lệ vốn quy định cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động.
Bảng 2.1: Các mốc ban hành và thời điểm hiệu lực các Hiệp ước Basel
| Mốc ban hành | Thời gian bắt đầu áp dụng |
Công thức tính CAR |
|
| Basel I | 1988 | 1992 | CAR = Vốn chủ sở hữu / Tài sản có rủi ro (RWA) |
| Basel II | 2004 | 2006 | “CAR = Vốn tự có/(RWA_rủi ro tín dụng
+ RWA_rủi ro hoạt động + RWA_rủi ro thị trường) CAR >= 8%” |
| Basel III | 2010 | 1/2013-1/2019 | “CAR = Vốn tự có/(RWA_rủi ro tín dụng
+ RWA_rủi ro hoạt động + RWA_rủi ro thị trường) CAR >= 8%” |
(Nguồn: Tác giả tổng hợp) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
2.1.5.2. Theo quy định tại Việt Nam
“Tại điều 9 mục 2 Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, định nghĩa tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là tỷ lệ phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất(Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, n.d.)”
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ: Theo tỷ lệ này thì từng ngân hàng phải duy trì ở mức tối thiểu là 9% và được tính bằng công thức:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ (%) = x 100%
Cách tính Vốn tự có riêng lẻ và Tổng tài sản Có rủi ro riêng lẻ trong công thức trên được quy định tại Phụ lục 2 của Thông tư này.
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất: Trong trường hợp ngân hàng có công ty con, thì vừa phải duy trì mức an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ theo quy định trên vừa phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất ở mức 9%.
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất (%) = x 100%
Cách tính Vốn tự có hợp nhất và Tổng tài sản Có rủi ro hợp nhất trong công thức trên cũng được quy định tại Phụ lục 2 của Thông tư này.
Đối với chi nhánh các ngân hàng nước ngoài thì trong Thông tư 22/2019/TT-NHNN cũng quy định phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ở mức 9% và được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ x 100%
Cách tính Vốn tự có và Tổng tài sản Có rủi ro trong công thức trên cũng được quy định tại Phụ lục 3 của Thông tư này.
2.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ AN TOÀN VỐN Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
2.2.1. Các yếu tố bên ngoài
2.2.1.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tăng trưởng kinh tế của một quốc thường được đo lường thông qua chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP của một quốc gia được tính bằng tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó trong một thời kì nhất định (thông thường được tính theo năm). Tổng sản phẩm quốc nội cung cấp một bức tranh tổng quát về kinh tế của một quốc gia, được sử dụng để ước tính quy mô nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng. Theo các nghiên cứu trước đây là Asarkaya và Ozcan (2007); Đào thị Thanh Bình, Nguyễn Kiều Anh (2020) thì GDP có tác động cùng chiều với CAR còn nghiên cứu của Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016); Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) thì GDP có tác động ngược chiều với CAR.
2.2.1.2. Lạm phát (INF)
Lạm phát là sự tăng mức giá chung liên tục của mức giá hàng hoá, dịch vụ theo thời gian và là sự mất giá của một loại tiền tệ nào đó theo kinh tế vĩ mô. Lạm phát ở một mức quá cao có thể ảnh hưởng đến mức tiêu thụ của người tiêu dùng tại quốc gia đó. Nghiên cứu của Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016) tại Nhật Bản chỉ ra tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ tương quan nghịch đến tỷ lệ an toàn vốn. Khi lạm phát tăng cao khiến cho đồng tiền mất giá đòi hỏi ngân hàng duy trì một mức vốn cao để đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả. Ngược lại thì kết quả nghiên cứu của Serhat Yuksel và Mustafa Ozsari (2017) lại chỉ ra mối quan hệ tương quan thuận giữa tỷ lệ này và tỷ lệ an toàn vốn.
2.2.2. Các yếu tố bên trong Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
2.2.2.1 Quy mô ngân hàng (SIZE)
Tác giả sẽ sử dụng logarit tự nhiên của“tổng tài sản để đo lường quy mô ngân hàng.”Ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì mức độ ảnh hưởng về thị trường ngân hàng cũng như mức độ hiện diện càng nhiều. Về mặt lí thuyết kinh tế, ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì sẽ ít gặp rủi ro thanh khoản và vốn sẽ được an toàn hơn. Việc các ngân hàng tăng quy mô có thể làm tăng lợi nhuận, tuy nhiên, khi quy mô tăng hơn mức cần thiết, các ngân hàng lớn có thể tiết kiệm ít chi phí hơn và đối mặt với sự kém hiệu quả (Berger và cộng sự, 1987; Berger và Humphrey, 1997; Fu và Heffernan, 2008). Các ngân hàng thường tăng quy mô thông qua việc tăng vốn điều lệ và mở rộng mạng lưới kinh doanh bằng cách mở thêm chi nhánh, phòng giao dịch. Ngoài việc tăng quy mô về vốn thì việc mở thêm chi nhánh hay phòng giao dịch sẽ giúp cho các ngân hàng tăng độ phủ về thương hiệu hay mức độ hiện diện của ngân hàng đó.
Minh chứng cho việc yếu tố quy mô có ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn thì các bài nghiên cứu của Yonas Mekonen (2015); Abdurrahman Setiawan & Susy Muchtar (2021) cũng cho kết quả“quy mô ngân hàng có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn.”Bên cạnh việc tác động cùng chiều thì cũng có các bài nghiên cứu Asarkaya và Ozcan (2007); Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020); Đào Thị Thanh Bình và Nguyễn Kiều Anh (2020) cho kết quả“tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn của quy mô ngân hàng.
2.2.2.2. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
“Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản được xác định bằng lợi nhuận trước thuế chia cho tài sản bình quân.”Đây là một chỉ số rất quan trọng, chỉ số này giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của ngân hàng. Từ chỉ số này các nhà quản trị ngân hàng sẽ biết được khả năng sinh lời của đồng vốn từ đó sẽ tìm cách gia tăng lợi nhuận trong tương lai. Với tỷ suất này các bài nghiên cứu như Asarkaya và Ozcan (2007); Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016); Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020); Đào thị Thanh Bình, Nguyễn Kiều Anh (2020) cùng có kết quả“tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn.”Ngược lại bài nghiên cứu của Phạm Thị Xuân Thoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017) lại cho kết quả tác động ngược chiều của tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản đến tỷ lệ an toàn vốn. Còn nghiên cứu của Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) thì cho kết quả tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản không có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ an toàn vốn.”
2.2.2.3. Biên lãi ròng (NIM)
Thu nhập lãi thuần hay biên lãi ròng (NIM) là một yếu tố quan trọng của lợi nhuận ngân hàng, yếu tố này chịu ảnh hưởng của biến động thị trường lãi suất và rủi ro mặc định trên lợi nhuận được công nhận. Biên lãi ròng rất hữu ích trong việc đo lường những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và so sánh thu nhập lãi giữa các ngân hàng và nó cũng là một thước đo để đo lường hiệu quả tài chính của ngân hàng vì nó thường chiếm trên 70% tổng thu nhập của ngân hàng. Biên lãi ròng tăng sẽ đồng nghĩa với các ngân hàng sẽ tập trung tăng trưởng tín dụng vì phần lớn lợi nhuận của ngân hàng đến từ các khoản cho vay. Tăng cho vay sẽ làm giảm lượng dự trữ và do đó làm giảm tính thanh khoản cũng như rủi ro gia tăng. Trong nghiên cứu Yonas Mekonen (2015); Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) thì cho thấy biên lãi ròng có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn. Ngược lại các nghiên cứu của Mehdi Mili và cộng sự (2014); Bahtiar Usman và các cộng sự (2019); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) lại cho kết quả biên lãi ròng có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn.
2.2.2.4. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng TMCP (NPL)
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn hay bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn, điều này thường xảy ra khách hàng đang gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản vay. Tỷ lệ này cũng cho biết chất lượng tín dụng và rủi ro từng danh mục cho vay của ngân hàng, bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay. Nếu tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho vay hay quy trình cấp tín dụng chưa được chặt chẽ. Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu ngày càng giảm so với các năm trước đây cho thấy ngân hàng đã chặt chẽ hơn trong quy trình cấp tín dụng, kiểm soát danh mục và chất lượng các khoản tín dụng đã được cải thiện. Hoặc cũng có thể ngân hàng có chính sách miễn, giảm, xóa các khoản nợ xấu hay thay đổi cơ cấu cách phân loại nợ. Tuy nhiên với yếu tố này trong các nghiên cứu trước đây thì chỉ có bài viết của Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) có đề cập đến sự tác động của tỷ lệ này với tỷ lệ an toàn vốn nhưng có tác động không có ý nghĩa thống kê. Theo Abusharba & cộng sự (2012) nghiên cứu về yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn trong hệ thống NHTM hồi giáo Indonesia thì tỷ lệ nợ xấu có mối tương quan ngược chiều với CAR, tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tài sản của ngân hàng càng giảm và ngược lại. Đồng với quan điểm trên, Shingjergji & Hyseni (2014) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến CAR của hệ thống ngân hàng Alibannian trong giai đoạn 2007 – 2014 thì mối quan hệ dự kiến giữa tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn sẽ ngược chiều nhau, cho thấy ngân hàng nào có vốn cao dự kiến sẽ có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn do trích lập dự phòng bằng vốn chủ sở hữu.
2.2.2.5. Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOA)
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản cũng là một loại tỷ lệ đòn bẩy xác định tổng số nợ liên quan đến tài sản, cho phép so sánh mức đòn bẩy được sử dụng giữa các ngân hàng với nhau. Nếu ngân hàng có tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng đó có mức đòn bẩy càng cao từ đó rủi ro tài chính càng lớn. Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng. Theo các nghiên cứu Võ Hồng Đức và các cộng sự (2014); Mehdi Mili và cộng sự (2017) chỉ ra có kết quả tỷ lệ cho vay tác động cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Ngược lại một số bài viết của Bahtiar Usman và các cộng sự (2019); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020); Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021) thì lại chỉ ra tỷ lệ cho vay có tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Ngoài ra các bài viết của Yonas Mekonen (2015); Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) thì lại cho kết quả tỷ lệ cho vay không tác động đến tỷ lệ an toàn vốn. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
2.2.2.6. Thanh khoản (FDR)
Thanh khoản là một thuật ngữ thể hiện mức độ linh hoạt của một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng nhiều đến giá trị thị trường trường của tài sản đó. Một ngân hàng có tính thanh khoản là có khả năng thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng khi đến hạn được thể hiện thông qua hệ số giữa lượng tiền mặt và các khoản tương đương tiền với tổng tài sản mà ngân hàng nắm giữ. Trong các chỉ số an toàn thì khả năng thanh khoản đứng hàng đầu vì nó giúp cho ngân hàng duy trì được niềm tin với người gửi tiền. Ngoài ra những ngân hàng có“tính thanh khoản cao thì có thể dễ dàng chuyển đổi những tài sản của mình thành những tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền để chi trả cho khách hàng khi khách hàng cần ứng hay rút tiền mặt tức thời. Ngược lại những ngân hàng có thanh khoản thấp thì không thể đáp ứng hoàn toàn được việc ứng hay rút tiền của người gửi tiền dẫn đến việc mất kiểm soát hoạt động ngân hàng cũng như mất niềm tin vào ngân hàng. Vì vậy tác giả kỳ vọng khả năng thanh khoản có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn. Các kết quả nghiên cứu trước đây như Võ Hồng Đức và các cộng sự (2014); Mehdi Mili và cộng sự (2017); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) thì cho kết quả tương quan cùng chiều của thanh khoản đến tỷ lệ an toàn vốn. Ngược lại nghiên cứu của Pham Thi Xuan Thoa, Nguyen Ngoc Anh & Nguyen Khac Minh (2020) thì lại cho kết quả tác động ngược chiều của thanh khoản đến tỷ lệ an toàn vốn.”
2.3. CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
2.3.1. Các bài nghiên cứu nước ngoài
Asarkaya và Ozcan (2007) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn trong các tổ chức tài chính với mẫu nghiên cứu là các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ với thời gian nghiên cứu 2002 – 2006. Phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu là tập dữ liệu bảng điều khiển ước tính mô hình với phương pháp tổng quát về thời điểm (GMM). Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn bao gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, độ trễ vốn, rủi ro danh mục đầu tư, mức vốn trung bình của ngành, tỷ trọng tiền gửi và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu. Trong đó tỷ trọng tiền gửi có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn còn các yếu tố còn lại thì cho kết quả tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn.
Ali Shingjergji & Marsida Hyseni (2014) phân tích các yếu tố ngân hàng chính quyết định tỷ lệ an toàn vốn trong hệ thống ngân hàng Albania sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy giống như phân tích bình phương nhỏ nhất thông thường để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và biến độc lập bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý từ Quý I năm 2007 cho đến Quý III của năm 2014 với tổng số 31 quan sát. CAR là biến phụ thuộc vtrong khi các biến độc lập bao gồm: lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), nợ xấu (NPL) và quy mô ngân hàng (SIZE), hệ số nhân vốn chủ sở hữu (EM) và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LTD). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các chỉ số sinh lời như ROA và ROE không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến CAR trong khi NPL, LTD và EM có tác động ngược chiều và đáng kể đến CAR trong hệ thống ngân hàng Albania. Trong khi đó quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến CAR nghĩa là ngân hàng lớn có CAR cao hơn
Yonas Mekonen (2015) thì tập trung nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn tại các NHTM Ethiopia với khoảng thời gian nghiên cứu từ 2004 đến 2013. Hồi quy bảng là phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu để phân tích sự tác động của các yếu tố. Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn bao gồm: quy mô ngân hàng, biên lãi ròng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ an toàn vốn. Trong khi đó các yếu tố còn lại là thanh khoản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và hệ số đòn bẩy thì không có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ an toàn vốn.” Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
“Siti Norbaya Yahaya, Nusaibah Mansor và Kazuhiro Okazaki (2016) nghiên cứu về sự ảnh hưởng giữa hiệu quả tài chính và các nhân tố vĩ mô đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Nhật Bản. Tác giả đưa vào mô hình 6 biến đại diện cho hiệu quả tài chính của ngân hàng gồm tỷ lệ tiền gửi, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tổng tài sản, tổng tiền gửi, tổng cho vay và 5 biến vĩ mô gồm tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, tỷ lệ hối đoái, cung tiền và tăng trưởng kinh tế. Không gian nghiên cứu là 64 ngân hàng khu vực trong 10 năm từ 2005 đến 2014 và phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là hồi quy theo mô hình dữ liệu bảng với ảnh hưởng cố định (FEM). Bài nghiên cứu đã cho kết quả, các biến đại diện cho tài chính của ngân hàng như tổng tài sản, tỷ lệ huy động và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tổng tiền gửi, tổng cho vay và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đều có tác động đến tỷ lệ an toàn vốn. Còn 5 biến vĩ mô là tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, tỷ lệ hối đoái, cung tiền và tăng trưởng kinh tế đều có mối tương quan nghịch đến tỷ lệ an toàn vốn. Tuy nhiên, mô hình hồi quy lại có nhược điểm là hệ số R-điều chỉnh bình phương chỉ bằng 0.1320, điều này có nghĩa là các biến trong mô hình chỉ giải thích được 13.20% sự thay đổi của tỷ lệ an toàn vốn. Vì vậy, các yếu tố đã nghiên cứu trong bài chưa thực sự có tác động lớn đến tỷ lệ an toàn vốn tại các NHTM tại Nhật trong giai đoạn đã nghiên cứu.
Mehdi Mili và cộng sự (2017) thì sử dụng mẫu nghiên cứu là các công ty con, chi nhánh và ngân hàng mẹ được thu thập các năm 2000 – 2010 từ Bankscope. Phương pháp dữ liệu bảng điều khiển là phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số CAR của các công ty con và chi nhánh không phụ thuộc vào cùng một tập hợp các yếu tố giải thích. Bài nghiên cứu cũng cũng chỉ ra khuôn khổ quy định của quốc gia sở tại của ngân hàng mẹ có ảnh hưởng đến mức vốn hóa của các công ty con nước ngoài của ngân hàng này tại các quốc gia sở tại. Cuối cùng, bài viết chỉ ra rằng các biến cụ thể của ngân hàng mẹ ảnh hưởng mạnh đối với các ngân hàng nước ngoài liên quan nhiều đến thị trường liên ngân hàng.
“Bahtiar Usman, Henny Setyo Lestari, Tiara Puspa (2019) đã nghiên cứu với mẫu là 27 ngân hàng TMCP đã niêm yết trên IDX – Sở giao dịch chứng khoán Indonesia với thời gian nghiên cứu từ 2007 đến 2018. Phương pháp dữ liệu bảng phân tích hồi quy bằng cách ước lượng phương pháp GLS là phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu. Bài nghiên cứu cho kết quả các biến quy mô ngân hàng, trích lập dự phòng và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tương quan nghịch đến còn các biến hệ số đòn bẩy tài chính và biên lãi ròng có tương quan thuận đến tỷ lệ an toàn vốn. Còn tính thanh khoản thì có tác động không đáng kể đến tỷ lệ này.”
“Abdurrahman Setiawan & Susy Muchtar (2021) đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn với mẫu nghiên cứu là 42 ngân hàng TMCP đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia và”thời gian từ 2015 đến 2019. Phương pháp của bài nghiên cứu là hồi quy dữ liệu bảng và sử dụng lấy mẫu có chủ đích cho kỹ thuật lấy mẫu. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ vốn vay có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ an toàn vốn. Còn biến thanh khoản và dự phòng tổn thất tài sản thì không có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ an toàn vốn.”
2.3.2. Các bài nghiên cứu trong nước Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Võ Hồng Đức & cộng sự (2014)“đã nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn của”28 NHTM Việt Nam với thời gian từ 2007 đến 2012. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài viết là hồi quy bảng (Panel Regression). Kết quả đã chỉ ra các biến tác động đến tỷ lệ an toàn vốn bao gồm: quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thanh khoản, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ huy động
Trong đó thanh khoản và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng thì có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn còn quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ huy động thì có tác động ngược chiều. Còn 2 biến còn lại là tỷ lệ cho vay và hệ số đòn bẩy thì không có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ này.
Phạm Thị Xuân Thoa, Nguyễn Ngọc Anh (2017) đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn với mẫu nghiên cứu là 29 NHTM Việt Nam với thời gian từ 2011 đến 2015. Kết quả của bài nghiên cứu đã chỉ ra NIM và LIQ có tác động đáng kể nhất đến tỷ lệ an toàn vốn. Trong khi NIM và LIQ có tương quan thuận thì ngược lại LLR và LOA lại có tương quan nghịch đến CAR. Mặt khác, quy mô ngân hàng và LEV dường như tác động không đáng kể đến CAR.
“Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018) thì nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn của 10 NHTM đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016. Phương pháp được sử dụng là hồi quy bảng để phân tích các yếu tố tác động. Bài viết chỉ ra kết quả tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản có mối tương quan thuận với tỷ lệ an toàn vốn. Trong khi các biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng và tỷ lệ tiền gửi lại cho kết quả tác động ngược chiều đến tỷ lệ tỷ lệ này. Bên cạnh đó các biến thanh khoản và tỷ lệ cho vay thì cho kết quả không có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ này.””
“Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2018. Dữ liệu được thu thập lấy các BCTC và BCTN của các ngân hàng đó và dữ liệu Stoxplus thu thập. Còn các yếu tố vĩ mô thì được tác giả thu thập từ WB và IMF. Mô hình Panel Tobit là mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu để phân tích các yếu tố tác động. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn là biên lãi ròng, quy mô ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, lãi suất và tỷ giá hối đoái. Ngược lại, hệ số đòn bẩy và tỷ lệ tiền gửi là 2 biến có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn. Còn 2 biến còn lại là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ lệ cho vay thì không có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ này.” Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
“Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của 31 ngân hàng TMCP tại Việt Nam với thời gian nghiên cứu từ 2011 đến 2018. Phương pháp ước lượng dữ liệu bảng là phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu. Bài viết đã cho kết quả các biến tác động đến tỷ lệ an toàn vốn là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, hệ số đòn bẩy, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và dự phòng rủi ro tín dụng có tác động đáng kể đến tỷ lệ an toàn vốn. Trong đó tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản có tác động cùng chiều, các biến còn lại thì cho kết quả tác động ngược chiều. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra kết quả các biến biên lãi ròng, tỷ lệ tiền gửi, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu thì không có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ an toàn vốn.”
Đào Thị Thanh Bình, Nguyễn Kiều Anh (2020) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của 16 ngân hàng thương mại tại Việt Nam với thời gian từ 2010 đến 2017 với 2 biến phụ thuộc đồng thời là CAR và ROE. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả hoạt động của các ngân hàng có tác động đến tỷ lệ an toàn vốn. Các yếu tố tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ chi phí trên thu nhập và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tiền gửi đều có tác động đồng thời đến cả CAR và ROE. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra kết quả các yếu tố trên tác động mạnh đến CAR và ROE do đó các NHTM cần phải kiểm soát“hoạt động kinh doanh”chặt chẽ để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn cũng như tạo ra được lợi nhuận cho ngân hàng.
“Pham Thi Xuan Thoa, Nguyen Ngoc Anh & Nguyen Khac Minh (2020) đã nghiên cứu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng Việt Nam bởi các yếu tố nội bộ ngân hàng. Dữ liệu nghiên cứu 23 NHTM với giai đoạn nghiên cứu là 2009 – 2015. Trong bài sử sụng cả 2 phương pháp là ước lượng FGLS và dữ liệu bảng để phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn với các biến là: quy mô ngân hàng, thanh khoản, dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng thanh khoản và quy mô ngân hàng có mối tương quan nghịch đến tỷ lệ an toàn vốn. Mặt khác, các yếu tố tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và dự phòng rủi ro tín dụng cũng có tác động ngược chiều nhưng không đáng kể.””
2.3.3. Thảo luận các bài nghiên cứu trước có liên quan Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
Trên cơ sở tổng quan các bài nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên, tác giả đã tổng hợp các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP theo bảng 2.2.
Trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây thì các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn cũng được các tác giả nghiên cứu nhưng chủ yếu chỉ tập trung ở các yếu tố đã nêu ở trên tuy nhiên yếu tố nợ xấu còn chưa có ý nghĩa thống kê. Trên thực tế thì trong giai đoạn bùng nổ dịch Covid năm 2019 thì hệ thống ngân hàng nói chung và các ngân hàng TMCP nói riêng gặp không ít khó khăn vì toàn bộ hệ thống nền kinh tế nói chung đã bị ảnh hưởng. Hàng loạt các khoản nợ xấu tăng lên và ngân hàng đã tìm rất nhiều biện pháp để tr xử lý nợ xấu và giảm thiểu nợ xấu. Vì nợ xấu gia tăng đồng nghĩa với việc kinh doanh đồng vốn của ngân hàng không hiệu quả.“Do đó với bài nghiên cứu của mình tác giả cũng muốn sử dụng yếu tố nợ xấu để nghiên cứu như một yếu tố tác động đáng kể đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng.”
Bảng 2.2 : Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước về các yếu tố tác động tỷ lệ an toàn vốn
| Ảnh | Cùng chiều (+) | Ngược chiều (-) | Không có ý nghĩa thống kê |
| Quy mô ngân hàng | Yonas Mekonen (2015); Mehdi Mili và cộng sự (2017); Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021) | Asarkaya và Ozcan (2007); Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018); Bahtiar Usman, Henny Setyo Lestari, Tiara Puspa (2019); Do Hoai Linh, và các cộng sự (2019); Hung Phuong Vu và Ngoc Duc Dang (2020); Đào Thị Thanh Bình, Nguyễn Kiều Anh (2020); Pham Thi Xuan Thoa, Nguyen Ngoc Anh & Nguyen Khac Minh (2020) | Phạm Thị Xuân Thoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) |
| Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) | Asarkaya & Ozcan (2007), Yonas Mekonen (2015); Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016); Đào Thị Thanh Bình, Nguyễn Kiều Anh (2020); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) | Phạm Thị Xuân Thoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017) | Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) |
| Biên lãi ròng | Phạm Thị Xuân Thoa, Nguyễn Ngọc Anh (2017); Bahtiar Usman, Henny Setyo Lestari, Tiara Puspa (2019) | Yonas Mekonen (2015);Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng. | Hung Phuong Vu and Ngoc Duc Dang (2020) |
| Tỷ lệ nợ xấu của NHTM | Abusharba & cộng sự (2012); Shingjergji & Hyseni (2014) | Hung Phuong Vu and Ngoc Duc Dang (2020) | |
| Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản | Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016), Mehdi Mili và cộng sự (2017) | Bahtiar Usman, Henny Setyo Lestari, Tiara Puspa (2019); Pham Thi Xuan Thoa, Nguyen Ngoc Anh & Nguyen Khac Minh (2020); Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021) | Yonas Mekonen (2015); Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018); Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020); |
| Thanh khoản | Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng. | Pham Thi Xuan Thoa, Nguyen Ngoc Anh &Nguyen Khac Minh (2020) | Yonas Mekonen (2015); Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018); Bahtiar Usman, Henny Setyo Lestari, Tiara Puspa (2019); Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021) |
| Tổng sản phẩm quốc nội | Asarkaya và Ozcan (2007); Đào Thị Thanh Bình, Nguyễn Kiều Anh (2020) | Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016); Đỗ Hoài Linh và các cộng sự (2019) | |
| Lạm phát | Serhat Yuksel và Mustafa Ozsari (2017) | Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016) |
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong chương này tác giả đã đánh giá và phân tích các cơ sở lý thuyết liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn như khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn và ý nghĩa của tỷ lệ an toàn vốn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chương 2 cũng đề cập khái niệm về lý thuyết bất cân xứng thông tin và lý thuyết trật tự phân hạng. Bên cạnh đó trong chương này cũng nêu các công thức đo lường tỷ lệ an toàn vốn theo tiêu chuẩn Việt Nam và của Ủy ban Basel. Từ các cơ sở đó tác giả đã tiến hành lược khảo một số bài viết trong nước và nước ngoài có liên quan đồng thời thông qua việc phân tích về các cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu tác giả cũng có cái nhìn rõ hơn về tỷ lệ an toàn vốn cũng như bản chất của tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam. Thông qua các phân tích đó đã cung cấp cho tôi tiền đề để xây dựng các yếu tố tác động và mô hình sẽ được nghiên cứu ở chương tiếp theo. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

