Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả
Bảng 4.1 Thống kê mô tả
| Variable | Obs | Mean | Std. Dev. | Min | Max |
| Z | 295 | 43.43249 | 44.53069 | 4.755489 | 294.6373 |
| ROA | 344 | 0.7304856 | 0.708831 | -5.511746 | 3.237989 |
| CAR | 296 | 13.2098 | 4.771528 | 8 | 42 |
| aROA | 363 | 0.484437 | 0.3589247 | 0.0429222 | 2.060011 |
| SIZE | 344 | 32.44297 | 1.166106 | 30.21312 | 35.10505 |
| CEO | 150 | 1.42849 | 1.79902 | 0 | 5.202277 |
| STA | 374 | 0.1176471 | 0.3226213 | 0 | 1 |
| FCD | 374 | 0.1818182 | 0.3862113 | 0 | 1 |
| CD | 374 | 0.2727273 | 0.4459584 | 0 | 1 |
| MB | 151 | 2.062925 | 1.277981 | 0.3861789 | 8.557841 |
| GEN | 349 | 0.1232092 | 0.329149 | 0 | 1 |
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14
Z là biến đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại, được tính bằng thương số giữa tổng ROA và CAR trên độ lệch chuẩn của ROA. Mẫu nghiên cứu ghi nhận 295 quan sát với trung bình Z đạt 43.43 và độ lệch chuẩn đạt 44.53. Giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất lần lượt là 294.64 và 4.76. Thông qua số liệu thống kê mô tả, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng có sự khác biệt rất lớn trong mức độ chấp nhận rủi ro giữa các ngân hàng thương mại trong mẫu nghiên cứu.
SIZE là biến đại diện cho quy mô của các ngân hàng thương mại, được tính bằng logarithm tổng tài sản của ngân hàng. Mẫu nghiên cứu ghi nhận 344 quan sát với giá trị trung bình đạt 32.44 và độ lệch chuẩn đạt 1.17. Giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất lần lượt là 35.11 (Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Năm 2024) và 30.21 (Ngân hàng TMCP Bảo Việt – Năm 2014). Với độ lệch chuẩn 1.17 trên giá trị trung bình 32.44, trung bình khác biệt quy mô giữa các ngân hàng thương mại trong mẫu nghiên cứu đạt 3.61%. Tỷ lệ phần trăm chênh lệch khá nhỏ cho thấy quy mô của các ngân hàng thương mại trong mẫu nghiên cứu không chênh lệch nhau quá nhiều.
CEO là biến đại diện cho tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của giám đốc điều hành, được tính bằng tỷ lệ phần trăm của số lượng cổ phiếu giám đốc điều hành nắm giữ trên số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Giá trị trung bình đạt 1.43 và độ lệch chuẩn đạt 1.8l. Giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất lần lượt là 5.2% (Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – Năm 2018) và 0%. Tồn tại 34 quan sát có giá trị 0% trong mẫu nghiên cứu, chiếm 9.09% số quan sát. Với sự hiện diện của gần 10% quan sát giám đốc điều hành không nắm giữ cổ phiếu, bài nghiên cứu kỳ vọng sẽ thu kiểm chứng được tầm ảnh hưởng của việc giám đốc điều hành nắm giữ cổ phiếu đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
STA là biến đại diện cho tính chất sở hữu Nhà Nước của các ngân hàng thương mại, đây là biến giả mang giá trị 1 đối với 4 ngân hàng quốc doanh là Ngân hàng TMCP Ngoại Thương (VCB), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID), Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (CTG) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), mang giá trị 0 đối với các ngân hàng còn lại. Giá trị trung bình đạt 11.76. Kết quả này thể hiện rằng có 11.76% quan sát trong mẫu nghiên cứu là ngân hàng thương mại có sở hữu Nhà Nước.
FCD là biến đại diện cho sự hiện diện khủng hoảng tài chính trong nền kinh tế, đây là biến giả mang giá trị là 1 trong giai đoạn 2012-2015 và mang giá trị 0 trong thời gian còn lại. Giá trị trung bình đạt 18.18. Kết quả này thể hiện rằng có 18.18% thời gian nghiên cứu là thời kỳ khủng hoảng tài chính.
CD là biến đại diện cho sự hiện diện đại dịch Covid19 trong nền kinh tế, đây là biến giả mang giá trị là 1 trong giai đoạn 2022-2024 và mang giá trị 0 trong thời gian còn lại. Giá trị trung bình đạt 27.27. Kết quả này thể hiện rằng có 27.27% thời gian nghiên cứu là thời kỳ diễn ra đại dịch Covid19. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
MB là biến đại diện cho chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của các ngân hàng thương mại, được tính bằng thương số giữa giá cổ phiếu ngày cuối năm và giá trị sổ sách của cổ phiếu trên báo cáo tài chính cùng kỳ. Giá trị trung bình đạt 2.06 và độ lệch chuẩn đạt 1.28. Giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất lần lượt là 8.56 và 0.39. Chênh lệch trong MB giữa các ngân hàng thương mại là khá lớn. Kết quả này hàm ý rằng sự kỳ vọng của nhà đầu tư đối với cổ phiếu của các ngân hàng thương mại có sự khác biệt rất lớn.
GEN là biến đại diện cho giới tính của chủ tịch hội đồng quản trị của ngân hàng thương mại, mang giá trị 1 nếu chủ tịch là nam, và mang giá trị là 0 khi chủ tịch là nữ. Giá trị trung bình đạt 0.12, kết quả này cho biết rằng có 12% chủ tịch hội đồng quản trị của các ngân hàng thương mại là nam.
Trước khi thực hiện ước lượng, bài nghiên cứu xem xét mức độ tương quan giữa các biến độc lập trong 2 mô hình chính và 3 mô hình phân tích sâu các nhân số Zscore.
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan
| SIZE | CEO | STA | FCD | CD | MB | GEN | |
| SIZE | 1 | ||||||
| CEO | -0.1422 | 1 | |||||
| STA | 0.6792 | -0.3896 | 1 | ||||
| FCD | -0.1364 | -0.0869 | 0.0496 | 1 | |||
| CD | 0.038 | 0.1242 | -0.147 | -0.3189 | 1 | ||
| MB | 0.491 | -0.12 | 0.3587 | -0.179 | 0.3568 | 1 | |
| GEN | -0.1827 | 0.1395 | -0.1508 | -0.1064 | 0.096 | 0.0196 | 1 |
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14
Thông qua ma trận hệ số tương quan cho thấy mức độ tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình tương đối thấp. Do đó, bài nghiên cứu tiếp tục thực hiện hồi quy với mẫu nghiên cứu ban đầu.
4.2. Kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Bài nghiên cứu thực hiện hồi quy các mô hình nghiên cứu bằng 2 phương pháp là FEM và RobustCheck. Sau đó tổng hợp kết quả nghiên cứu và so sánh kết quả giữa 2 phương pháp. Các mức ý nghĩa thống kê được ký hiệu như sau: * 10%, ** 5% và *** 1%.
4.2.1. Kết quả hồi quy mô hình không có MB
Kết quả hồi quy mô hình cho thấy tồn tại tương quan âm giữa SIZE và Z, đồng nghĩa tồn tại mối tương quan đồng biến giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại. Hệ số hồi quy của FEM có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% và của RobustCheck cũng có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Kết quả này cũng đúng với kỳ vọng của bài nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây.
Ngoài ra, bài nghiên cứu thu được mối tương quan dương giữa STA và Z. Kết quả này hàm ý rằng các ngân hàng có sở hữu Nhà Nước có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng thương mại không có sở hữu Nhà Nước. Kết quả RobustCheck có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 1%.
Ở mức ý nghĩa 5%, bài nghiên cứu thu được tương quan âm giữa CD và Z. Kết quả này hàm ý rằng sự xuất hiện của đại dịch Covid19 làm tăng mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng.
Ở mức ý nghĩa 5% đối với FEM và 1% đối với RobustCheck, bài nghiên cứu thu được hai mối tương quan ngược chiều nhau. Kết quả này cho thấy sự không thống nhất trong kết quả của hai phương pháp hồi quy.
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy mô hình không có biến MB
| FEM | RobustCheck | |
| SIZE | -4.542** | -4.484** |
| [-2.22] | [-2.05] | |
| CEO | 0.203 | -0.134 |
| [0.36] | [-0.26] | |
| STA | 0 | 33.10*** |
| [.] | [6.12] | |
| FCD | 3.058* | 2.625 |
| [1.67] | [0.55] | |
| CD | -1.337 | -5.176** |
| [-0.88] | [-2.06] | |
| GEN | -8.665** | 14.48*** |
| [-2.02] | [3.02] | |
| _cons | 185.1*** | 177.8** |
| [2.76] | [2.47] | |
| N | 140 | 140 |
| R-sq | 0.27 | 0.399 |
| t statistics in brackets | ||
| * p<0.1, ** p<0.05, *** p<0.01 | ||
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14
4.2.2. Kết quả hồi quy mô hình có biến MB Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình có biến MB
| FEM | RobustCheck | |
| SIZE | -5.632** | -2.616 |
| [-2.54] | [-1.09] | |
| MB | 0.85 | -3.430*** |
| [1.26] | [-3.33] | |
| CEO | 0.271 | -0.314 |
| [0.48] | [-0.61] | |
| STA | 0 | 35.34*** |
| [.] | [6.32] | |
| FCD | 2.791 | 2.226 |
| [1.52] | [0.45] | |
| CD | -1.643 | -1.939 |
| [-1.07] | [-0.70] | |
| GEN | -8.641** | 15.54*** |
| [-2.02] | [3.14] | |
| _cons | 219.4*** | 121.6 |
| [3.04] | [1.55] | |
| N | 140 | 140 |
| R-sq | 0.281 | 0.433 |
| t statistics in brackets | ||
| * p<0.1, ** p<0.05, *** p<0.01 | ||
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14
Khá tương đồng với mô hình hồi quy không có biến MB, kết quả hồi quy mô hình cho thấy tồn tại tương quan âm giữa SIZE và Z, đồng nghĩa tồn tại mối tương quan đồng biến giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại. Hệ số hồi quy của FEM có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Kết quả này cũng đúng với kỳ vọng của bài nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu thu được mối tương quan dương giữa STA và Z. Kết quả này hàm ý rằng các ngân hàng có sở hữu Nhà Nước có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng thương mại không có sở hữu Nhà Nước. Kết quả RobustCheck có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 1%.
Ngoài ra, bài nghiên cứu thu được hai kết quả trái ngược nhau của GEN ở mô hình FEM và mô hình RobustCheck. Cả hai kết quả này đều có ý nghĩa thống kê. Ở mức ý nghĩa 5% đối với FEM và 1% đối với RobustCheck, bài nghiên cứu thu được hai mối tương quan ngược chiều nhau. Bài nghiên cứu chưa kết luận về tương quan giữa GEN và Z.
4.2.3. Kết quả hồi quy 2SLS
Để giảm thiếu vấn đề nội sinh, bài nghiên cứu thực hiện hồi quy bằng phương pháp 2SLS với SIZE là biến nội sinh và các biến công cụ là EMP, PPE, CASA, AGE.
- EMP là biến đại diện cho quy mô nhân viên của các ngân hàng thương mại, được tính bằng logarithm tổng số lượng nhân viên.
- PPE là biến đại diện cho quy mô tài sản cố định của các ngân hàng thương mại, được tính bằng logarithm giá trị ròng tài sản cố định.
- CASA là biến đại diện cho quy mô tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) của các ngân hàng thương mại, được tính bằng logarithm tiền gửi không kỳ hạn.
- AGE là biến đại diện cho thâm niên của các ngân hàng thương mại, được tính bằng thời gian thành lập của các ngân hàng.
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy 2SLS
| Z | Coef. | Std. Err. | z | P>z | [95% Conf.Interval] | |
| SIZE | -6.959771 | 1.900934 | -3.66 | 0 | -10.68553 | -3.234009 |
| CEO | 0.0305 | 0.7488455 | 0.04 | 0.968 | -1.43721 | 1.49821 |
| STA | 37.48012 | 4.852736 | 7.72 | 0 | 27.96893 | 46.9913 |
| FCD | 1.550111 | 4.14219 | 0.37 | 0.708 | -6.568434 | 9.668655 |
| CD | -4.652847 | 2.650043 | -1.76 | 0.079 | -9.846837 | 0.5411422 |
| GEN | 13.58789 | 4.49413 | 3.02 | 0.002 | 4.779555 | 22.39622 |
| _cons | 258.5495 | 62.02485 | 4.17 | 0 | 136.983 | 380.116 |
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Khá tương đồng với mô hình hồi quy từ 2 mô hình phía trên, kết quả hồi quy mô hình theo phương pháp 2SLS cho thấy tồn tại tương quan âm giữa SIZE và Z, đồng nghĩa tồn tại mối tương quan đồng biến giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại. Hệ số hồi quy của FEM có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Kết quả này cũng đúng với kỳ vọng của bài nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu thu được mối tương quan dương giữa STA và Z. Kết quả này hàm ý rằng các ngân hàng có sở hữu Nhà Nước có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng thương mại không có sở hữu Nhà Nước. Kết quả RobustCheck có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 1%.
Ngoài ra, bài nghiên cứu thu được mối tương quan dương giữa GEN và Z. Kết quả này hàm ý rằng các ngân hàng có chủ tịch hội đồng quản trị là nam thì có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng có chủ tịch hội đồng quản trị là nữ.
Kết quả RobustCheck có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 1%.
4.2.4. Kết quả hổi quy từng nhân tố Zscore
Thực hiện hồi quy 3 mô hình phân tích sâu các nhân tố của Zscore, bài nghiên cứu thu được kết quả như sau:
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy từng nhân tố Zscore
| FEM | RobustCheck | FEM | RobustCheck | FEM | RobustCheck | |
| CAR | CAR | ROA | ROA | aROA | aROA | |
| SIZE | – 1.975*** | -0.956*** | 0.262 | 0.352*** | -4.66E-31 | 0.0478 |
| [-2.62] | [-3.37] | [1.58] | [5.93] | [-0.00] | [1.27] | |
| CEO | -0.186 | -0.312*** | 0.0304 | 0.0326 | 3.56E-33 | -0.0197 |
| [-1.38] | [-3.29] | [1.02] | [1.04] | [0.00] | [-1.05] | |
| AGE | 0.0147 | 0.00373 | -0.027 | -0.0142*** | 5.85E-32 | -0.0139*** |
| [0.14] | [0.21] | [-1.14] | [-3.15] | [0.00] | [-3.13] | |
| _cons | 76.78*** | 43.61*** | -7.005 | -10.33*** | 0.472*** | -0.697 |
| [3.44] | [4.79] | [-1.42] | [-5.58] | [3.23e+15] | [-0.62] | |
| N | 140 | 140 | 150 | 150 | 150 | 150 |
| R-sq | 0.224 | 0.194 | 0.033 | 0.184 | 0.636 | 0.162 |
| t statistics in brackets | ||||||
| * p<0.1, ** p<0.05, *** p<0.01 | ||||||
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Mối tương quan nghịch biến được tìm thấy giữa SIZE và CAR. Kết quả này cũng ủng hộ cho mối tương quan nghịch biến giữa SIZE và Z. Đồng nghĩa rằng một ngân hàng có quy mô lớn hơn thì có CAR thấp hơn và mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn. Ngược lại với CAR, bài nghiên cứu tìm thấy mối tương quan dương giữa SIZE và ROA. Kết quả này hàm ý rằng một ngân hàng có quy mô lớn thì có sự gia tăng hiệu quả hoạt động.
Bài nghiên cứu thu được duy nhất một kết quả có ý nghĩa thống kê bằng phương pháp RobustCheck của mô hình CAR. Kết quả này cho thấy rằng tồn tại mối tương quan nghịch biến giữa CAR và CEO, đồng nghĩa giám đốc điều hành càng sở hữu nhiều cổ phiếu thì CAR càng thấp, Z càng thấp và mức độ chấp nhận rủi ro càng cao.
Đối với biến AGE, bài nghiên cứu thu được 2 mối tương quan nghịch biến với phương pháp RobustCheck của mô hình ROA và aROA. Cả hai kết quả này đểu cho mối tương quan âm và đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Mối tương quan âm giữa AGE và ROA hàm ý rằng các ngân hàng có thâm niên càng lâu thì hiệu quả hoạt động càng thấp. Việc ROA giảm trực tiếp làm giảm Z và tăng mức độ chấp nhận rủi ro.
4.3. Phân tích kết quả nghiên cứu
Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả hồi quy của 3 mô hình chính bao gồm: Mô hình có MB, không có MB và mô hình hồi quy 2SLS
| FEM | RobustCheck | FEM | RobustCheck | 2SLS | |
| Z | Z | Z | Z | Z | |
| SIZE | -4.542* | -4.484* | -5.632* | -2.616 | -6.960** |
| [-2.22] | [-2.05] | [-2.54] | [-1.09] | [-3.66] | |
| CEO | 0.203 | -0.134 | 0.271 | -0.314 | 0.0305 |
| [0.36] | [-0.26] | [0.48] | [-0.61] | [0.04] | |
| STA | 0 | 33.10** | 0 | 35.34** | 37.48** |
| [.] | [6.12] | [.] | [6.32] | [7.72] | |
| FCD | 3.058* | 2.625 | 2.791 | 2.226 | 1.55 |
| [1.67] | [0.55] | [1.52] | [0.45] | [0.37] | |
| CD | -1.337 | -5.176* | -1.643 | -1.939 | -4.653* |
| [-0.88] | [-2.06] | [-1.07] | [-0.70] | [-1.76] | |
| GEN | -8.665* | 14.48** | -8.641* | 15.54** | 13.59** |
| [-2.02] | [3.02] | [-2.02] | [3.14] | [3.02] | |
| MB | 0.85 | -3.430** | |||
| [1.26] | [-3.33] | ||||
| _cons | 185.1** | 177.8* | 219.4** | 121.6 | 258.5** |
| [2.76] | [2.47] | [3.04] | [1.55] | [4.17] | |
| N | 140 | 140 | 140 | 140 | 139 |
| R-sq | 0.27 | 0.399 | 0.281 | 0.433 | 0.388 |
| t statistics in brackets | |||||
| * p<0.1, ** p<0.05, *** p<0.01 | |||||
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
SIZE là biến đại diện cho quy mô của các ngân hàng thương mại, được tính bằng logarithm tổng tài sản của ngân hàng. Bài nghiên cứu thu được mối tương quan âm giữa SIZE và Z ở cả 5 mô hình. Trong đó, các kết quả đa số có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 10%. Giá trị tuyệt đối của các hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê đều lớn hơn 5. Giá trị này hàm ý rằng 1 đơn vị gia tăng của SIZE tạo nên 5 đơn vị gia tăng của Z. Từ đây, bài nghiên cứu kết luận, quy mô ngân hàng có tác động đồng biến với mức độ chấp nhận rủi ro. Kết quả này cũng đúng với kỳ vọng của bài nghiên cứu. Đồng thời, các nghiên cứu trước đây cũng ủng hộ kết quả này. Theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun Lu (2018), quy mô hoạt động của ngân hàng sẽ có tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, hàm ý rằng ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ càng dễ dàng chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn.
CEO là biến đại diện cho tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của giám đốc điều hành, được tính bằng tỷ lệ phần trăm của số lượng cổ phiếu giám đốc hiệu hành nắm giữ trên số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Kết quả cho thấy rằng các hệ số hồi quy không đồng nhất và đồng thời cũng không có ý nghĩa thống kê. Do đó, bài nghiên cứu chưa kết luận được mối tương quan giữa tỷ lệ sở hữu của CEO và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Lý thuyết về vấn đề đại diện cho rằng các CEO có lý do để lựa chọn các tài sản an toàn hơn so với các cổ đông vì tài sản của CEO bao gồm các tài sản tài chính hữu hình và nguồn nhân lực tập trung ở các công ty mà họ quản lý, trong khi các cổ đông có thể đa dạng hóa rủi ro của họ trên thị trường vốn (Pathan 2012; Tháng 5/1995). Các bằng chứng thực nghiệm về tác động của các CEO đối với rủi ro ngân hàng là trái chiều. Ví dụ, Pathan (2012) báo cáo rằng các CEO quyền lực trong các công ty nắm giữ ngân hàng ở Hoa Kỳ có thể kiểm soát các quyết định của hội đồng quản trị theo cách giảm thiểu việc chấp nhận rủi ro; và Victoravich và các cộng sự (2014) báo cáo rằng các CEO quyền lực giảm bớt việc chấp nhận rủi ro trong các ngân hàng Hoa Kỳ khi kiểm soát việc bồi thường vốn chủ sở hữu cho CEO; họ gợi ý rằng các CEO tác động đến việc ra quyết định của hội đồng quản trị để giảm thiểu rủi ro.
Mặt khác, Lewellyn và Muller-Kahle (2015) nhận thấy rằng các CEO quyền lực có liên quan đến các hoạt động cho vay rủi ro quá mức trong một cặp đối sánh các công ty Hoa Kỳ, nơi một nửa số công ty chuyên về cho vay dưới chuẩn; và Adams và các cộng sự (2008) cho thấy rằng các công ty có nhiều CEO quyền lực hơn sẽ theo đuổi các chính sách dẫn đến kết quả rủi ro hơn và cho thấy rằng các CEO quyền lực có ảnh hưởng đến các quyết định của hội đồng quản trị đối với việc theo đuổi các chính sách rủi ro.
STA là biến đại diện cho tính chất sở hữu Nhà Nước của các ngân hàng thương mại, đây là biến giả mang giá trị 1 đối với 4 ngân hàng quốc doanh là Ngân hàng TMCP Ngoại Thương (VCB), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID), Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (CTG) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), mang giá trị 0 đối với các ngân hàng còn lại. Kết quả thu được tương quan dương ở 2 mô hình RobustCheck và 2SLS. Các kết quả này đều có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 5%. Điều này hàm ý rằng các ngân hàng quốc doanh có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng tư nhân. Nguyên nhân có thể đến từ việc kiểm soát chặt chẽ của Nhà Nước đối với các ngân hàng này để đảm bảo hoạt động ổn định và là một trong những kênh để Nhà Nước thực hiện chính sách tiền tệ nhằm điều tiết nền kinh tế. Từ đây, bài nghiên cứu kết luận rằng mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng quốc doanh thấp hơn các ngân hàng tư nhân. Tuy nhiên một số nghiên cứu trước đây cho kết quả hoàn toàn trái ngược. Clarke và các cộng sự (2008) nhận thấy rằng các ngân hàng quốc doanh có thể trở thành công cụ huy động vốn để tài trợ cho các dự án mang lại lợi nhuận xã hội cao nhưng có thể tiềm ẩn rủi ro cao hoặc cung cấp tài chính cho các đối tượng được ưu đãi như doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, các ngân hàng quốc doanh gặp khó khăn trong việc chống lại sự can thiệp có hại của chính phủ, trong khi các ngân hàng tư nhân có nhiều khả năng chống lại điều đó hơn (Shirley & Nellis, 1991; Shleifer & Vishny, 1997). Kick và Von Westernhagen (2012) nhận thấy rằng sở hữu nhà nước có thể làm tăng tính mong manh của ngân hàng do làm yếu đi các kỹ năng cần có của một ngân hàng, làm yếu kém cơ cấu quản trị, mô hình kinh doanh không ổn định và các khuyến khích sai lệch tổng thể trong các ngân hàng thuộc sở hữu của chính phủ dẫn đến hiệu quả thấp hơn và lợi nhuận thấp hơn, do đó dẫn đến sự mong manh như đã mô tả ở trên. Hơn nữa, các biện pháp khuyến khích hiệu suất thấp hơn (Shleifer & Vishny, 1997) và các ràng buộc ngân sách “mềm” (Sheshinski & López-Calva, 2006) trong các ngân hàng quốc doanh cũng có thể dẫn đến việc chấp nhận rủi ro quá mức. Do đó, việc gia tăng mức độ kiểm soát của nhà nước có thể làm tăng thêm việc chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
FCD là biến đại diện cho sự hiện diện khủng hoảng tài chính trong nền kinh tế, đây là biến giả mang giá trị là 1 trong giai đoạn 2012-2015 và mang giá trị 0 trong thời gian còn lại. Kết quả cho thấy mối tương quan đồng biến giữa khủng hoảng tài chính và quản trị rủi ro, trong đó, kết quả ở mô hình FEM có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Do đó, bài nghiên cứu kết luận tồn tại mối tương quan đồng biến giữa khủng hoảng tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Bài nghiên cứu của Rose (2013) được coi là lời giải thích thuyết phục nhất cho mối liên hệ giữa cuộc khủng hoảng với việc chấp nhận rủi ro trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2011. Để xác định xem cuộc khủng hoảng có phải nguyên nhân do thất bại trong quản trị công ty hay không, ông đã tiến hành các cuộc kiểm tra thực nghiệm về mối liên hệ giữa quản trị rủi ro và các yếu tố quản trị công ty cụ thể. Rose cho rằng các cổ đông đa dạng thích chấp nhận rủi ro hơn. Như vậy, việc trao quyền nhiều hơn cho các cổ đông sẽ không làm thay đổi lãi suất chấp nhận rủi ro của họ vì họ phải đối mặt với những rủi ro giảm giá hạn chế. Rose đưa ra kết luận rằng quản trị rủi ro là một khía cạnh thiết yếu của quản trị công ty tốt và ngược lại. Quản lý rủi ro hoạt động song song với quản trị công ty được xem như một phương tiện để hạn chế chi phí đại diện và thúc đẩy sự quản lý hiệu quả.
CD là biến đại diện cho sự hiện diện đại dịch Covid19 trong nền kinh tế, đây là biến giả mang giá trị là 1 trong giai đoạn 2022-2024 và mang giá trị 0 trong thời gian còn lại. Bài nghiên cứu thu được một tương quan âm có ý nghĩa thống kê giữa CD và Z. Kết quả này có nghĩa rằng sự xuất hiện của đại dịch Covid19 có tác động làm tăng mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Từ đây, bài nghiên cứu kết luận rằng đại dịch Covid19 có tác động làm gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro. Giải thích cho kết quả này, sự bùng phát của dịch Covid19 khiến cho nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, giảm tiêu dùng và tiết kiệm. Sau cùng, hoạt động của ngân hàng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, thoạt đầu, độ trễ từ các hợp đồng bị ảnh hưởng và từ các chính sách từ ban lãnh đạo giữ cho hoạt động của ngân hàng ổn định và đảm bảo được lợi nhuận. Sau đó với các chính sách hỗ trợ người vay, Ngân hàng Nhà Nước và các ngân hàng thương mại đưa ra nhiều gói hỗ trợ làm giảm NIM cho vay và gia tăng quy mô. Kết quả này dẫn đến sự gia tăng trong mức độ chấp nhận rủi ro. Song, có những nghiên cứu trước đây cho kết quả ngược lại. Đại dịch thường dẫn đến suy thoái kinh tế, có khả năng gây ra những tác động đáng kể đến sự ổn định trong lĩnh vực ngân hàng. Barro và các cộng sự (2023) chỉ ra rằng đại dịch cúm năm 1918–1920 đã khiến GDP giảm 6%. Điều này là do tiêu dùng và đầu tư là động lực chính của nền kinh tế, và đại dịch ảnh hưởng đến cả hai. Mô hình của Eichenbaum và các cộng sự (2023) nghiên cứu sự tương tác giữa hoạt động kinh tế và dịch bệnh chỉ ra rằng quyết định giảm chi tiêu tiêu dùng và năng suất làm việc của mọi người có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh, nhưng rõ ràng là gây ra những hậu quả kinh tế tàn khốc. Chen và các cộng sự (2023) kiểm tra tác động của COVID-19 đối với tiêu dùng ở Trung Quốc và đưa ra kết luận tương tự. Các tác động lên doanh nghiệp và hộ gia đình cuối cùng ảnh hưởng sang các ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu, lợi nhuận, khả năng thanh toán và vốn của các ngân hàng (Beck và Keil, 2023).
GEN là biến đại diện cho giới tính của chủ tịch hội đồng quản trị. Bài nghiên cứu thu được cả năm kết quả đều có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, các kết quả này không có sự thống nhất về chiều hướng tác động. Do đó, bài nghiên cứu chưa kết quản mối tương quan giữa giới tính chủ tịch hội đồng quản trị và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
MB là biến đại diện cho chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của các ngân hàng thương mại, được tính bằng thương số giữa giá cổ phiếu ngày cuối năm và giá trị sổ sách của cổ phiếu trên báo cáo tài chính cùng kỳ. Kết quả nghiên cứu thu được mối tương quan âm giữa MB và Z trong RobustCheck với mức ý nghĩa thống kê 5%. Kết quả này có nghĩa rằng một ngân hàng có mức kỳ vọng của thị trường càng cao so với giá trị sổ sách thì càng có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn.
Bảng 4.8 Bảng tổng hợp kết quả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
| FEM | RobustCheck | FEM | RobustCheck | FEM | RobustCheck | |
| CAR | CAR | ROA | ROA | aROA | aROA | |
| SIZE | -1.975*** | -0.956*** | 0.262 | 0.352*** | -4.66E-31 | 0.0478 |
| [-2.62] | [-3.37] | [1.58] | [5.93] | [-0.00] | [1.27] | |
| CEO | -0.186 | -0.312*** | 0.0304 | 0.0326 | 3.56E-33 | -0.0197 |
| [-1.38] | [-3.29] | [1.02] | [1.04] | [0.00] | [-1.05] | |
| AGE | 0.0147 | 0.00373 | -0.027 | -0.0142*** | 5.85E-32 | -0.0139*** |
| [0.14] | [0.21] | [-1.14] | [-3.15] | [0.00] | [-3.13] | |
| _cons | 76.78*** | 43.61*** | -7.005 | -10.33*** | 0.472*** | -0.697 |
| [3.44] | [4.79] | [-1.42] | [-5.58] | [3.23e+15] | [-0.62] | |
| N | 140 | 140 | 150 | 150 | 150 | 150 |
| R-sq | 0.224 | 0.194 | 0.033 | 0.184 | 0.636 | 0.162 |
| t statistics in brackets | ||||||
| * p<0.1, ** p<0.05, *** p<0.01 | ||||||
Nguồn: Tổng hợp từ Stata 14 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Mối tương quan nghịch biến được tìm thấy giữa SIZE và CAR. Kết quả này cũng ủng hộ cho mối tương quan nghịch biến giữa SIZE và Z. Giả sử các yếu tố khác không đổi, một SIZE cao hơn sẽ cho CAR thấp hơn và Z thấp hơn. Đồng nghĩa rằng một ngân hàng có quy mô lớn hơn thì có CAR thấp hơn và mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn. Ngược lại với CAR, bài nghiên cứu tìm thấy mối tương quan dương giữa SIZE và ROA. Kết quả này hàm ý rằng một ngân hàng có quy mô lớn thì có sự gia tăng hiệu quả hoạt động. Hiệu quả hoạt động tốt lại làm gia tăng quy mô của ngân hàng. Và theo kết quả ở phần trên, một ngân hàng có quy mô càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro càng cao. Các kết quả ở mô hình CAR và kết quả RobustCheck của mô hình ROA đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%.
Bài nghiên cứu thu được duy nhất một kết quả có ý nghĩa thống kê bằng phương pháp RobustCheck của mô hình CAR. Kết quả này cho thấy rằng tồn tại mối tương quan nghịch biến giữa CAR và CEO, đồng nghĩa giám đốc điều hành càng sở hữu nhiều cổ phiếu thì CAR càng thấp, Z càng thấp và mức độ chấp nhận rủi ro càng cao. Kết quả này cũng được ủng hộ bởi các nghiên cứu trước đây và được giải thích bằng vấn đề đại diện trong doanh nghiệp. Việc sở hữu cổ phiếu khiến cho các nhà quản trị có động lực chấp nhận các phương án kinh doanh rủi ro và mang lại tỷ suất sinh lời cao nhằm nâng cao giá trị cổ phiếu họ đang sở hữu.
Đối với biến AGE, bài nghiên cứu thu được 2 mối tương quan nghịch biến với phương pháp RobustCheck của mô hình ROA và aROA. Cả hai kết quả này đểu cho mối tương quan âm và đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Mối tương quan âm giữa AGE và ROA hàm ý rằng các ngân hàng có thâm niên càng lâu thì hiệu quả hoạt động càng thấp. Việc ROA giảm trực tiếp làm giảm Z và tăng mức độ chấp nhận rủi ro.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
5.1. Kết luận
Theo các quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới, khi quy mô ngân hàng đạt đến ngưỡng “too big to fail” sẽ nhiều động cơ hơn để tăng mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động của mình nhằm đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Thông qua việc sáp nhập và mua lại với mục tiêu mở rộng quy mô từ đó giảm thiểu rủi ra và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hệ thống ngân hàng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là hệ thống trung gian liên kết các thành phần khác trong nền kinh tế với nhau. Do đó, sự sụp đổ của bất kỳ một ngân hàng nào sẽ gây ra hiệu ứng domino, tác động dây chuyền và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế của các quốc gia. Vì vậy, nhà nước và chính phủ các quốc gia phải luôn can thiệp hỗ trợ hoạt động của các ngân hàng bên bờ vực phá sản bằng các biện pháp quản lý hành chính của chính họ, thông qua một hệ thống chế tài và quy định năng lực tài chính để mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập ngân hàng. Qua đó, làm giảm khả năng phá sản hoặc mất khả năng thanh toán của các ngân hàng đang gặp khó khăn. Thực tế, đã xuất hiện nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà kinh tế học, họ cho rằng chính sách bảo trợ của các ngân hàng “too big to fail” đã gây phát sinh loại rủi ro đạo đức, là một trong những thành phần làm sai lệch các động lực tài chính, thúc đẩy các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Bởi vì các doanh nghiệp tài chính khi biết được việc bản thân mình có thể nhận được hỗ trợ của Chính phủ khi vấp phải những khó khắn dẫ đến việc phá sản sẽ có thái độ ý lại và tăng các động cơ gây ra rủi ro hoạt động. Kết quả làm gia tăng những rủi ro mà toàn xã hội phải gánh chịu.
Nghiên cứu về tác động của quy mô đối với khả năng chấp nhận rủi ro tại các công ty tài chính, tổ chức tài chính, ngân hàng đang là lĩnh vực được nhiều chuyên gia, nhà kinh tế khai thác ở nhiều góc độ khác nhau, ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Nhiều nghiên cứu được thực hiện để đánh giá mối tương quan giữa quy mô và khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại, chẳng hạn như nghiên cứu của Bruce Kogut và cộng sự (2013); Ray Barrell và cộng sự (2014), Sanjai Bhagat và cộng sự (2018),…vv. Sanjai Bhgat và cộng sự (2018) cho ra kết quả các ngân hàng có xu hướng chấp nhận nhiều rủi ro hơn khi quy mô của chúng càng lớn, bới vì theo quan điểm của các nhà quản lý tổ chức tài chính cho rằng khi quy mô phát triển càng lớn thì sẽ đạt được ngưỡng “too big to fail” và có nhiều khả năng gây ra rủi ro hệ thống.
Những quan điểm ủng hộ giải pháp kiểm soát quy mô tổ chức tài chính trở nên lớn mạnh, sẽ giảm thiểu nguy cơ rủi ro cho nền kinh tế. Những nhà phản đối thì cho rằng sự kiểm soát này sẽ ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trong ngành tài chính quốc gia và thị phần tài chính toàn cầu. Ngoài ra, việc hạn chế quy mô có thể gây nên tác động khác như thiếu đa dạng hoá rủi ro tín dụng và khó khăn trong việc xác định chính xác mức độ ngưỡng “too big to fail”.
Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và mong muốn mở rộng thị phần, các ngân hàng Việt Nam đã và đang phát triển một cách vượt bậc và nhanh chóng trong quá trình 21 năm qua mà không đo lường và lên kế hoạch cho những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình phát triển đó của. Hơn nữa, với nhận thức rõ rành về sự hiện diện của cánh tay hỗ trợ của Chính phủ thông qua các gói hỗ trợ, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã không có sự quan tâm đúng mực khi rơi vào tình trạng thua lỗ, dẫn đến một hậu quả mang tính dây chuyền và lây lan khó có thể ước lượng được cho cả ngành tài chính nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói. Một câu hỏi đặt ra ở đây liệu giữa quy mô ngân hàng TMCP tại Việt Nam và khả năng chấp nhận rủi ro có tồn tại mối quan hệ nào hay không. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Tại Việt Nam quy mô giữa các ngân hàng thương mại cổ phần có sự chênh lệch quy mô khá lớn. Sự chênh lệch quy mô này có ảnh hưởng ít nhiều lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng hay không và mức ảnh hưởng này có phải là vấn đề quá trọng trong việc chấp nhận rủi ro của khác ngân hàng? Nhìn nhận ra được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả bài nghiên cứu đã tiến hàng kiểm định sự ảnh hưởng của quy mô lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, thông qua mẫu dữ liệu được thu thập từ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam và công cụ điểm số Z-score. Các nhân tố cấu thành nên điểm sổ Z-score là một điểm nhấn đắc lực giúp cho tác giả có thể tiến hành kiểm định bài nghiên cứu này, các nhân tố đó bao gồm: lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), đòn bẩy tài chính (CAR) và sự biến động của thu nhập lấy từ độ lệch chuẩn của giá trị lợi nhuận trên tổng tài sản (σ(ROA). Với công cụ này tác giả có thể tìm ra được sự tồn tại và mức độ tác động giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2024. Kết quả thu được từ bài nghiên cứu này hoàn toàn tphuf hợp với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quy mô hoạt động đối với mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng nghiên cứu tác động của các yếu tố khác đến Z và từng thành phần của Z (Biến đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro).
Kết quả nghiên cứu kết luận rằng quy mô có tác động đồng biến với mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn thì càng có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn. Giải thích cho vấn đề này, vấn đề “TBTF” đã được nêu ra ở đầu bài nghiên cứu. Khi đạt đến một quy mô đủ lớn, các ngân hàng được chính phủ bảo hộ tránh khỏi tình trạng phá sản nhằm đảm bảo tín nhiệm của người dân và sự ổn định của nền kinh tế. Đây cũng là lý do khiến cho các ngân hàng có quy mô lớn tranh thủ sự bảo hộ của chính phủ mà tăng khẩu vị rủi ro, chấp nhận các phương án kinh doanh rủi ro thấp đổi lấy tỷ suất sinh lời cao.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng quốc doanh (có vốn góp Nhà Nước) có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn các ngân hàng tư nhân. Giải thích cho kết quả này, các ngân hàng quốc doanh được coi là công cụ Ngân hàng Nhà
Nước sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ, bình ổn thị trường. Do đó, các ngân hàng này hoạt động dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà Nước. Do đó, các lợi thế về quy mô không làm gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng này.
Ngoài ra, bài nghiên cứu thu được kết quả rằng sự bùng phát của đại dịch Covid19 tác động làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại. Việc thận trọng trong hoạt động ngân hàng giữa thời kỳ đại dịch là quan trọng đảm bảo hoạt động ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.
Nhìn chung, các kết quả thu được phù hợp với kỳ vọng của bài nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây.
5.2. Kiến nghị Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
Là một trong số nghiên cứu thuộc lĩnh vực này, đề tài đóng góp những lý giải cơ bản về thực nghiệm hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Đầu tiên, nghiên cứu mở rộng những phát hiện thực nghiệm hiện tại về mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và mức độ chấp nhận rủi ro khi phân tích tác động chung của quy mô và cơ cấu sở hữu thay vì tác động riêng biệt của một yếu tố quyết định. Thứ hai, đề tài đưa ra các khuyến nghị hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam về những gì có thể dựa trên quy mô và cơ cấu sở hữu để cải thiện các hoạt động rủi ro cao hiện hành giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam. Những hiểu biết này là bắt buộc từ góc độ chính sách công vì mức độ chấp nhận rủi ro quá mức – khuyến khích các tổ chức tài chính đổ lỗi cho một nền kinh tế mong manh và bất ổn, theo Bernanke (1983) đã chỉ ra. Hơn nữa, những hiểu biết như vậy được coi là thậm chí còn quan trọng hơn ở quốc gia bị điều tra – Việt Nam, nơi các chỉ số rủi ro chính như tỷ lệ an toàn vốn (CAR) không được quản lý tốt đáp ứng các tiêu chuẩn theo Basel Accord và các quy định ngân hàng cũng như hệ thống xếp hạng tín dụng chưa được thiết lập hoàn thiện để quản lý rủi ro.
Với những kết luận ở trên, tác giả kiến nghị các nhà hoạch định chính sách và quản lý trong lĩnh vực ngân hàng cần:
- Gia tăng yêu cầu về vốn tối thiểu đối với các ngân hàng thương mại trong hệ thống để phù hợp với các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, nhằm chuẩn hóa hoạt động và phát triển các ngân hàng lên tầm khu vực và quốc tế.
- Kiểm soát mức độ tăng trưởng của các ngân hàng nhằm đảm bảo rủi ro tối thiểu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng và toàn hệ thống.
- Đưa ra các quy định về điều kiện sở hữu và quản lý để gắn chặt trách nhiệm của nhà quản lý ngân hàng với các quyết định kinh doanh.
- Hạn chế và loại bỏ đặc quyền của các ngân hàng được xem là “too big, too fail” trong hệ thống nhằm tạo sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng có quy mô nhỏ cùng phát triển và kinh doanh, đồng thời giảm thiểu rủi ro hệ thống cho nền kinh tế.
- Bổ sung áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong giám sát hoạt động ngân hàng. Can thiệp sớm đối với đối tượng giám sát ngân hàng là biện pháp vô cùng cần thiết. Bằng cách đó, chi phí (cả thời gian và tiền bạc) để khắc phục những yếu kém của tổ chức tín dụng sẽ được giảm thiểu, đồng thời góp phần hạn chế rủi ro cho toàn hệ thống.
Theo hướng này, Việt Nam gần đây đã đề cập đến sự phá sản trong quá trình tái cơ cấu ngân hàng, thay vì khẳng định không để ngân hàng phá sản như trước đây. Tuy nhiên, điều đáng nói là nhận thức mới này vẫn còn chưa dứt khoát khi sự phá sản này kèm điều kiện là “giải pháp cuối cùng” sau khi các biện pháp tái cơ cấu khác không có kết quả.
Nếu cứ phải tuân thủ theo đúng lộ trình tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém như vậy thì e rằng sẽ là quá muộn khi lần lượt các biện pháp tái cơ cấu được thử nghiệm và thất bại để rồi mới đi đến kết luận là phải cho phá sản. Lúc đó thì hậu quả để lại cho hệ thống và nền kinh tế có thể sẽ lớn hơn nhiều so với việc cơ quan chức năng chủ động xác định được mức độ yếu kém và chọn giải pháp phá sản. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
5.3. Hạn chế của đề tài
Bên cạnh các vấn đề nghiên cứu ở trên, bài nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế:
- Thứ nhất, đối với dữ liệu xây dựng chỉ số quản trị ngân hàng chủ yếu được thu thập bằng tay và dựa vào các thông tin công bố. Tuy nhiên, những thông tin công bố của các ngân hàng chưa theo chuẩn mực dẫn đến việc thu thập dữ liệu tại Việt Nam vẫn còn khó khăn và tính chính xác chưa cao, có một số thông tin bị khuyết không thể thu thập được phải dựa vào tính toán chủ quan của tác giả. Bên cạnh đó, do những đặc thù ở Việt Nam về công bố thông tin nên việc thu thập dữ liệu chính xác cho nghiên cứu chỉ hạn chế.
- Thứ hai, việc tính toán mức độ chấp nhận rủi ro căn cứ vào Z-score thông qua các số liệu kế toán. Tuy nhiên, để việc tính toán Z-score được chính xác thì yêu cầu các số liệu phải chính xác và không có sự can thiệp về thủ thuật kế toán thì kết quả mới phản ánh khách quan. Vấn đề ở đây là việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là ẩn số và gây nhiều hoài nghi cho thị trường.
- Thứ ba, ở Việt Nam chỉ có ít nghiên cứu về tác động của quy mô hoạt động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam nên phần tổng quan nghiên cứu thực nghiệm trước với trường hợp Việt Nam vẫn còn hạn chế, vậy nên ít có sự so sánh kết quả nghiên cứu này với nghiên cứu khác ở Việt Nam.
5.4. Hướng phát triển của đề tài
Dựa trên những hạn chế đã nêu ở trên, bài nghiên cứu đề xuất hướng phát triển đề tài như sau:
- Tăng số năm quan sát và số lượng ngân hàng sẽ giúp cho kết quả nghiên cứu vững hơn và các kết luận chính xác hơn.
- Các nghiên cứu sau có thể có số liệu chính xác về tỷ lệ sở hữu của CEO. Do đó, có thể khắc phục được nhược điểm thu thập thủ công thông qua các thông tin được công bố. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng […]