Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Căn cứ vào việc tiếp cận cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước để làm cơ sở cho quá trình phân tích của luận văn, nội dung chương 3 trình bày chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lý dữ liệu.
3.1. Quy trình nghiên cứu
3.1.1. Khái quát quy trình nghiên cứu
- Quy trình thực hiện nghiên cứu này gồm các bước:
Xác định vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu này phân tích các yếu tố CANSLIM để áp dụng phương pháp này vào lựa chọn cổ phiếu, qua đó đề xuất các khuyến nghị trong việc vận dụng CANSLIM để chọn lọc cổ phiếu ngành ngân hàng theo tiêu chí có suất sinh lời cao trên HOSE.
Lựa chọn thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lựa chọn phương pháp định lượng hồi quy gộp Pooled OLS để xem xét mức ý nghĩa về mặt thống kê khi áp dụng phương pháp CANSLIM trong việc lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng trên HOSE cũng như ý nghĩa thông kê của từng tiêu chí trong CANSLIM khi áp dụng cho ngành ngân hàng tại thị trường Việt Nam. Từ kết quả hồi quy tiếp tục tiến hành lọc cổ phiếu theo CANSLIM để kiểm tra hiệu quả đầu tư của phương pháp.
Thu thập dữ liệu: Dữ liệu được tổng hợp từ báo cáo tài chính và các trang cung cấp dữ liệu như Fintrade, Tradingview về 17 ngân hàng đang niêm yết trên HOSE công bố theo quý, từ năm 2016 đến năm 2021 gồm 408 quan sát cho mỗi biến.
Phân tích dữ liệu: Từ các dữ liệu đã tổng hợp, tiếp tục phân tích dữ liệu bằng các phương pháp (1) Phương pháp sử dụng Mô hình hồi quy gộp Pooled OLS sử dụng hỗ trợ từ phần mềm Stata phiên bản 15 và thực hiện các kiểm định liên quan cho kết quả hồi quy; (2) Thống kê mô tả; (3) Đối chiếu, so sánh, sử dụng hỗ trợ từ phần mềm Excel để lọc ra cổ phiếu phù hợp với mô hình CANSLIM.
Báo cáo kết quả nghiên cứu: Trình bày các chỉ tiêu của CANSLIM được thể hiện thế nào và làm sao để vận dụng CANSLIM lựa chọn cổ phiếu trên HOSE, lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết tại HOSE có chỉ số sinh lời phù hợp dành cho nhà đầu tư. Kiểm định lại tính hiệu quả khi vận dụng phương pháp CANSLIM trong việc tìm kiếm cổ phiếu đầu tư.
3.1.2. Phương pháp tiếp cận thông tin Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Từ các khái niệm và thuật ngữ như cổ phiếu, cổ phiếu niêm yết, nhà đầu tư, cùng một số lý thuyết về phương pháp lựa chọn cổ phiếu và nghiên cứu thực nghiệm được đề cập ở Chương 2, tác giả tổng hợp các điểm cần lưu ý khi chọn lựa cổ phiếu đầu tư bất kỳ theo các tiêu chí (1) CP mang lại lợi nhuận phù hợp với kỳ vọng nhưng cũng bảo đảm về độ uy tín, an toàn nhằm hạn chế rủi ro mất vốn; (2) CP có tính thanh khoản cao, dễ dàng mua bán, giao dịch, chuyển nhượng; (3) CP có tính phổ thông, dễ tiếp cận và dễ tìm kiếm, cụ thể như sau:
- Ưu tiên lựa chọn cổ phiếu đã niêm yết.
- Tập trung đầu tư cho cổ phiếu thường thay vì cổ phiếu ưu đãi.
- Đầu tư chủ động, nhưng giao dịch thuận theo thị trường và chu kỳ tăng giảm của cổ phiếu.
- Tùy vào khẩu vị rủi ro mà mỗi nhà đầu tư đưa ra quyết định khác nhau khi chọn mã cổ phiếu đầu tư.
Ứng với các lưu ý trên, khi lựa chọn cổ phiếu đầu tư ngành ngân hàng, luận văn chỉ nói đến các cổ phiếu ngành ngân hàng đã niêm yết. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Tháng 12/2020, Thủ tướng ban hành Quyết định số 37/2020/QĐ-TTg thành lập Sở Giao dịch Chứng Khoán Việt Nam (VNX) là công ty mẹ của Sàn Giao dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) và Sàn Giao dịch Chứng Khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Tuy nhiên, Sở Giao dịch Chứng Khoán Việt Nam (VNX) còn trong giai đoạn hoàn thiện về nhiều mặt như nhân sự, khung quy chế, pháp lý và hệ thống. Bên cạnh đó, mốc thời gian chọn dữ liệu nghiên cứu là từ năm 2016 đến 2021, khi HOSE và HNX vẫn hoạt động độc lập, do đó nghiên cứu này vẫn áp dụng bối cảnh thị trường giao dịch chứng khoán Việt Nam chưa được thống nhất và có sự tách biệt trong hoạt động của HOSE và HNX.
Nghiên cứu này lựa chọn tập trung vào các mã cổ phiếu ngành ngân hàng trên HOSE vì các lí do: (1) HOSE có yêu cầu về vốn điều lệ cao hơn gấp 4 lần HNX;
HOSE cũng yêu cầu doanh nghiệp công khai các khoản nợ đối với thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban giám đốc, cổ đông lớn và những người liên quan và (3) cổ phiếu niêm yết trên HOSE cũng được nhà đầu tư tổ chức và quỹ đầu tư nước ngoài ưa chuộng hơn là những đặc điểm khiến chứng khoán trên HOSE tương thích với các tiêu chí của mô hình CANSLIM hơn.
Phương pháp lựa chọn cổ phiếu trong nghiên cứu này chủ yếu dựa trên lý thuyết về Mô hình lựa chọn cổ phiếu CANSLIM. Mô hình CANSLIM là phương pháp lựa chọn cổ phiếu tăng trưởng dựa trên giá trị cơ bản của cổ phiếu, cụ thể là theo các tiêu chí (1) C – EPS quý hiện tại; (2) A – tăng trưởng lợi nhuận hằng năm; (3) N – sản phẩm mới, quản lí mới, mức giá mới; (4) – Cung và cầu; (5) L – cổ phiếu dẫn đầu ngành; (6) I – sự ủng hộ của các định chế tài chính. (7) M – định hướng thị trường.
3.1.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Nghiên cứu thực hiện theo phương pháp phân tích định lượng, các bước xử lý dữ liệu được thực hiện theo trình tự sau:
Trước tiên, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Pooled OLS để đo lường sự ảnh hưởng của các tiêu chí trong phương pháp CANSLIM đến giá của các cổ phiếu ngành ngân hàng trên HOSE tại thị trường Việt Nam. Từ các số liệu tổng hợp được, nghiên cứu thực hiện hồi quy để xem xét sự phù hợp của các tiêu chí này đối với thị trường Việt Nam nói chung và các cổ phiếu ngành ngân hàng nói riêng, sau đó loại bỏ hoặc điều chỉnh các tiêu chí chưa phù hợp.
Tiếp theo, nghiên cứu thực hiện các kiểm định đa cộng tuyến để thấy được các biến trong mô hình không có tương quan mạnh với nhau bằng hệ số VIF, và kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi nhằm xác định sai số của mô hình là nhỏ nhất thông qua kiểm định White được công bố bởi White (1980), quá trình thực hiện hồi quy và kiểm định được tiến hành trên phần mềm tin học Stata phiên bản 15.
Sau cùng, nghiên cứu trình bày thống kê mô tả các biến cụ thể theo các tiêu chí CANSLIM là phù hợp tại Việt Nam trong mô hình hồi quy đã được kiểm định, tiếp đó thực hiện sàng lọc cổ phiếu theo tiêu chí CANSLIM và so sánh sự hiệu quả về sự tăng trưởng giá của các cổ phiếu được chọn và các cổ phiếu khác trong ngành ngân hàng.
Về mô hình phân tích định lượng, đối với dữ liệu được dùng trong nghiên cứu là dữ liệu bảng có thể tiến hành hồi quy bằng một trong ba phương pháp: Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Mô hình hồi quy gộp Pooled OLS là một phương pháp hồi quy ước lượng các hệ số của các biến được lựa chọn dựa trên các dữ liệu bao gồm cả chuỗi thời gian và dữ liệu mặt cắt ngang (không có sự phân biệt giữa các đơn vị chéo), với hệ số chặn là hằng số C được dùng chung cho tất cả các đơn vị chéo, kết quả ước lượng của mô hình Pooled OLS tối thiểu hóa tổng bình phương của sự khác biệt giữa biến phụ thuộc quan sát tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là có sự ràng buộc giữa các đơn vị chéo rất chặt và bỏ qua sự khác nhau giữa các biến số theo thời gian hay không gian.
Mô hình tác động cố định (FEM) trong đó các tham số của mô hình là các đại lượng cố định hoặc không ngẫu nhiên, mô hình này cho phép các hệ số cắt khác nhau giữa các đơn vị chéo với nhau nhưng không khác nhau qua thời gian, sự biến động giữa các đơn vị có tương quan đến biến độc lập – biến giải thích trong mô hình ảnh hưởng là cố định. Mô hình này cho phép nắm bắt được tất cả các tác động mang đặc thù đối với từng cá thể riêng biệt và không thay đổi theo thời gian. Điều này cũng có nghĩa rằng không thể thêm vào các biến không có thay đổi theo thời gian vì chúng sẽ đồng tuyến tính hoàn hảo với tác động cố định.
Ngược lại với Mô hình tác động cố định, mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) được sử dụng khi sự biến động giữa các đơn vị được giả sử là ngẫu nhiên và không tương quan đến các biến giải thích. Mô hình với giả định rằng giá trị hệ số cắt của một đơn vị chéo là ngẫu nhiên được rút ra từ một tổng thể lớn hơn nhiều với giá trị trung bình không đổi. Điều này nghĩa là có thể thêm vào mô hình các biến không thay đổi theo thời gian như giới tính, địa lý, v.v nhưng mô hình đòi hỏi các thành phần nhiễu của các đơn vị chéo không tương quan với nhau và không tương quan với cả các đơn vị chéo và thời gian. Nếu điều này xảy ra, mô hình REM sẽ dẫn đến ước lượng không nhất quán về các hệ số hồi quy.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy gộp Pooled OLS cho mô hình hồi quy bởi tính bất cân đối của dữ liệu đầu vào giữa các mã cổ phiếu. Một số mã cổ phiếu có thời gian niêm yết rất ngắn so với những mã cổ phiếu khác trong cùng một giai đoạn nghiên cứu, do vậy mô hình Pooled OLS là phù hợp trong trường hợp này bởi nó bỏ qua sự phân biệt giữa các đơn vị chéo về mặt thời gian. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Đồng thời, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy gộp áp dụng phương thức của Lutey (2018) để tập trung ước lượng các hệ số của các biến mà không phân biệt theo năm hay đối tượng, như vậy mô hình hồi quy gộp Pooled OLS là phù hợp với nghiên cứu. Sau khi có kết quả hồi quy, luận văn tiến hành kiểm định các giả thuyết của mô hình hồi quy gộp là hiện tượng đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi để kiểm tra độ tin cậy của mô hình.
Trong việc thực hiện thống kê mô tả dữ liệu, luận văn dựa trên nền tảng của lý thuyết gốc của O’Neil (1988) đã trình bày, từ đó xem xét và kiểm tra từng điều kiện trong 7 tiêu chí của lý thuyết gốc có phù hợp với Việt Nam hay không, vì thị trường mà O’Neil (1988) đã nghiên cứu và phát triển hệ thống đầu tư CANSLIM là thị trường Mỹ, có quy mô vốn hóa lớn hơn và lịch sử hình thành lâu đời hơn rất nhiều so với thị trường cổ phiếu Việt Nam, cụ thể:
(𝐶𝑈𝑅) Tiêu chí C – EPS quý gần nhất (Current quaterly earnings per share) yêu cầu cổ phiếu phải có sự tăng trưởng EPS quý hiện tại so sánh với EPS của cùng kỳ quý trước và tỉ lệ tăng trưởng này tốt nhất nên đạt trên 20%. Tiêu chí này cần thu thập dữ liệu là EPS theo quý của các Ngân hàng đang niêm yết trên HOSE, sau đó tính toán tốc độ tăng trưởng của quý gần nhất so với cùng kỳ quý trước để tìm ra cổ phiếu vượt trội về tăng trưởng EPS. Để tính tỷ lệ tăng trưởng EPS trung bình cho thị trường Việt Nam, nghiên cứu thống kê các quý mà cổ phiếu có tỉ lệ giá tăng ấn tượng (từ 50% trở lên) sau đó tính trung bình tốc độ tăng trưởng EPS của các quý này.
(𝐴𝑁𝑈) Tiêu chí A – Tăng trưởng hàng năm (Annual earings growth) yêu cầu cổ phiếu phải có sự tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính trong suốt 3 năm liên tục và tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) hàng năm nhỏ nhất là 17% mỗi năm. Trong lĩnh vực ngân hàng, lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính đến từ các hoạt động có phát sinh lãi như tín dụng hoặc huy động, do đó, nghiên cứu thực hiện tổng hợp số liệu thu nhập lãi thuần (TNLT) theo năm của các ngân hàng và tiến hành so sánh tốc độ tăng trưởng TNLT qua từng năm để chọn ra cổ phiếu có tỷ lệ tăng liên tiếp 3 năm. Sau đó để đưa ra mức ROE tối thiểu cho thị trường Việt Nam, nghiên cứu thống kê các năm cổ phiếu có tỉ lệ tăng giá cao (từ 50% trở lên) để tính ROE trung bình.
(𝑁𝐸𝑊) Tiêu chí N – Sản phẩm mới, lãnh đạo mới, mức giá mới (New products, New Management, New Highs) cho rằng cổ phiếu có thông tin tốt hoặc mức giá vượt đỉnh có thể tăng vọt về giá. Tiêu chí N mang tính định tính và thông tin tốt thì rất đa dạng và khó ước lượng, do đó, luận văn dùng mức giá mới (mọi thông tin được phản ánh qua giá cả) để đo lường tiêu chí N. Cụ thể nếu thời điểm cuối quý giá của cổ phiếu đạt đỉnh cao mới so với trước đó, cổ phiếu thỏa tiêu chí N tại thời điểm đó.
(𝑆𝑈𝑃) Tiêu chí S – Cung và cầu (Supply and demand) nói rằng khi cổ phiếu tăng giá, khối lượng tham gia giao dịch cổ phiếu so với các phiên trước đó cũng tăng là một tín hiệu khẳng định cổ phiếu có sự tăng giá chắc chắn. Tiêu chí này cần sự kết hợp giữa quan sát giá cổ phiếu và quan sát khối lượng giao dịch cổ phiếu để dự đoán xu hướng giá của cổ phiếu, chia thành nhiều trường hợp như khi giá tăng nhưng khối lượng giao dịch giảm, giá tăng kèm khối lượng giao dịch tăng, v.v sẽ được thống kê thành một bảng tổng hợp cụ thể. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
(𝐿𝐸𝐴) Tiêu chí L – Cổ phiếu dẫn dắt (Leading industry) sử dụng Chỉ số sức mạnh giá tương đối (RS) để sàng lọc những cổ phiếu có biến động giá mạnh mẽ (tăng giá) để đầu tư. Tiêu chí này yêu cầu thu thập Xếp hạng chỉ số sức mạnh giá RS trong 52 tuần của cổ phiếu vào thời điểm cuối mỗi quý (được cung cấp trên nền tảng fialda.com hoặc được tính bằng công thức riêng trong phần mềm giao dịch chứng khoán chuyên nghiệp Amibroker), sau đó so sánh với nhau để tìm ra cổ phiếu có xếp hạng RS cao nhất trong ngành tại cùng một thời điểm, lý thuyết gốc chỉ ra chỉ nên chọn những cổ phiếu có xếp hạng RS từ 70 trở lên, luận văn cũng áp dụng lại mốc xếp hạng này và thống kê các cổ phiếu thỏa tiêu chí có xếp hạng chỉ số RS trong 52 tuần vào thời điểm cuối quý từ 70 trở lên.
(𝐼𝑁𝑆) Tiêu chí I – Sự ủng hộ của các định chế tài chính (Institutional Sponsorship) dùng để chỉ số lượng cổ phiếu được sở hữu bởi các tổ chức. Luận văn sử dụng số liệu tại trang điện tử Fiintrade.vn để trích xuất thông tin các cổ đông lớn của các cổ phiếu ngân hàng là các quỹ đầu tư, các doanh nghiệp hoặc tổ chức lớn và thống kê số lượng các nhà đầu tư tổ chức này theo từng mã cổ phiếu.
(𝑀𝐴𝑅) Tiêu chí M – Xu hướng thị trường (Market direction) không bao giờ đi ngược lại với thị trường hiện tại bởi khi thị trường giảm giá cổ phiếu cũng sẽ giảm theo xu hướng thị trường chung. Đại diện cho danh mục cổ phiếu được niêm yết trên HOSE, nghiên cứu sử dụng giá trị VNINDEX để quan sát các biến động của thị trường chung bằng cách thống kê giá trị trung bình của VNINDEX trong một quý và so sánh với nhau để dự đoán xu hướng thị trường. Đồng thời, nghiên cứu cũng lập bảng tiêu chí đánh giá xu hướng thị trường theo chỉ số thị trường và khối lượng, từ đó đưa ra hành động phù hợp cho nhà đầu tư trong từng giai đoạn thị trường.
3.2. Mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Từ lý thuyết gốc của O’Neil (1988), có thể thấy giá cổ phiếu trong tương lai sẽ bị tác động bởi nhiều tiêu chí. Dựa vào lý thuyết này, luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu có biến phụ thuộc là giá cổ phiếu và các biến độc lập là các tiêu chí của mô hình CANSLIM. Trên cơ sở các dữ liệu đã được tổng hợp, luận văn sử dụng phương pháp hồi quy gộp Pooled OLS như đã trình bày tại phần 3.1.3 để nghiên cứu mối quan hệ của các biến thu thập được, mô hình hồi quy tổng thể trên dữ liệu bảng không cân bằng để xem xét tác động của các tiêu chí trong lý thuyết CANSLIM đến giá cổ phiếu như sau:
𝑷𝒊,𝒕 = 𝑪 + 𝜷𝟏𝑪𝑼𝑹𝒊,𝒕 + 𝜷𝟐𝑨𝑵𝑼𝒊,𝒕 + 𝜷𝟑𝑵𝑬𝑾𝒊,𝒕 + 𝜷𝟒𝑺𝑼𝑷𝒊,𝒕 + 𝜷𝟓𝑳𝑬𝑨𝒊,𝒕 + 𝜷𝟔𝑰𝑵𝑺𝒊,𝒕 + 𝜷𝟕𝑴𝑨𝑹𝒊,𝒕 + 𝜺𝒊,𝒕
Trong đó:
- 𝑃𝑖,𝑡: Giá cổ phiếu của ngân hàng i tại thời điểm t;
- 𝐶𝑈𝑅𝑖,𝑡 : EPS của ngân hàng i tại thời điểm t
- 𝐴𝑁𝑈𝑖,𝑡 : Thu nhập lãi thuần của ngân hàng i tại thời điểm t
- 𝑁𝐸𝑊𝑖,𝑡 : Biến giả khi Giá cổ phiếu của ngân hàng i tại thời điểm t đạt đỉnh mới trong giai đoạn nghiên cứu (bằng 1 khi giá cổ phiếu đạt đỉnh mới so với giai đoạn trước và bằng 0 khi giá cổ phiếu thấp hơn đỉnh của giai đoạn trước)
- 𝑆𝑈𝑃𝑖,𝑡 : Khối lượng giao dịch cổ phiếu trung bình của ngân hàng i tại thời điểm t
- 𝐿𝐸𝐴𝑖,𝑡 : Biến giả khi Chỉ số sức mạnh giá của cổ phiếu ngân hàng i trong 52 tuần – RS (52W) tại thời điểm t > 70 điểm (bằng 1 khi RS (52W) > 70 và bằng 0 khi RS (52W) < 70)
- 𝐼𝑁𝑆𝑖,𝑡 : Số lượng các nhà đầu tư tổ chức là cổ đông lớn của ngân hàng i tại thời điểm t
- 𝑀𝐴𝑅𝑖,𝑡 : Chỉ số VNIDEX tương ứng với giá cổ phiếu ngân hàng i tại thời điểm t
- 𝛽1 → 𝛽7 : Các hệ số hồi quy tương ứng của từng biến độc lập
- 𝜀𝑖,𝑡 : Sai số ngẫu nhiên
- 𝐶: Các tác động cố định đặc thù không được quan sát trên thị trường (hằng số)
Như vậy mô hình được dự kiến gồm 7 biến với hệ sốtương ứng cho từng biến (𝛽1 → 𝛽7)
Nghiên cứu dùng phần mềm tin học ứng dụng Stata phiên bản 15 để phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy bằng dữ liệu bảng. Dữ liệu bảng sử dụng trong nghiên cứu có cấu trúc không cân bằng (unbalanced data) bởi dữ liệu của các cổ phiếu ngân hàng được thu thập tính từ lúc ngân hàng được niêm yết trên HOSE và thời điểm niêm yết của các ngân hàng trên HOSE là không giống nhau. Xét giai đoạn nghiên cứu từ năm 2016 đến 2021, có nhiều ngân hàng chỉ đạt được độ dài dữ liệu là 2 đến 3 năm nên không đủ số quan sát của ngân hàng – quý trong năm (missing values) dẫn đến các đơn vị chéo không có cùng số quan sát theo thời gian. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Từ kết quả của mô hình này, nghiên cứu sẽ đánh giá lại mức ý nghĩa của mô hình CANSLIM khi áp dụng tại thị trường Việt Nam, cụ thể là cho nhóm ngành ngân hàng niêm yết trên HOSE cũng như mức ý nghĩa của từng tiêu chí trong mô hình CANSLIM đối với giá cổ phiếu.
CANSLIM là một trong số ít những mô hình lựa chọn cổ phiếu đầu tư được nêu chi tiết và cụ thể, được biết đến rộng rãi hiện nay. Song, riêng tại thị trường Việt Nam số lượng các báo cáo thực nghiệm về phương pháp áp dụng mô hình này còn khá hạn chế. Điểm thiếu hụt trong phương pháp đầu tư CANSLIM là chỉ giúp chọn lọc được danh mục nhưng không hướng dẫn về thời điểm thực hiện giao dịch mua bán cụ thể, phương pháp chọn lọc cổ phiếu CANSLIM kết hợp với các công cụ kỹ thuật phù hợp sẽ bù đắp được thiếu sót này.
3.3. Phân tích các biến độc lập trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Thị trường cổ phiếu Mỹ (thị trường mà O’Neil (1988) nghiên cứu và tìm ra mô hình CANSLIM) và Việt Nam có nhiều điểm khác biệt. Do đó, phương pháp lựa chọn cổ phiếu CANSLIM khi áp dụng tại thị trường Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng (là ngành nghề kinh doanh đặc biệt) nói riêng cần có sự xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp hơn.
3.3.1. Tiêu chí C – EPS theo quý Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Theo phương pháp đầu tư CANSLIM của O’Neil (1988), tiêu chí C cho thấy rằng có mối quan hệ giữa việc tăng trưởng của EPS quý gần nhất so với cùng ký quý trước và sự tăng giá của cổ phiếu. Đây là kết quả sau nhiều năm đầu tư, quan sát và đúc kết của O’Neil tại thị trường Mỹ. Tỉ suất lợi nhuận trên một cổ phần được tính theo công thức sau:
Để kiểm tra tính hiểu quả của tiêu chí này khi áp dụng cho thị trường Việt Nam và cho ngành ngân hàng, tác giả cũng tiến hành thu thập và so sánh sự tăng trưởng EPS theo quý gần nhất của một số cổ phiếu ngành ngân hàng có giá tăng mạnh (cụ thể là tăng trên 50%) của năm 2020, kết quả như bảng sau:
Bảng 3.1 Danh sách các cổ phiếu ngân hàng có giá tăng mạnh năm 2020
| Mã cổ phiếu | Giá cổ phiếu ĐVT: nghìn đồng | EPS quý ĐVT: đồng/cp | ||||
| Ngày 31/12/2019 | Ngày 31/12/2020 | % thay đổi giá | Quý 4/2019 | Quý 4/2020 | % thay đổi EPS | |
| ACB | 11,22 | 17,98 | 60,22% | 952 | 1180 | 23,99% |
| CTG | 15,58 | 26,13 | 67,68% | 713 | 1446 | 102,90% |
| LPB | 5,17 | 10,01 | 93,59% | 335 | 434 | 29,75% |
| STB | 10,05 | 16,90 | 68,16% | 295 | 464 | 57,39% |
| VIB | 7,63 | 17,14 | 124,74% | 1136 | 1280 | 12,71% |
| VPB | 12,33 | 20,04 | 62,50% | 1028 | 1188 | 15,63% |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.
Từ danh sách 17 cổ phiếu ngân hàng trên HOSE, tác giả tổng hơp các cổ phiếu có giá tăng rất mạnh trong năm 2020, tất cả đều có giá tăng từ 50% trở lên so với cuối năm 2019. Bảng 3.1 cho thấy các cổ phiếu này có điểm chung là EPS trong quý gần nhất là Quý 4/2020 tăng trưởng rất mạnh so với cùng kỳ quý trước, tức là Quý 4/2019. Có thể kết luận rằng có cơ sở cho tiêu chí C – EPS quý gần nhất tăng có liên hệ đến giá cổ phiếu ngành ngân hàng trên HOSE.
Với ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 đến kinh tế trong và ngoài nước từ nửa cuối năm 2021, các đối tượng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam bao gồm các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng nặng bởi tình hình khó khăn chung của thị trường, dẫn đến giá cổ phiếu cũng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Huyên & Ngô Sỹ Nam (2022). Tình hình kinh doanh của các ngân hàng chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế – thị trường nên không phản ánh đúng năng lực kinh doanh cũng như tình hình hoạt động thật sự của các ngân hàng theo như lý thuyết của mô hình CANSLIM, vì vậy, tác giả sử dụng kết quả so sánh của năm 2020 để phản ánh đúng và chính xác hơn.
Trong nghiên cứu của mình, O’Neil (1988) cho rằng EPS quý gần nhất so với cùng kỳ quý trước phải tăng trên một mức nhất định thì mới đủ sức thu hút đầu tư và tạo lực đẩy giá cổ phiếu tăng mạnh, cụ thể là tăng trên 20%. Tuy nhiên, ông không đưa ra phương pháp tính toán cụ thể mà chỉ công bố dựa trên quan sát chung trên thị trường cổ phiếu Mỹ. Để kiểm tra mức tăng EPS quý trung bình hợp lý cho ngành ngân hàng tại thị trường cổ phiếu Việt Nam, tác giả lấy trung bình của tỉ lệ tăng trưởng EPS quý so với cùng kỳ quý trước của 17 mã cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên HOSE từ năm 2016 đến năm 2021 với điều kiện giá cổ phiếu tăng trên 50% so với cùng thời điểm năm trước đó, kết quả cho thấy EPS trung bình là 26% (chi tiết tính toán được trình bày ở Phụ lục 1). Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Như vậy, tiêu chí C – EPS theo quý sẽ chọn lọc những mã cổ phiếu có tỉ lệ tăng trưởng EPS quý gần nhất so với cùng kỳ quý trước tăng và tỉ lệ tăng trưởng EPS quý trung bình trên 26%.
Giả thuyết 𝑯𝟏: EPS quý có tác động dương đến giá của cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên HOSE, nghĩa là tỷ lệ tăng trưởng EPS quý gần nhất của ngân hàng càng cao thì giá cổ phiếu ngân hàng sẽ càng tăng.
3.3.2. Tiêu chí A – Thu nhập lãi thuần hàng năm
Khi đo lường sự tăng trưởng có ý nghĩa (Meaningful Growth) của cổ phiếu hàng năm, O’Neil (1988) quan tâm đến sự tăng trưởng đều đặn và liên tục trong vòng ít nhất là 3 năm. Nếu xét trong giai đoạn 5 năm, có thể cho phép có 1 năm sụt giảm nhưng năm tiếp theo đó phải tiếp tục tăng trưởng trở lại.
Có 3 yếu tố có thể được lựa chọn để xem xét sự tăng trưởng hàng năm của cổ phiếu theo phương pháp CANSLIM là EPS năm tăng trưởng ổn định, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính tăng ít nhất là 3 năm liên tiếp và ROE năm gần nhất phải đạt trên 17%.
Trong luận văn này, tác giả chọn thu nhập lãi thuần làm thang đo chính cho tiêu chí A của cổ phiếu. Thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam được tính bằng công thức:
𝐓𝐡𝐮 𝐧𝐡ậ𝐩 𝐥ã𝐢 𝐭𝐡𝐮ầ𝐧
- = 𝐓𝐡𝐮 𝐧𝐡ậ𝐩 𝐥ã𝐢 𝐯à 𝐜á𝐜 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 𝐭𝐡𝐮 𝐧𝐡ậ𝐩 𝐭ươ𝐧𝐠 𝐭ự
- − 𝐂𝐡𝐢 𝐩𝐡í 𝐥ã𝐢 𝐯à 𝐜á𝐜 𝐜𝐡𝐢 𝐩𝐡í 𝐭ươ𝐧𝐠 𝐭ự
Trong đó, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự sẽ bao gồm thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay, nghiệp vụ bảo lãnh, cho thuê tài chính, còn chi phí lãi và các chi phí tương tự bao gồm trả lãi tiền gửi, trả lãi tiền vay, trả lãi phát hành các giấy tờ có giá, cho thấy TNLT đến từ các hoạt động kinh doanh chính, cốt lõi của ngân hàng, phù hợp với tiêu chí A được nêu trong lý thuyết gốc CANSLIM.
Sau khi lựa chọn được các cổ phiếu có thu nhập lãi thuần tăng trưởng đều trong 3 năm liên tục hoặc chỉ có 1 năm sụt giảm trong 5 năm liên tục, nghiên cứu xem xét thêm ROE để đáp ứng đủ tiêu chí sàng lọc A. Theo quan sát của O’Neil (1988) trên thị trường Mỹ trong vòng 50 năm, cổ phiếu tăng giá tốt sẽ có ROE không thấp hơn 17%. Đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam vẫn còn non trẻ, tác giả tổng hợp trung bình ROE của 17 mã cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên HOSE từ năm 2016 đến năm 2021 với điều kiện giá cổ phiếu tăng trên 50% so với cùng thời điểm năm trước đó, kết quả cho thấy ROE trung bình cũng là 17% (chi tiết tính toán được trình bày ở Phụ lục 2), phù hợp với lý thuyết của mô hình CANSLIM.
Như vậy, tiêu chí A – Thu nhập lãi thuần hàng năm sẽ chọn lọc mã cổ phiếu ngân hàng có thu nhập lãi thuần thuần tăng trưởng đều trong 3 năm liên tục hoặc chỉ có 1 năm sụt giảm trong 5 năm liên tục rồi tăng trở lại và có ROE năm gần nhất không thấp hơn 17%.
Giả thuyết 𝑯𝟐: Thu nhập lãi thuần năm của ngân hàng có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên HOSE, khi thu nhập lãi thuần năm của ngân hàng càng lớn thì giá cổ phiếu càng tăng cao.
3.3.3. Tiêu chí N – Mức giá mới Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Tiêu chí N yêu cầu cổ phiếu cần có một thứ gì đó mới để thúc đẩy, làm động lực cho cổ phiếu tăng giá mạnh, đó có thể là lãnh đạo mới, sản phẩm mới đột phá, hoặc một mức giá mới.
Ngành ngân hàng nhìn chung là một ngành nghề kinh doanh đặc thù, sản phẩm trong ngành phải tuân thủ chặt chẽ các quy trình nội bộ riêng và quy định của pháp luật nên khó có thể mang tính đột phá về sản phẩm như kỳ vọng của O’Neil (1988) về những McDonald với thức ăn nhanh, Microsoft với hệ điều hành Windows, Apple với máy nghe nhạc Ipod, v.v.
Mặt khác, từ lý thuyết thị trường hiệu quả của Fama (1970), lý thuyết Dow của Charles H. Dow được hoàn thiện bởi Hamilton (1922) cho rằng mọi thông tin về thị trường đều được phản ánh qua giá cổ phiếu, đây cũng là lý thuyết nền tảng của phân tích kỹ thuật hiện đại. Do đó, nghiên cứu này chọn mức giá mới để đại diện cho mọi thông tin tốt mới của cổ phiếu khi giao dịch trên thị trường.
Trong mô hình nghiên cứu của luận văn này, biến phụ thuộc N là biến giả với giả định:
| 𝑁𝑖 = 1 | khi giá cổ phiếu tại thời điểm quan sát thứ i đạt đỉnh mới so với giai đoạn trước |
| 𝑁𝑖 = 0 | khi giá cổ phiếu tại thời điểm quan sát thứ i thấp hơn đỉnh của giai đoạn trước |
Như vậy, tiêu chí N – Mức giá mới trong nghiên cứu này sẽ ưu tiên lựa chọn những mã cổ phiếu có giá cổ phiếu trong giai đoạn gần nhất đạt được đỉnh giá cao mới so với giai đoạn trước đó của thời gian nghiên cứu.
Giả thuyết 𝑯𝟑: Giá cổ phiếu đạt đỉnh mới so với giai đoạn trước đó sẽ tác động dương đến giá cổ phiếu tại thời điểm hiện tại, nghĩa là khi giá cổ phiếu tại thời điểm quan sát thứ i đạt đỉnh mới so với giai đoạn trước thì giá cổ phiếu tại thời điểm hiện tại có xu hướng tăng.
3.3.4. Tiêu chí S – Khối lượng cổ phiếu giao dịch
Quy luật cung cầu hầu như quyết định giá cả của mọi loại hàng hóa. Tiêu chí S trong mô hình CANSLIM là áp dụng của quy luật cung và cầu trong thị trường cổ phiếu.
O’Neil (1988) đưa ra đối tượng để khảo sát cho tiêu chí S là khối lượng giao dịch, đại diện cho nhu cầu mua bán cổ phiếu trên thị trường (bao gồm cả mua và bán), do đó, khối lượng giao dịch cao không đồng nghĩa với việc cổ phiếu sẽ tăng giá. Tuy khối lượng giao dịch cổ phiếu lớn không phải luôn là một tín hiệu tốt (vì khi cổ phiếu đang trong đà giảm giá, khối lượng giao dịch lớn đồng nghĩa với việc có nhiều người có nhu cầu bán và giá cổ phiếu sẽ càng giảm), nhưng khối lượng giao dịch lớn sẽ giúp cổ phiếu có nhiều lợi ích: (1) Tạo thanh khoản, dễ dàng bán hoặc mua để cắt lỗ, chốt lời hay đầu tư; (2) Đáp ứng được nhu cầu giải ngân của các quỹ đầu tư và nhà đầu tư tổ chức; (3) Không dễ bị thao túng giá khi khối lượng giao dịch lớn.
Bảng 3.2 Bảng đánh giá cổ phiếu theo tiêu chí S
| Giá cổ phiếu | Khối lượng giao dịch cao | Khối lượng giao dịch thấp |
| Tăng | Nhu cầu mua cao, có lực mua từ các nhà đầu tư tổ chức | Giá cổ phiếu đã tăng cao, nhà đầu tư đang e ngại mua vào với mức giá hiện tại |
| Giảm | Nhu cầu bán cao, giá cổ phiếu có thể giảm sâu hơn do dòng tiền đang rút khỏi cổ phiếu này | Không có thêm áp lực bán đổ vào cổ phiếu |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Như vậy, tiêu chí S – Khối lượng cổ phiếu giao dịch được nhà đầu tư dùng để đo lường lực cung và cầu, từ đó nắm bắt được tình trạng tăng hay giảm của cổ phiếu có bền vững hay không. Trong mô hình nghiên cứu này, đối tượng khảo sát của tiêu chí S là khối lượng giao dịch trung bình của cổ phiếu trong một quý.
Giả thuyết 𝑯𝟒: Khối lượng giao dịch trung bình của cổ phiếu ngân hàng trong một quý có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu ngân hàng, nghĩa là khi khối lượng giao dịch cổ phiếu tăng, giá cổ phiếu cũng có xu hướng tăng.
3.3.5. Tiêu chí L – Xếp hạng chỉ số sức mạnh giá
Trong lý thuyết gốc CANSLIM, tiêu chí L được dùng để chọn ra cổ phiếu dẫn dắt. O’Neil (1988) sử dụng Chỉ số sức mạnh giá tương đối (Relative Strength – RS), được tính theo tỉ lệ thay đổi giá của tất cả cổ phiếu trên thị trường trong một khoảng thời gian là một năm 52 tuần. Mỗi cổ phiếu sẽ được gán một điểm từ 1 đến 99.
Một cổ phiếu có RS = 99 nghĩa là cố phiếu đó ưu việt hơn 99% các cổ phiếu khác về sức mạnh giá cổ phiếu.
Trong mô hình CANSLIM, cổ phiếu đáp ứng được tiêu chí L là cổ phiếu có xếp hạng chỉ số sức mạnh giá không thấp hơn 70. Nếu nhà đầu tư có yêu cầu cao hơn khi lựa chọn cổ phiếu dẫn dắt họ cũng có thể ưu tiên lựa chọn cổ phiếu có xếp hạng chỉ số sức mạnh giá trên mức 80 hoặc 90 điểm. Tuy nhiên, khoảng thời gian
O’Neil (1988) chọn dùng để quan sát là 52 tuần, tương đương với khoảng 1 năm, là một khoảng thời gian khá dài đối với cổ phiếu trên thị trường Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, khi thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ mới ra đời hơn 20 năm và một số cổ phiếu ngân hàng có lịch sử niêm yết chỉ mới 1 hoặc 2 năm (chưa đủ thời gian để thu thập đủ số lượng quan sát cho chỉ số RS 52 tuần).
Để tính toán chỉ số RS cần dữ liệu tỉ lệ thay đổi giá của toàn bộ cổ phiếu trên thị trường và tiến hành xếp hạng từ 1 đến 99 theo thứ tự có tiềm lực tăng giá thấp nhất đến cao nhất. Hoặc hiện nay chỉ số RS cũng được cung cấp thông qua các công thức có sẵn của các phần mềm tin học, trang mạng điện tử hỗ trợ phân tích kỹ thuật và thông tin cổ phiếu như Amibroker, Fiintrade, Fialda, v.v. mà không cần phải tự tính toán.
Trong mô hình nghiên cứu của luận văn này, biến phụ thuộc L là biến giả với giả định:
| 𝐿𝑖 = 1 | nếu chỉ số RS (52W) của cổ phiếu tại quan sát thứ i lớn hơn hoặc bằng 70 |
| 𝐿𝑖 = 0 | nếu chỉ số RS (52W) của cổ phiếu tại quan sát thứ i lớn hơn 70 |
Như vậy, tiêu chí L – Xếp hạng chỉ số sức mạnh giá được dùng để chọn lọc các cổ phiếu có xếp hạng chỉ số sức mạnh giá trong 52 tuần từ 70 trở lên.
Giả thuyết 𝑯𝟓: Xếp hạng chỉ số sức mạnh giá của cổ phiếu ngân hàng có tương quan dương với giá cổ phiếu ngân hàng. Khi cổ phiếu có xếp hạng chỉ số sức mạnh giá càng lớn thì giá cổ phiếu càng cao.
3.3.6. Tiêu chí I – Số lượng các quỹ đầu tư, định chế tài chính là cổ đông lớn
Tiêu chí I đề cập đến sự quan trọng của số lượng các nhà đầu tư tổ chức đến giá của một cổ phiếu.
Thị trường mà O’Neil (1988) nghiên cứu là thị trường Mỹ, nơi có trung bình gần 8.000 quỹ tương hỗ và quỹ đầu tư hoạt động thường xuyên trong hai thập kỷ trở lại đây (theo số liệu từ Statista.com). Do đó, ông đưa ra con số 20 là số lượng tối thiểu các nhà đầu tư là quỹ đầu tư tham gia giao dịch và nắm giữ một cổ phiếu tiềm năng mới lên sàn, nếu cổ phiếu đã niêm yết lâu, số lượng này phải nhiều hơn nữa.
Tuy nhiên, tại thị trường Việt Nam với quy mô vốn hóa nhỏ hơn rất nhiều lần thị trường Mỹ, số lượng các quỹ đầu tư không thể đáp ứng con số mà O’Neil (1988) đưa ra, cụ thể là tính đến cuối năm 2021, Việt Nam chỉ có 67 quỹ đầu tư với tổng giá trị tài sản ròng (Net Asset Value – NAV) là 84.960 tỷ đồng. Trong phần lớn giai đoạn nghiên cứu của nghiên cứu này, số lượng quỹ và NAV còn thấp hơn rất nhiều. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Bảng 3.3 Số lượng các quỹ đầu tư trên thị trường Việt Nam
| Thời gian | Quỹ mở | Quỹ đóng | Quỹ thành viên | Quỹ ETF | Quỹ bất động sản | Tổng cộng | |
| Số quỹ | NAV Đvt: tỷ đồng | ||||||
| 31/12/2016 | 19 | 1 | 8 | 2 | 1 | 31 | 7.759 |
| 29/12/2017 | 22 | 1 | 10 | 2 | 1 | 36 | 14.831 |
| 31/12/2018 | 25 | 2 | 10 | 2 | 1 | 40 | 22.485 |
| 31/12/2019 | 32 | 2 | 10 | 2 | 1 | 47 | 32.603 |
| 31/12/2020 | 34 | 2 | 13 | 7 | 1 | 57 | 57.693 |
| 30/11/2021 | 39 | 2 | 17 | 8 | 1 | 67 | 84.960 |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ số liệu của UBCKNN (2023).
Ngoài các quỹ đầu tư tại Việt Nam, các tổ chức đầu tư nước ngoài cũng là những tổ chức tiềm năng có khả năng đáp ứng tiêu chí I của mô hình CANSLIM. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP ban hành bởi Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 03/01/2014, nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được sở hữu quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại, do đó sức ảnh hưởng của khối ngoại đến cổ phiếu ngành ngân hàng so với các ngành khác sẽ có nhiều hạn chế hơn.
Mặt khác, có 3 ngân hàng thương mại là những ngân hàng có quy mô vốn được xem là lớn nhất thị trường hiện nay, tuy đã được cổ phần hóa và cổ phiếu đã được niêm yết song phần lớn vẫn thuộc sở hữu nhà nước là BIDV, CTG và VCB, với tỉ lệ sở hữu của ngân hàng Nhà nước Việt Nam lần lượt là 80,99%, 64,46% và 74,8%. Do đó, các nhà đầu tư tổ chức và quỹ đầu tư sẽ có ít cơ hội để sở hữu hay giao dịch số lượng lớn cổ phiếu ngân hàng tại thị trường Việt Nam.
Bảng 3.4 Thống kê theo tiêu chí I đối với cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên HOSE
| STT | Mã cp | SL cổ đông là tổ chức, quỹ đầu tư | SL CP sở hữu bởi cổ đông tổ chức, quỹ đầu tư | Tỉ lệ sở hữu |
| 1 | ACB | 25 | 560.949.584 | 29,30% |
| 2 | BIDV | 1 | 758.778.572 | 15,00% |
| 3 | CTG | 31 | 1.245.972.970 | 27,09% |
| 4 | EIB | 11 | 417.767.936 | 33,86% |
| 5 | HDB | 5 | 39.460.678 | 2,08% |
| 6 | LPB | 3 | 122.233.093 | 8,14% |
| 7 | MBB | 38 | 403.487.490 | 16,18% |
| 8 | MSB | 3 | 156.030.417 | 10,22% |
| 9 | OCB | 1 | 205.482.440 | 15,00% |
| 10 | SHB | 3 | 74.536.726 | 5,17% |
| 11 | SSB | 3 | 214.209.158 | 11,30% |
| 12 | STB | 25 | 310.162.453 | 17,25% |
| 13 | TCB | 8 | 7.105.580 | 0,20% |
| 14 | TPB | 8 | 203.150.391 | 18,00% |
| 15 | VCB | 13 | 828.792.021 | 18,22% |
| 16 | VIB | 1 | 310.628.598 | 20,00% |
| 17 | VPB | 20 | 360.340.862 | 10,45% |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ số liệu của Fiintrade (2021).
Trên đây là thống kê của tác giả về số lượng cổ đông lớn là tổ chức, quỹ đầu tư của 17 mã cổ phiếu ngân hàng đang được niêm yết trên HOSE, bao gồm quỹ đầu tư trong và ngoài nước nhưng không tính đến cổ đông là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (chi tiết cổ đông và tỉ lệ sở hữu được trình bày tại Phụ lục 3). Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Như vậy, tiêu chí I – Số lượng tổ chức là cổ đông lớn sẽ chọn lọc những mã cổ phiếu được nhiều quỹ đầu tư và nhà đầu tư tổ chức chọn mua.
Giả thuyết 𝑯𝟔: Số lượng cổ đông lớn là tổ chức của ngân hàng có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu ngân hàng, nghĩa là khi ngân hàng có càng nhiều cổ đông lớn là các tổ chức thì giá cổ phiếu ngân hàng càng tăng.
3.3.7. Tiêu chí M – VNINDEX
Tiêu chí cuối cùng nhưng được đánh giá là tiêu chí quan trọng hàng đầu khi áp dụng chiến lược lựa chọn cổ phiếu CANSLIM là M – xu hướng của thị trường chung, bởi ngay cả khi cổ phiếu đáp ứng được tất cả các tiêu chí ở trên nhưng nhà đầu tư có nhận định sai về xu hướng thị trường, tức là mua cổ phiếu khi thị trường có xu hướng giảm thì vẫn sẽ bị thua lỗ.
Tiêu chí này lặp lại sự quan trọng của việc tìm ra thời điểm mua hoặc bán cổ phiếu, sau khi đã lựa chọn được mã cổ phiếu phù hợp.
Để xác định xu hướng thị trường cần chọn được chỉ số thị trường phù hợp, O’Neil (1988) sử dụng các chỉ số thị trường đặc trưng tại Mỹ như S&P500, NASDAQ, DowJones, NYSE. Tương ứng với các mã cổ phiếu ngành ngân hàng được niêm yết trên HOSE, nghiên cứu này lựa chọn VNINDEX bởi nó đại diện cho tất cả cổ phiếu được giao dịch trên HOSE, chỉ số này thay đổi trong thời gian diễn ra giao dịch, sự thay đổi giá cổ phiếu sẽ làm thay đổi giá trị của chỉ số.
Tuy nhiên, sẽ rất khó nhận biết xu hướng thị trường nếu chỉ dựa vào số liệu của chỉ số thị trường mà không biết đến phân tích kỹ thuật – một phương pháp đầu tư giúp nhận biết xu hướng thị trường bằng cách liên hê từ dữ liệu quá khứ để đoán biết xu thế thị trường của hiện tại và trong tương lai.
Theo Wyckoff (1910), thị trường chứng khoán sẽ lặp lại chu kỳ gồm 4 giai đoạn, bao gồm (1) giai đoạn tích lũy – đây là mở đầu của chu kỳ thị trường, xảy ra sau một xu hướng giảm kéo dài. Trên biểu đồ giá, giá cổ phiếu sẽ giống một phạm vi giao dịch đi ngang bị giới hạn giữa những vùng kháng cự và hỗ trợ. Các nhà đầu tư nhỏ lẻ hoặc ít kinh nghiệm sẽ khó để phát hiện xu hướng thị trường này, tuy nhiên, đây là giai đoạn thích hợp nhất để mua cổ phiếu; (2) giai đoạn tăng trưởng – giá cổ phiếu bắt đầu vượt các ngưỡng kháng cự trên của phạm vi đi ngang và tiếp tục tăng dần, đỉnh giá sau cao hơn đỉnh giá trước, đáy giá sau cao hơn đáy giá trước với khối lượng giao dịch lớn; (3) giai đoạn phân phối – khi giá cổ phiếu tăng đến một đỉnh cao nhất định và không thể tạo được đỉnh mới cao hơn, lúc này giá cổ phiếu cũng sẽ biến động trong một phạm vi giao dịch đi ngang, báo hiệu thị trường sắp đổi chiều, đây là thời điểm thích hợp nhất để bán cổ phiếu; (4) giai đoạn suy thoái – giá cổ phiếu chuyển sang xu hướng giảm.
Hình 3.1 Chu kỳ giá cổ phiếu
Nhìn lại lịch sử giao dịch của VNINDEX trong năm 2017 – 2018, hình 3.2 cho thấy các giai đoạn trong chu kỳ giá của các cổ phiếu được niêm yết trên HOSE thể hiện thông qua VNINDEX có chu kỳ giá tương tự như Wyckoff (1910) đã mô tả trong hình 3.1. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Hình 3.2 Đồ thị chu kỳ VNINDEX giai đoạn 2017 – 2018
Trong phân tích kỹ thuật luôn có mối tương quan chặt chẽ giữa giá và khối lượng, trong trường hợp ứng dụng để phân tích xu hướng thị trường chung, nghiên cứu sử dụng giá trị VNINDEX và khối lượng giao dịch cổ phiếu trên HOSE.
Bảng 3.5 Bảng đánh giá xu hướng thị trường chung theo tiêu chí M
| Giá trị VNINDEX | Khối lượng giao dịch | Chu kỳ thị trường | Xu hướng thị trường | Hành động của NĐT | |
| Cao | Thấp | ||||
| Không tiếp tục giảm | Có xu hướng giảm | Tích lũy | Có xu hướng đi ngang, đáy mới không thấp hơn đáy cũ sau giai đoạn giảm dài, | Quan sát tìm cổ phiếu tốt, mua cổ phiếu, | |
| Tăng mạnh | Có xu hướng tăng | Tăng trưởng | Thị trường tăng giá mạnh mẽ, đỉnh sau cao hơn đỉnh trước, đáy sau cao hơn đáy trước | Mua thêm cổ phiếu ở các phiên điều chỉnh (các phiên giảm nhẹ, lấy đà cho đợt tăng tiếp theo) | |
| Không tiếp tục tăng | Có xu hướng giảm | Phân phối | Có xu hướng đi ngang, không vượt qua được đỉnh cũ sau giai đoạn tăng dài, sắp chuyển sang xu hướng giảm | Bán cổ phiếu, tìm cơ hội chốt lời | |
| Giảm mạnh | Có xu hướng tăng | Suy thoái | Thị trường giảm giá mạnh, đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước | Đứng ngoài thị trường, quan sát chờ cơ hội | |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Từ đó, nghiên cứu này ứng dụng quy luật chu kỳ giá và quy tắc đầu tư của Wyckoff (1910) – nền tảng của phân tích kỹ thuật hiện đại kết hợp thêm một số phương pháp phân tích kỹ thuật mở rộng khác tham khảo từ nghiên cứu của Beyoglu & Ivanov (2008) như đường trung bình MACD, đường trung bình di động (sử dụng đồ thị phân tích kỹ thuật) để xác định điểm mua hoặc bán thông qua nhận định xu hướng của thị trường.
Như vậy, tiêu chí M – Chỉ số thị trường đại diện bởi VNINDEX nhấn mạnh dù đã chọn được cổ phiếu tốt nhưng nhà đầu tư phải nhận biết được xu thế thị trường chung thông qua VNINDEX và phương pháp phân tích kỹ thuật để tìm được thời điểm mua và bán thích hợp.
Giả thuyết 𝑯𝟕: Chỉ số thị trường đại diện bởi VNINDEX có tương quan dương đến giá cổ phiếu ngân hàng, khi VNINDEX càng tăng thì giá cổ phiếu ngân hàng cũng có xu hướng tăng.
3.4. Dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
3.4.1 Nghiên cứu xác định dữ liệu thu thập là dữ liệu thứ cấp.
Nghiên cứu dựa trên việc tổng hợp các dữ liệu thứ cấp từ nguồn tài liệu tham khảo tin cậy của chính các ngân hàng công bố, cụ thể là báo cáo tài chính đã kiểm toán được công bố trên trang thông tin chính thức của các ngân hàng niêm yết trên HOSE từ năm 2016 đến năm 2021, cụ thể là của 17 ngân hàng sau:
Bảng 3.6 Nguồn dữ liệu thứ cấp
| STT | Tên ngân hàng | Mã CP | Trang thông tin |
| 1 | Ngân hàng TMCP Á Châu | ACB | https://www.acb.com.vn/ |
| 2 | Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam | BID | https://www.bidv.com.vn/ |
| 3 | Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam | CTG | https://www.vietinbank.vn/ |
| 4 | Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam | EIB | https://eximbank.com.vn/ |
| 5 | Ngân hàng TMCP Phát triển TP. HCM | HDB | https://hdbank.com.vn/ |
| 6 | Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt | LPB | https://lienvietpostbank.com.vn/ |
| 7 | Ngân hàng TMCP Quân Đội | MBB | https://www.mbbank.com.vn/ |
| 8 | Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam | MSB | https://www.msb.com.vn/ |
| 9 | Ngân hàng TMCP Phương Đông | OCB | https://ocb.com.vn/ |
| 10 | Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội | SHB | https://www.shb.com.vn/ |
| 11 | Ngân hàng TMCP Đông Nam Á | SSB | https://seabank.com.vn/ |
| 12 | Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín | STB | https://www.sacombank.com.vn/ |
| 13 | Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam | TCB | https://www.techcombank.com.vn/ |
| 14 | Ngân hàng TMCP Tiên Phong | TPB | https://tpb.vn/ |
| 15 | Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam | VCB | https://www.vietcombank.com.vn/ |
| 16 | Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam | VIB | https://www.vib.com.vn/ |
| 17 | Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng | VPB | http://www.vpbank.com.vn/ |
Nguồn: Trích xuất từ dữ liệu nghiên cứu của tác giả.
So với các đề tài tương tự trước đây tại thị trường Việt Nam của Nguyễn Lê Duy (2009) và Nguyễn Bảo Giang (2017), luận văn có cùng dạng dữ liệu và nguồn dữ liệu, cũng được tổng hợp từ các báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm. Tuy nhiên luận văn có sự khác biệt về mốc thời gian chọn dữ liệu và chỉ tập trung xem xét cổ phiếu giao dịch của ngành ngân hàng trên HOSE nên không bị trùng lặp với các nghiên cứu trước.
3.4.2 Dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu được thiết kế theo dạng dữ liệu bảng không cân bằng. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Nghiên cứu chọn dạng dữ liệu bảng vì (1) Yêu cầu của phương pháp CANSLIM là so sánh tốc độ tăng trưởng EPS theo thời kì của từng cổ phiếu, vì vậy cần thu thập số liệu theo thời gian của nhiều mã cổ phiếu khác nhau; (2) Nghiên cứu cần xem xét chu kỳ tăng trưởng của chỉ số EPS là ổn định hay không ổn định. Kiểu dữ liệu này cho phép nghiên cứu xem xét được thay đổi của đối tượng khảo sát theo thời gian, giúp nghiên cứu tìm thấy cổ phiếu có sự tăng trưởng đột biến so với chính nó và so với các cổ phiếu khác. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
3.4.3 Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát là các số liệu được lấy từ báo cáo tài chính được kiểm toán theo năm; số liệu về giá cổ phiếu và các chỉ số chứng khoán được thu thập từ các tổ chức nghiên cứu và cung cấp thông tin, trong đó bao gồm các số liệu về cổ phiếu theo quý của tất cả 17 Ngân hàng thương mại đang niêm yết tại HOSE từ Quý 1/2016 đến Quý 4/2021, sau khi kiểm tra và phân tích số liệu, tác giả thực hiện điều chỉnh các tiêu chí này cho phù hợp với thị trường Việt Nam và có ý nghĩa về mặt định lượng, cụ thể được trình bày như bảng sau:
Bảng 3.7 Đối tượng khảo sát
| STT | Tiêu chí | Mã hóa | Lý thuyết gốc | Áp dụng |
| 1 | Giá cổ phiếu (P) | Giá thị trường trung bình của cổ phiếu | Giá thị trường trung bình theo quý của 17 cổ phiếu ngành ngân hàng | |
| 2 | EPS quý (C) | 𝑪𝑼𝑹 | EPS quý | EPS quý |
| 3 | Tăng trưởng lợi nhuận hàng năm (A) | 𝑨𝑵𝑼 | EPS năm Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chính hàng năm tăng liên tiếp ROE năm | Thu nhập lãi thuần hàng năm (thu nhập từ hoạt động kinh doanh chính) |
| 4 | Sản phẩm mới, quản lí mới, mức giá mới (N) | 𝑵𝑬𝑾 | Sản phẩm mới, quản lí mới, mức giá mới | Xem xét mức giá của cố phiếu khi nó đạt đỉnh mới so với khoảng thời gian trước đó |
| 5 | Cung và cầu (S) | 𝑺𝑼𝑷 | Khối lượng giao dịch của cổ phiếu cao và ổn định (thanh khoản tốt) | Bình quận số lượng cổ phiếu giao dịch theo quý |
| 6 | Cổ phiếu dẫn đầu ngành (L) | 𝑳𝑬𝑨 | Xếp hạng Chỉ số sức mạnh giá (Relative Strength Rating) trong 52 tuần từ 80 trở lên | Xếp hạng Chỉ số sức mạnh giá (Relative Strength Rating) trong 52 tuần là từ 80 trở lên |
| 7 | Sự ủng hộ của các nhà đầu tư tổ chức (I) | 𝑰𝑵𝑺 | Cổ phiếu có một số lượng nhất định các tổ chức tham gia đầu tư | Số lượng các tổ chức là cổ đông lớn tăng |
| 8 | Định hướng thị trường (M) | 𝑴𝑨𝑹 | Các chỉ số thị trường chung như S & P500, Nasdaq, Dowjones, v.v | VN-Index |
Nguồn: Trích xuất từ dữ liệu nghiên cứu của tác giả.
Chi tiết về toàn bộ dữ liệu nghiên cứu được nêu rõ tại Phụ lục 4.
3.4.4 Đặc thù cổ phiếu ngân hàng tại Việt Nam
Cổ phiếu ngành ngân hàng khá đặc thù, do đó khi đã lựa chọn được cổ phiếu đầu tư ngành ngân hàng thích hợp cũng cần kết hợp với chiến lược đầu tư thích hợp. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
Tại Việt Nam, cổ phiếu ngân hàng có tính chu kỳ do đó có sự liên hệ khá chặt chẽ với chu kỳ tăng trưởng của nền kinh tế hay thị trường chung, bản thân ngành ngân hàng cũng đóng vai trò như là huyết mạch của nền kinh tế. Do đó, phương pháp CANSLIM là thích hợp khi áp dụng cho cổ phiếu ngành ngân hàng, bởi biến động của thị trường cũng là một tiêu chí quan trọng trong phương pháp này.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng đặc biệt nhạy cảm trước các thông tin tiêu cực và trong nhiều trường hợp có khả năng gây ra rủi ro hệ thống, có khả năng tác động mạnh đến giá của một cổ phiếu hoặc toàn bộ cổ phiếu ngành ngân hàng.
Bên cạnh đó, mặc dù các ngân hàng thương mại hầu như đã được niêm yết nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cho nhà đầu tư nước ngoài giao dịch bởi theo nhà nước quy định, sở hữu nước ngoài đối với các cổ phiếu ngân hàng tại Việt Nam không vượt quá 30%. Vì vậy, các tác động lên giá cổ phiếu ngành ngân hàng từ giao dịch của khối ngoại hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế và khá khiêm tốn (so với các lĩnh vực khác như bán lẻ, thép, sữa, v.v.)
3.5. Tóm tắt chương 3
Tóm lại, chương 3 giới thiệu mô hình nghiên cứu tổng thể của luận văn là mô hình hồi quy các biến độc lập – các tiêu chí trong CANSLIM theo biến phụ thuộc – giá cổ phiếu ngân hàng trên HOSE. Chương 3 nêu rõ nghiên cứu dùng phương pháp phân tích định lượng và áp dụng phương pháp hồi quy gộp Pooled OLS với sự hỗ trợ của phần mềm tin học Stata phiên bản 15.
Đồng thời, chương 3 cũng phân tích từng tiêu chí trong mô hình CANSLIM khi ứng dụng trong việc lựa chọn cổ phiếu ngân hàng trên HOSE tại thị trường cổ phiếu Việt Nam, bằng cách xác định yêu cầu sàng lọc cụ thể cho từng tiêu chí.
Nội dung chương 3 cũng chính là căn cứ để hiểu rõ kết quả nghiên cứu và thảo luận về mô hình nghiên cứu ở chương 4. Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu Canslim để lựa chọn cổ phiếu

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

