Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại Ngân Hàng TMCP An Bình – Chi Nhánh TP HCM dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh TPHCM:

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ABBank – Chi nhánh TP HCM:

  • ABBank Sở Giao Dịch ra đời theo quyết định số 1061/NHTP2002 vào ngày 07/02/2000 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam.
  • Ngày 11/01/2004, Chủ tịch HĐQT ABBank ký quyết định số 24/TCQĐ_PTCN.06 sau đó đến ngày 26/03/2004 Sở Giao dịch chính thức hoạt động.
  • ABBank – Chi nhánh Tp HCM tiền thân Sở Giao Dịch là thành lập ngày 08/08/2009 theo giấy phép kinh doanh số 0301412222 – 006;
  • Hiện nay, ABBank – Chi nhánh TPHCM tọa lạc tại địa chỉ 170 Hai Bà Trưng, Phường Đa Kao, Quận 1, TPHCM;
  • Về cơ cấu tổ chức: ABBank – CN TPHCM gồm 6 phòng nghiệp vụ tại chi nhánh và 07 phòng giao dịch:

Cơ cấu tổ chức tại chi nhánh, gồm: Ban Giám đốc, Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Giao dịch khách hàng và Kho quỹ, Phòng Quan hệ KHCN, Phòng Quan hệ KHCN, Phòng Hỗ trợ và tác nghiệp tín dụng.

Các Phòng Giao dịch trực thuộc chi nhánh gồm: Phòng Giao dịch Đa Kao (Quận 1), Phòng Giao dịch Minh Khai (Quận 3), Phòng Giao dịch Bến Nghé (Quận 2/Thành phố Thủ Đức), Phòng Giao dịch Tân Bình (Quận Tân Bình), Phòng Giao dịch Trường Chinh (Quận Tân Bình), Phòng Giao dịch Tô Hiến Thành (Quận 10), Phòng Giao dịch Kỳ Hòa (Quận 10).

Sơ đồ 2.1: Mạng lưới tổ chức của Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh TPHCM

Trong năm 2022, ABBank – CN TPHCM đã cải tạo cơ sở vật chất và lắp đặt biển hiệu tại các điểm giao dịch theo bộ nhận diện thương hiệu mới nhằm tăng tính nhận diện và trải nghiệm của khách hàng.

Biểu đồ 2.1: Thống kê số lượng điểm kinh doanh của các ngân hàng tại TPHCM

2.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Tp.HCM:

2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Biểu đồ 2.2: Huy động vốn khách hàng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM

Huy động vốn của ABBank – CN TPHCM tăng mạnh trong giai đoạn từ 2018 – 2020 đã duy trì tốc độ tăng trưởng trên 25% mỗi năm, trong đó năm 2019 tăng trưởng 639 tỷ đồng, đặc biệt năm 2020 tăng đến 28.2% và 889 tỷ đồng so với năm 2019. Đây là thành quả của quá trình thực hiện dự án trọng điểm “Nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của ABBank” với ba mục tiêu trọng tâm: (i) chuyên môn hóa và nâng cao năng lực bán hàng của các đơn vị kinh doanh, (ii) Quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro toàn diện và quản trị chất lượng, (iii) Khai thác và tối ưu mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Ngoài ra, ABBank đã tận dụng tốt việc huy động vốn từ nguồn hiện hữu và phát triển nền huy động thông qua những chương trình khuyến mãi, phát triển đổ lương cho các doanh nghiệp.

Huy động vốn bắt đầu chững lại và giảm dần trong từ năm 2021 – 2022, cụ thể huy động vốn cuối kỳ năm 2021 đạt 4,316 tỷ đồng (tăng 277 tỷ đồng tương đương tốc độ tăng 6.86%) và năm 2022 huy động vốn chỉ tăng 72 tỷ so với năm 2021. Hoạt động huy động đã bị ảnh hưởng khá nhiều trong giai đoạn dịch Covid bùng phát từ cuối năm 2021 đến 2022.

Huy động vốn bắt đầu hồi phục trong năm 2023 mặc dù bị chi phối mạnh mẽ bởi dịch bệnh Covid – 19, được xem là đỉnh dịch khi cả nước phải phong tỏa diện rộng, nhưng tại thời điểm đó tiền gửi là 4,567 tỷ đồng. Đặc biệt trong năm 2024 mảng huy động vốn ghi nhận sự tăng trưởng hết sức tốt khi lượng tiền gửi tăng trưởng đột biến đến 35.34% so với cuối năm 2023, đạt 6,181 tỷ đồng.

Nhìn chung, công tác huy động của ABBank – CN TPHCM trong năm 2021 và 2022 gặp nhiều khó khăn nhưng đã ổn định từng bước vào năm 2023 và thực sự bức phá trong năm 2024 thể hiện qua chỉ tiêu tiền gửi bình quân và cuối kỳ năm 2024 lần lượt là: 6,181 và 4,819 tỷ đồng, tăng trưởng mạnh hơn năm 2021 (các chỉ tiêu trên theo thứ tự là 4,316 tỷ đồng và 4,301 tỷ đồng). Qua đó thể hiện chất lượng dịch vụ ngày càng được chú trọng đầu tư bài bản, sự hài lòng của khách hàng ngày càng được nâng cao do đó khách hàng có xu hướng tin tưởng và gửi tiết kiệm ổn định hơn ít biến động, đây là nền tảng cho hoạt động kinh doanh có được nguồn vốn dồi dào. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu huy động vốn tại ABBank – CN TPHCM

Huy động vốn bán lẻ tại ABBank – CN TPHCM phát triển tốt trong khoảng từ năm 2018 đến 2021, cụ thể tiền gửi cá nhân đã giữ vững thế mạnh khi bức phá từ mức 64.74% lên đến 70.74%, tương ứng tỷ trọng tiền gửi doanh nghiệp đã giảm từ 35.26% xuống còn 29.53% . Tỷ trọng huy động vốn cá nhân đã sụt giảm vào năm 2022, cụ thể chỉ còn chiếm tỷ trọng 67.75% (giảm 2.72% so với năm 2021) và huy động vốn doanh nghiệp chiếm 32.25%. Hoạt động huy động vốn cá nhân dần chiếm ưu thế trở lại trong năm 2023 và 2024 khi tỷ trọng lần lượt đạt đến 70.58% và 77.54%.

Nhìn chung, trong giai đoạn từ 2018 – 2024 mảng bán lẻ luôn đã có những đóng góp tích cực trong hoạt động huy động vốn hàng năm tại ABBank – Chi nhánh TPHCM, luôn chiếm khoảng 2/3 lượng tiền gửi ở đơn vị. Để đạt được kết quả trên chi nhánh đã kết hợp tốt kênh bán hàng truyền thống cùng việc phát triển những kênh bán hàng mới thông qua chính sách lãi suất và chế độ chăm sóc linh hoạt đáp ứng đúng mong muốn của người gửi tiền đó mới là chìa khóa thúc đẩy công tác huy động giữ vững vai trò tiên phong và phát triển tốt.

2.1.2.2. Hoạt động cho vay:

Biểu đồ 2.4: Tình hình dư nợ tín dụng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM

Dư nợ tín dụng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM cuối năm 2019 đạt 1068 tỷ đồng, tăng 328 tỷ đồng so với năm trước đó (tương ứng tăng trưởng 44.34%). Năm 2020 dư nợ cuối kỳ đạt 2,108 tỷ đồng, bức tốc vượt xa kế hoạch khi tăng gần gấp đôi so với năm 2019.

Cho vay cá nhân cuối 2021 tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm lại so với giai đoạn trước năm 2020 cụ thể chỉ tăng 177 tỷ đồng và cuối năm 2022 dư nợ tín dụng cá nhân giảm mạnh so với năm 2021 đà tăng trưởng dư nợ bị đứt gãy, cụ thể dư nợ cuối năm ở mức 1,888 tỷ đồng, giảm 397 tỷ đồng so với năm 2021.

Khác biệt với thời điểm cuối năm 2022 cuối năm 2023, tăng trưởng tín dụng phục hồi, số liệu dư nợ cuối kỳ đạt 2,080 tỷ đồng; đặc biệt cuối năm 2024 khi đất nước chính thức trở lại trạng thái bình thường sau dịch thì nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ kéo theo dư nợ cuối kỳ năm 2024 đạt 2,524 tỷ đồng, tăng hơn 500 tỷ so với năm 2023.

Cuối năm 2021 là thời điểm bắt đầu bùng phát dịch bệnh nên những tác động đến đời sống và nền kinh tế chưa thực sự rõ ràng, nhưng năm 2022 tình hình dư nợ sụt giảm mạnh cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống người dân bị ảnh hưởng mạnh mẽ kéo theo thói quen chi tiêu, mua sắm, tích lũy tài sản đi xuống. Nguyên nhân là do trong thời điểm bùng phát dịch bệnh, chỉ những hoạt động thiết yếu duy trì đời sống của người mới được duy trì, hoạt động sản xuất bị gián đoạn do phải tiến hành cách ly dãn cách xã hôi, tâm lý e dè cẩn trọng trong các khoản đầu tư của người dân ngày càng tăng mạnh, chi tiêu giảm và tâm lý muốn tích lũy, an toàn lấn át tâm lý đầu tư sinh lời, mở rộng sản xuất kinh doanh. Mặc dù 2023, là đỉnh dịch Covid nhưng vào những tháng cuối năm khi tình hình dần ổn định thì nền kinh tế đã bật lên khá mạnh khi ghi nhận tăng trưởng dư nợ tốt so với giai đoạn trước – cắt đứt đà giảm và phục hồi vượt bậc vào năm 2024.

Năm 2022 bên cạnh sự sụt giảm dư nợ thì ta có thể thấy được sự bền vững của tăng trưởng dư nợ tín dụng cá nhân thể hiện qua chênh lệch giữa quy mô tín dụng cá nhân cuối kỳ và bình quân ngày càng thu hẹp trong giai đoạn 2021 – 2022 so với giai đoạn 2018 – 2020, cho thấy chính sách tín dụng, những biện pháp hỗ trợ chăm sóc khách hàng của ABBank đã phát huy hiệu quả, kết quả này thể hiện rất rõ trong năm 2023 và 2024 tình hình cho vay của chi nhánh phục hồi rất tốt.

  • Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn tại ABBank CN – TPHCM

Trong danh mục cho vay, các khoản vay ngắn hạn (bao gồm cầm cố STK, cho vay thấu chi tín chấp/có tài sản bảo đảm và cho vay sản xuất kinh doanh) có tỷ trọng biến động liên tục cụ thể năm 2018 cho vay kỳ hạn ngắn đạt 48.47% so với tỷ lệ dài hạn là 51.53%. Năm 2019 cho vay kỳ hạn ngắn giảm mạnh còn 29.73%, tỷ lệ dư nợ ngắn hạn tăng mạnh liên tục sau đó lên mức 39.41% năm 2020 và đạt tỷ trọng 59.48% năm 2021. Năm 2022 dư nợ ngắn hạn có tỷ trọng giảm mạnh về mức chỉ còn 51.46%.

Trong giai đoạn tiếp theo sau năm 2022 thì ABBank đang có xu hướng tăng dần tỷ trọng cho vay trung dài hạn với các sản phẩm chủ lực là cấp tín dụng mua bất động sản, nhà ở (bao gồm: nhà dự án, chung cư, nhà phố), tiêu dùng và mua xe ô tô thông qua hoạt động tăng cường phát triển liên kết dự án mới, công ty mô giới, cửa hàng kinh doanh ô tô nhằm mục đích cân đối danh mục cho vay, giảm thiểu rủi ro tập trung.

  • Cơ cấu dư nợ theo các hình thức bảo đảm khoản vay:

Bảng 2.1: Cơ cấu dư nợ theo các hình thức bảo đảm khoản vay ABBank CN TPHCM

Đơn vị tính: %

Năm  2018   2019  2020   2021   2022 2023 2024
Vay có TSBĐ 99.78 99.48 99.78 99.83 99.85 99.38 99.39
Vay không có TSBĐ 0.22 0.52 0.22 0.17 0.15 0.62 0.61
Tổng 100 100 100 100 100 100 100

(Nguồn: Báo cáo tài chính nội bộ ABBank – CN TPHCM)

ABBank – CN TPHCM hiện đang tập trung chủ yếu vào cho vay có TSBĐ với tỷ lệ cho vay có bảo đảm luôn đạt trên 99% từ năm 2018 tới 2024. Qua đó cho thấy ABBank – CN TPHCM rất đề cao tính an toàn trong tín dụng.

Cho vay tín chấp chiếm rất thấp (dao động hàng năm dưới 0.61%) chủ yếu chỉ cấp tín dụng cho nhân viên trong cùng hệ thống và một lượng ít các đối tượng ngoài ABBank có thu nhập ổn định, uy tín tín dụng tốt, hoặc thông qua các đơn vị/công ty có quan hệ thanh toán lương tại ABBank – CN TP HCM. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Như vậy ABBank – CN TPHCM khá cẩn trọng trong hoạt động kinh doanh vốn, nhưng khi quá thận trọng, quá an toàn sẽ làm mất đi tính cạnh tranh trong mảng bán lẻ khi mà ngoài các tổ chức tín dụng trong nước thì các ngân hàng nước ngoài như Citibank, Shinhanbank, Standardcharter … đang có nhiều sản phẩm tín chấp rất canh tranh. Do đó, đơn vị cần nới lỏng điều kiện cấp vốn với người lao động, công nhân viên chức hiện đang làm việc tại các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, công an, các đơn vị đổ lương tại ABBank,… để phát triển nhanh quy mô cho vay cá nhân, gia tăng nguồn thu của chi nhánh.

Tình hình lợi nhuận trước thuế tại ABBank – CN TPHCM

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu lợi nhuận trước thuế của ABBank – CN TPHCM

Năm 2018, lợi nhuận trước thuế của ABBank – CN TPHCM đạt 158 tỷ đồng tăng lên mức 193 tỷ đồng vào năm 2019 (tương ứng tăng trưởng 22.55%), đây là giai đoạn ghi nhận sự phát triển bức phá trong giai đoạn 2018 – 2024 với sự đóng góp phần to lớn của mảng khách hàng tổ chức kinh tế khoảng 52% và mảng khách hàng bán lẻ khoảng 45%.

Lợi nhuận hoạt động của chi nhánh tăng trưởng tốt trong suốt từ 2020 đến 2022, cụ thể lợi nhuận vào năm đầu của giai đoạn là 225 tỷ đồng, chênh lệch tăng trưởng hơn năm trước tới 31.6 tỷ đồng. Cuối năm 2021, đà tăng trưởng bắt đầu chậm lại khi mức lợi nhuận chỉ tăng 6.2 đơn vị và 2.73% so với 2020, nguyên nhân là sự sụt giảm mạnh thu nhập từ mảng doanh nghiệp, tuy nhiên đây cũng là năm ghi nhận sự đóng góp lợi nhuận của mảng cá nhân cao kỷ lục 55% trong tổng cơ cấu lợi nhuận và mảng dịch vụ khách hàng chiếm 11% chứng minh rằng những quyết tâm thay đổi chiến lược hoạt động của ABBank – CN TPHCM sang bán lẻ bước đầu ghi nhận những kết quả lạc quan, thể hiện qua: sự quan tâm đúng mức, thấu đáo, chỉnh chu, chăm chút kỹ càng cách thức phục vụ khách hàng kể cả nhân viên kho quỹ, bảo vệ nhằm đảm bảo trải nghiệm tốt nhất từ người dùng dịch vụ. Năm 2022, lợi nhuận trước thuế là là 252 tỷ đồng, tăng 20.7 tỷ nhờ vào sự khôi phục trở lại của mảng doanh nghiệp đem lại 108 tỷ thu nhập, sự sụt giảm nhẹ lợi nhuận của mảng cá nhân do ảnh hưởng của sự bùng phát trở lại dịch Covid 19 trong năm 2022. Năm 2023, lợi nhuận trước thuế tăng trưởng khá chậm khi chỉ đạt 259 tỷ đồng (tương đương tăng chỉ 7 tỷ đồng) và sụt giảm mạnh xuống còn 238 tỷ đồng vào cuối năm 2024; nguyên nhân là cuối năm 2023 và 2024 lợi nhuận mảng doanh nghiệp của chi nhánh sụt giảm mạnh hơn 20 tỷ đồng/mỗi năm do các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát mạnh vào 2023 dẫn đến nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện tiếp tục vay vốn; do đó mặc dù mảng cá nhân có tăng trưởng tuy nhiên mức tăng không đủ bù đắp sự giảm sút khá mạnh của mảng doanh nghiệp.

Lợi nhuận trước thuế của ABBank tăng trưởng ổn định hàng năm trong giai đoạn 2018 – 2023 và lần đầu ghi nhận giảm vào cuối năm 2024. Trong cơ cấu lợi nhuận hàng năm, mảng cá nhân đều đóng góp rất tích cực và tăng trưởng qua các năm cụ thể vào năm 2018 chỉ chiếm 37% cơ cấu lợi nhuận và cải thiện qua các năm, đạt sự phát triển tốt nhất vào năm 2024 khi chiếm đến 64% lợi nhuận trước thuế. Sự bức phá ngoạn mục trên cho thấy ABBank đang dịch chuyển dần từ bán buôn sang bán lẻ, phù hợp định hướng, quy hoạch chung của ngành ngân hàng.

2.2. Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Tp.HCM: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

2.2.1. Quy trình và thẩm quyền tín dụng tại ABBank:

  • Quy trình cấp tín dụng tại ABBank 
  • Sơ đồ quy trình cấp tín dụng:

Sơ đồ 2.2: Quy trình cấp tín dụng tại ABBank

Mô tả quy trình cấp tín dụng:

  • Bước 1: Tiếp cận khách hàng, lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
  • Bước 2: Thẩm định tín dụng.
  • 2.1 Thẩm định tín dụng
  • 2.2 Tái thẩm định tín dụng
  • Bước 3: Quyết định/Phê duyệt tín dụng
  • Bước 4: Thủ tục tín dụng và giải ngân.
  • Bước 5: Giám sát tín dụng và thu hồi nợ.
  • 5.1. Xử lý các nhu cầu tín dụng phát sinh
  • 5.2. Giám sát, thu nợ
  • Bước 6: Quản lý/xử lý nợ có vấn đề Và thanh lý tín dụng

Sơ đồ 2.3: Mô tả quy trình cấp tín dụng tại ABBank

2.2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – CN TPHCM:

2.2.2.1. Dư nợ tín dụng cá nhân:

Bảng 2.2: Dư nợ và tốc độ tăng trưởng tín dụng tại ABBank – CN TPHCM

Đơn vị tính: tỷ đồng; %

Năm 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Dư nợ tín dụng cá nhân cuối kỳ 740 1,068 2,108 2,285 1,888 2,080 2,524
Tốc độ tăng trưởng tín dụng 40.20 44.34 97.45 8.39 -17.37 10.17 21.35

(Nguồn: Báo cáo tài chính nội bộ ABBank – CN TPHCM) Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Quy mô cho vay cá nhân tại ABBank bức phá mạnh vào các năm 2018, 2019 và 2020, trong đó năm 2019 ghi nhận tăng 44.34% hơn năm trước, năm 2020 dư nợ tăng gần gấp đôi với cùng kỳ năm 2019 (97.45%). Cho vay cá nhân trong giai đoạn ghi nhận sự tăng trưởng tốt do ABBank đã triển khai tốt việc liên kết các dự án nhà ở mới có tiềm năng tốt, tiêu biểu là khu căn hộ The Art Quận 9 – Chủ đầu tư Công Ty Gia Hòa và phát triển khu biệt thự liền kề, nhà phố trong khu dân cư; ngoài ra chi nhánh đã đẩy mạnh khai thác thâm canh lại nền khách hàng hiện hữu có dự định vay bất động sản tăng tích lũy tài sản và đi kèm đó là phát triển bảo hiểm nhân thọ, tài khoản số đẹp, chuyển tiền du học, mở thẻ tín dụng tặng kèm cho các khách hàng đang vay vốn có lịch sử tín dụng tốt,…

Tốc độ mở rộng tín dụng của ABBank – CN TPHCM giai đoạn năm 2020 – 2022 chững lại so với trước đó, cụ thể năm 2021 dư nợ cá nhân cuối kỳ đạt 2,285 tỷ đồng chỉ tăng 8.39% so với năm liền trước. Đặc biệt cuối năm 2022 quy mô kinh doanh bị thu hẹp, khi dư nợ cuối kỳ ở mức 1,888 tỷ đồng tương ứng giảm 17.73% nguyên nhân là do ABBank bị chi phối mạnh mẽ của các đối thủ cạnh tranh và giai đoạn cuối năm 2021 và 2022 dịch Covid 19 bùng phát gây ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của phần lớn người dân, dẫn đến chi tiêu giảm, buôn bán thu hẹp do phải cách ly khoanh vùng dịch bệnh, giao thông, sản xuất trì trệ vì thế nên vay để chi tiêu, tích lũy tài sản giai đoạn này giảm mạnh.

Mặc dù năm 2023 là đỉnh dịch Covid 19 bùng phát mạnh bắt đầu từ khoảng tháng 5 đến gần cuối năm nhưng sau khi đất nước kết thúc giản cảnh cách xã hội cho đến hết năm 2024 là giai đoạn phục hồi và phát triển mạnh mẽ của toàn bộ nền kinh tế, điều đó thể hiện hết sức rõ ràng qua dư nợ cuối kỳ của năm 2023 và 2024 lần lượt là 2,080 tỷ đồng và 2,524 tỷ đồng.

Trên cơ sở điều kiện kinh doanh không được thuận lợi do sự so kè mạnh mẽ từ các đối thủ cùng ngành và rủi ro do thiên tai dịch bệnh đã chi phối không nhỏ đến mọi các ngành nghề kinh doanh và mọi tầng lớp dân cư do đó cần có sự tập trung có những kế hoạch dài hạn phát triển tín dụng, đặc biệt là tín dụng cá nhân. Để mở rộng tín dụng cá nhân thì Chi nhánh cần đẩy mạnh sử dụng các thế mạnh nội lực như:

Phát triển nhà dự án do nhu cầu nhà ở của đối tượng người lao động ở thành phố là rất lớn và ngoài ra cần mở rộng địa bàn cho vay sang các địa bàn lân cận như Long An, Bình Dương, Đồng Nai khi mà giá cả nhà ở cũng như quỹ đất ở khu vực TPHCM ngày càng ít đẩy giá cả lên cao nên khách có xu hướng chuyển sang mua nhà ở các địa bàn lân cận với chi phí và khoản cách di chuyển nằm trong mức có thể chấp nhận được;

Phát triển hoạt động liên kết các cửa hàng kinh doanh ô tô để phục vụ nhu cầu đi lại ngày một tăng của nhân dân, bằng cách xây dựng tốt các chính sách hoa hồng mô giới đánh mạnh vào thu nhập của lực lượng bán hàng liên kết với ngân hàng, từ đó lực lượng bán hàng sẽ hỗ trợ tích cực hơn cho chi nhánh để sàn lọc khách hàng có nhu cầu và nội lực tốt, có năng lực hoàn trả tốt.

Phát triển chính sách bán kèm các sản phẩm thẻ tín dụng cho các khách hàng hiện hữu có uy tín giao dịch tốt.

Xây dựng nền khách hàng mới nhờ vào sự hỗ trợ của các khách hàng hiện hữu.

2.2.2.2. Thị phần tín dụng cá nhân: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Biểu đồ 2.7: Thị phần tín dụng tổng thể và thị phần tín dụng cá nhân của ABBank –CN TPHCM

Thị phần tính dụng của ABBank giai đoạn 2018 – 2022 chiếm tỷ trọng khá nhỏ (dưới 1%) trong thị phần các ngân hàng trong nước cụ thể hoạt động cho vay đạt 0.88% vào năm 2018 và tăng lên 0.89% vào năm 2019 sau đó giảm dần về mức 0.8% vào năm 2021 và 2022.

Tương tự với xu hướng chung, quy mô tín dụng cá nhân của ABBank chỉ chiếm 0.86% toàn thị trường vào năm 2018 và tăng lên 0.88% năm 2019 và sau đó gặp phải sự cạnh mạnh mẽ của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng do đó đã giảm mạnh tỷ trọng xuống còn 0.79% vào năm 2021 và bức phá tăng trưởng vào năm 2022 tăng trưởng lên mức 0.82%.

Nhìn chung thị phần tín dụng của ABBank còn chưa đáp ứng đúng kỳ vọng, do chịu sự tác động mạnh mẽ của các ngân hàng khác và cả hình thức cho vay hiện đại như các công ty tài chính Fintech.

2.2.2.3. Tỷ lệ nợ xấu:

Bảng 2.3: Thực trạng nợ xấu KHCN tại ABBank – CN TPHCM

Đơn vị tính: tỷ đồng

Năm 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Dư nợ TD KHCN 740 1,068 2,108 2,285 1,888 2,080 2,524
Nợ xấu KHCN 3.77 6.58 14.97 17.59 16.61 47.22 19.43
Tỷ lệ Nợ xấu/Dư nợ TD KHCN 0.51% 0.62% 0.71% 0.77% 0.88% 2.27% 0.77%

(Nguồn: Báo cáo tài chính nội bộ ABBank – CN TPHCM)

Qua số liệu bảng thực trạng tỷ lệ nợ xấu KHCN tại ABBank – CN TPHCM giai đoạn 2018 – 2024 có thể thấy dư nợ xấu tăng liên tục qua các năm và chỉ giảm vào năm 2024. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Năm 2018, tỷ lệ nợ xấu rất thấp, chỉ 0.51%, thấp nhất trong khoảng từ năm 2018 đến 2024 và dư nợ tương ứng chỉ 3.77 tỷ đồng. Năm 2019 quy mô tăng mạnh lên 6.58 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu là 0.62%. Tương tự với năm 2019, năm 2020 dư nợ tín dụng tăng gần gấp đôi lên mức 2,108 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu dịch chuyển lên tới 0.71%, dư nợ tương ứng là 17.59 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2018 – 2020, tỷ lệ nợ xấu tăng liên tục qua từng năm, tuy nhiên song song đó mặt tích cực ta có thể nhìn thấy được là quy mô bán lẻ đạt mức tăng trưởng rất tốt, đặc biệt dư nợ cuối kỳ 2020 mở rộng gần gấp đôi so với năm 2019.

Năm 2021 và 2022, tỷ lệ nợ xấu tăng không đáng kể từ 0.71% năm 2020, lên 0.77% năm 2021 và tăng mạnh vào cuối 2022 lên 0.88% trong khi tín dụng cá nhân tăng trưởng chậm lại vào năm 2021 (tăng trưởng từ 2,108 tỷ đồng lên 2,285 tỷ đồng) và lần đầu tiên ghi nhận sự sụt giảm trong suốt giai đoạn từ 2018 – 2022 (quy mô tín dụng cá nhân năm 2022 giảm còn 1,888 tỷ đồng), chất lượng tín dụng sa sút đẩy tỷ lệ nợ xấu lên cực đại trong suốt 5 năm.

Trong năm 2023, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh lên mức 2.27% tương ứng dư nợ xấu lên đến hơn 47 tỷ đồng, nguồn gốc là do người dân bị ảnh hưởng do dịch bệnh, sản xuất trì trệ và thất nghiệp tăng. Tuy nhiên chi nhánh đã cố gắng theo dõi liên tục và hỗ trợ khách hàng kịp thời bằng các biện pháp giảm lãi suất, cơ cấu nợ tạo điều kiện cho khách hàng có thời gian để khôi phục thu nhập, tái vận hành sản xuất, do đó nợ có vấn đề tại ABBank qua các năm luôn nằm trong khuôn khổ kiểm soát của chi nhánh và sau các nổ lực không mệt mỏi những thành công đáng khích lệ vào cuối năm 2024 nợ xấu sụt giảm mạnh về mức 0.77%.

Tỷ lệ nợ xấu trong giai đoạn 2018 – 2024 luôn khá cao, giới hạn dưới 1% (từ 0.51% – 0.88%), chỉ trừ cá biệt năm 2023 do ảnh hưởng của dịch Covid – 19 dẫn đến dãn cách xã hội kéo dài trên phạm vi toàn quốc nên hoạt động kinh doanh trì trệ, thất nghiệp tăng mạnh kéo theo tỷ lệ nợ xấu tăng lên tới hơn 2% và tỷ lệ đã quay về mức 0.77% ngay trong năm 2024, qua đó cho thấy chất lượng khoản vay có xu hướng giảm và lợi nhuận kinh doanh của chi nhánh giảm tương ứng do phải trích lập dự phòng tăng.

Tuy nhiên đây cũng là rủi ro tất yếu, chi phí cơ hội phải đánh đổi để gia tăng quy mô cho vay, và điều cần thiết cần thực hiện là cần kiểm soát nó ở một mức hợp lý, thấp nhất, phù hợp với chiến lược hoạt động kinh doanh của ABBank – CN TPHCM, khuôn khổ pháp lý của ngân hàng nhà nước và quyết tâm xử lý dựt điểm những món vay có vấn đề không để tồn đọng, quan tâm tìm hiểu nguyên nhân xảy ra nợ quá hạn để rút kinh nghiệm và giảm thiểu rủi ro trong tương lai.

2.2.2.4. Lợi nhuận từ mảng tín dụng cá nhân:

Biểu đồ 2.8: Cơ cấu lợi nhuận tại ABBank – CN Tp.HCM giai đoạn 2018 – 2024

Cơ cấu lợi nhuận từ mảng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM có những chuyển biến tích cực đóng góp ngày càng lớn vào tổng hòa lợi ích toàn chi nhánh. Năm 2018 mảng KHCN đóng góp 37.3% trong cơ cấu lợi nhuận cuối năm của chi nhánh, tuy nhiên đóng góp của mảng cá nhân đã có sự tăng trưởng liên tục trong giai đoạn từ năm 2019 – 2021 lên mức 55.01% vào giai đoạn; qua đó cho thấy sự dịch chuyển chiến lược kinh doanh của chi nhánh sang tập trung bán lẻ bước đầu đã có những thành quả khả quan qua việc tăng trưởng tốt từ lợi nhuận, phí dịch vụ mảng cá nhân.

Đà tăng trưởng lợi nhuận KHCN bị đứt quảng vào năm 2022 khi dịch bệnh Covid bắt đầu bùng phát, ảnh hưởng đến đến phần lớn hoạt động học tập, sản xuất, đời sống, sinh hoạt của người dân kéo theo sản xuất và tiêu dùng trì trệ, tâm lý thắt lưng buộc bụng để qua giai đoạn dich bệnh, bên cạnh đó ABBank đã có nhưng động thái hỗ trợ khách hàng như cơ cấu nợ, giảm lãi suất vay đã kéo theo tỷ trọng lợi nhuận mảng cá nhân giảm xuống mức 46.67%. Tuy nhiên trong năm 2023 và 2024 mảng cá nhân đã chuyển biến tích cực với những đóng góp hết sức tích cực trong lợi nhuận tổng thể khi đóng góp đến 57% và 64%.

Bảng 2.4: Cơ cấu thu nhập ròng của khối cá nhân và lợi nhuận theo khối khách hàng tại ABBank – CN TPHCM giai đoạn 2018 – 2024 Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Đơn vị tính: Tỷ đồng; %

Năm   2018  2019 2020   2021   2022   2023   2024
LNTT theo khối KH
Doanh nghiệp 94.93 101.08 101.46 79.46 108.99 85.78 56.96
Cá nhân 58.85 87.59 116.50 127.11 117.47 149.59 153.24
KDV&TT 4.00 4.68 6.93 24.48 25.27 23.25 27.63
Tổng  157.77   193.35   224.90  231.05 251.73 258.62 237.829
TNR của khối  KHCN
Tín dụng 7.71 11.39 24.41 39.85 46.13  46.0  54.9
HĐV 42.77 60.64 68.86 76.91 59.83 85.48 77.63
TDVR 5.38 7.21 9.76 11.18 11.92 13.36 15.71
Thu khác (0.53) 0.07 2.13 5.23 4.81  5.04
Tổng 55.86 78.71 103.09 130.07 123.11  149.6   153.2 

(Nguồn: Báo cáo tài chính nội bộ ABBank – CN TPHCM)

Thu nhập từ mảng huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thu nhập của khối KHCN trong giai đoạn 2018 – 2024, thu nhập tăng liên tục từ năm 2018 đến 2021, cụ thể từ 42.77 tỷ đồng tăng lên 76.91 tỷ đồng và sụt giảm mạnh vào năm 2022 xuống chỉ còn 59.83 tỷ đồng nguyên nhân do dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát dẫn đến suy giảm nguồn thu nhập ổn định hàng tháng do đó KH phải sử dụng đến nguồn dự trữ tích lũy là tiền tiết kiệm để tiêu dùng, dự trữ hàng hóa nhu yếu phẩm, ngoài ra các cá nhân là chủ sở hữu các công ty còn giữ thói quen giữ tiền mặt để chi lương nhân viên, duy trì hoạt động sản xuất… Thu nhập từ huy động vốn phục hồi mạnh lên mức 77 tỷ vào cuối năm 2024, do sự phục mạnh mẽ của kinh tế TPHCM cũng như toàn quốc sau đại dịch. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Cơ cấu thu nhập của khối KHCN có sự chuyển dịch mạnh trong giai đoạn 2018 – 2024, tỷ trọng thu nhập từ huy động vốn giảm mạnh từ 76.57% năm 2018 tăng lên mức 77.04% năm 2019 và liên tục giảm xuống chỉ còn chiếm tỷ trọng 50.66% năm 2024, thay vào đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có sự tăng trường liên tục từ con số 13.8% năm 2018 đạt mức 35.8% vào năm 2024; tương ứng thu nhập từ tín dụng cá nhân từ 7.71 tỷ vào năm 2018 đã có sự bức phát mạnh tăng lên mức 54.9 tỷ đồng vào cuối năm 2024 ngày càng thu hẹp khoảng cách với thu nhập từ huy động.

Mặt khác kết quả kinh doanh dịch vụ cũng có sự phát triển tốt tuy không đột biến như hoạt động tín dụng, nhưng việc duy trì đà tăng trưởng (tăng từ 5,38 tỷ năm 2018 lên gấp đôi ở mức 15.71 tỷ đồng vào năm 2024) đã cho thấy ABBank đã không ngừng đa dạng hóa thu nhập tránh việc quá phụ thuộc vào một nguồn thu nhập chủ yếu dễ gây ra rủi ro tập trung trong kinh doanh, ngoài ra việc chuyển hướng kinh doanh dịch vụ có trọng tâm là dấu hiệu tích cực phù hợp với xu hướng phát triển của ngân hàng thế giới – tập trung phát triển dịch vụ phi tín dụng, tăng thu nhập từ dịch vụ tư vấn, bancassurance,…. Tuy nhiên mức tăng trưởng còn khá khiêm tốn, trong dài hạn ABBank – CN TPHCM cần khai thác tốt hơn tập khách hàng tiết kiệm và tín dụng hiện hữu khai thác thêm các sản phẩm chững chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm, kiều hối, thẻ đặc quyền, ….

2.2.2.5. Mức độ đa dạng hóa về sản phẩm tín dụng cá nhân

Bảng 2.5: Thống kê các sản phẩm tín dụng của các ngân hàng

Tên sản phẩm ABBank OCB HDBank ACB BIDV
1.Cho vay tín chấp
Vay món X X X X X
Thấu chi X X X X
Thẻ tín dụng X X X X X
2.Cho vay cầm cố STK
Vay món X X X X X
Thấu chi X X X X
3.Cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm
Vay món X X X X X
Thấu chi X X X X
4.Chứng minh tài chính X X
5.Cho vay sản xuất kinh doanh
Cho vay nông nghiệp X X X
Theo món X X X X X
Theo hạn mức X X X X X
6.Cho vay mua ô tô
Mục đích tiêu dùng X X X X X
Mục đích kinh doanh X X X X
7.Cho vay mua BĐS
Mua nhà, đất X X X X X
Sửa chửa nhà X X X X X
8.Cho vay du học X X

(Nguồn: Website của các ngân hàng năm 2024)

Đánh giá tổng thể thì những sản phẩm vay cá nhân mà ABBank đang chào bán khá tương đồng với các tổ chức khác. Cụ thể là sản phẩm vay tín chấp, vay tiêu dùng có TSBĐ, vay nhu cầu nhà ở, mua ô tô tiêu dùng tại ABBank đều có các sản phẩm tương tự như các ngân hàng khác; trong đó cá biệt có dịch vụ chứng minh tài chính vượt trội hơn các ngân hàng khác như ACB, OCB và HDBank. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Một số sản phẩm bị khiếm khuyết hơn các ngân hàng khác gồm có: cho vay mua ô tô phục vụ kinh doanh (xe tải), thấu chi đảm bảo bằng STK, cho vay sản xuất kinh doanh (mục đích nông nghiệp). Nguyên nhân:

Hiện tại vay mua xe kinh doanh tồn tại khá nhiều rủi ro khi chủ yếu loại hình ô tô này là ô tô tải, thường xuyên vận tải hàng hóa, di chuyển liên tục giữa các địa phương nên khó khăn hơn để quản lý tài sản tốt, tiềm ẩn nhiểu rủi ro hơn so với ô tô tiêu dùng sử dụng cho nhu cầu đi lại hàng lại;

Dịch vụ thấu chi đảm bảo bằng STK hiện tại ABBank chưa triển khai do sản phẩm này được nhận định là khá phức tạp để quản lý cách sử dụng vốn của khách hàng (ví dụ như tại BIDV hiện đang triển khai sản phẩm thấu chi cầm cố sổ tiết kiệm hạn mức lên tới 10 tỷ đồng) nhưng hiện tại sản phẩm này đang được khối khách hàng cá nhân cùng ban pháp chế, khối quản lý rủi ro,….soạn thảo và tiếp thu ý kiến xây dựng trước khi ban hành, nhằm tăng tính cạnh tranh cho ABBank;

Cho vay sản xuất kinh doanh (mục đích nông nghiệp) tại ABBank chưa được đầu tư do khu vực kinh doanh trọng điểm của ABBank là ở các thành thị, mặc dù chưa có dịch vụ chuyên trách cho nông nghiệp nhưng sản phẩm vay phục vụ sản xuất kinh doanh hiện tại đã đáp ứng được nhu cầu hiện tại của người dân, trong dài hạn ABBank sẽ khảo sát đánh giá nhu cầu, dư địa của thị trường để đề xuất nghiên cứu sản phẩm dành riêng cho nông nghiệp để phục vụ mở rộng cho bà con nông dân ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên.

Bảng 2.6: Tỷ trọng sản phẩm tín dụng tại ABBank- CN TP.HCM

Đơn vị tính: Tỷ đồng, %

Năm  2018  2019   2020   2021   2022
Giá trị  Tỷ trọng (%)  Giá trị  Tỷ trọng (%)  Giá trị  Tỷ trọng (%)  Giá trị  Tỷ trọng (%)  Giá trị  Tỷ trọng (%)
Cho vay tín chấp 1.66 0.22 2.06 0.19 1.54 0.07 0.55 0.02 0.18 0.01
Cho vay bảo đảm bằng GTCG, STK 294 39.76 186 17.38 485 22.99 981 42.94 633 33.52
Cho vay thấu chi có TSBĐ 49 6.68 91 8.51 314 14.88 366 16.04 343 18.18
Chứng minh tài chính 3 0.34
Thẻ tín dụng 4 0.33 3 0.15 3 0.14 3 0.14
Cho vay sản xuất kinh doanh 12 1.69 41 3.84 33 1.54 12 0.51 5 0.26
Cho vay tiêu dùng có TSBĐ 5 0.63 3 0.27 16 0.76 25 1.11 28 1.50
Cho vay mua ô tô 2 0.32 10 0.93 2 0.08 15 0.66 13 0.70
Cho vay mua nhà ở/BĐS 373 50.36 732 68.55 1,255 59.53 882 38.59 863 45.69
TỔNG 740 100% 1,068 100% 2,108 100% 2,285 100% 1,888 100%

Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Năm  2023  2024
 Giá trị  Tỷ trọng (%)  Giá trị  Tỷ trọng (%)
Cho vay tín chấp 4.30 0.21 2.47 0.10%
Cho vay bảo đảm bằng GTCG, STK 422.40 20.31 529.36 20.97%
Cho vay thấu chi có TSBĐ 453.70 21.81 706.8 28.00%
Chứng minh tài chính
Thẻ tín dụng 8.50 0.41% 13.03 0.52%
Cho vay sản xuất kinh doanh 26.10 1.25% 8.09 0.32%
Cho vay tiêu dùng có TSBĐ 70.10 3.37% 50.48 2.00%
Cho vay mua ô tô 2.80 0.13% 2.64 0.10%
Cho vay mua nhà ở/BĐS 1092.10 52.50% 1211.13 47.98%
TỔNG 2,080 100% 2,524 100%

(Nguồn: Báo cáo tài chính nội bộ ABBank – CN TPHCM) Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Tại ABBank CN TPHCM sản phẩm vay nhu cầu nhà ở tăng trưởng rất mạnh, cụ thể năm 2018 quy mô tín dụng mua nhà ở chiếm đến 50.36% danh mục cho vay và đạt đỉnh điểm vào năm 2019 khi chiếm đến hơn 68% hoạt động cho vay cá nhân. Tuy nhiên trong 2 năm tiếp theo tỷ trọng giảm mạnh lần lượt chỉ còn 59.53% và chỉ còn ở mức 38.59% (dư nợ theo thứ tự là 1,255 và 882 tỷ đồng) thấp nhất trong giai đoạn 2018 – 2022. Trong giai đoạn từ năm 2022 – 2024 đánh dấu sự hồi phục trở lại của tín dụng bất động sản ở khi hoạt động cho vay mua nhà đất/BĐS đóng góp 47.98%, trong danh mục, tương ứng dư nợ 1211.13 tỷ đồng vào cuối năm 2024 tăng mạnh so với mức 863 tỷ đồng vào năm 2023.

Sản phẩm cho vay bảo đảm bằng GTCG, STK với những lợi thế linh hoạt cho dòng vốn của khách hàng có lượng vốn nhàn rỗi lớn đang gửi tại ABBank với sản phẩm cầm cố theo món nên đã có đóng góp lớn trong cơ cấu cho vay của chi nhánh, chỉ xếp sau “cho vay mua nhà”. Năm 2019 cho vay cầm cố GTCG có tỷ trọng giảm mạnh hơn 50% so với năm 2019, giảm từ mức 39.76% xuống chỉ còn 17.38% – dư nợ theo sản phẩm giảm tương ứng từ 294 tỷ đồng xuống chỉ còn 186 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2019 – 2021 ghi nhận sự tăng trưởng liên tục tỷ trọng đóng góp của sản phẩm trong toàn bộ danh mục cho vay, tỷ trọng vào các năm 2020, 2021 lần lượt đạt 22.99% và 42.94%, năm 2021 cũng là năm ghi nhận doanh số sản phẩm cao nhất trọng giai đoạn 2018 – 2022 khi dư nợ sản phẩm đạt xấp xỉ gần 1000 tỷ đồng – cụ thể đạt 981 tỷ đồng. Năm 2022 do ảnh hưởng chung của dịch bệnh và tâm lý dè chừng của phần lớn dân cư sản phẩm cũng ghi nhận sự giảm sút mạnh xuống mức chỉ còn 33.52% trong toàn bộ danh mục, dư nợ cũng sụt giảm mạnh xuống chỉ còn 633 tỷ đồng. Lý giải cho sự phát triển trên là do sự phát triển mạnh nên khách hàng huy động vốn, đi kèm với đó là yêu cầu chi tiêu đột xuất của khách hàng và đặc tính của sản phẩm vay cầm cố là lãi suất phân hóa tùy theo hạng khách hàng, quy mô huy động vốn, giải ngân nhanh chóng nên đã hỗ trợ sản phẩm vay cầm cố phát triển mạnh trong giai đoạn 2018 – 2022. Tiếp theo, trong giai đoạn 2023 – 2024 tỷ lệ cho vay cầm cố sản phảm huy động vốn đã quay về mức quanh 20% tương ứng dư nợ chỉ khoảng 529 tỷ đồng vào cuối năm 2024.

Cho vay tiêu dùng thấu chi có tài sản bảo đảm có đà tăng trưởng khá ấn tượng, mỗi năm đều ghi nhận sự phát triển hơn năm trước, cụ thể năm 2024 dư nợ cho vay thấu chi đã tăng trưởng mạnh mẽ gần gấp 14 so với năm 2018 đạt hơn 700 tỷ đồng so với mức khá khiêm tốn chỉ 49 tỷ đồng. Tỷ trọng đóng góp của sản phẩm cũng tăng trưởng khá tốt từ mức chỉ 6.68% danh mục cho vay vào năm 2018 đã tăng trưởng đáng kể lên mức 28% năm 2024 (tăng hơn 4 lần so với năm 2018), dư nợ tương ứng cuối năm 2024 là 706.8 tỷ đồng. Sự tăng trưởng ấn tượng trên là nhờ vào những ưu việt nổi trội của sản phẩm vay thấu chi như: không phí trả nợ trước hạn, phục vụ khá tốt những nhu cầu ngắn hạn trong vòng 1 năm của khách hàng, hạn mức khá cao 1 tỷ đồng cho mỗi khách hàng,….

Danh mục cho vay của ABBank khá đa dạng nhưng thế mạnh của chi nhánh tập trung vào các sản phẩm thế mạnh sau: Cho vay mua nhà ở/BĐS, cầm cố STK; cho vay thấu chi có TSBĐ; cho vay tiêu dùng có TSBĐ; đối với dịch vụ vay thấu chi có tài sản bảo đảm chi nhánh cần giới hạn một tỷ lệ nhất định trong phân phối tỷ trọng cho vay, đối với khoản vay thấu chi tuy có thu nhập khá tốt nhưng rất khó khăn trong việc quản lý mục đích sử dụng vốn, rủi ro cao hơn so với hình thức cho vay theo món do hàng tháng chỉ phải trả lãi, gốc trả cuối kỳ. Trong khi đó cho vay tín chấp, chứng minh tài chính, cho vay mua ô tô; cho vay sản xuất kinh doanh, thẻ tín dụng vẫn chưa được quan tâm phát triển.

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

2.3.1 Kết quả đạt được:

  • Hoàn thành xuất sắc kế hoạch mở rộng kinh doanh và lợi nhuận KHCN hàng năm:

Căn cứ kết quả hoạt động hàng năm từ năm 2018 – 2024, ABBank – CN TPHCM đã hoàn thành các tiêu chí đặt ra về lợi nhuận và tăng trưởng quy mô, mặc dù có rất nhiều khó khăn trong trong năm 2021, đặc biệt là 2022 bởi , nhưng tập thể nhân viên mảng cá nhân cũng như ban giám đốc đã có những chỉ đạo điều hành kịp thời hỗ trợ người vay (giảm lãi suất, cơ cấu nợ phù hợp với tình hình thực tế và khó khăn của từng khách hàng; liên lạc, hỏi thăm và đông viên khách hàng), song song với đó phát triển nguồn thu mảng sản phẩm phi tín dụng, bảo hiểm bán chéo (Bảo hiểm FWD, bảo hiểm VNI: các gói bảo hiểm cháy nổ căn hộ, bảo hiểm vật chất ô tô, đặc biệt bảo hiểm khoản vay tín chấp lần đầu được triển khai tuy có những khó khăn nhưng bước đầu đã có những thành công nhất định làm tiền đề phát triển bảo hiểm khoản vay thế chấp có TSBĐ…).

Lợi nhuận mảng cá nhân có quá trình vươn mình phát triển rất tốt, tăng tỷ trọng đóng góp trong cơ cấu lợi nhuận của chi nhánh xấp xỉ 50% tổng lợi nhuận toàn chi nhánh vào năm 2022.

  • Hoạt động đào tạo chuyên viên quản lý khách hàng:

Hoạt động đào tạo được đơn vị chú trọng và chủ động tăng cường bổ sung kiến thức cho người lao động thông qua việc thường xuyên đăng ký tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ về: kỹ năng bán hàng, văn bản nghiệp vụ quy trình mới, sản phẩm mới thông qua các lịch đào tạo dự kiến hàng năm do hội sở gửi trước mỗi năm và chương trình phát sinh hàng quý do có những cập nhật sản phẩm kiến thức mới. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Bên cạnh đó tại tại mỗi phòng ban đều có những cuộc họp tổng kết hàng tuần, hàng tháng hoặc đột xuất để kịp thời tổng hợp tình hình kinh doanh, những thuận lợi khó khăn phát sinh trong quá trình kinh doanh, đồng thời cập nhật thường xuyên những vướng mắt về quy trình, thông tin thêm về những điểm mới cập nhật cho toàn thể nhân viên.

  • Hoạt động bán hàng, phát triển quy mô khách hàng:

Chi nhánh đã có hoạt động bán hàng tăng trưởng tốt liên tục qua các năm nhờ vào sự linh hoạt trong công tác bán hàng thông qua việc chấp nhận giảm bớt NIM lợi nhuận đối với những khách hàng lớn, chấp nhận áp dụng lãi suất sàn của hội sở khuyến nghị của các gói cho vay để phát triển tối đa quy mô khách hàng, dư nợ. Mặt khác, tại phòng cá nhân thường xuyên có những cuộc họp có sự chủ trì của ban lãnh đạo quản lý mảng cá nhân với các phòng nghiệp vụ liên quan (quầy giao dịch, phòng hỗ trợ tín dụng, kho quỹ) để kịp thời giải quyết những tồn đọng trong vận hành, nghiệp vụ, từ đó thu hẹp dần thời gian giải quyết các giao dịch, hồ sơ cho khách hàng.  

Mặt khác, ABBank – CN TPHCM còn tăng cường chào bán các dịch vụ như: bảo hiểm, tài khoản chọn số, thẻ tín dụng … cho tập khách hàng hiện hữu và phát triển nền khách hàng thông qua mối quan hệ trên, công ty đổ lương, người lao động thuộc các đơn vị đang có giao dịch với ABBank.

Thông qua các nổ lực trên đơn vị đã có thành quả kinh doanh bán lẻ đáng khích lệ, phát triển tốt qua các năm và chỉ chững lại vào năm 2022 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19.

Hoạt động marketing, mở rộng mạng lưới và nhận diện thương hiệu: hiện tại chi nhánh có 7 phòng giao dịch tập trung chủ yếu ở Quận 1, tiếp đến là Tân Bình, Quận 3, Quận 10, Quận 2 tương đối có độ bao phủ khá tốt. Trong năm 2022 chi nhánh đã tiến hành thay thế biển hiệu, đặt thêm bảng quảng cáo trong quầy giao dịch, tăng cường quảng cáo qua Facebook bằng cách hưởng ứng chương trình sáng tác ảnh về nhận diện thương hiệu mới do Hội sở Chính tổ chức, thực hiện các chiến dịch ra quân tăng nền khách hàng số, mở ứng dụng ABBank Ditizen, tặng quà có in logo ABBank cho khách hàng đăng ký thông tin thành công… Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

  • Hoạt động nâng cao chất lượng dịch vụ:

Chi nhánh thường xuyên đo lường sự hài lòng của khách hàng định kỳ và đột xuất thông qua hoạt động gửi phiếu đánh giá cho khách hàng và gọi điện trực tiếp tới khách hàng.

Chi nhánh và hội sở thường xuyên có những lượt kiểm tra đột xuất thông qua khách hàng bí mật gọi điện thoại tư vấn vay vốn, hoặc thực hiện trải nghiệm trực tiếp tại chi nhánh để chấm điểm dịch vụ tại quầy, dịch vụ vay vốn cá nhân để có những phương hướng khắc phục kịp thời, hiệu chỉnh thái độ phục vụ, bồi dưỡng thêm nghiệp vụ nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

Mặt khác, Hội sở đang tiến hành giám sát đột xuất tình hình giao dịch tại quầy qua hệ thống camera quan sát và nhắc nhở ngay khi chi nhánh để phát sinh tình trạng để khách hàng phàn nàn, ùn tắc tại quầy, khách hàng phải chờ đợi lâu….

Hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng của chi nhánh được kiểm soát tốt trong giai đoạn 2018 – 2022, cụ thể tỷ lệ nợ xấu luôn ở mức dưới 0.9%. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu tăng qua các năm nhưng quy mô cho vay bán lẻ năm 2022 đã mở rộng 2.5 lần so với năm 2018, qua đó cho thấy nợ xấu là rủi ro nội tại luôn tiềm ẩn và luôn song hành trong quá trình mở rộng cho vay. Tuy nhiên việc kiềm chế chỉ số này thành công ở những năm 2021 và 2022 không để phát sinh vượt giới hạn đề ra là một quá trình phấn đấu liên tục và miệt mài của toàn thể cán bộ ABBank – CN TPHCM do đây là thời điểm bùng phát dịch bệnh gây ra tác động cực đoan đến toàn bộ các lĩnh vực đời sống nhân dân. Trong tương lai, chi nhánh đã định hướng chú trọng xử lý dứt điểm nợ xấu của những khoản vay mất khả năng chi trả; hỗ trợ giảm lãi suất, cơ cấu nợ và điều chỉnh lịch trả nợ đối với những khách hàng có thiện chí, có khả năng tiếp tục trả nợ, qua đó kéo giảm dần tỷ lệ nợ có vấn đề. Ngoài ra ở những khoản vay mới, ABBank – CN TPHCM kiên trì với chiến lược mở rộng quy mô cho vay an toàn và thận trọng thông qua những chính sách khuyến khích hàng quý bằng tiền mặt đối với những nhân viên đạt thành tích tốt và kiềm chế nợ xấu, chi động viên kịp thời đối với các vị trí tái thẩm định tín dụng có năng suất lao động tốt….

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

2.3.2.1 Những hạn chế:

  • Quy mô tín dụng:

Quy mô cho vay có đà phát triển tốt, tuy nhiên đã chững lại và giảm vào năm 2022, quá trình mở rộng tín dụng chưa tỷ lệ thuận với năng lực huy động vốn hiện có. Hiện nay địa bàn TPHCM tập trung tất cả các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước nên áp lực canh tranh là rất lớn, do đó mặc dù bị tác động của yếu tố khách quan là dịch bệnh nhưng chi nhánh cần có định hướng và những chương trình cho vay ưu việt, cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng.

Chi nhánh chỉ chú trọng vào dư nợ tín dụng có bảo đảm, trong khi đó hiện nay các đơn vị đổ lương qua chi nhánh và nhân viên làm việc tại các công ty đối tác đang vay vốn tại ABBank chưa được chú trọng đầu tư. Nhu cầu vay tín chấp (vay món, cấp hạn mức thấu chi và thẻ tín dụng) là mảnh đất màu mở, dư địa khai thác vô cùng lớn và đem lại nguồn thu tốt cho tín dụng, qua đó đây chính là cầu nối để giúp tín dụng cá nhân và các dịch vụ đi kèm khác cùng tiến lên.

Thị phần tín dụng của ABBank nói chung, cũng như thị phần bán lẻ còn khá khiêm tốn (chiếm dưới 1% tổng nhu cầu của toàn địa bàn TPHCM).

  • Quy trình thủ tục cho vay:

 Quy trình cho vay hiện tại đang phụ thuộc nhiều bộ phận: khâu định giá được thực hiện độc lập ở một phòng tại Hội sở phía Nam, lực lượng khá mỏng do đó áp lực công việc rất lớn do đó hiệu xuất giải quyết hồ sơ khá chậm; tờ trình đề xuất hồ sơ được duyệt tại phòng cá nhân sẽ qua bộ phận tái thẩm định tại chi nhánh: có khoảng 03 cán bộ vận hành hoạt động phân tích tín dụng cho cả đơn vị gồm các phòng giao dịch, phòng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nên việc xử lý hồ sơ còn chậm;….

 Ngoài ra, quá trình vận hành từ khâu định giá đến giải ngân còn tốn nhiều thời gian, do qua quá nhiều khâu và bộ phận vận hành. Do đó, hội sở cũng như chi nhánh cần nghiên cứu lại quy trình tín dụng hiện tại và kịp thời đề xuất với các bộ phận trong chi nhánh có thể vận hành đồng thời, hỗ trợ để giảm bớt thời gian xử lý, mặt khác cần kiến nghị với hội sở những bước không hợp lý, hoặc có thể chuyển xử lý vào cuối ngày để tăng tốc độ xử lý hồ sơ.

  • Chính sách và lãi suất cho vay: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Cơ cấu cấp tín dụng chủ yếu tập trung phần lớn (trên 50%) vào cho vay ngắn hạn chủ yếu là: tiêu dùng có TSBĐ, thấu chi có TSBĐ, cầm cố sổ tiết kiệm, vay mua bất động sản. Song song đó các sản phẩm kỳ hạn dài như: tài trợ mua ô tô, vay du học, du lịch, thẻ tín dụng tín chấp cho các đơn vị liên doanh liên kết, đổ lương,… chưa được quan tâm tập trung phát triển.

Bên cạnh đó, ABBank nói chung chưa xây dựng được biểu lãi suất theo điểm tín dụng của khách vay, những đối tượng có uy tín tốt sẽ có biên độ cộng lãi vay thấp những cá nhân có xếp hạng thấp hơn. Dẫn tới lãi suất còn khá cao, mang tính phổ biến cho tất cả khách hàng vay, không có tính phân hóa tạo động lực khuyến khích cho đối tượng có quá trình giao dịch tốt. Do đó đơn vị chưa có những công cụ, cơ chế tiếp cận và tăng cường mở rộng nền khách hàng tốt hơn.

  • Nhân lực và chất lượng dịch vụ tín dụng:

Lực lượng bán hàng cá nhân tại chi nhánh nhìn chung có năng lực còn khá hạn chế, chưa có nhiều cơ hội cọ sát thực tiễn khi vận hành xử lý hồ sơ.

Việc chăm sóc khách hàng vay vốn nói riêng còn chưa được chú tâm, chủ yếu chỉ tương tác khi có nhu cầu phát sinh: như sao y, hoàn công, giảm lãi suất,… Các chuyên viên tín dụng chưa chủ động liên hệ chăm sóc, trò chuyện, quan tâm để từ đó khai thác thêm nhu cầu phát sinh của khách hàng.

Các cán bộ khách hàng cá nhân đa phần chưa phân bổ thời gian trong công việc tốt, thường bị cuốn vào các nghiệp vụ phát sinh cho các hồ sơ cũ, nên chưa chú trọng chăm sóc khách hàng, khai thác đi sâu vào tìm hiểu mong muốn của người vay, do đó hoạt động bán hàng đạt như kỳ vọng.

  • Chất lượng tín dụng:

Tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh tăng đều qua các năm, mặc dù đi đôi với quá trình phát triển tín dụng thì việc phát sinh nợ xấu là tất yếu, hiển nhiên, tuy nhiên ban lãnh đạo đơn vị cần nghiên cứu và đề ra ngưỡng tỷ lệ tối đa có thể chấp nhận trong tín dụng.

Song song đó ABBank – CN TPHCM cần xem xét rà soát lại quy trình phê duyệt hồ sơ, kiểm tra chứng từ khách hàng cung cấp và rủi ro đối với việc cho vay ngoài địa bàn (các tỉnh lân cận) gây ra không ít vướng mắc cho việc quản lý nguồn thu nhập và tài sản thế chấp của khách hàng. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

  • Hoạt động quảng cáo, Marketing:

Các hoạt động quảng cáo trên trang wed của ABBank còn mang tính chung chung nhiều chưa thực sự cung cấp hết những thông tin trọng tâm cho mọi người tham khảo các ràng buộc áp dụng cho từng món vay, lãi suất vay.

Việc mở ứng dụng cho người dân hiện nay chủ yếu chỉ tập trung vào số lượng do phần lớn người dân hiện nay còn mang tâm lý sử dụng tiền mặt khá lớn, mặt khác chỉ sử dụng để thanh toán nợ vay, hoặc chỉ mở để nhận quà do đó hiệu quả thực tế sau các chiến dịch quảng cáo chưa cao.

2.3.2.2 Nguyên nhân:

2.3.2.2.1 Nguyên nhân từ bên ngoài chi nhánh:

  • Môi trường pháp lý:

Hiện nay quá trình cấp tín dụng thường chịu sự điều tiết: Luật các tổ chức tín dụng Năm 2012, chủ yếu ở những khía cạnh: các điều khoản hạn chế cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng, những trường hợp không được cấp tín dụng, …. Thông tư 39/2018/TTNHNN Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, cho vay theo hình thức thấu chi chiếm tỷ lệ khá cao trong danh mục cấp tín dụng tại đơn vị, hiện đang phát sinh nhiều bất cập khi kỳ hạn hoàn trả tối đa là 1 năm, nguồn vốn của khách hàng chưa sẵn sàng hoàn trả (có thể do tác động của chu kỳ kinh doanh không thuận lợi, dịch bệnh, mùa vụ cây trồng, nguồn tiền của khách hàng đang đầu tư phát triển sản xuất) để tái tục kỳ hạn mới, mặt khác để được duy trì kỳ hạn mới, khách hàng cần cung cấp lại nguồn thu nhập để đánh giá lại năng lực hoàn trả phục vụ cho việc tái cấp hạn mức. Do đó bên cạnh việc hưởng lợi từ việc chỉ trả lãi hàng tháng nhưng khách hàng cần tính toán rõ nguồn hoàn trả khi đến hạn. Khi vay vốn thì khách hàng cần đáp ứng đầy đủ chứng từ hóa đơn thể hiện mục đích sử dụng vốn, điều này khá thuận lợi cho những người đi vay tại địa bàn trung tâm và khó khăn hơn cho người dân ở vùng ven của TPHCM khi mà những giao dịch chủ yếu được thanh toán bằng tiền mặt.

Việc điều hành chính sách tiền tệ và tài chính của chính phủ cũng gây ra nhiều áp lực cho ngân hàng, khi phải điều chỉnh kịp thời lãi suất cho phù hợp (giá cả mua bán vốn hợp lý đảng bảo tính cạnh tranh), dẫn đến các đơn vị kinh doanh phải tiến hành thương lượng lại với khách hàng gây ra tâm lý khá khó chịu ở người đi vay khi phải thay đổi phương án tính toán lại phương án vay, dự toán chi phí. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Thông tư 08 của Ngân hàng Nhà nước năm 2022; quy định Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn theo lộ trình: từ thời điểm 01/10/2024 tới 30/9/2025: 34%, đã tác động mạnh đến kế hoạch phát triển kinh doanh và chính sách điều chỉnh tỷ tăng quy mô tín dụng lõi, nguyên nhân là phần lớn khách hàng hiện đang vay để chuyển nhượng bất động sản/kinh doanh bất động sản.

Căn cứ Luật cư trú ban hành ngày 13/01/2022, có hiệu lực từ ngày 01/07/2023, thì sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy sẽ hết hiệu lực từ 01/01/2025 vì thế những quy định thủ tục khi thực hiện thẩm định cần được điều chỉnh hợp lý phù hợp với thực tiễn, các chuyên viên quan hệ khách hàng và các bộ phận thẩm định, phê duyệt khá lúng túng khi thực hiện thẩm định hồ sơ. Mặt khác người vay phải thực hiện xác nhận thông tin về cư trú để tiến hành vay vốn và giấy xác nhận chỉ có giá trị 30 ngày kể từ ngày cấp và người dân phải chủ động sắp xếp công việc hoàn thiện trước để tiết kiệm thời gian.

  • Môi trường xã hội:

Tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhân dân rất am hiểu thị trường kinh tế tài chính, nên có rất nhiều sự lựa chọn thay thế, người dân dễ dàng tiếp cận các thông tin về các ngân hàng, chính sách vay, dịch vụ. Nên gây khó khăn rất nhiều cho đội ngũ bán hàng của chi nhánh, vì chỉ cần những sơ xuất lơ là, không nắm vững sản phẩm, không tiết chế được cảm xúc và thấu hiểu khách hàng thì rất dễ dẫn đến mất khách hàng, điều này có thể dẫn tới sự quay lưng của nhiều khách hàng nếu xử lý không tốt.

Mặt khác, sự hiểu biết của khách hàng về dịch vụ ngân hàng là rất lớn và có thể hiểu rất cặn kẽ về quy định và hồ sơ nên đã phát những trường hợp lợi dụng những kẻ hở trong quy trình thủ tục, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng để, thông đồng với cán bộ để làm giả hồ sơ, nguồn thu nhập, tài sản để chiếm đoạt nguồn vốn, tài sản của ngân hàng.

Đối thủ cạnh tranh: Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, là một trung tâm công nghiệp, sản xuất, thương mại dịch vụ,…quy mô đi đầu toàn quốc, vì thế đây là nơi tập trung tất cả các tổ chức tín dụng trong nước và rất nhiều các tổ chức nước ngoài, nên bên cạnh nền khách hàng, nhu cầu rất lớn và còn rất nhiều dư địa phát triển thì áp lực cạnh tranh từ các đối thủ là rất lớn. Ngoài chịu áp lực cạnh tranh về giá cả, thời gian giải quyết công việc … từ những tổ chức lớn trong nước thì trong thời gian gần đây những ngân hàng quốc tế như: CitiBank, ShinhanBank, Standard Charter….cũng gia nhập thị trường vô cùng mạnh mẽ đầu tiên là ở mảng cho vay không có tài sản, mở thẻ tín dụng, hiện nay đã lấn sân sang cho vay mua nhà đất, mua ô tô … với lãi suất vô cùng cạnh tranh.

2.3.2.2.2 Nguyên nhân từ bên trong chi nhánh:

  • Hoạt động phát triển khách hàng:

Hiện nay công tác mở rộng quy mô cho vay tại Abbank – CN TPHCM chưa được chú tâm phát triển, khi đa số việc phát triển dư nợ là khai thác nền dữ liệu hiện có, người đi vay mới được giới thiệu thông qua các khách hàng đang có quan hệ giao dịch và một phần hiện tại là phát triển thông qua các mô giới ở các sàn bán các dự án liên kết.

Các nguồn khách hàng từ cách showroom ô tô, các mô giới bất động sản nhà phố, nguồn nhân viên tại các công ty đổ lương… chưa được khai thác, tận dụng tốt.

  • Quy trình thủ tục cho vay: Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Việc xét duyệt hồ sơ hiện nay còn khá phức tạp và qua nhiều giai đoạn: hoạt động định giá mất nhiều thời gian do hiện tại lực lượng định giá tài sản tại khu vực hồ chí minh hoàn toàn phụ thuộc vào phòng định giá ở hội sở; hoạt động phê duyệt của tất cả khoản vay sau khi cán bộ đề xuất đều phải thực hiện tái thẩm định và phê duyệt tập trung ở hội sở; việc đăng ký thế chấp tài sản hiện nay các cán bộ tín dụng không thể trực tiếp xử lý công việc và phải do nhân viên phòng hỗ trợ tín dụng là đầu mối giải quyết dẫn đến việc dồn hồ sơ, tốc độ xử lý chậm,….

Khi vận hành hệ thống quản lý khoản vay LOS giai đoạn đầu còn gặp nhiều khó khăn do chưa làm quen được hệ thống (chỉ cần quá trình nhập liệu ban đầu sai sót hoặc thiếu các thông tin cần thiết thì mặc dù luồng hồ sơ đã đến bước giải ngân nhưng vẫn buộc phải hủy và đi lại luồng hồ sơ từ đầu), cách thức vận hành, các bộ phận hỗ trợ xử lý những vướng mắt khó khăn phát sinh chưa tốt, còn có sự đùn đẩy trách nhiệm, hệ thống thường xuyên gặp lỗi chưa ổn định… tạo ra nhiều bất cập, vướng mắt cho đơn vị khi mở rộng hoạt động.

  • Chính sách và lãi suất cho vay:

Các sản phẩm cho vay hiện tại nếu xét lượng thì đã có sự tương đồng với các tổ chức tín dụng khác nhưng về điều kiện áp dụng, sự nổi trội, đối tượng vay vốn, quy mô khoản vay, …. thì cần được cải tiến để nâng sức cạnh tranh. Hiện nay ABBank chưa có sản phẩm cầm cố STK thấu chi, mà chỉ có cầm cố STK theo món gây ra sự bất tiện đối với các trường hợp có nhu cầu dòng tiền thường xuyên, giảm tính cạnh tranh trong việc phát triển nền tiền gửi so với các tổ chức khác.

Lãi suất bán vốn hiện nay còn đại trà chưa phân tầng giữa các khách hàng có uy tín và lịch sử trả nợ tốt, những khách hàng phổ thông, mới bắt đầu thiết lập quan hệ tại ABBank. Lãi suất khoản vay thấu chi cần được xây dựng cạnh tranh hơn do hiện tại lãi suất cho vay thấu chi và lãi suất cho vay món trung dài hạn không tham gia chương trình ưu đãi là như nhau.

  • Nhân lực và Chất lượng dịch vụ tín dụng:

Nguồn nhân lực hoạt động tín dụng cá nhân của chi nhánh hiện nay khá trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển các mối quan hệ mới, chăm sóc và duy trì mối quan hệ này chưa tốt nên dẫn tới vẫn còn tình trạng phàn nàn với lãnh đạo phòng, chi nhánh, tổng đài của ngân hàng Callcenter.

Quá trình phân tích, phê duyệt cho vay còn phát sinh nhiều lỗi vận hành như: sai sót nhiều trong việc soạn thảo hồ sơ, chưa xử lý nhuần nhuyễn những tình huống phát sinh bất ngờ, phức tạp, khả năng tương tác với các bộ phận nghiệp vụ khác trong quá trình xử lý hồ sơ còn chưa cao,…do đó dẫn tới tốc độ xử lý hồ sơ chậm, kéo dài, giảm hiệu suất xử lý công việc.

  • Hoạt động quảng cáo, Marketing:

Các thông tin quảng cáo hiện nay chưa cập nhật kịp thời các chương trình hiện tại, một số chương trình đã hết hạn tuy nhiên vẫn còn chạy trên trang wed của ngân hàng, các chương trình ưu đãi vay vốn chưa có hỗ trợ hiện có các đầu mối tiếp nhận hỗ trợ tư vấn dựa trên địa bàn khách hàng đăng ký, các thông tin về lãi suất chưa cụ thể sau thời gian ưu đãi, chưa thể hiện được phí trả nợ trước hạn,… Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

Hoạt động mở rộng doanh số giao dịch qua ứng dụng chuyển tiền ABBank Ditizen bước đầu thể hiện những kết quả tích cực khi tăng nền khách hàng số, tăng nhận diện thương hiệu. Tuy nhiên phần lớn các khách hàng chỉ mở ứng dụng và nhận quà, không có phát sinh giao dịch thực tế sau đó, dẫn đến hiệu quả không cao, mang tính chất thời điểm. Ngoài ra, hiện nay tỷ lệ khách hàng cá nhân khi vay vốn vẫn chưa sử dụng các dịch vụ của ngân hàng như: ứng dụng chuyển tiền trên điện thoại ABBank Ditizen, thẻ ghi nợ nội địa, thẻ tín dụng, SMS báo nợ hàng tháng….

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Ở chương 2, tác giả đã khái quát hóa lịch sử hình thành và đi lên của ABBank và Chi nhánh TPHCM, khái quát những thành tựu đạt được từ năm 2018 đến 2024. Luận văn đi sâu vào các khía cạnh để làm rõ thực trạng phát triển tín dụng, những điểm nổi trội cần phát huy và những yếu kém, mặt chưa tốt cần được điều chỉnh, sửa chữa. Ngoài ra tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế các nhân viên ngân hàng chủ yếu ở mảng cá nhân để làm rõ những tác nhân đang ảnh hưởng đến hoạt động phát triển tín dụng cá nhân, lượng hóa lực tác động của từng nhân tố và kết hợp với thực tế tại ABBank – Chi nhánh TPHCM tác giả sẽ đưa ra những giải pháp sát với thực tế, ưu việt tương thích với đơn vị. Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển tín dụng khách hàng tại ABBank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537