Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bước đầu trong quá trình kiểm nghiệm hiệu quả của hành vi đám đông là xem xét sự tồn tại và đo lường mức độ của nó trên toàn bộ thị trường. Bảng 4 là kết quả thực nghiệm có được bằng phương pháp hồi quy OLS theo mô hình (2). Dữ liệu mẫu sử dụng là số liệu toàn bộ thị trường. Kết quả ước lượng trên toàn bộ mẫu dựa trên mô hình chỉ ra rằng hệ số β2 = -0.338 là tương quan âm với mức ý nghĩa thống kê là 1%. Điều này cho thấy hành vi đám đông có tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Bảng 4: Kết quả thực nghiệm hành vi đám đông trên toàn bộ mẫu
Số liệu bảng này là báo cáo các kết quả hồi quy của phương trình (2) cho toàn bộ mẫu thị trường. Số trong dấu ngoặc đơn là thống kê t. R2 là R2 điều chỉnh.
- *** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
- ** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
- * Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
Theo lý thuyết về tài chính hành vi đã được đề cập, khi nhà đầu tư phải đối mặt với các tình huống ra quyết định phức tạp đòi hỏi thời gian và công sức để phân tích, họ gặp khó khăn trong việc đưa ra lựa chọn phù hợp trong vô số trường hợp có thể xảy ra của một vấn đề. Đối mặt với sự không chắc chắn và lượng thông tin dồi dào để xử lý, nhà đầu tư có thể chọn con đường ngắn hơn là hành động theo cảm xúc và kinh nghiệm của bản thân để ra quyết định. Thực hiện theo đám đông là hành động phổ biến của nhà đầu tư trên thị trường. Điều này đúng với kết quả thực nghiệm là tồn tại hành vi đám đông trên thị trường. Một nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, hạn chế về kiến thức hoặc thiếu thông tin thì đứng trong đám đông, hành động theo người khác khiến họ cảm thấy an toàn hơn. Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Ngoài ra, thiên vị về sự hối tiếc là một dạng sai lệch hành vi về mặt cảm xúc và cũng là khởi nguồn của hành vi đám đông có thể giải thích được cho hiện tượng này. Khi dòng tiền từ đám đông liên tục đổ vào thị trường khi giá tăng cao, nhà đầu tư sẽ cảm thấy hối tiếc khi đứng ngoài thị trường. Tâm lý ngại hối tiếc do bỏ qua cơ hội đầu tư sẽ khiến cho họ thực hiện quyết định giải ngân, hành động theo đám đông trên thị trường. Tương tự ở chiều ngược lại khi thị trường giảm điểm do bị bán tháo, cảm giác hối tiếc cũng sẽ khiến cho nhà đầu tư thực hiện lệnh bán theo thị trường. Lo ngại hối tiếc là tâm lý chung của mọi người, khiến cho họ khó thể tách biệt khỏi đám đông.
Kiểm định độ phù hợp mô hình
- + Đặt giả thiết H0 : R2 = 0; H5 : R2 ≠ 0
- + Với mức ý nghĩa 1%, ta có α = 0.01
- + Khi đó C = Fα(k – 1; n – k) = F0.01(3 – 1; 3495 – 3) = 4.61
- + 𝐹 = = = 391.09
- F > C nên bác bỏ giả thiết H0. Mô hình hoàn toàn phù hợp với thực tế.
4.2. Hành vi đám đông khi thị trường đang lên và đang xuống
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, yếu tố nhà đầu tư có tác động lớn đến nguyên nhân gây ra hiệu ứng đám đông. Theo số liệu công bố của trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam ngày 31/12/2021, số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán là 4,310,211 tài khoản trong đó bao gồm 4,293,099 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư cá nhân, chiếm hơn 95% số lượng nhà đầu tư trên thị trường. Mức tăng trưởng tài khoản mở mới tỷ lệ thuận với độ tăng giảm của chỉ số thị trường theo thời gian. Đa phần những nhà đầu tư này thuộc nhóm đầu cơ là tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn dựa trên chênh lệch lãi vốn của cổ phiếu. Trong giai đoạn thị trường tăng điểm, nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội đầu tư và tích cực tham gia thị trường, dòng tiền theo đám đông liên tục đổ vào thị trường khiến giá chứng khoán tăng cao. Ở chiều ngược lại, khi thị trường đang trong xu hướng giảm, nhà đầu tư lại lựa chọn các kênh đầu tư thay thế khác khiến cho dòng tiền rút khỏi thị trường chứng khoán, khối lượng giao dịch giảm cho thấy hành vi đám đông của nhà đầu tư trong giai đoạn này cũng giảm theo.
Biểu đồ 1 cho thấy mối quan hệ giữa % tăng trưởng số tài khoản giao dịch so với chỉ số VN-index theo quý. Giai đoạn từ tháng 3/2016 đến tháng 3/2018, chỉ số VN-index tăng từ 579 điểm lên 1174 điểm kéo theo số tài khoản mở mới tăng trưởng theo từ 1.78% lên đến 4.71%. Trong khi đó, khi thị trường trong xu hướng giảm cũng chứng kiến sự sụt giảm mạnh của số tài khoản mở mới, từ 4.71% vào tháng 3/2018 xuống còn 2.55% vào tháng 3/2020, giai đoạn này chứng kiến sự giảm mạnh của VNindex, từ mức 1174 điểm xuống còn 662 điểm. Khi thị trường trong giai đoạn tăng điểm mạnh có lúc đạt 1498 điểm vào cuối năm 2021, tăng trưởng số lượng tài khoản mở mới cũng đạt mức rất cao, đạt mức 15.5%. Điều đó cho thấy, khi thị trường trong xu hướng tăng sẽ hấp dẫn và thu hút nhiều nhà đầu tư hơn khi giảm điểm, từ đó kéo theo hành vi đám đông trong giai đoạn tăng điểm sẽ cao hơn trong giai đoạn giảm. Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Bảng 5 trình bày kết quả hồi quy dựa trên mô hình (3) và (4) cho mẫu dưới các điều kiện thị trường khác nhau là khi thị trường tăng điểm và giảm điểm. Trong điều kiện thị trường đi lên, hệ số β2 đo được là -0.396 tương quan nghịch chiều với CSAD và trong mức ý nghĩa thống kê 1%. Tương tự trong nhóm thị trường đang xuống, hệ số β2 đo được cũng rất cao là -0.307 tương quan nghịch chiều với CSAD và trong mức ý nghĩa thống kê 1%. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng trong bất kỳ điều kiện thị trường nào thì cũng tồn tại hành vi đám đông và độ mạnh cũng tương đối cao. Đặc biệt, hành vi đám đông thể hiện mạnh mẽ hơn khi thị trường đang lên so với thị trường đang xuống (|-0.396| > |-0.307 |) . Phát hiện này cho thấy nhà đầu tư có xu hướng hành động theo đám đông sôi nổi hơn khi thị trường đang lên. Kết quả này trái ngược với các nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Trung Quốc (Chang và công sự (2000); Yao và cộng sự (2014); Pu và Jun (2017)) khi đưa bằng chứng cho thấy rằng hành vi đám đông thể hiện mạnh tại nhóm mẫu thị trường đang đi xuống hơn là đi lên. Trong khi đó, nghiên cứu trước đây tại thị trường Việt Nam của Võ và Phan (2016) chỉ ra rằng, hành vi đám đông trong giai đoạn khủng hoảng thể hiện mạnh hơn so với sau khủng hoảng.
Thực tế giao dịch trên thị trường chỉ ra rằng, nhà đầu tư dễ bị cuốn theo hành vi của đám đông khi thị trường hưng phấn trong sắc xanh và tím hơn là chìm trong sắc đỏ. Đa số phiên giao dịch lập kỷ lục về khối lượng hoặc số tài khoản mở mới đều trong giai đoạn tăng điểm của thị trường. Ở chiều ngược lại, sự ảm đạm và sụt giảm từ khối lượng giao dịch được nhận thấy trong giai đoạn thị trường giảm điểm. Có thể nhận thấy sự thận trọng của nhà đầu tư để hạn chế rủi ro dẫn đến bán tháo theo đám đông trên thị trường. Một nguyên nhân khác xuất phát từ triển vọng lạc quan của nhà đầu tư khi cho rằng các phiên giảm điểm là phiên thị trường điều chỉnh để bật tăng trong tương lai. Vì vậy mà hành động bán tháo theo đám đông cũng giảm đáng kể. Bảng 5: Kết quả thực nghiệm hành vi đám đông khi thị trường lên và xuống
| Mẫu | 𝛼 | β | β | 𝑅 |
| Thị trường lên | 0.683*** | 0.575*** | -0.396*** | 0.248 |
| (112.25) | (23.05) | (-24.58) | ||
| Thị trường giảm | 0.686*** | 0.528*** | -0.307*** | 0.154 |
| (85.85) (17.36) (-16.83) | ||||
Số liệu bảng này là báo cáo các kết quả hồi quy của các phương trình (3) và (4) tương ứng cho mẫu thị trường có tỷ suất sinh lợi trong ngày lớn hơn 0 (thị trường lên) và bé hơn 0 (thị trường giảm). Số trong dấu ngoặc đơn là thống kê t. R2 là R2 điều chỉnh.
- *** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
- ** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
- * Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
Nguồn: tính toán của tác giả Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Lý do tiếp theo có thể giải thích cho hiện tượng hành vi đám đông thể hiện mạnh hơn trên thị trường chứng khoán là xuất phát từ yếu tố đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn của nhà đầu tư. Khi thị trường đi lên, nhiều nhà đầu tư nhìn thấy được khả năng sinh lợi nên nhanh chóng giải ngân vào thị trường. Cơ hội đầu tư không phải lúc nào cũng có, chính vì thế mà khi nhận ra cơ hội đó thì nhiều người đã hành động theo cho dù họ không thực sự hiểu về lĩnh vực đấy, họ học tập và làm theo đám đông vì không muốn bỏ qua cơ hội này, người này hành động theo người khác tạo sức cầu khiến thị trường tăng điểm. Ngược lại khi thị trường đi xuống, lợi nhuận giảm khiến nhiều nhà đầu tư sẽ rời bỏ thị trường, dòng tiền rút khỏi thị trường chứng khoán và chọn các kênh đầu tư thay thế như vàng, kinh doanh bất động sản hoặc gửi tiết kiệm và như vậy thị trường chứng khoán trở nên ảm đạm hơn. Vì thế mà hành vi đám đông khi thị trường tăng điểm thể hiện mạnh mẽ hơn so với thị trường đang trong xu hướng giảm.
Trên cơ sở lý thuyết hành vi, một lần nữa cảm giác lo ngại phải hối tiếc có thể sử dụng để giải thích cho trường hợp hành vi đám đông mạnh khi thị trường đang tăng. Cảm giác hối tiếc do bỏ lỡ cơ hội gia tăng lợi nhuận trong ngắn hạn khiến nhà đầu tư không thể đứng ngoài thị trường. Vì thế mà hành vi đám đông khi thị trường tăng là tương đối cao. Trong khi đó, cảm giác lo ngại sự mất mát sẽ hạn chế quyết định của nhà đầu tư khi thị trường giảm điểm. Lo ngại mất mát là một dạng sai lệch cảm xúc trong hành vi, theo thuyết này thì nhà đầu tư sẽ có xu hướng tìm cách để tránh thua lỗ hơn là cố gắng đạt được lợi nhuận. Vì thế mà một hành động theo ngôn ngữ thị trường thường hay được sử dụng trong trường hợp này là nhà đầu tư đang “gồng lỗ”. Lo ngại rủi ro sẽ khiến họ không hiện thực hóa khoản đầu tư bị âm vì họ nghỉ rằng chưa bán là chưa lỗ.
Một dạng sai lệch cảm xúc khác là sự sở hữu cũng khiến cho nhà đầu tư không hành động theo đám đông khi gặp áp lực giảm điểm. Nhà đầu tư có xu hướng đánh giá cao tài sản mà họ đang sở hữu, vì thế giá bán tối thiểu của chứng khoản sở hữu phải cao hơn giá mua vào. Khi thị trường giảm điểm, nhóm nhà đầu tư này sẽ đứng ngoài thị trường vì không sẵn sàng bán ra chứng khoán có giá trị cao theo định giá cá nhân của họ.
4.3. Hành vi đám đông trong nhóm các danh mục sắp xếp theo quy mô cổ phiếu.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo được trình bày sau đây sẽ chỉ ra nhóm cổ phiếu nào chịu tác động từ hành vi đám đông nhiều nhất. Toàn bộ cổ phiếu sẽ được lần lược phân loại theo giá trị vốn hóa và tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường. Việc phân loại được thực hiện bằng cách sắp xếp dữ liệu theo quy mô thành ba nhóm theo thứ tự thấp trung cao của từng ngày dữ liệu. Ví dụ, ngày 31/12/2007 có tất cả 6 mã chứng khoán giao dịch trên thị trường với thông tin như sau X(Y,Z), trong đó X là mã chứng khoán, Y là giá trị vốn hóa hoặc tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường và Z là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán thời điểm 31/12/2007. Giá trị Y sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao để phân mã chứng khoán thành 3 nhóm riêng biệt, tỷ suất sinh lợi Z trong từng nhóm sẽ được dùng để tính toán. Tương tự cho từng ngày dữ liệu trong thời gian nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2020. Sau khi được phân loại, từng nhóm mẫu riêng biệt sẽ được ước lượng dựa trên mô hình (2) để xác định hệ số hành vi đám đông. Ngoài ra, mô hình (3) và (4) cũng được sử dụng để tìm kiếm mức độ hành vi dưới các điều kiện thị trường khác nhau.
4.3.1. Hành vi đám đông trong danh mục theo giá trị vốn hóa Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Biểu đồ 2 thể hiện mối quan hệ giữa khối lượng cổ phiếu giao dịch trung bình trong từng nhóm danh mục sắp xếp theo giá trị vốn hóa vào các ngày cuối năm. Dữ liệu khối lượng giao dịch và giá trị vốn hóa của từng chứng khoán vào ngày cuối năm từ 2015 đến 2020 được chọn để phân tích. Tại mỗi thời điểm, toàn bộ mã chứng khoán được sắp xếp theo giá trị vốn hóa và phân thành 3 nhóm danh mục theo thứ tự từ thấp đến cao, từ đó tính ra khối lượng giao dịch trung bình của từng danh mục. Trong từng thời điểm được chọn để phân tích, nhóm danh mục có vốn hóa cao có khối lượng giao dịch vượt trội so với nhóm danh mục có vốn hóa thấp. Tuy nhiên những doanh nghiệp thuộc nhóm vốn hóa cao là các doanh nghiệp lớn với lượng cổ phiếu đang lưu hành nhiều vượt trội so với nhóm vốn hóa bé. Điều này cho thấy những cổ phiếu thuộc nhóm vốn hóa thấp có thị giá dễ dàng tăng giảm theo xu hướng thị trường hơn. Nhà đầu cơ có tiềm lực tài chính dễ dàng lợi dụng mức giá và khối lượng cổ phiếu đang lưu hành thấp ở nhóm vốn hóa này để tạo thanh khoản giả thu hút đám đông các nhà đầu tư nhỏ lẻ tham gia đầu tư. Vì vậy, hành vi đám đông theo của nhóm cổ phiếu vốn hóa thấp sẽ mạnh hơn nhiều so với nhóm vốn hóa lớn.
Nhóm 1 của Bảng 6 là kết quả hồi quy toàn bộ mẫu trong đó chia ra ba phân nhóm chính sắp xếp theo giá trị vốn hóa thị trường theo ba mức thấp trung và cao. Dòng 1 đại diện cho danh mục có vốn hóa thấp nhất, dòng 2 là vốn hóa trung bình, còn lại là đại diện cho danh mục vốn hóa lớn tương ứng với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vừa và lớn. Hệ số xác định mức độ hành vi được nhận thấy tại cả ba nhóm tương đối cao trong mức ý nghĩa thống kê 1%. Đặc biệt, hệ số β trong nhóm có vốn hóa lớn thấp hơn nhiều so với hai nhóm còn lại, điều này cho thấy mức độ hành vi đám đông trong nhóm danh mục có quy mô doanh nghiệp lớn thấp hơn so với nhóm có quy mô trung bình và nhỏ.
Nhóm 2 của Bảng 6 là kết quả hồi quy phân theo danh mục vốn hóa thị trường từ thấp đến cao trong những ngày thị trường tăng điểm. Cả 3 nhóm danh mục sắp xếp theo vốn hóa thị trường đều có hệ số beta cao gần như tương đồng nhau. Kết quả này cho thấy rằng trong ngày thị trường tăng điểm thì các nhóm cổ phiếu đều có xu hướng thuận theo thị trường không phân biệt vốn hóa cao hay thấp, các nhà đầu tư có hành vi đồng thuận theo quyết định của thị trường. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả thu được trước đó khi xem xét hành vi đám đông trong lúc thị trường đi lên hoặc xuống, nhà đầu tư dễ bị cuốn theo hành vi của đám đông khi thị trường tăng điểm. Có thể thấy rằng, không phụ thuộc vào danh mục cổ phiếu, nhà đầu tư nắm giữ bất cứ loại cổ phiếu nào đều có xu hướng hành động theo đám đông và đồng thuận với thị trường khi đang trong xu hướng tăng điểm.
Kết quả tiếp theo là một phát hiện thú vị về hành vi đám đông khi thị trường đang giảm điểm. Trong khi thị trường tăng điểm thì nhà đầu tư có xu hướng đồng thuận theo thị trường không phân biệt danh mục vốn hóa thấp hay cao thì điều khác biệt được nhận thấy khi thị trường trong xu hướng giảm. Nhóm 3 của Bảng 6 là kết quả hồi quy phân theo danh mục vốn hóa thị trường từ thấp đến cao trong những ngày thị trường giảm điểm. Hệ số đo lường hành vi đám đông trong các nhóm cổ phiếu đều được nhận thấy và tương đối cao, tuy nhiên nhóm có vốn hóa lớn thì thấp hơn nhiều so nhóm có vốn hóa trung bình và bé (|-0.237| so với |-0.307| và |-0.298|). Điều này cho thấy hành vi đám đông thể hiện mạnh tại nhóm cổ phiếu có vốn hóa nhỏ so với nhóm có vốn hóa lớn khi thị trường đang giảm điểm. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả thu được tại Nhóm 1 của Bảng 6 cho toàn bộ mẫu không phân biệt thị trường lên hoặc xuống, mức độ hành vi đám đông trong nhóm danh mục có vốn hóa lớn thấp hơn so với nhóm vốn hóa trung bình và nhỏ. Có ba nguyên nhân chính giải thích được hiện tượng này. Thứ nhất, nhóm vốn hóa lớn là nhóm doanh nghiệp quy mô lớn, tập trung nhiều doanh nghiệp tập đoàn lớn, có thời gian hoạt động dài, hoạt động kinh doanh ổn định và có nền tảng tài chính tốt. Vì thế, khi thị trường trong trạng thái căng thẳng, nhóm này sẽ ít chịu tác động hơn do tiềm lực dồi dào. Trong khi ở chiều ngược lại, danh mục vốn hóa thấp là nhóm có quy mô nhỏ tập trung các công ty vừa và nhỏ, cho dù có mức độ tăng trưởng tốt nhưng nền tảng tài chính không bằng các công ty lớn, vì thế hoạt động kinh doanh sẽ không ổn định nếu phải đối mặt với các sự kiện xấu, vì thế dễ bị bán tháo theo đám đông hơn khi thị trường gặp cú sốc giảm điểm.
Bảng 6: Kết quả thực nghiệm hành vi đám đông trong nhóm danh mục sắp xếp theo quy mô vốn hóa Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
| Mẫu 𝛼 | β | β | 𝑅 | |
| Nhóm 1: Toàn bộ mẫu | ||||
| 1. Vốn hóa thấp | 0.842*** | 0.391*** | -0.319*** | 0.170 |
| (148.82) | (17.54) | (-23.62) | ||
| 2. Vốn hóa trung bình | 0.656*** | 0.551*** | -0.321*** | 0.170 |
| (120.19) | (26.69) | (-25.83) | ||
| 3. Vốn hóa cao | 0.545*** | 0.543*** | -0.287*** | 0.156 |
| Nhóm 2: Thị trường lên | (91.34) | (25.21) | (-22.35) | |
| 1. Vốn hóa thấp | 0.842*** | 0.417*** | -0.372*** | 0.220 |
| (121.18) | (14.17) | (-19.71) | ||
| 2. Vốn hóa trung bình | 0.657*** | 0.549*** | -0.345*** | 0.202 |
| (96.21) | (20.83) | (-21.37) | ||
| 3. Vốn hóa cao | 0.529*** | 0.632*** | -0.373*** | 0.206 |
| Nhóm 3: Thị trường giảm | (67.76) | (21.79) | (-20.61) | |
| 1. Vốn hóa thấp | 0.837*** | 0.396*** | -0.298*** | 0.145 |
| (91.41) | (11.71) | (-15.16) | ||
| 2. Vốn hóa trung bình | 0.655*** | 0.559*** | -0.307*** | 0.155 |
| (76.29) | (17.54) | (-16.22) | ||
| 3. Vốn hóa cao | 0.556*** | 0.492*** | -0.237*** | 0.134 |
| (61.75) (15.49) (-12.94) | ||||
Số liệu bảng này là báo cáo các kết quả hồi quy của các phương trình (2), (3) và (4) tương ứng cho toàn bộ mẫu, mẫu thị trường có tỷ suất sinh lợi trong ngày lớn hơn 0 (thị trường lên) và bé hơn 0 (thị trường giảm). Số trong dấu ngoặc đơn là thống kê t. R2 là R2 điều chỉnh. Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
- *** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
- ** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
- * Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
Nguồn: tính toán của tác giả
Thứ hai, cổ phiếu có vốn hóa lớn thường chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư chuyên nghiệp như các công ty quản lý tài sản, quản lý quỷ. Chúng dễ dàng góp mặt trong danh mục của các chứng chỉ quỹ, các chỉ số mô phỏng, vì thế những cổ phiếu này không dễ dàng mua bán theo thị trường mà phải có kỳ cơ cấu danh mục.
Thứ ba, như đã phân tích phía trên, các doanh nghiệp vốn hóa lớn thường là các doanh nghiệp lớn và hoạt động ổn định và quy củ, họ có bộ phận quản lý rủi ro, bộ phận truyền thông, xử lý khủng hoảng và làm tốt vấn đề công bố thông tin. Vì thế độ minh bạch thông tin của nhóm doanh nghiệp này tương đối cao so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Nhà đầu tư vì thế cũng hiểu rõ tiềm lực của công ty, không hoàn toàn chạy theo đám đông khi thị trường gặp áp lực giảm điểm. Do đó, sự minh bạch thông tin của các doanh nghiệp cũng tác động đến hành động của nhà đầu tư trên thị trường. Nghiên cứu của Bikhchandani và cộng sự (1992) cũng cho rằng sự không minh bạch của thị trường là một trong những lý do chính dẫn đến gia tăng hiệu ứng đám đông.
4.3.2. Hành vi đám đông trong danh mục theo tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường
Biểu đồ 3 thể hiện mối quan hệ giữa khối lượng cổ phiếu giao dịch trung bình trong từng nhóm danh mục sắp xếp theo tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường vào các ngày cuối năm. Dữ liệu khối lượng giao dịch và giá trị vốn hóa của từng chứng khoán vào ngày cuối năm từ 2015 đến 2020 được chọn để phân tích. Tại mỗi thời điểm, toàn bộ mã chứng khoán được sắp xếp theo tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường và phân thành 3 nhóm danh mục theo thứ tự từ thấp đến cao, từ đó tính ra khối lượng giao dịch trung bình của từng danh mục. Có 4 trên 6 thời điểm thể hiện nhóm có tỷ số thấp lại có khối lương giao dịch nhiều hơn nhóm có tỷ số cao nên có thể nhận dịnh sơ bộ rằng giao dịch tại nhóm có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường tức là nhóm được định giá cao sôi động hơn so với nhóm còn lại, hay nói cách khác hành vi đám đông theo của nhóm cổ phiếu định giá cao sẽ mạnh hơn nhiều so với nhóm định giá thấp. Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Kết quả thực nghiệm có được thông qua hồi quy số liệu dựa trên mô hình 2, 3 và 4 nhằm xác định hệ số quy định mức độ hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán thông qua tác động của tỷ số giá trị sổ sách trên giá thì trường. Đây là tỷ số tham chiếu quan trọng và được áp dụng nhiều trong phân tích cổ phiếu và danh mục đầu tư, đặc biệt là giúp nhà đầu tư nhận biết và phân biệt loại cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu giá trị. Trong phạm vi nghiên cứu, các mẫu sẽ được phân chia và sắp xếp theo tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường từ thấp đến cao, nhóm thấp nhất sẽ đại diện cho nhóm danh mục cổ phiếu tăng trưởng, nhóm cao nhất sẽ là danh mục cổ phiếu giá trị. Thực hiện tương tự như các mẫu sắp xếp theo vốn hóa thị trường, bảng 7 là kết quả thu được khi hồi quy dữ liệu cho 3 nhóm: toàn bộ mẫu, thị trường đang lên và thị trường giảm điểm. Tại mỗi nhóm, dòng 1 là kết quả đại diện cho danh mục có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị trường thấp nhất và là nhóm danh mục cổ phiếu tăng trưởng, dòng 2 là danh mục có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị cao trung bình, dòng còn lại đại diện cho danh mục có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị trường cao nhất, tương ứng với nhóm cổ phiếu giá trị. Kết quả thực nghiệm sẽ chỉ nhóm cổ phiếu tăng trưởng hay cổ phiếu giá trị sẽ chịu tác động mạnh hơn của hành vi đám đông trong từng điều kiện thị trường.
Nhóm 1 của Bảng 7 là kết quả có được khi hồi quy trên toàn bộ mẫu thị trường. Trong cả 3 dòng kết quả đại diện cho 3 nhóm mẫu tương ứng với tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường từ thấp đến cao. Hệ số β đo lường hành vi đám đông trong nhóm cổ phiếu có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường thấp giảm dần đều đến nhóm có tỷ số cao (|-0.337| > |-0.282|). Điều này cho thấy nhóm cổ phiếu tăng trưởng có mức độ hành vi đám đông cao hơn so với nhóm cổ phiếu giá trị. Cổ phiếu có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường thấp thường là các công ty mới, giá trị tài sản không cao, vì thế mà tỷ số này thấp. Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp này được đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng trong tương lai, được thị trường định giá cao và nằm trong nhóm thanh khoản tốt vì thế được gọi là nhóm cổ phiếu tăng trưởng. Ngược lại, nhóm cổ phiếu giá trị thường là các doanh nghiệp có lịch sử hoạt động lâu dài, nằm trong giai đoạn bảo hòa hoặc bước sang giai doạn suy thoái của vòng đời doanh nghiệp, dấu hiệu dễ thấy là chia cổ tức nhiều hơn giữ lại. Những doanh nghiệp này hoạt động bền vững và có giá trị tài sản lớn vì thế mà tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường thấp. Trong nghiên cứu của Fama và French (1992) cũng chỉ ra rằng công ty có giá trị sổ sách thấp thường có mức tăng giá cao hơn trong khi các công ty có giá trị sổ sách cao thường có mức tăng yếu hơn. Điều này đúng tại thị trường Việt Nam và được chứng minh qua Bảng 1 thổng kê mô tả dữ liệu với nhóm cổ phiếu tăng trưởng nhận được tỷ suất sinh lợi trung bình cao hơn so với nhóm cổ phiếu giá trị (1.35% > -3.21%). Nhà đâu tư có xu hướng ưa thích danh mục cổ phiếu tăng trưởng hơn so với cổ phiếu giá trị do mức sinh lợi tốt, điều này giả thích vì sao mức độ hành vi đám đông trong nhóm cổ phiếu giá trị thấp hơn so với nhóm cổ phiếu tăng trưởng.
Tại Nhóm 2 của Bảng 7 là kết quả thực nghiệm có được khi thị trường đang đi lên. Một kết quả tương tự như nhóm cổ phiếu sắp xếp theo giá trị vốn hóa thị trường là sự chênh lệch của hệ số β đo lường mức độ hành vi giữa các nhóm danh mục sắp xếp theo tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường là không đáng kể và luôn ở mức cao (-0.349, 0.37, -0.382). Điều này góp phần củng cố cho kết quả thu được trước đó, khi thị trường khởi sắc trong sắc xanh, hành vi đám đông gần như lan tỏa và tác động hầu hết lên thị trường, không phân biệt nhóm danh mục cụ thể nào. Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Bảng 7: Kết quả thực nghiệm hành vi đám đông trong nhóm danh mục sắp xếp theo tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường
| Mẫu 𝛼 | β | β | 𝑅 | |
| Nhóm 1: Toàn bộ mẫu | ||||
| 1. BTM thấp | 0.603*** | 0.602*** | -0.337*** | 0.176 |
| (108.96) | (27.25) | (-24.65) | ||
| 2. BTM trung | 0.683*** | 0.494*** | -0.308*** | 0.147 |
| (123.89) | (23.40) | (-24.49) | ||
| 3. BTM cao | 0.767*** | 0.397*** | -0.282*** | 0.129 |
| Nhóm 2: Thị trường lên | (122.46) | (17.85) | (-21.65) | |
| 1. BTM thấp | 0.597*** | 0.597*** | -0.349*** | 0.171 |
| (76.48) | (19.40) | (-18.35) | ||
| 2. BTM trung | 0.679*** | 0.534*** | -0.370*** | 0.212 |
| (99.43) | (19.63) | (-22.09) | ||
| 3. BTM cao | 0.760*** | 0.495*** | -0.382*** | 0.204 |
| Nhóm 3: Thị trường giảm | (103.54) | (17.12) | (-20.76) | |
| 1. BTM thấp | 0.609*** | 0.616*** | -0.333*** | 0.187 |
| (77.66) | (19.38) | (-16.94) | ||
| 2. BTM trung | 0.683*** | 0.476*** | -0.271*** | 0.118 |
| (78.74) | (14.86) | (-14.54) | ||
| 3. BTM cao | 0.765*** | 0.362*** | -0.239*** | 0.094 |
| (72.09) (10.49) (-12.57) | ||||
Số liệu bảng này là báo cáo các kết quả hồi quy của các phương trình (2), (3) và (4) tương ứng cho toàn bộ mẫu, mẫu thị trường có tỷ suất sinh lợi trong ngày lớn hơn 0 (thị trường lên) và bé hơn 0 (thị trường giảm). Số trong dấu ngoặc đơn là thống kê t. R2 là R2 điều chỉnh.
- *** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
- ** Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
- * Thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
Nguồn: tính toán của tác giả Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Kết quả thực nghiệm trình bày tại Nhóm 3 của Bảng 7 thu được khi hồi quy các nhóm mẫu thị trường giảm điểm. Điều đầu tiên nhận thấy khi thị trường giảm điểm là hiệu ứng đám đông thể hiện kém hơn nhiều so với khi thị trường tăng điểm ở bất kỳ nhóm danh mục nào (-0.333, -0.271, -0.239), điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả thực nghiệm phía trên rằng hành vi đám đông thể hiện mạnh mẽ hơn khi thị trường đang lên so với thị trường đang xuống. Tiếp theo, kết quả cũng chỉ ra rằng mức độ hành vi đám đông thể hiện vượt trội hơn trong nhóm danh mục cổ phiếu tăng trưởng so với nhóm cổ phiếu giá trị (|-0.333| > |-0.239|). Nhóm cổ phiếu tăng trưởng là nhóm có tỷ suất sinh lợi trung bình cao so với nhóm giá trị, vì thế nhà đầu tư có xu hướng nghiên về cổ phiếu tăng trưởng hơn. Tuy nhiên, nhóm cổ phiếu này thường là các doanh nghiệp mới và giá trị tài sản ròng thấp, do đó khi gặp bất kỳ rủi ro hệ thống hoặc phi hệ thống nào thì mức độ chống chịu với khủng hoảng kém hơn so với nhóm giá trị. Đối mặt với áp lực thị trường giảm điểm thì nhóm cổ phiếu này cũng dễ bị bán tháo theo hành vi đám đông của nhà đầu tư trên thị trường. Ở chiều ngược lại, nhóm cổ phiếu giá trị là tập hợp đa số các doanh nghiệp tập đoàn lớn và lâu năm, tiềm lực tài chính dồi dào là một trong những lý do giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động bền vững cho dù dưới tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế. Tiềm lực nội tại vững chắc của doanh nghiệp là một trong các tín hiệu tốt khiến nhà đầu tư hạn chế các quyết định theo đám đông khi thị trường trong xu hướng giảm điểm.
Kết luận chương 4
Bằng phương pháp hồi quy OLS dựa trên mô hình CSAD được giới thiệu ở chương 3, chương này trình bày các kết quả nghiên cứu đã đạt được. Kết quả đầu tiên thu được là có sự tồn tại của hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam, kiểm định độ phù hợp của mô hình với mức ý nghĩa 1% cho kết quả mô hình hoàn toàn phù hợp để thực hiện nghiên cứu. Khi thị trường đang tăng điểm thì mức độ hành vi thể hiện mạnh và rõ nét hơn khi thị trường đang trong xu hướng giảm. Khi phân nhóm danh mục theo quy mô dựa trên giá trị vốn hóa của các công ty đại chúng trên thị trường, kết quả chỉ ra rằng mức độ hành vi đám đông thể hiện mạnh hơn trong nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ so với nhóm có quy mô lớn. Kết quả tương tự cũng được nhận thấy khi thị trường đang đi xuống. Ngoài ra, khi phân nhóm danh mục theo giá trị sổ sách trên giá thị trường thì nhóm có giá trị tỷ số thấp hay còn gọi là nhóm cổ phiếu tăng trưởng có mức độ hành vi vượt trội so với nhóm còn lại khi quan sát trên toàn bộ thị trường hoặc khi thị trường giảm điểm. Các kết quả thu được lần lượt được thảo luận và giải thích dựa trên lý thuyết hành vi và thực tế hoạt động mua bán trên thị trường, từ đó có cái nhìn bao quát về ảnh hưởng của hành vi đám đông tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
5.1. Kết luận
Kết luận đầu tiên đưa ra dựa trên kết quả thực nghiệm là có sự tồn tại của hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tại bất kỳ danh mục nào, hệ số đo lường mức độ hành vi đám đông luôn ở mức cao và trong mức ý nghĩa thống kê 1%. Hành vi đám đông không chỉ xuất hiện tại thị trường chứng khoán Việt Nam mà còn tồn tại tại nhiều thị trường khác, lược khảo các nghiên cứu khác trên thế giới hầu như đều khẳng định sự tồn tại của hành vi đám đông. Điều này dễ dàng giải thích được thông qua phân tích lý thuyết về hành vi, khi con người thiếu thông tin cũng như kiến thức về một lĩnh vực nào đó, hành động theo đám đông, đứng trong đám đông sẽ khiến họ cảm thấy an toàn hơn. Ngoài ra, một dạng sai lệch cảm xúc mà đa số nhà đầu tư đều mắc phải có thể giải thích cho sự tồn tại của hành vi đám đông trên thị trường, đó là sai lệch vệ sự hối tiếc. Hối tiếc do bỏ qua cơ hội đầu tư khi nhận thấy nhiều nhà đầu tư khác đều đã giải ngân hoặc bỏ qua thời điểm đặt lệnh bán khi thị trường đang giảm sâu sẽ khiến họ không thể tách biệt khỏi đám đông.
Điều nhận thấy tiếp theo trong kết quả nghiên cứu là tâm lý hành động theo đám đông thể hiện mạnh mẽ khi thị trường trong giai đoạn tăng điểm hơn là khi thị trường giảm điểm. Thực tế giao dịch trên thị trường cũng cho thấy đa số các phiên đạt khối lượng giao dịch lớn, thậm chí lập kỷ lục về giá trị giao dịch xuất hiện khi thị trường tăng điểm, trong khi các phiên giảm điểm thì thị trường giao dịch ảm đạm hơn. Một lý do tiếp theo để giải thích cho hiện tượng này xuất phát từ yếu tố đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn của nhà đầu tư thay vì lựa chọn đầu tư giá trị. Họ dễ dàng bị thu hút khi nhìn thấy cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và sẵn sàng thực hiện theo nhà đầu tư khác, điều đó khiến thị trường giao dịch sôi động trong xu hướng tăng điểm. Ở chiều ngược lại, các nhà đầu tư này cũng dễ dàng rút ra khỏi thị trường và tìm kiếm kênh đầu tư thay thế khi thị trường trong xu hướng giảm điểm. Trên cở sở lý thuyết tài chính hành vi, các sai lệch về hành vi như phân tích trong kết quả nghiên cứu cũng giải thích được hiện tượng tâm lý đám đông thể hiện mạnh hơn khi thị trường đang tăng điểm, các sai lệch này bao gồm: sự hối tiếc, lo ngại mất mát và sự sở hữu. Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Khi phân nhóm danh mục theo quy mô dựa trên giá trị vốn hóa của các công ty đại chúng trên thị trường, kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng mức độ hành vi đám đông thể hiện mạnh hơn trong nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ so với nhóm có quy mô lớn. Kết quả tương tự cũng được nhận thấy khi thị trường đang đi xuống. Có ba lý do được đưa ra để giải thích cho vấn đền này. Thứ nhất, doanh nghiệp quy mô lớn thường là các doanh nghiệp hoạt động lâu năm, tiềm lực nội tại tốt, nhà đầu tư nhận biết được điều đó nên khi thị trường có biến động thì họ sẽ đưa ra quyết định riêng, không hành động theo đám đông trên thị trường khi giảm điểm. Thứ hai, cổ phiếu có vốn hóa lớn thường chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư chuyên nghiệp, vì thế mà không dễ dàng thực hiện mua bán như các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ, thông thường phải đợi đến kỳ cơ cấu danh mục. Thứ ba, sự không minh bạch thông tin của các doanh nghiệp quy mô nhỏ nghiêm trọng hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn, điều này tác động đến hành vi của nhà đầu tư trên thị trường nhất là trong giai đoạn căng thẳng khi giảm điểm. Ở chiều ngược lại, khi thị trường trong xu hướng tăng thì các hành vi thực hiện theo đám đông gần như lan tỏa đều trên các nhóm doanh nghiệp theo quy mô thị trường và mức độ có phần vượt trội so với khi thị trường đang giảm điểm.
Điều tương tự cũng được nhận thấy khi thực nghiệm trên nhóm các danh mục phân loại theo nhóm cổ phiếu giá trị và nhóm tăng trưởng thông qua tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường. Khi thị trường tăng điểm thì hành vi đám đông có mức độ mạnh gần như nhau không phân biệt nhóm mẫu. Trong khi đó, nhóm cổ phiếu tăng trưởng có mức độ hành vi vượt trội so với nhóm cổ phiếu giá trị khi quan sát trên toàn bộ thị trường hoặc khi thị trường giảm điểm. Nhà đầu tư tỏ ra ưa thích đối với nhóm cổ phiếu tăng trưởng hơn so với cổ phiếu giá trị do tỷ suất sinh lợi trung bình của nhóm tăng trưởng cao hơn nhiều, điều này dẫn đến mức độ hành vi đám đông trong nhóm này cũng vượt trội hơn. Tuy nhiên, lợi nhuận cao tỷ lệ thuận với rủi ro cũng tăng cao, khi thị trường trong áp lực giảm điểm thì nhóm này cũng dễ bị bán tháo theo hành động của nhà đầu tư khác, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp xếp vào nhóm tăng trưởng sẽ không vững chắc so với nhóm giá trị.
5.2. Kiến nghị Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
5.2.1. Về phía nhà đầu tư
Kết quả thảo luận cho thấy rằng khi con người thiếu thông tin cũng như kiến thức về một lĩnh vực nào đó, hành động theo đám đông, đứng trong đám đông sẽ khiến họ cảm thấy an toàn hơn. Tuy nhiên, sẽ có rất nhiều những lần quyết định theo tín hiệu đúng khi học tập lẫn nhau nhưng chỉ cần hành động theo một tín hiệu sai có khi lại gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn rất nhiều. Để giữ được sự bản lĩnh và tư duy chắc chắn trong các quyết định của mình, nhà đầu tư luôn cần phải không ngừng học hỏi, chủ động nâng cao kiến thức, kinh nghiệm để đưa ra các hành động phù hợp với đám đông trên thị trường. Nền tảng kiến thức vững chắc cùng với kinh nghiệm thực tế không ngừng được bổ sung sẽ tạo nên sự bản lĩnh cho nhà đầu tư để đưa ra các quyết định đúng, không chạy theo hành động của đám đông trên thị trường.
Kết quả phân tích cũng cho thấy rất nhiều nhà đầu tư đang đối mặt với một dạng sai lệch cảm xúc liên quan đến sự hối tiếc. Nó khiến cho nhà đầu tư sẽ cảm thấy hối tiếc vì bỏ qua cơ hội đầu tư theo đám đông khi thị trường đang lên, hoặc không bán chứng khoán khi thị trường đang giảm điểm. Nhiều sai lệch về hành vi liên quan đến cảm xúc mà rất nhiều nhà đầu tư mắc phải là tiền đề dẫn đến các quyết định hành động theo đám đông trên thị trường. Điều quan trọng là mọi người cần kiểm soát được cảm xúc của chính bản thân để đưa ra được quyết định riêng mà không phụ thuộc vào đám đông trên thị trường. Để làm được điều đó, bên cạnh kiến thức và kinh nghiệm thì nhà đầu tư cần tự nhìn lại các hành động và quyết định trong quá khứ, phân tích một cách khách quan để nhận ra các sai lệch mà mình đang mắc phải kiểm soát được cảm xúc của chính bản thân. Từ đó sẽ có thể kiểm soát được cảm xúc, chủ động trong các quyết định của mình và đạt được lợi nhuận như kỳ vọng.
Một trong các nguyên nhân dẫn đến mức độ hành vi đám động mạnh hơn khi thị trường đang lên là do phần lớn nhà đầu tư trên thị trường lựa chọn đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn, họ xem chứng khoán là một loại tài sản đầu cơ và dễ dàng mua bán, thậm chí nhanh chóng chuyển đổi sang tiền mặt và tài sản khác nếu thị trường đang trong trạng thái tiêu cực. Tuy nhiên, không nhất thiết phải hạn chế chiến lược đầu cơ trên thị trường, cần nhấn mạnh rằng lựa chọn đầu cơ không phải là xấu, ở mức độ hợp lý, nó còn tạo ra thanh khoản tốt cho thị trường, giúp dòng vốn lưu thông. Vì vậy, điều cần thiết ở đây là nhà đâu tư nên xây dựng mục tiêu và chiến lược rõ ràng, tăng cường tính kỷ luật của bản thân, từ đó sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực xuất phát từ tâm lý đám đông. Ví dụ, khi thị trường đang lên, mức độ hành vi đám đông tăng cao, nhà đầu tư hoàn toàn có thể đứng trong đám đông để tìm kiếm lợi nhuận vượt trội, ngay khi đạt mức kỳ vọng cần hiện thực hóa ngay, lợi nhuận càng cao rủi ro càng lớn.
5.2.2. Về phía cơ quan quản lý Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam luôn tồn tại, các nghiên cứu về hành vi đám đông trên thê giới cũng cho thấy kết quả tương tự. Do đó, sẽ thực sự không hiệu quả khi tìm cách loại bỏ hoàn toàn tâm lý đám đông. Vì vậy, cách tốt nhất là điều chỉnh hành vi của đám đông theo hướng tích cực và có lợi cho thị trường chứng khoán. Để làm được điều này, cơ quan quản lý cần xây dựng và hợp tác với một đội ngủ chuyên gia, những người có uy tín và kiến thức vững chắc. Đội ngủ này sẽ phát đi các tín hiệu cũng lan truyền các thông tin, hành động đúng đắn lên thị trường, nhà đầu tư khi đó dù không có kinh nghiệm cũng sẽ lựa chọn thực hiện theo hành động của các chuyên gia có uy tín mà họ tin tưởng, thay vì hành động theo đám đông không chắc chắn khác. Rất khó để có thể thay đổi thói quen và cảm xúc của một người nhưng nếu có sự tác động để có thể điều chỉnh hợp lý bằng cách hướng thói quen và cảm xúc đó trở thành hành động tích cực hơn thì hoàn toàn tốt cho sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Ngoài ra, khi một nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, hạn chế về kiến thức hoặc thiếu thông tin thì đứng trong đám đông, hành động theo người khác khiến họ cảm thấy an toàn hơn. Cần khẳng định rằng số lượng nhà đầu tư thiếu kiến thức và thông tin nhưng vẫn đầu tư theo sự kiêu gọi từ người khác là rất nhiều và phổ biến. Do đó, cần nghiên cứu ban hành các quy định, các biện pháp chế tài, chuẩn mực đạo dức, chuẩn mực nghề nghiệp đối với các công ty chứng khoán, những người hoạt động trong lĩnh vực môi giới chứng khoán. Những người này nắm trong tay số lượng khách hàng lớn, mọi thông tin, hành động mà họ cung cấp ít nhiều ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư. Cần thiết phải có chế tài ngăn chặn hành vi hô hào mua bán, cung cấp thông tin sai lệch của nhóm này để trục lợi cá nhân. Mọi thông tin từ người môi giới chứng khoán có sức ảnh hưởng này đều có thể tạo ra “hiệu ứng domino” lan truyền hành động trở thành hành vi đám đông trên thị trường.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nhóm cổ phiếu vốn hóa nhỏ và cổ phiếu tăng trưởng có mức độ hành vi đám đông cao hơn hẳn so với nhóm còn lại. Các nhóm này tập trung đa số loại cổ phiếu thuộc dạng đầu cơ, các công ty nhỏ và đang phát triển, mức độ minh bạch là không cao. Trong khi đó, minh bạch trong công bố thông tin là một yếu tố quan trọng giảm thiểu tác động tiêu cực của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán. Khi đám đông nhà đầu tư hành động theo các thông tin sai thì có thể sẽ gây ra thiệt hại lớn cho chính nhà đầu tư và bất ổn cho thị trường. Thiệt hại trước mắt là những người đã lựa chọn nhóm cổ phiếu đầu cơ, loại cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi lớn nhưng mức độ rủi ro cũng cao không kém. Vì vậy, cơ quan quản lý trong lĩnh vực chứng khoán cần tăng cường kiểm tra giám sát, xây dựng quy trình và hệ thống theo thông tin được công bố trên thị trường, từ đó kịp thời phát hiện những sai phạm liên quan liên quan như: không công bố thông tin, thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác và thông tin giả. Ngoài ra, cần nghiên cứu, sữa đổi quy định liên quan mức xử phạt cho các sai phạm trong lĩnh vực chứng khoán. Hiện tại, nhiều quy định xử phạt đối với các vi phạm là rất nhẹ, lại không tương xứng với mức độ hành vi cũng như thiệt hại gây ra bởi các đối tượng này. Ví dụ điển hình nhất là vụ việc của ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC, là cổ đông lớn nhưng lại có hành vi không công bố thông tin khi thực hiện bán khối lượng lớn cổ phiếu thu lợi bất chính, tuy nhiên mức phạt tối đa đối với người vi phạm là 1,5 tỷ đồng căn cứ theo nghị định156/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Điều này là không đủ sức răng đe đối với người vi phạm và khó lòng lặp lại trực tự cho thị trường. Vì thế, cần nghiên cứu, bổ sung mức phạt bao gồm các tình tiết tăng nặng, truy cứu trách nhiệm hình sự cho các hành vi cố tình sai phạm, từ đó lặp lại trực tự, lấy lại lòng tin của nhà đầu tư, xây dựng một thị trường minh bạch, phát triển ổn định và bền vững. Cuối cùng, cơ quan quản lý cần nổ lực hơn nữa trong việc kiểm soát thị trường, kịp thời phát hiện hành vi thao túng giá chứng khoán. Hành vi này xuất phát từ các cá nhân và tổ chức lập nhiều tài khoản để cùng mua qua lại bán mã chứng khoán bị thao túng, làm cho giá chứng khoán lệch khỏi giá trị tương xứng và tạo thanh khoản giả. Điều này sẽ khuếch đại tâm lý đám đông trên thị trường. Nhiều nhà đầu tư thiếu thông tin sẽ nghĩ rằng chứng khoán này đang giao dịch sôi động và thu hút nhiều nhà đầu tư mà không biết rằng đang đối mặt với rủi ro lớn do chứng khoán bị làm giá. Khi mà đám đông nhà đầu tư bị thiệt hại ngày càng nhiều bởi sự làm giá này thì thị trường sẽ trở nên bất ổn và đánh mất niềm tin của nhà đầu tư trong nước và cả nhà đầu tư nước ngoài.
Kết luận chương 5 Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được, chương 5 trình bày các kết luận có được và đề xuất hai nhóm khuyến nghị liên quan đến hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đầu tiên là kiến nghị cho phía nhà đầu tư trên thị trường, nghiên cứu chỉ ra rằng khi con người thiếu thông tin cũng như kiến thức sẽ dễ hành động theo đám đông hơn, do đó nhà đầu tư cần tích lũy kiến thức và khả năng phân tích thông tin để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý, tránh chạy theo đám đông và đưa ra các quyết định sai lầm. Về mặt tâm lý, con người thường phải đối mặt với các sai lệch liên quan đến cảm xúc khiến cho quyết định của họ thường phụ thuộc vào hành động của người khác, vì vậy nhà đầu tư cần kiểm soát tốt cảm xúc của chính bản thân. Ngoài ra, cần phải có chiến lược rõ ràng và tăng cường tính kỷ luật của bản thân để đạt được lợi nhuận vượt trội. Đối với nhóm kiến nghị về phía cơ quan quản lý, đầu tiên cần xây dựng và hợp tác với một đội ngủ chuyên gia, những người có uy tín và kiến thức vững chắc để điều chỉnh hành vi đám đông theo chiều tích cực vì hành vi đám đông luôn tồn tại và không thể triệt tiêu. Tiếp theo, cần có các quy định chặt chẽ đối với các công ty và những người môi giới trong lĩnh vực chứng khoán để bảo vệ các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, hạn chế về kiến thức hoặc thiếu thông tin. Cuối cùng, một số giải pháp được đưa ra để thị trường trở nên minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn như: tăng cường giám sát hoạt động công bố thông tin, điều chỉnh mức phạt các hành vi gian lận cho tương xứng với mức độ thiệt hại và kịp thời phát hiện các hành vi thao túng giá chứng khoán trên thị trường.
Tổng kết
Hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam chắc chắn sẽ không biến mất và không thể triệt tiêu hoàn toàn. Tìm hiểu về hành vi đám đông góp phần giúp giải thích biến động giá cổ phiếu trên thị trường không đi theo các phân tích định giá cơ bản. Nghiên cứu này tiến hành xem xét tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2020. Thời gian nghiên cứu trải dài 13 năm bao gồm nhiều thời điểm có sự biến động mạnh của chỉ số chứng khoán tại thị trường Việt Nam, số mẫu lớn cũng đảm bảo kết quả có sức thuyết phục cao. Trong từng điều kiện thị trường và từng nhóm cổ phiếu được phân loại theo quy mô và mức định giá cao thấp riêng biệt, mức độ hành vi đám đông cũng được xem xét chi tiết để có cái nhìn bao quát tác động của nó đến toàn thị trường. Nghiên cứu sử dụng mô hình CSAD được đề xuất bởi Chang và cộng sự (2000) để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và đã giải quyết được các vấn đề như sau: Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Thứ nhất, có sự tồn tại của hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam, hệ số đo lường mức độ hành vi đám đông luôn ở mức cao và trong mức ý nghĩa thống kê 1%. Lý thuyết về hành vi cho thấy khi con người thiếu thông tin cũng như kiến thức về một lĩnh vực nào đó, hành động theo đám đông, đứng trong đám đông sẽ khiến họ cảm thấy an toàn hơn. Ngoài ra, sự hối tiếc do bỏ qua cơ hội đầu tư khi nhận thấy nhiều nhà đầu tư khác đều đã giải ngân hoặc bỏ qua thời điểm đặt lệnh bán khi thị trường đang giảm sâu sẽ khiến họ không thể tách biệt khỏi đám đông.
Thứ hai, tâm lý hành động theo đám đông thể hiện mạnh mẽ khi thị trường trong giai đoạn tăng điểm hơn là khi thị trường giảm điểm. Điều này được giải thích do xuất phát từ yếu tố đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn của nhà đầu tư. Họ dễ dàng bị thu hút khi nhìn thấy cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và sẵn sàng thực hiện theo nhà đầu tư khác, điều đó khiến thị trường giao dịch sôi động trong xu hướng tăng điểm. Trên cở sở lý thuyết tài chính hành vi, các sai lệch bao gồm: sự hối tiếc, lo ngại mất mát và sự sở hữu cũng được đưa ra để giải thích cho hiện tượng trên.
Thứ ba, khi phân nhóm danh mục theo quy mô dựa trên giá trị vốn hóa của các công ty đại chúng trên thị trường, kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng mức độ hành vi đám đông thể hiện mạnh hơn trong nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ so với nhóm có quy mô lớn. Kết quả tương tự cũng được nhận thấy khi thị trường đang đi xuống. Ở chiều ngược lại, khi thị trường trong xu hướng tăng thì các hành vi thực hiện theo đám đông gần như lan tỏa đều trên các nhóm doanh nghiệp theo quy mô thị trường và mức độ có phần vượt trội so với khi thị trường đang giảm điểm. Điều tương tự cũng được nhận thấy khi thực nghiệm trên nhóm các danh mục phân loại theo nhóm cổ phiếu giá trị và nhóm tăng trưởng thông qua tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường.
Cuối cùng, dựa trên thảo luận và các kết luận nghiên cứu, một số kiến nghị được đề xuất cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý để giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn dưới tác động của hành vi đám đông. Về phía nhà đầu tư, cần nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, kiềm chế tốt cảm xúc của chính bản thân và nhất là phải có chiến lược đầu tư cũng như tăng cường tính kỷ luật của chính bản thân. Về phía cơ quan quản lý, cần hợp tác xây dựng đội ngủ chuyên gia có uy tín để phát tín hiệu và điều chỉnh hành vi đám đông trên thị trường, ngoài ra cần tăng cường quản lý các công ty và những người môi giới trong lĩnh vực chứng khoán để bảo vệ các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, hạn chế về kiến thức hoặc thiếu thông tin. Cuối cùng là hoàn thiện các giải pháp để giúp thị trường trở nên minh bạch hơn. Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: KQNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán […]