Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nội dung của luận văn:

Nghiên cứu này được tiến hành căn cứ dữ liệu của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2013 đến 2024. Trong nghiên cứu này tác giả đã tiến hành tổng hợp các lý thuyết liên quan đến đa dạng hóa thu nhập và rủi ro của NHTM cùng mối quan hệ giữa chúng.

Luận văn đã tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan trong nước và quốc tế làm nền tảng cho việc thiết lập mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Biến phụ thuộc sử dụng là Z-SCORE đại diện cho rủi ro của NHTM. Các nhân tố đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Đa dạng hóa thu nhập, quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính; tỷ lệ cho vay trên tiền gửi; tỷ lệ dự phòng rủi ro; tốc độ tăng trưởng tín dụng; tốc độ tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát. Luận văn dùng nghiên cứu định lượng với các mô hình hồi quy và SGMM phục vụ cho việc ước lượng bình phương nhỏ nhất.

Nghiên cứu cho kết quả chứng minh đa dạng hóa thu nhập, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng cùng chiều đến Z-SCORE và có nghĩa là ảnh hưởng ngược chiều với rủi ro của NHTM. Ngược lại, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng ngược chiều đến Z-SCORE và có nghĩa là tỷ lệ thuận với rủi ro của NHTM. Theo đó, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị cho các NHTM để hạn chế được rủi ro trong tương lai từ hoạt động đa dạng hóa thu nhập và các chiến lược liên quan đến biến kiểm soát.

Từ khóa: rủi ro, đa dạng hóa thu nhập, quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tín dụng, vĩ mô.

ABSTRACT

Thesis title: Impact of income diversification on the risk of commercial banks in Vietnam.

Thesis content: Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

This study is based on secondary data of 24 Vietnamese commercial banks in the period 2013 to 2024. In this study, the author has synthesized theories related to income diversification and risk of NH and the relationship between them.

The thesis has reviewed related studies at home and abroad as the basis for establishing research models and hypotheses. The dependent variable used is ZSCORE representing the risk of commercial banks. The factors included in the research model include: Income diversification, bank size, financial leverage; loan-to-deposit ratio; risk reserve ratio; credit growth rate; economic growth rate; inflation rate. The thesis uses quantitative research methods and least squares estimation through regression models Pooled OLS, FEM, REM, FGLS and SGMM.

The research results show that income diversification, bank size, loan-to-deposit ratio, credit growth and inflation rate have a positive influence on Z-SCORE and have a negative effect. with the risk of NH. In contrast, financial leverage, credit risk provision ratio, and economic growth have a negative effect on Z-SCORE and mean a positive effect on the risk of commercial banks. From the research results, the author has proposed policy implications for commercial banks to limit future risks from income diversification and strategies related to control variables.

Keywords: risk, income diversification, bank size, financial leverage, credit, macro.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

Các NHTMCP đóng một vai trò rất lớn trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính để đáp ứng nhu cầu tín dụng của các đối tượng và thành phần kinh tế nhằm tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế xã hội của quốc gia (Buyuran và Ekşi, 2023). Tại Việt Nam, các NHTMCP ngoài là các tổ chức tài chính thì các ngân hàng đóng vai trò là chủ thể mà NHNN sử dụng để thực hiện các chính sách tiền tệ và đòn bẩy cho toàn bộ nền kinh tế vận hành. Mặt khác, các NHTMCP ngoài các sứ mệnh cho kinh tế xã hội thì các tổ chức còn thực hiện lợi ích của mình trong hoạt động kinh doanh, tính đến thời điểm hiện nay thì các NHTMCP xuất hiện ồ ạt tại Việt Nam và cạnh tranh lẫn nhau, do đó, để đứng vững trong thị trường thì các NHTMCP cần phải giữ vững được sức mạnh tài chính thông qua nâng cao Hiệu quả hoạt động kinh doanh và quản trị được rủi ro của ngân hàng (Quyen và cộng sự, 2023). Hay nói cách khác, cùng giống như các loại hình kinh doanh khác thì rủi ro hoạt động luôn là vấn đề mà các NHTMCP cần được phát hiện sớm và có các bước tầm soát.

Trong thập niên 2000, các ngân hàng thương mại trên toàn cầu bắt đầu đa dạng hóa hoạt động kinh doanh để giảm thiểu cạnh tranh và tăng thu nhập từ đầu tư tài chính (DeYoung và Roland, 2001). Tương tự, tại Việt Nam, số lượng ngân hàng thương mại ngày càng tăng và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đặc biệt trong giai đoạn 2006-2012. Bên cạnh các NHTM nội địa, các ngân hàng 100% vốn quốc tế cũng có xu hướng đầu tư tại Việt Nam. Thị trường tài chính cũng đang tăng lên về số lượng và quy mô công ty tài chính dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt hơn và thu nhập truyền thống của các ngân hàng thương mại bị thu hẹp.

Trong giai đoạn 2006-2007, thị trường chứng khoán bùng nổ và các hoạt động đầu tư chứng khoán trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều người tham gia thị trường. Điều này tạo ra môi trường cho các ngân hàng thương mại lập nhiều công ty con để mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, đầu tư cổ phiếu và thu nhập từ nhiều nguồn hơn. Việc tăng thu nhập từ các hoạt động khác cũng giúp các ngân hàng giảm thiểu tác động của hoạt động tín dụng, làm giảm rủi ro tín dụng và các rủi ro khác. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Mặt khác, trong thời điểm khủng hoảng kinh tế, các hoạt động kinh doanh truyền thống của các ngân hàng thương mại không thể đối phó với sự suy giảm của thị trường. Điều này khiến cho các ngân hàng thương mại đối mặt với rủi ro nợ xấu và nợ quá hạn. Các công ty tài chính của các ngân hàng cũng rơi vào khủng hoảng do thị trường tài chính đóng băng và chứng khoán giảm điểm liên tục. Vì vậy, việc đa dạng hoá hoạt động kinh doanh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết để giúp các ngân hàng phân tán rủi ro. Đặc biệt trong thời gian gần đây, các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã mở rộng hoạt động ra các lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư trái phiếu, ngoại hối và các lĩnh vực khác để ĐDHTN. Tuy nhiên, việc mở rộng hoạt động phi truyền thống cũng đồng nghĩa với việc đối mặt với những tác động lớn đến lợi nhuận và rủi ro của các NHTM. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của ĐDHTN đến lợi nhuận và rủi ro của NHTM. Kết quả của các nghiên cứu này vẫn chưa thống nhất và đôi khi khác nhau rất nhiều. Acharya và cộng sự (2002) cho rằng ĐDHTN có thể làm giảm lợi nhuận và tăng rủi ro của NH, trong khi đó nghiên cứu của Sharma và Anand (2020); Moudud và cộng sự (2022); Buyuran và Ekşi (2023) lại cho thấy ĐDHTN có tác động tích cực đến khả năng sinh lời, giúp tăng lợi nhuận và giảm rủi ro. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam để tìm ra câu trả lời cho các NHTM Việt Nam quan tâm đến vấn đề này.

1.2. Mục tiêu đề tài

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Đánh giá tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM tại Việt Nam. Từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro khi các NHTM Việt Nam đa dạng hoá thu nhập.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Luận văn hướng tới các mục tiêu chi tiết như sau:

  • Xem xét, nhận định mức độ và hướng tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam.
  • Đề xuất hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro khi đa dạng hoá thu nhập tại các NHTM Việt Nam.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi chính bao gồm:

  • Chiều hướng và mức độ tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam như thế nào?
  • Hàm ý chính sách nào được đề xuất nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro khi đa dạng hoá thu nhập tại các NHTM Việt Nam?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ của ĐDHTN đối với rủi ro của các NHTM Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: 24 NHTM tại Việt Nam.

Về thời gian: Thời gian nghiên cứu là giai đoạn tái cấu trúc NHTM Việt Nam năm 2014 đến năm 2024. Tác giả chọn giai đoạn này vì quyết định 254/2014/QĐTTg và 1058/2018/QĐ-TTg tái cấu trúc các NHTMCP Việt Nam đề cập đến khía cạnh NHTM cần ĐDHTN.

Dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 24 NHTM Việt Nam, dữ liệu vĩ mô được thu thập từ Ngân hàng thế giới.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với các mô hình hồi quy đa biến trên dữ liệu bảng như: Pooled OLS; FEM; REM và hồi quy mô men tổng quát sai phân (SGMM). Luận văn thực hiện hồi quy từng bước và thông qua các kết quả kiểm định để lựa chọn mô hình ước lượng vững và hiệu quả.

Các bước thực hiện mô hình định lượng, kiểm định các tiêu chí và lựa chọn mô hình như sau:

Bước 1: Ước lượng mô hình hồi quy Yit = α + βXit + μit theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (POLLED OLS) để kiểm định tác động của đa dạng hoá thu nhập đến rủi ro.

Bước 2: Tính toán hệ số VIF để xác định mô hình có bị hiện tượng đa cộng tuyến hay không. Dựa vào kết quả, nếu giá trị VIF bằng 1 thì mô hình không bị đa cộng tuyến, nếu giá trị VIF nằm trong khoảng từ 0 đến dưới 1 thì mô hình bị đa cộng tuyến yếu, VIF lớn hơn 1 thì mô hình bị đa cộng tuyến không hoàn hảo, giá trị VIF càng lớn thì mô hình bị đa cộng tuyến càng nghiêm trọng.

Bước 3: Kiểm định White.

Bước 4: Ước lượng mô hình hồi quy mô tác động ngẫu nhiên để kiểm định quan hệ giữa ĐDHTN và rủi ro.

Bước 5: Mô hình FEM, kiểm định Wald để xem xét xem có hiện tượng phương sai thay đổi.

Bước 6: Ước lượng hồi quy mô hình tác động cố định (REM) xem xét sự khác biệt của các đối tượng theo thời gian nên kết quả ước lượng không bị phương sai thay đổi nhưng tiềm ẩn sự tự tương quan.

Bước 7: Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian để lựa chọn mô hình Pooled OLS và REM.

Bước 8: Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình FEM hay REM.

Bước 9: Ước lượng hồi quy mô hình SGMM nhằm giải quyết sự mất tính nội sinh và các vấn đề khác trong dữ liệu bảng (Arellano và Bond, 1991a). SGMM được thiết kế dựa trên các giả định về tiến trình tạo ra dữ liệu: là tiến trình động với biến phụ thuộc chịu tác động của nó trong quá khứ; một vài biến bị nội sinh; nhiễu đặc dị (Idiosyncratic Disturbances) có thể có mô hình đặc trưng cá nhân của phương sai thay đổi (Heteroskedasticity) và tự tương quan (Serial Correlation); nhiễu đặc dị không tương quan với các cá thể (Individuals); bảng là T nhỏ, N lớn. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Bước 10: Xem kết quả kiểm định Sargan – Hansen để kiểm định sự ngoại sinh của biến công cụ thông qua việc kiểm định thỏa hơn điều kiện xác định (overidentification).

Bước 11: Thực hiện kiểm định Abond về sự tự tương quan bậc 2 của phương trình sai phân.

Sau khi thực hiện tất cả các kiểm định trên, tác giả sử dụng kết quả nghiên cứu của mô hình GMM để phân tích tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam.

1.6. Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định lợi ích của ĐDHTN đối với việc hạn chế rủi ro của NHTM. Đồng thời dẫn ra kết quả về tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2014 – 2024. Song song đó, căn cứ các chỉ số sau khi nghiên cứu, đưa ra các đề xuất, khuyến nghị cho các NHTM thực hiện ĐDHTN nhằm hạn chế rủi ro của các Ngân hàng. Đồng thời, kết quả nghiên cứu là cơ sở tiếp nối cho các nghiên cứu tiếp theo cùng lĩnh vực.

1.7. Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu 5 chương, đó là:

  • Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
  • Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài cũng như đề ra các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời, chương này cũng đã xác định được đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu được thực hiện để giải quyết các vấn đề nghiên cứu.

Cuối cùng chương này cũng đã xác định được các đóng góp của đề tài này về mặt lý luận cũng như thực tiễn.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về đa dạng hóa thu nhập và rủi ro của NHTM

2.1.1. Lý thuyết về danh mục đầu tư hiện đại

2.1.1.1. Khái niệm về danh mục đầu tư hiện đại Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT) là lý thuyết cho phép các nhà đầu tư không ưa chuộng rủi ro đặt kỳ vọng xây dựng một danh mục đầu tư tối ưu hóa hay tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng với mức độ rủi ro thị trường nhất định hay rủi ro là một phần đánh đổi để có lợi nhuận cao hơn (Markowitz, 1952). Markowitz (1952) cho rằng danh mục đầu tư hiện đại xây dựng một danh mục gồm nhiều tài sản sẽ tối đa hóa được lợi nhuận với mức độ rủi ro hợp lý. Hay nói cách khác để đạt được mức lợi nhuận mong muốn thì nên xây dựng một danh mục đầu tư có mức rủi ro thấp nhất có thể.

2.1.1.2. Rủi ro danh mục đầu tư và lợi nhuận kỳ vọng

Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đặt giả định rằng các nhà đầu tư không thích rủi ro hoặc ưa chuộng một danh mục đầu tư với ít rủi ro hơn mức lợi nhuận mình kiếm được. Điều này cho thấy các nhà đầu tư sẽ chấp nhận rủi ro nhiều hơn khi mong đợi được một khoản lợi nhuận cao hơn từ việc đầu tư tài sản. Hay nói cách khác trên một danh mục đầu tư là sự kết hợp nhiều loại tài sản, chúng có mối tương quan với nhau và rủi ro của cả danh mục đầu tư. Từ đó, hình thành đường biên hiệu quả.

Hình 2.1: Đường biên hiệu quả

Hình 2.1 cho thấy rằng với cùng một mức rủi ro hoặc rủi ro thấp hơn, mỗi danh mục đầu tư nằm trên đường biên hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi tức cao hơn so với những danh mục đầu tư không nằm trên đường biên hiệu quả. Nói cách khác, mỗi danh mục đầu tư hiệu quả nằm trên đường biên hiệu quả này sẽ có tỷ suất lợi tức cao hơn so với các danh mục đầu tư khác có cùng rủi ro, hoặc có rủi ro thấp hơn các danh mục đầu tư khác có cùng tỷ suất lợi nhuận với nó.

Vì thế, có thể nói rằng danh mục đầu tư A trong hình 2.1 tối ưu hơn danh mục đầu tư C bởi vì với cùng một tỷ suất lợi tức nhưng rủi ro của danh mục đầu tư A lại thấp hơn của danh mục đầu tư C. Tương tự, danh mục đầu tư B tối ưu hơn danh mục đầu tư C vì với cùng một mức rủi ro, tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục đầu tư B cao hơn danh mục đầu tư C. Từ lợi ích của việc đa dạng hóa những tài sản có hệ số tương quan không hoàn hảo (không bằng 1), ta có thể tìm được đường biên hiệu quả hình thành từ những danh mục đầu tư này thay vì từng chứng khoán riêng lẻ.

Mục tiêu của nhà đầu tư là lựa chọn một danh mục nằm trên đường biên hiệu quả, trên cơ sở mức độ hữu dụng và đăc điểm ngại rủi ro của họ, không có một danh mục đầu tư nào nằm trên đường biên hiệu quả tối ưu hơn bất kỳ danh mục đầu tư còn lại cũng nằm trên đường biên hiệu quả. Tất cả các danh mục đầu tư này có tỷ suất lợi tức và mức độ rủi ro khác nhau, với lợi tức kỳ vọng cao hơn thì rủi ro cũng cao hơn.

2.1.2. Đa dạng hóa thu nhập Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

2.1.2.1. Khái niệm

Đa dạng hóa xuất phát từ thuật ngữ Đa dạng hóa đầu tư. Markowitz (1952) cho rằng khi một ngành, lĩnh vực mà nhà đầu tư tập trung bị suy yếu trong khi có các ngành, lĩnh vực khác đang tăng trưởng thì đa dạng hóa danh mục đầu tư là việc nhà đầu tư lựa chọn thêm nhiều ngành, lĩnh vực để tham gia nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro, gia tăng lợi nhuận.

NHTM có hoạt động kinh doanh truyền thống là hoạt động tín dụng đem lại thu nhập lãi vay. Rose và Hudgins (2010) cho rằng ĐDHTN tại các NHTM là việc NH gia tăng các nguồn thu nhập bằng cách ĐDH các hoạt động kinh doanh với các SPDV ngoài các hoạt động kinh doanh truyền thống. Vì vậy, sau khi thực hiện ĐDH trong hoạt động kinh doanh, NHTM có 2 nguồn thu nhập, đó là: thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi.

Thu nhập từ lãi: Đây là khoản thu nhập đến từ các hoạt động kinh doanh truyền thống của NHTM. Khoản thu nhập này phụ thuộc vào chênh lệch lãi suất hay mức lãi mà NHTM được nhận khi thỏa thuận với khách hàng. Thu nhập từ lãi có các loại:

  • Thu nhập từ tín dụng: thu nhập từ hoạt động này bao gồm thu nhập từ hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân, các tổ chức kinh tế và cho vay các tổ chức tín dụng khác (các định chế tài chính).
  • Thu nhập từ tiền gửi: Là thu nhập mà các NHTM được nhận từ các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại NHNN, các tổ chức tín dụng khác và nguồn thu từ số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc.
  • Đầu tư chứng khoán nợ: các khoản thu từ hoạt động nắm giữ giấy tờ có giá (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Tổ chức tín dụng, trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu Kho bạc).
  • Thu phí bảo lãnh: thu nhập từ phí bảo lãnh được ghi nhận vào nguồn thu ngoài lãi của NHTM. Tuy nhiên, hiện tại, theo quy định mới nhất của NHNN, thu phí bảo lãnh thuộc một trong những khoản thu nhập từ lãi của NHTM bởi bản chất của thu phí bảo lãnh là một trong những hoạt động cho vay bên thứ 3 dưới hình thức cam kết cấp tín dụng trong trường hợp khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Thu nhập ngoài lãi: Là các khoản thu nhập từ tất cả các nguồn thu nhập còn lại khác của NHTM. Bao gồm:

  • Thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ: Khoản thu này bao gồm phí dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế, phí sử dụng các loại thẻ, phí chuyển tiền, phí thu đổi ngoại tệ, hoa hồng bảo hiểm trên doanh số bán, …
  • Lãi từ hoạt động thương mại: Kinh doanh chứng khoán, ngoại tệ, …
  • Thu nhập từ hoạt động đầu tư: Là các khoản góp vốn mua cổ phần trong doanh nghiệp, góp vốn mua cổ phẩn thành lập công ty con, góp vốn liên kết liên doanh.
  • Các khoản thu nhập khác: Thanh lý tài sản, mua/bán nợ, thu từ nợ xấu đã xử lý rủi ro, thu từ cho thuê tài sản (các hoạt động mang tính chất không thường xuyên tại NHTM).

Elsas và cộng sự (2012) cho rằng ĐDHTN thông qua tái cơ cấu các hoạt động truyền thống như tín dụng sang hoạt động kinh doanh thu phí. Tiếp đó, dựa trên sự ổn định từ việc thu phí, các NHTM tiếp tục phát triển các kênh hoạt động kinh doanh phu truyền thống như đầu tư, bảo hiểm,… để tăng thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh của NHTM.

Tóm lại, ĐDHTN là hoạt động mà các NHTM có sự tái cơ cấu và ưu tiên các hoạt động liên quan đến mở rộng thu nhập từ nhiều nguồn, hạn chế sự tập trung với hoạt động truyền thống như tín dụng. Mục đích chính là làm tăng thu nhập từ lãi và cả ngoài lãi.

2.1.2.2. Cách thức đo lường đa dạng hóa thu nhập

  • Đo lường ĐDHTN thông qua tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập

Nghị định 93/2019/NĐ-CP và thông tư 16/2020/TT-BTC, thu nhập của các NHTM được tính từ các khoản thu nhập lãi hay các khoản thu nhập tương tự và thu nhập ngoài lãi. Trong đó thu nhập từ lãi đến từ các hoạt động lãi từ gửi liên ngân hàng, thu từ cấp tín dụng, dự thu từ nắm giữ các chứng khoán nợ, phí thu từ bảo lãnh, mua bán nợ. Thu nhập ngoài lãi từ thu dịch vụ, ngoại hối, kinh doanh chứng khoán, các hoạt động góp vốn và hoạt động khác. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập của NHTM thường được sử dụng để đo lường ĐDHTN của NHTM trong các nghiên cứu liên quan như Stiroh (2004b), Lepetit và cộng sự (2010), Lee và cộng sự (2016), Batten và Vo (2018), Moudud-Ul-Hud (2020).

  • Đo lường ĐDHTN thông qua chỉ số Herfindahl – Hirshman (HHI).

Asif và Akhter (2021) cho rằng Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng để nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường là đa dạng hay mang tính tập trung cao, chỉ số này được các đối thủ cạnh tranh sử dụng để đánh giá mức độ độc quyền hay độc quyền nhóm trong hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) giữa các doanh nghiệp.

  • Chỉ số HHI được Asif và Akhter (2021) đo lường thông qua công thức như sau: HHI =
  • Giả định rằng các thu nhập thuần đều lớn hơn 0 thì HHI nằm trong khoảng (0,5;1).

Khi HHI bằng 0,5 có nghĩa là ĐDH hoàn toàn, ngược lại HHI bằng 1 thì ĐDH với mức thấp. Như vậy, HHI càng lớn thì mức độ tập trung thu nhập tại các NHTM càng cao và ĐDHTN càng thấp. Mặt khác, chỉ số HHI giúp thuận lợi hơn trong việc giải thích chỉ số ĐDHTN mạnh mẽ thì các nghiên cứu trước còn sử dụng cách tính chỉ số ĐDHTN (DIV) theo nghiên cứu của Stiroh và Rumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2010). Mức độ ĐDHTN được tính thông qua chỉ số HHI như sau:

Bản chất HHI nằm trong khoảng từ 0,5 đến 1 do đó DIV sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến gần 0,5. Điều này có nghĩa khi DIV bằng 0 có nghĩa là các NHTM chỉ có thu nhập từ 1 nguồn (chứng tỏ hoạt động ĐDH thấp). Ngược lại khi càng tiến về 0,5 thì thu nhập của các NHTM được hình thành từ nhiều nguồn (chứng tỏ hoạt động ĐDH cao). Tuy nhiên, đối với luận văn này thì tác giả sử dụng chỉ số DIV để biểu diễn cho ĐDHTN vì trong công thức DIV cũng đã bao hàm cả ý nghĩa của chỉ số HHI.

2.1.3. Rủi ro NHTM 

2.1.3.1. Khái niệm rủi ro Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Rủi ro là một khái niệm phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất. Tùy vào những quan điểm, những mảng hoạt động khác nhau thì khái niệm về rủi ro được định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, có thể tóm lược các nội dung trong khái niệm của rủi ro như sau:

Rủi ro là tính từ biểu diễn cho kết quả của một sự việc không chắc chắn về sự bất ổn (Nguyễn Minh Kiều, 2014). Tuy nhiên, sự rủi ro không khẳng định việc có thể xảy ra đối với sự vật hiện tượng, sự không chắc chắn mà không thể liệu trước khả năng có thể xảy ra. Bất trắc chỉ trở thành rủi ro khi có thể đo lường được bằng xác suất, hay nói cách khác rủi ro có thể được xem như một tập hợp con của bất trắc.

Rủi ro tại NHTM có thể hiểu là việc các ngân hàng xảy ra những kết quả hay hành động dẫn đến sự tổn thất hay suy giảm về lợi nhuận, tài sản hoặc tốn chi phí để khắc phục một sai lầm hay bất cẩn nào đó trong việc thực hiện nghiệp vụ kinh doanh của NHTM (Phan Thị Cúc, 2011) hay nói một cách rộng hơn rủi ro tại NHTM là sự suy giảm hay mất đi một phần tài sản hay lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh. (Bessis, 2013).

Rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng cao. Do đó, các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận đều ẩn chứa nhiều rủi ro. Tùy theo khẩu vị rủi ro của từng nhà quản trị mà việc đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mức độ rủi ro có thể chấp nhận có đem lại lợi ích như kỳ vọng hay không. Ngành NHTM cũng không nằm ngoài quy luật đó, rủi ro của NHTM rất đa dạng, theo Rose (1999), tại NHTM có 4 loại rủi ro bao gồm: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro thanh khoản.

Hơn nữa, với bản chất kinh doanh về tiền, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM luôn song hành, gắn với mọi nghiệp vụ, luôn có thể xảy ra. Hoạt động kinh doanh luôn đi kèm với rủi ro nhưng nếu rủi ro xảy ra với tần suất cao, gây thiệt hại lớn trên quy mô rộng thì rủi ro có thể tạo thành chuỗi dẫn đến hiệu ứng domino xảy ra nhanh chóng tại các hoạt động tín dụng, chứng khoán, bất động sản, … và NHTM/hệ thống NHTM bị phá sản kéo theo sự sụp đổ của thị trường tài chính, phá vỡ sự ổn định của hệ thống. Do mức độ ảnh hưởng có thể nói vô cùng lớn, việc phá sản NHTM không xảy ra với tần suất cao như các loại hình doanh nghiệp sản xuất, thương mại khác, nhưng không đồng nghĩa với việc không xảy ra.

Hay luận giải đó thì tại NHTM rủi ro phá sản được xem là nguy cơ mà các ngân hàng rơi vào tình trạng có thể phải nộp đơn hay làm các thủ tục với các cơ quan có thẩm quyền về việc ngưng hoạt động kinh doanh và buộc phải sát nhập với một đơn vị ngân hàng khác. Nhìn từ nhiều khía cạnh thì rủi ro này tại NHTM có thể đến từ bản thân hoạt động kinh doanh ngân hàng và từ môi trường kinh tế bên ngoài. Biểu hiện đầu tiên cho rủi ro này chính là nguồn vốn từ các cổ đông không còn đầy đủ để tài trợ cho các khoản tài sản, khả năng thanh khoản lẫn thanh toán của NHTM giảm sút hoặc không có năng lực (Sherrill Shaffer, 2014). Từ đó, có thể thấy các rủi ro của các hoạt động kinh doanh đều dẫn đến nguy cơ chính đó là rủi ro phá sản của NHTM. Tác giả thực hiện bài nghiên cứu này chú trọng xem xét đến rủi ro phá sản của NHTM.

Phân loại rủi ro tại các NHTM bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và rủi ro thanh khoản. Cụ thể:

  • Rủi ro tín dụng: Đây là dạng thức thất thoát tài sản có thể phát sinh khi khách hàng không thực hiện thanh toán nợ cho dù là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.
  • Rủi ro thị trường: Đây là dạng thức tổn thất đến từ mất cân đối của biến động giá cả thị trường bao gồm lãi suất, trạng thái vốn, tỷ giá và hàng hóa tiêu thụ trên thị trường.
  • Rủi ro tác nghiệp: Đây là dạng thức tổn thất liên quan đến các hoạt động vận hành bộ máy tổ chức do con người hay hệ thống hoặc các sự cố bên ngoài bị hỏng. Trong đó phải kể đến rủi ro pháp lý nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và thương hiệu.
  • Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là rủi ro ngân hàng mất khả năng thanh toán. Đây là loại rủi ro đặc thù và là rủi ro nguy hiểm nhất, có ảnh hường tới sự sống còn của các NHTM. Một ngân hàng hoạt động bình thường thì phải đảm bảo được khả năng thanh toán, tức là đáp ứng được nhu cẩu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất. Nếu không đáp ứng được các nhu cẩu thanh toán đó, Ngân hàng có thể bị mất khả năng thanh toán và có nguy cơ phá sản.

2.1.3.2. Cách thức đo lường rủi ro bằng công cụ Var

Công cụ VaR được sử dụng phổ biến trong hoạt động quản trị rủi ro thị trường đối với danh mục đầu tư. Công cụ này được tiến hành  nhằm đo lường và cảnh báo sớm cho danh mục sẽ có những tổn thất nào đối với tài sản, trong trường hợp các nhà đầu tư thay đổi giá trị của mỗi loại tài sản tring một danh mục. Từ đó, giúp cho các nhà quản trị có phương án phòng hộ với rủi ro. Đối với công cụ này thì giải định rằng xác suất xảy ra trong khoảng thời gian không thay đổi. Đối với hệ số VaR thì đây là giá trị ngưỡng của xác suất tổn thất danh mục tại khoảng thời gian nhất định và không vượt quá một giá trị (Jorion, 2005 và Holton, 2017). Từ năm 1999 khi Basel II và III bắt đầu hoàn thiện thì tại NHTM công cụ VaR bắt đầu được để mắt đến trong hoạt động đo lường và quản trị rủi ro của các NHTM khi các ngân hàng bắt đầu có xu hướng tái cơ cấu và chuyển đổi hoạt động kinh doanh truyền thống sang đầu tư nhiều hạn mục tài sản khác (Berkowitz và O’Brien, 2001).

Công cụ VaR vừa có những điểm mạnh và yếu nhất định, trong đó công cụ này vẫn chưa phải là thang đo rủi ro chặt chẽ vì nó chỉ cho chúng ta biết mất tối đa bao nhiêu trong các tình huống và vẫn chưa trả lời được trong các tình huống nhỏ với xác suất 1% hay 5% tình huống xấu với các diễn biến bất ngờ của thị trường. Đặc biệt VaR chưa giải quyết được mức tổn thất được dự tính là bao nhiêu khi xảy ra rủi ro.

2.1.3.3. Cách thức đo lường rủi ro bằng hệ số Z-Score

Beaver (1966) cho rằng dấu hiệu để thấy một tổ chức kinh doanh phá sản là khi tổ chức này đang gặp những rủi ro về mất khả năng thanh toán các khoản nợ, cổ tức đến kì cho cổ đông và thấu chi.

Beaver và Engel (1996) so sánh các chỉ số tài chính đó là khoản phi tín dụng của các tổ chức khi phá sản/không phá sản; tỷ lệ dòng tiền trên tổng nợ, tỷ lệ thanh toán nhanh, tỷ lệ thu nhập ròng trên tài sản, tỷ lệ dòng tài trợ, đòn cân nợ. Dựa trên nền tảng của Beaver (1966) thì Altman (1968) đã sử dụng hệ số Z – score để đo lường rủi ro.

Chỉ số Z-score này được áp dụng để tính toán cho các công ty không thuộc lĩnh vực tài chính, NHTM – một ngành nghề rất đáng quan tâm vì mức độ rủi ro trong ngành này rất cao. Hannan và Hanweck (1988) đã nghiên cứu mô hình Z-score của Altman (1968) và tìm cách vận dụng cho các công ty thuộc ngành NHTM. Chỉ số này tập trung chú ý vào hai vấn đề chính là ROA và đòn bẩy tài chính của NHTM để xác định hệ số rủi ro cũng là Z-score. Nhằm tính toán xác suất vỡ nợ của NHTM đó. Chỉ số rủi ro được đề xuất bởi Hannan và Hanweck (1988) được tính như sau:

Công thức được khai triển như sau:

Trong đó: Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

  • ROAi: Suất sinh lời NHTM năm i (ROA = π/A, với π là lợi nhuận)
  • E(ROAi): Trung bình cộng của ROA trong giai đoạn xác định.
  • E/A: Tỷ lệ đòn bẩy tài chính.
  • CAPi: Tỷ số vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản ngân hàng năm i. σROA: Độ lệch chuẩn của tỷ số vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu.

Z-score trên được hiểu là đưa một biến về cùng phân phối và cùng độ lệch chuẩn (σ = 1 và mean = 0). Mặc dù mỗi NHTM có quy mô ROA và CAPi không giống nhau, nhưng việc đưa biến về cùng độ lệch chuẩn và cùng phân phối khi tính chỉ số cho các NHTM giúp tác giả có thể so sánh giữa các NHTM với nhau.

Theo nghiên cứu của Hannan và Hanweck (1988), khi (ROA + E/A) ≤ 0 thì NHTM sẽ gặp rủi ro tài chính bởi vì vốn chủ sở hữu của NHTM được xem là tấm đệm hấp thụ cú sốc từ việc lợi nhuận của NHTM bắt đầu đi về âm, giúp NHTM tiếp tục  được hoạt động, tuy nhiên, tình trạng thua lỗ nếu không cải thiện hoặc mức độ thua lỗ lớn dẫn đến việc âm vốn chủ sở hữu của NHTM (E < -π, với π là lợi nhuận). Đối chiếu lên công thức của Hannan và Hanweck (1988) thì điều này đồng nghĩa chỉ tiêu ROA + E/A sẽ giảm dần, đến khi (ROA + E/A) bị âm tức là NHTM đã đứng bên bờ vực vỡ nợ. Z-score cho biết số độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình, giá trị này mang ý nghĩa cảnh báo khi tỷ suất ROA của một NHTM giảm xuống dưới giá trị kỳ vọng mà tại đó ta có thể xem xét trước khi vốn chủ sở hữu cạn kiệt và NHTM lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả. Do đó, chỉ số Z-score được tính toán cho một NHTM càng cao nghĩa là nó càng cao hơn mức trung bình thì có thể nhận định tình hình tài chính càng an toàn, ngược lại chỉ số Z-score càng thấp thì rủi ro phá sản của NHTM càng cao. Xác suất vỡ nợ của NHTM là nghịch đảo với công thức hệ số nguy cơ phá sản Z-score.

Cũng theo Hannan và Hanweck (1988), với Z > 0, xác suất vỡ nợ NHTM: P( ROA ≤ -E/A) ≤ Z – 2.

Như vậy, xác suất vỡ nợ của một NHTM (i) tại thời điểm (t) là Pit = Zit – 2 (với Z > 0).

Pit càng cao thì xác suất vỡ nợ NHTM tại thời điểm t càng cao. Rủi ro vỡ nợ NHTM được đo lường ở đây bắt nguồn từ khả năng sinh lời và hấp thụ các biến cố từ lợi nhuận của vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, khi lợi nhuận kém và không cải thiện đi lên và/hoặc vốn chủ sở hữu không đủ để chịu nổi những cú sốc thì rủi ro vỡ nợ càng tăng, điều này làm Pit tăng.

2.2. Lý thuyết liên quan về đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro ngân hàng Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

2.2.1. Lý thuyết trung gian tài chính

Diamond (1984) cho rằng việc đa dạng hóa danh mục cho bay sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin và giảm chi phí giám sát của ngân hàng. NHTM với vai trò là trung gian tài chính và luân chuyển dòng tiền huy động đến những người thừa vốn thông qua hoạt động cấp tín dụng. Nhưng việc giám sát các khoản cấp tín dụng này không hiệu quả thì NHTM sẽ gặp rủi ro liên quan đến việc thu hồi, do khách hàng không có thiện chí trả nợ hoạt sử dụng sai mục đích vốn vay gây thiệt hại nghiêm trọng. Ngược lại, nếu NHTM có thể giám sát chặt chẽ hay không để mất cân đối thông tin thì sẽ hạn chế được việc xảy ra rủi ro thu hồi nợ khó đòi hay khoản vay hiệu quả. Ngoài ra, Diamond (1984) còn cho rằng khi các dự án cho vay đối với các doanh nghiệp độc lập tăng lên không giới hạn thì việc bất cân xứng thông tin sẽ được giảm xuống. Để khắc phục việc thông tin không đầy đủ thì các NHTM buộc phải giám sát hiệu quả hơn và giảm các múc chi phí trung gian thấp hơn.

2.2.2. Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô

Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô được phát triển bởi Panzar và Willig (1977). Lý thuyết này cho rằng chi phí vốn trung bình sẽ giảm khi doanh nghiệp mở rộng chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp. Khi doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội chuyển đổi nguồn lực và chia sẻ nguồn lực dùng chung (Markides và Williamson, 1994). Nếu hai hay nhiều lĩnh vực kinh doanh cùng chia sẻ một số nguồn lực dùng chung thì tổng chi phí vốn sẽ giảm xuống và từ đó làm cho hiệu quả tăng lên (Panzar và Willig, 1977).

Vận dụng lý thuyết này trong trường hợp các ngân hàng thực hiện đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng sẽ có thể sử dụng chung các nguồn lực như công nghệ, nhân lực, cơ sở vật chất, thông tin, … nhờ đó tiết giảm được chi phí. Kết quả là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng có thể tăng lên. Khi đa dạng hóa trong lĩnh vực có liên quan thì ngân hàng cũng tận dụng được kỹ năng quản lý, kiểm soát được rủi ro nên rủi ro có thể giảm xuống. Vì vậy, đề tài xây dựng mô hình nghiên cứu đa dạng hóa tác động đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng với giả thuyết đa dạng hóa thu nhập sẽ làm tăng hiệu quả kinh doanh.

Đa dạng hóa hoạt động vừa có thể làm tăng thu nhập lẫn rủi ro cho các NHTM. Cụ thể khi đa dạng hóa thì sẽ làm cho NHTM gia tăng được mặt tiếp cận với các hoạt động kinh doanh mới hay đa dạng được phạm vi hoạt động của NHTM so với chuyên mô hiện tại (Klein và Saidenberg, 1998). Nhưng hoạt động đa dạng hóa làm cho NHTM đối mặt với việc cạnh tranh với các lĩnh vực mới vốn dĩ chưa phải là thế mạnh và làm gia tăng chi phí đại diện để thuê thêm nhân sự nhằm quản lý các hoạt động mới đó (Winton, 1999 và Deng và Elyasiani, 2010).

Hơn nữa, theo Trần Việt Dũng (2022), đa dạng hóa thu nhập từ các nguồn thu khác nhau từ các hoạt động khác nhau cũng làm gia tăng rủi ro ngân hàng. Việc phụ thuộc nhiều hơn vào các hoạt động rủi ro như kinh doanh tự doanh, đầu tư mạo hiểm, … khiến các ngân hàng gặp rủi ro cao hơn, trong khi thu nhập ngoài lãi từ các hoạt động ngân hàng truyền thống như dịch vụ tiền gửi, thu nhập ủy thác, … không làm gia tăng rủi ro ngân hàng. Bằng chứng phù hợp với các tài liệu trước đây (DeYoung và Torna, 2015). Ngoài ra, đa dạng hóa trở nên rủi ro hơn sau khi NHTM tham gia vào Chương trình Cứu trợ Tài sản có vấn đề (TARP) trong cuộc khủng hoảng gần đây. Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng các ngân hàng cứu trợ làm gia tăng mức độ rủi ro đạo đức (Black và Hazelwood, 2015).

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro của NHTM Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

2.3.1. Các yếu tố nội tại

Taran (2014), Kenneth và cộng sự (2016) đã vận dụng các yếu tố của mô hình CAMELS làm các biến độc lập. Trong đó:

2.3.1.1. Đa dạng hóa thu nhập

Hiện nay có nhiều lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng tại các NHTM thì hoạt động tín dụng vẫn là nguồn chính để tạo ra thu nhập cho NHTM.

Tuy nhiên, dưới sức ép giảm thiểu rủi ro hệ thống do tín dụng gây ra và đa dạng hóa các nguồn thu nhập cho NHTM thì việc đa dạng hóa hoạt động và các loại sản phẩm phục vụ khách hàng hay bán chéo nhiều loại sản phẩm giúp cho NHTM tận thu các khoản phí, lợi nhuận tăng theo cũng như hạn chế được tối đa rủi ro từ hoạt động tín dụng thuần túy gây ra (Baele và cộng sự, 2007).

2.3.1.2. Mức độ an toàn vốn (Capital adequacy)

Tỷ lệ này thể hiện cho số vốn tự có được các NHTM trích lập nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh ổn định của các NHTM (Nguyễn Thị Cẩm Giang, 2015). Mức độ an toàn vốn được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR): Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2015) cho rằng hệ số CAR phản ánh khả năng thanh toán của các NHTM với các khoản nợ khi đến hạn hay khả năng các NHTM đối mặt với các rủi ro liên quan đến tín dụng hay vận hành. Hệ số này luôn được các NHTM duy trì và đảm bảo tại một mức ổn định nhằm tạo ra tấm khiên chắn giúp các NHTM chống lại các cú sốc tài chính và đảm bảo được quyền lợi cho khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại NHTM.

Đòn bẩy tài chính: NHTM thường sử dụng kênh huy động vốn từ huy động tiền gửi tiết kiệm hay đi vay các tổ chức tín dụng khác nhưng điều này sẽ khiến các NHTM đối mặt với rủi ro thanh khoản hay lãi suất gia tăng. Do đó, đòn bẩy tài chính cho thấy quy mô vốn chủ sở hữu mà các NHTM huy động được, đây cũng được xem là nguồn vốn dài hạn giúp cho các NHTM hạn chế được các rủi ro. Hay nói cách khác khi vốn chủ sở hữu gia tăng trên nguồn huy động sẽ giúp cho các NHTM hạn chế được rủi ro xảy ra.

2.3.1.3. Chất lượng tài sản Có Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Tại NHTM tài sản có được thể hiện thông qua giá trị tiền mặt, chứng khoán ngắn hạn, cho vay, đầu tư và tài sản cố định. Việc xác định chất lượng tài sản có phụ thuộc vào việc mà các NHTM hoạt động ổn định và thu nhập lãi đều đặn. Trong đó, hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất, hay hoạt động này cũng chiếm tỷ trọng cao trong việc đánh giá chất lượng tài sản có. Chất lượng tài sản có suy giảm thường bắt nguồn từ rủi ro tín dụng của NHTM, đó là nợ xấu hay nợ quá hạn gia tăng. Khi chất lượng tài sản có suy giảm thì uy tín của NHTM bị hạ thấp và làm cho niềm tin của tổ chức/ cá nhân đối với ngân hàng cũng giảm theo. Điều này dẫn đến rủi ro thanh khoản vì các khách hàng gửi tiền tiết kiệm có xu hướng tất toán giao dịch. Mặt khác, không khai thác được nguồn lợi của tài sản có sẽ tạo ra sự lãng phí trong chi phí sử dụng vốn của các NHTM hay các NHTM gặp rủi ro nguồn vốn. Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản Có của NHTM:

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ: Đối với hoạt động tín dụng của NHTM thì tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện cho chất lượng tín dụng của NHTM càng tốt. Mặt khác, tỷ lệ nợ xấu là một trong những dấu hiệu cảnh báo tình hình tài chính của các NHTM, tỷ lệ này càng tăng cao thì càng làm suy giảm hoạt động tài chính của NHTM, gốc & lãi khó thu hồi làm ảnh hưởng đến việc thanh toán cho các khoản tiền gửi và tạo ra rủi ro hoạt động cho các NHTM (Montgomery và cộng sự, 2003; Halling và Hayden, 2006).

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ: Đây là một trong những chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM, khi có nợ xấu và nợ quá hạn xuất hiện. Tỷ lệ này càng tăng cao đồng nghĩa với việc các NHTM phải trích lập chi phí nhiều hơn để phòng ngừa cho rủi ro tín dụng xảy ra khi không thu hồi được hay để tất toán khoản nợ quá hạn (Nguyễn Hữu Thạch, 2017). Hay nói cách khác, tỷ lệ này càng tăng thì chất lượng tài sản có càng suy giảm. Tuy nhiên, Nguyễn Thanh Dương (2015) lại cho rằng chỉ số này không phải là duy nhất để chi phối được rủi ro phá sản NHTM.

2.3.1.4. Năng lực quản lý (Management ability)

Năng lực quản lý của NHTM được thể hiện trong việc các nhà quản lý NHTM vận hành các hoạt động kinh doanh. Trong đó phải kể đến các hoạt động liên quan đến tổng tài sản NH và kiểm soát, tối ưu các khoản chi phí. Tổng tài sản NH thể hiện sức mạnh tài chính của tổ chức, quản lý chi phí thể hiện cho khả năng quản trị của lãnh đạo giúp cho các NHTM tăng trưởng hoạt động kinh doanh và hạn chế được những rủi ro hoạt động. Trong đó:

Quy mô NHTM: Thường được xác định là quy mô tổng tài sản hay lấy logarit tổng giá trị tài sản. Logan (2001); Taran (2014) rủi ro trong NHTM và quy mô NH theo tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều, vì các NHTM lớn có khả năng ĐDH hoạt động kinh doanh. Ngược lại, Tan và cộng sự (2015) lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều vì các NHTM có quy mô lớn hơn phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn để vận hành thì cần phải vay và mở rộng lợi nhuận nên cần phải đầu tư vào các hạng mục mạo hiểm.

Tỷ lệ chi phí hoạt động: Đây là tỷ lệ thể hiện cho hiệu quả quản lý của các NHTM (CIR). Trong đó, tăng các chi phí hoạt động cụ thể là lương và trợ cấp sẽ giúp các NHTM ổn định hơn nhưng các rủi ro thanh toán cũng sẽ tăng lên theo (Taran, 2014 và Nguyễn Hữu Thạch, 2017) nhưng nó sẽ trầm trọng hơn khi hoạt động kinh doanh của NHTM kém hiệu quả.

2.3.1.5. Khả năng sinh lời (Earnings strength) Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Như đã đề cập tại phần giới thiệu đề tài, ngoài sứ mệnh là trung gian tài chính cho các chủ thể trên nền kinh tế thì các NHTM vẫn hướng đến mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cho tổ chức mình. Hay chỉ tiêu này được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của NHTM. Khả năng sinh lời không chỉ thể hiện số lợi nhuận tạo ra của NHTM mà còn phản ánh cơ cấu lợi nhuận.

Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA): Tỷ số đo lường mỗi đồng tài sản kiếm được bao nhiêu lợi nhuận. Tài sản của NHTM gồm đi vay và vốn chủ sở hữu. Hiệu quả của việc sử dụng các nguồn tài trợ để hình thành lợi nhuận ròng được thể hiện qua ROA. Taran (2014) cho rằng ROA của NHTM càng lớn thì các NHTM đang có được nhiều lợi nhuận hơn từ nguồn tài trợ, hay nói cách khác là đối mặt với rủi ro ít hơn và có khả năng kiếm được nhiều tiền hơn từ lượng đầu tư ít hơn. Mặt khác, khi ROA tăng lên chứng minh các nguồn thu nhập của NHTM gia tăng kể cả đến từ ĐDHTN. Hay nói cách khác tạo điều kiện cho các NHTM gia tăng quy mô, tạo uy tín trên thị trường, tăng trưởng huy động và tiếp cận được các khách hàng vay chất lượng hơn (Phan Thị Khánh Nhi, 2018).

Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE): Tỷ lệ này đo lường 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ thu được lại bao nhiêu đồng lợi nhuận của NHTM. Theo Halling và Hayden (2006), chỉ số ROE càng cao càng chứng tỏ NHTM sử dụng hiệu quả đồng vốn chủ sở hữu, nghĩa là NHTM đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn chủ sở hữu với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Ngược lại, theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Nhi Khánh (2018), chi phí cho vốn chủ sở hữu cao hơn chi phí cho vốn vay, khoản mục chi phí trung bình tăng, làm giảm lợi nhuận của NHTM, rủi ro tăng cao.

2.3.1.6. Khả năng thanh khoản (Liquidity Sufficiency)

NHTM thường xuyên huy động tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn ngắn với lãi suất thấp và cho vay kỳ hạn dài với lãi suất cao hơn. Do đó, NHTM luôn có nhu cầu về thanh khoản rất lớn. Tính thanh khoản của NHTM là khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi tiết kiệm và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết tức thời. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel (1996), rủi ro thanh khoản xảy ra khi NHTM không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp NHTM thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hoạt động thanh toán. Vì thanh khoản ảnh hưởng trực tiếp tới niềm tin của thị trường nên đây là một trong những rủi ro tác động nhanh nhất, trực tiếp dẫn đến nguy cơ phá sản NHTM, gây ra ảnh hưởng lan truyền, có thể sụp đổ toàn hệ thống. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản của NHTM như sau:

Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng huy động của NHTM: Tỷ lệ này dùng đo lường thanh khoản, tỷ lệ này tăng thì rủi ro thanh khoản tăng vì mất cân đối giữa cung và cầu thanh khoản (Montgomery và cộng sự, 2004). Trong khi đó, Nguyễn Thanh Dương (2015) tìm thấy mối quan hệ nghịch biến do khi khó khăn thanh khoản xuất hiện dẫn đến việc các NHTM cạnh tranh tăng lãi suất huy động, làm tỷ lệ này giảm nhưng rủi ro lại tăng cao.

Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng huy động ngắn hạn của NHTM: Tài sản thanh khoản xem như là khoản dự trữ để đối phó sự cố người gửi tiền đồng loạt yêu cầu rút tiền gửi trước hạn. Tỷ lệ này càng cao thì thanh khoản càng tốt, từ đó sẽ hạn chế khả năng phá sản (Nguyễn Hữu Thạch, 2017). Trong khi đó, Nguyễn Thanh Dương (2015) không tìm thấy sự ảnh hưởng của tỷ lệ này tới rủi ro phá sản NHTM. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

2.3.1.7. Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường

Độ nhạy với rủi ro thị trường chính là đo lường độ nhạy của thu nhập hay vốn tự có của NHTM với biến động của lãi suất thị trường, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa và giá cổ phiếu. Việc đo lường mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường của các NHTM cần được sử dụng các mô hình chuyên biệt về đo lường nhạy cảm và nghiên cứu chuyên sâu, do đó trong phạm vi đề tài sẽ không đo lường yếu tố này.

2.3.2. Các yếu tố vĩ mô

Có rất nhiều yếu tố bên ngoài từ môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ảnh hưởng tạo thành môi trường kinh doanh của NHTM, một sự thay đổi dù nhỏ của những yếu tố này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp theo hướng tích cực hoặc tiêu cực lên NHTM. Với những NHTM chưa có sự chuẩn bị ứng phó, hay khả năng ứng phó với sự thay đổi kém thì nguy cơ phá sản là có khả năng xảy ra (Nguyễn Việt Hùng, 2010).

2.3.2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định. Tana và cộng sự (2015) đều cho rằng khi GDP tăng, lượng sản xuất của nền kinh tế tăng, sức khỏe của nền kinh tế là tương đối tốt, NHTM và khách hàng có điều kiện kinh doanh thuận lợi. Nhưng trong thời kỳ suy thoái, các điều kiện kinh doanh bất lợi, khách hàng bị ảnh hưởng về kinh doanh, có thể phá sản, NHTM sẽ đối mặt với vấn đề tiếp cận được ít khách hàng hơn.

2.3.2.2. Tỷ lệ lạm phát

Trong phạm vi một quốc gia, lạm phát là việc hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tăng với tỷ lệ chung theo thời gian, hay nói cách khác, là sự mất giá trị hay suy giảm sức mua của một loại tiền tệ. Lạm phát ảnh hưởng tới mọi mặt của kinh tế xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát tự nhiên thúc đẩy kinh tế chuyển động và thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát cao hoặc không thể dự báo trước lại có hại cho nền kinh tế, khi đồng tiền mất giá quá nhanh, việc đầu tư kinh doanh mang về lợi nhuận không đủ bù đắp sự mất giá, người dân sẽ dừng hoạt động kinh doanh và chuyển sang tích trữ hàng hóa có giá trị, từ đó cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Và khi nền kinh tế đình trệ, việc NHTM phá sản là không thể tránh khỏi, do đó lạm phát được kỳ vọng có tương quan thuận chiều với rủi ro. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của lạm phát tới rủi ro của NHTM mang lại các kết quả khác nhau. Andrea và cộng sự (2011) cho kết quả tác động cùng chiều; Tana và cộng sự (2015) cho kết quả tác động ngược chiều; Phan Thị Nhi Khánh (2018) lại cho rằng lạm phát không có tác động tới rủi ro của các NHTM.

2.4. Lược khảo nghiên cứu Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Có nhiều nghiên cứu tập trung vào quan hệ giữa ĐDHTN và hiệu suất tài chính của các NHTM cho thấy có mối tương quan dương giữa ĐDHTN và tăng trưởng lợi nhuận. Ví dụ, Lee và cộng sự (2016) với dữ liệu của 142 ngân hàng từ 45 quốc gia trong giai đoạn từ 2001 đến 2012 và hồi quy để đánh giá mối quan hệ giữa ĐDHTN và hoạt động của các NHTM trên thế giới. Kết quả cho thấy rằng, ĐDHTN có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất của các NHTM, nhưng sự ảnh hưởng này lại phụ thuộc vào cấu trúc tài chính của NHTM và các biện pháp cải cách tài chính của quốc gia. Nói cách khác, ĐDHTN có thể làm tăng hiệu suất của NHTM, nhưng hiệu quả này sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như chính sách tài chính của quốc gia đó.

Một số nghiên cứu tập trung vào ngân hàng ở các quốc gia đã phát triển (Gallo và cộng sự, 1996; DeYoung và Rice, 2004; Baele và cộng sự, 2007; Elsas và cộng sự, 2012). Gallo và cộng sự (1996) nghiên cứu hiệu quả của hoạt động quỹ tương hỗ đối với lợi nhuận và rủi ro của các NHTM ở Mỹ từ 1987-1994. Các NHTM tham gia vào kinh doanh phi tuyền thống mang lại lợi ích đa dạng hóa, tăng lợi nhuận cũng như giảm thiểu rủi ro. Baele và cộng sự. (2007) phân tích tác động của việc đa dạng hóa doanh thu của các ngân hàng Châu Âu đối với hiệu quả hoạt động và kết luận thu nhập ngoài lãi có tác động tích cực và đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. Kết quả này cũng tương đồng với DeYoung và Rice (2004) đối với các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ. Vai trò của đa dạng hóa thu nhập đối với lợi nhuận ngân hàng cũng được hỗ trợ bởi Elsas và cộng sự (2012). Họ sử dụng dữ liệu bảng cho chín quốc gia đã phát triển trong giai đoạn 1996-2010 để kiểm định tác động của đa dạng hóa doanh thu lên giá trị của ngân hàng. Họ tranh luận rằng đa dạng hóa có tác động làm tăng khả năng sinh lợi của các ngân hàng.

Một số nghiên cứu khác quan tâm đến vấn đề đa dạng hóa thu nhập ở ngân hàng ở các quốc gia đang phát triển (Landskroner và cộng sự (2005) cho Israel; Molyneux và Yip (2015) cho các quốc gia hồi giáo; Sharma và Anand (2020) cho các quốc gia BRICS; Buyuran và Ekşi (2023) cho Thổ Nhĩ Kỳ). Cụ thể, Landskroner và cộng sự (2005) đã có bài nghiên cứu đánh giá tác động của việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Israel, sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính trong giai đoạn từ 1995 đến 2000 để phân tích tác động của ĐDHTN vào hiệu suất của NHTM  được đo bằng ROA; độ rủi ro được đo bằng tỷ lệ nợ xấu và hiệu suất tài chính được đo bằng khoản tăng trưởng tài sản và khoản vay trong cùng một năm. Kết quả cho thấy rằng ĐDHTN có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả giúp giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng tại Israel. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng qui mô của ngân hàng và sự phân tán cổ đông cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa ĐDHTN và hiệu quả hoạt động của NHTM. Cụ thể, những NHTM lớn và có sự phân tán cổ đông cao hơn có thể tận dụng tốt hơn những lợi ích của ĐDHTN. Tuy nhiên, tác động tích cực của ĐDHTN giảm dần khi các NHTM có quy mô lớn hơn. Molyneux và Yip (2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của ĐDHTN đối với hiệu quả hoạt động từ 110 ngân hàng Hồi giáo ở 24 quốc gia trong giai đoạn 2000-2011. Kết quả cho thấy rằng ĐDHTN có tác động tích cực đến hiệu suất và giảm thiểu rủi ro của các NHTM Hồi giáo. Các NHTM thực hiện ĐDHTN thông qua việc phát triển các hoạt động phi tín dụng, nhưng vẫn còn mối liên hệ với nhu cầu tài chính của khách hàng, đặc biệt là các sản phẩm tài chính Hồi giáo, như tài chính bảo hiểm và đầu tư. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các NHTM Hồi giáo nên tập trung vào ĐDHTN để tăng cường hiệu suất và tăng cường sức khỏe tài chính. Tuy nhiên, các NHTM cần phải có sự cân đối giữa các loại hoạt động và tránh tình trạng quá phụ thuộc vào một loại hoạt động nào đó. Gần đây, Sharma và Anand (2020) đánh giá mối quan hệ giữa ĐDHTN và hiệu suất ngân hàng cho các quốc gia BRICS (Brazil, Russia, India, China và South Africa) dựa trên dữ liệu từ 78 NHTM trong giai đoạn 2007-2018. Họ sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích tác động của ĐDHTN lên các chỉ số hiệu quả hoạt động của NHTM. Kết quả cũng cho thấy ĐDHTN có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro của NHTM trong các quốc gia BRICS. Đặc biệt, các NHTM có ĐDHTN cao hơn có tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản cao hơn. Tuy nhiên, tác động của ĐDHTN có thể khác nhau đối với từng quốc gia, tùy thuộc vào các yếu tố kinh tế và chính sách cụ thể của quốc gia đó. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự ĐDHTN không phải là giải pháp hoàn hảo cho tất cả các NHTM và cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững và tăng cường hiệu quả, giảm thiểu rủi ro. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Đặc biệt trong giai đoạn cả thế giới khủng hoảng vì dịch Covid-19, một loạt các nghiên cứu trên thế giới được thực hiện nhằm tìm ra kết quả tương quan giữa ĐDHTN với hiệu suất và rủi ro của các NHTM (ví dụ: Abbas và Ali, 2024; Buyuran và Ekşi, 2023). Abbas và Ali (2024) tập trung vào xem xét việc tăng trưởng nguồn thu từ nhiều hoạt động ảnh hưởng đến sự ổn định và nguy cơ tiềm ẩn của các NHTM. Bằng cách sử dụng dữ liệu từ 110 ngân hàng thương mại ở Pakistan trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2017, trong phân tích quan hệ giữa ĐDHTN, rủi ro tín dụng và sự ổn định tài chính của các NHTM. Kết quả cho thấy rằng ĐDHTN cùng chiều với ổn định tài chính của NHTM, tuy nhiên, tác động này có thể giảm dần khi ngân hàng đạt đến mức độ đa dạng hoá thu nhập cao. Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy rằng đa dạng hoá thu nhập không có tác động đáng kể đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng, nhưng lại có tác động tiêu cực đến rủi ro hoạt động. Về tỷ lệ sở hữu và quản trị của ngân hàng, tác giả phát hiện rằng các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu lớn của cổ đông chủ chốt và có quản trị tập trung có xu hướng tăng rủi ro tín dụng. Các kết quả này có thể giúp cho các quản lý ngân hàng tại Pakistan và các nước khác có thể áp dụng các chiến lược đa dạng hoá thu nhập hiệu quả và cải thiện sự ổn định và quản lý rủi ro của ngân hàng. Buyuran và Ekşi (2023) phân tích dữ liệu của 29 NHTM ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ 2012 đến 2021 – cho kết quả tương đồng rằng ĐDHTN có tác động tích cực đến hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là khi các ngân hàng tập trung vào các nguồn thu từ dịch vụ tài chính, chứng khoán và bảo hiểm. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy rằng tác động của ĐDHTN đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng khác nhau đối với các yếu tố kiểm soát như quy mô của NHTM và mức độ cạnh tranh trong ngành. Nghiên cứu kết luận rằng ĐDHTN có thể là một cách hiệu quả để tăng hiệu quả hoạt động và hạn chế các rủi ro của các NHTM và giảm sự phụ thuộc vào một nguồn thu cụ thể. Tuy nhiên, các ngân hàng cần đánh giá cẩn thận và tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng ngân hàng để đưa ra quyết định về đa dạng hóa nguồn thu.

Trái với đa số kết quả đưa ra ở trên, một số tác giả cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa ĐDHTN và hiệu suất, rủi ro của các NHTM (ví dụ: Zhou, (2016) cho Trung Quốc; Nepali (2020) cho Nepal, Moudul và cộng sự (2022) cho các quốc gia mới nổi; Meslier và cộng sự (2016) cho Phillipines, Wang và Lin (2023) cho các quốc gia Châu Á). Cụ thể, năm 2016, Zhou (2016) nghiên cứu tác động của ĐDHTN đến rủi ro ngân hàng, dựa trên dữ liệu từ các ngân hàng tại Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2013. Kết quả nghiên cứu cho rằng ĐDHTN có tác động tiêu cực đến rủi ro của ngân hàng ở Trung Quốc. NHTM có ĐDHTN thông qua việc phát triển các hoạt động phi tín dụng, nhưng đây cũng là những hoạt động có rủi ro cao hơn so với các hoạt động tín dụng. Vì vậy, việc ĐDHTN có thể làm tăng rủi ro tổng thể của ngân hàng. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ĐDHTN có thể có lợi ích trong một số trường hợp, nhưng đối với các NHTM ở Trung Quốc, nó không phải là một giải pháp hiệu quả để giảm rủi ro. Thay vào đó, các ngân hàng nên tập trung vào quản lý rủi ro và tăng cường năng lực tài chính để giảm thiểu rủi ro tổng thể. Nepali (2020) tập trung vào mối quan hệ giữa ĐDHTN và sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận của các NHTM tại Nepal. Kết quả cho thấy rằng ĐDHTN có tác động tiêu cực đến sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận của các NHTM tại Nepal. Các ngân hàng ĐDHTN thông qua các hoạt động phi lãi suất có xu hướng có mức rủi ro  cao hơn và đồng thời cũng có lợi nhuận thấp hơn. Ngoài ra, ĐDHTN cũng có tác động tiêu cực đến tính thanh khoản của các NHTM. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự ĐDHTN có thể có lợi ích trong một số trường hợp, nhưng cần được xem xét kỹ lưỡng và quản lý rủi ro để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững và tăng cường hiệu suất của các ngân hàng tại Nepal. Moudud và cộng sự (2022) tập trung vào vai trò của đa dạng hóa hoạt động và khủng hoảng tài chính đối với rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTM ở các nền kinh tế mới nổi bằng cách sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu của 126 ngân hàng ở 8 quốc gia mới nổi trong giai đoạn từ 2010 đến 2018. Kết quả cho thấy rằng ĐDHTN có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM, nhưng lại giảm rủi ro tín dụng. Trong khi đó, khủng hoảng tài chính có tác động tiêu cực đến cả rủi ro và hiệu quả hoạt động của NHTM. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đa dạng hóa có tác động khác nhau đối với các loại NHTM và các quốc gia. Trong khi đa dạng hóa hoạt động giảm rủi ro tín dụng cho các NHTM và các nước có tỷ lệ tín dụng khách hàng thấp, thì lại không có tác động đến rủi ro  tín dụng của các NH đầu tư và các nước có tỷ lệ tín dụng khách hàng cao. Nghiên cứu kết luận rằng các NH cần phải đa dạng hóa hoạt động một cách cân bằng và tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng quốc gia và loại ngân hàng để đảm bảo rủi ro thấp và hiệu suất cao. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Ngược lại, một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng ĐDHTN không hoàn toàn tác động lớn đến hiệu quả chung của NHTM. Meslier và cộng sự (2016) dựa trên dữ liệu từ 17 NHTM tại Philippines trong giai đoạn 2001-2012 nhằm xem xét lợi ích của ĐDHTN đối với NHTM trong một nền kinh tế mới nổi cho thấy rằng ĐDHTN không nhất thiết là lợi ích cho tất cả các NHTM, mà phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Đối với các NHTM có quy mô lớn, ĐDHTN có thể dẫn đến hiệu quả tài chính tốt hơn. Tuy nhiên, đối với các NHTM có quy mô nhỏ, ĐDHTN có thể gây rủi ro tài chính và không có tác động tích cực đến hiệu suất. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự ĐDHTN cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh những rủi ro không mong muốn, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi với các quy định và điều kiện kinh doanh khác nhau. Do đó, các quyết định về ĐDHTN của ngân hàng cần phải được đánh giá cẩn thận để đảm bảo sự bền vững và tăng cường hiệu suất. Wang và Lin (2023) khi nghiên cứu tác động của đa dạng hóa đến rủi ro của NHTM tại châu Á dựa trên 14 NHTM Châu Á từ năm 2013 đến năm 2018 lại cho rằng ĐDHTN có ảnh hưởng tiêu cực đến rủi ro tín dụng của NHTM, trong khi có ảnh hưởng tích cực đến rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Tác động này còn khác biệt giữa các loại NHTM khác nhau, nhưng lại không phụ thuộc vào quy mô của NHTM hay quốc gia nơi ngân hàng đó hoạt động. Kết quả này đưa ra những thông tin quan trọng cho các nhà quản lý NHTM về tác động của việc đa dạng nguồn thu đến rủi ro và hiệu quả từ việc quản lý rủi ro tại các NHTM tại khu vực châu Á.

Mặt khác, nếu xét khía cạnh phạm vi tại các quốc gia Châu Á đang phát triển về nghiên cứu tác động của ĐDHTN đến rủi ro hay lợi nhuận của NHTM thì điển hình có nghiên cứu của Hydayat và cộng sự (2014) được thực hiện tại các NHTM của Indonesia trong giai đoạn 2002 – 2010. Nhóm tác giả đã lập luận rằng thang đo đo lường rủi ro của các NHTM là độ lệch điều chỉnh của ROA, ROE và điểm nhấn của nghiên cứu này chính là việc đã phân loại mức độ tác động của ĐDHTN đến rủi ro của nhóm NHTM quy mô lớn và nhỏ có sự khác nhau. Kết quả cho thấy đối với các NHTM có quy mô lớn thì hoạt động ĐDHTN làm giảm được rủi ro và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng nhưng các NHTM nhỏ thì lại có kết quả ngược lại. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Edirisuriya và cộng sự (2017) trong nghiên cứu tại các NHTM tại các quốc gia Nam Á tiêu biểu là Pakistan, Ấn Độ, Srilanka. Tuy nhiên trong nghiên cứu này thì nhóm tác giả lại sử dụng hệ số Z – SCORE để biểu diễn cho rủi ro của NHTM, ngoài ra, nhóm tác giả đã đo lường các hệ số ĐDHTN tại mỗi quốc gia khác nhau nhưng lại cho ra kết quả về sự ảnh hưởng có nét tương đồng nhau. Tại một nghiên cứu ở Việt Nam thì Nguyễn Thị Lam Anh (2019) đã thu thập số liệu của các NHTM tại 6 quốc gia Đông Nam Á để phân tích trong giai đoạn 2007 – 2016 thì nhóm tác giả nhận thấy rằng hoạt động ĐDHTN có tác động làm cải thiện thu nhập và lợi nhuận tại các NHTM, tuy nhiên có một điểm nổi bật là việc ĐDHTN sẽ tạo ra các áp lực cho các NHTM về việc phải nâng cao tính hiệu quả về quản lý chi phí để vận hành các hoạt động này. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Vidyarthi (2021) tại Ấn Độ khi thu thập dữ liệu của các NHTM tại quốc gia này từ 2004 – 2018, tác giả đã nhấn mạnh đến việc khi ĐDHTN thì các NHTM buộc phải có sự cải tiến về kỹ thuật, máy tính và công nghệ để có thể gia tăng được các sản phẩm bán chéo. Chính vì lý do đó mà lợi nhuận của NHTM có thể tăng lên nhưng chi phí cũng tăng lên đáng kể và đặt ra vấn đề về hiệu quả chi phí. Nhưng tạo ra sự khác biệt trong nghiên cứu về ĐDHTN đối với hoạt động của NHTM là Chen và Lai (2018) trong nghiên cứu về tác động của ĐDHTN đến việc suy giảm rủi ro và gia tăng lợi nhuận của NHTM Đài Loan trong gian đoạn 1998 – 2015 thì nhóm tác giả đã chia hoạt động ĐDHTN thành hai hình thức ngắn hạn và dài hạn tác động đến rủi ro tín dụng của NHTM. Trong đó, trong ngắn hạn thì hoạt động ĐDHTN tác động giảm rủi ro và gia tăng lợi nhuận của NHTM do chưa phát sinh về vấn đề quản lý chi phí, nhưng trong dài hạn thì ngược lại.

Một số ít nghiên cứu về vấn đề đa dạng hóa thu nhập đối với các ngân hàng ở Việt Nam. Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017) sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để phân tích dữ liệu của 28 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2010 đến 2014 cũng cho kết quả tương tự rằng ĐDHTN có tác động tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng, tuy nhiên lại không ảnh hưởng đến rủi ro của các ngân hàng. Nghiên cứu kết luận rằng ĐDHTN có thể là một cách hiệu quả để tăng lợi nhuận của các NHTM, nhưng cần được thực hiện một cách cân nhắc và phù hợp với tình hình thực tế của từng NHTM. Ngoài ra, các NHTM cũng cần quản lý rủi ro một cách hiệu quả khi thực hiện ĐDHTN. Kết quả này cũng tương tự với Lâm Thanh Phi Quỳnh và cộng sự (2021). Nghiên cứu của họ xem xét tác động của ĐDHTN và phân bổ tài sản đến khả năng sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam. Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy đa biến và mô hình GMM để phân tích dữ liệu của 32 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2013 đến 2018. Kết quả cho thấy rằng ĐDHTN và phân bổ tài sản đều có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng. Tuy nhiên, ĐDHTN có tác động mạnh hơn đến khả năng sinh lời của các ngân hàng hơn là phân bổ tài sản. Nghiên cứu kết luận rằng ĐDHTN và phân bổ tài sản đều có thể giúp tăng khả năng sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam, nhưng cần được thực hiện một cách cân nhắc và phù hợp với tình hình thực tế của từng ngân hàng. Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần quản lý rủi ro một cách hiệu quả khi thực hiện ĐDHTN và phân bổ tài sản. Như vậy, ĐDHTN mang lại cơ hội tăng lợi nhuận nhưng cần cân nhắc rủi ro. Phạm Gia Quyên và cộng sự (2023) sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích dữ liệu từ 37 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021. Dữ liệu thu được thể hiện rằng ĐDHTN ảnh hưởng tiêu cực đến rủi ro tiềm ẩn tại các NHTM tại Việt Nam, tuy nhiên, tác động này phụ thuộc vào qui mô và cấu trúc sở hữu của ngân hàng. Đặc biệt, các NHTM có qui mô lớn và có cấu trúc sở hữu phân tán được xác định là sẽ hưởng lợi nhiều hơn từ ĐDHTN và hạn chế được rủi ro. Ngoài ra, khủng hoảng tài chính cũng có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động tài chính và tạo ra rủi ro của các NHTM, nhưng tác động này được giảm nhẹ bởi ĐDHTN. Gần đây, sau thời gian thế giới khủng hoảng nặng nề bởi dịch Covid-19, Lê Thanh Tâm và cộng sự (2023) tập trung vào tác động của ĐDHTN đến rủi ro nợ xấu của các NHTM tại Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính của 27 NHTM trong giai đoạn 2018-2022 và sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích tác động của ĐDHTN đến rủi ro nợ xấu của các NHTM. Dữ liệu thu được sau khi chạy mô hình thể hiện rằng ĐDHTN giúp làm giảm bớt rủi ro nợ xấu của các NHTM. Các NHTM có mức độ ĐDHTN cao hơn có xu hướng có mức rủi ro thấp hơn trong quản lý nợ xấu trong thời gian đại dịch COVID-19. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy mô NHTM và tín dụng cho vay chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của NHTM cũng ảnh hưởng đến rủi ro  nợ xấu của NHTM. Tuy nhiên, bài nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về tác động của các biến số khác như tài sản phi tín dụng hoặc cấu trúc sở hữu đến rủi ro nợ xấu của ngân hàng. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Như vậy đa dạng hóa thu nhập có tác động đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng. Các nghiên cứu cũng cho thấy tác động của ĐDHTN có thể khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc tài chính và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia, cũng như ảnh hưởng của các sự kiện đột biến như khủng hoảng tài chính và đại dịch COVID-19. Điều này cho thấy việc đa dạng hoá thu nhập là cần thiết để đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, tuy nhiên cần phải cân nhắc và quản lý rủi ro một cách hợp lý để tránh mất kiểm soát và đảm bảo sự ổn định tài chính của hoạt động ngân hàng.

Tóm lại, khi tập trung nghiên cứu về tương quan giữa ĐDHTN và hiệu quả hoạt động hoặc rủi ro của các ngân hàng trên nhiều quốc gia và khu vực, bao gồm cả các nền kinh tế mới nổi và các nước có thị trường tài chính phát triển, các kết quả cho thấy rằng đa dạng hoá thu nhập có thể cải thiện hiệu suất của các NH trong một số trường hợp, trong khi trong các trường hợp khác, nó có thể dẫn đến tăng rủi ro. Các yếu tố khác như qui mô ngân hàng, cấu trúc sở hữu, thị trường tài chính và cuộc khủng hoảng tài chính cũng có thể ảnh hưởng đến tương quan giữa đa dạng hoá thu nhập và hiệu suất hoặc rủi ro của các NH.

2.5. Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, đa phần các công trình có số liệu chưa cập nhật đến năm 2024, do đó sẽ tạo ra khoảng trống nghiên cứu về phạm vi thời gian thu thập số liệu. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Thứ hai, tại Việt Nam các tác giả chưa tập trung vào nghiên cứu yếu tố liên quan đến nợ xấu NHTM. Trong khi đó tỷ lệ nợ xấu hay tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tại NHTM là một trong những tiêu chí mà các NHTM cần xem xét để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình với hoạt động cấp tín dụng. Hay nói cách khác, yếu tố này là động lực lớn để các NHTM lựa chọn việc ĐDHTN của mình để hạn chế bớt sự ảnh hưởng của hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng gây ra rủi ro chung của NHTM (Moudud và cộng sự, 2022; Buyuran và Ekşi, 2023). Do đó, tạo nên khoảng trống nghiên cứu cần xem xét tại Việt Nam.

Thứ ba, giai đoạn cuối 2023 đến 2024 là giai đoạn phục hồi đầu tiên sau Covid19 nên có thể sẽ có những chiều hướng tác động khác với các nghiên cứu trước Covid19 bởi bắt đầu từ thời điểm bùng phát Covid19, cả nước nói riêng và thế giới nói chung đều đối mặt với vấn đề cách ly toàn xã hội, việc giao dịch trực tiếp tại các NHTM gặp khó khăn dẫn lối cho các kênh online và dịch vụ phi lãi phát triển mạnh mẽ để nâng khả năng sinh lời của các NHTM. Tuy nhiên, các nghiên cứu giai đoạn sau Covid19 còn ít và chưa kết hợp nghiên cứu thêm nhiều yếu tố trong cùng một mô hình. Đây là khoảng trống cần xem xét, nghiên cứu thêm tại Việt Nam.

Thứ tư, tại Việt Nam các tác giả chưa tập trung vào nghiên cứu yếu tố liên quan đến vĩ mô nền kinh tế. Trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế hay tỷ lệ lạm phát vẫn là những vấn đề tạo bước đệm cho thị trường nói chung và ngành NHTM nói riêng phát triển kinh doanh hay hạn chế cũng như gia tăng rủi ro hoạt động. Do đó, tạo nên khoảng trống nghiên cứu cần xem xét tại Việt Nam.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Trong chương này đã trình bày tổng hợp về ĐDHTN, rủi ro và cách đo lường chúng tại các NHTM. Đồng thời, chương này cũng đã đưa ra mối quan hệ của ĐDHTN và rủi ro của NHTM. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan về vấn đề này. Đồng thời, từ tổng hợp các công trình xác định các khoảng trống nghiên cứu để tạo cơ sở lựa chọn biến độc lập và các biến kiểm soát đưa nhằm đề xuất mô hình. Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537