Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả các biến trong mô hình

Sau quá trình thu thập dữ liệu từ 24 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2013 đến 2024, đại diện cho tổng số 31 Ngân hàng thương mại Việt Nam trên toàn hệ thống, các biến số đã được thống kê như sau:

Bảng 4.1: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Tên biến Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
Z-SOCRE 8,130 6,951 -65,602 21,459
DIV -0,569 14,641 -248,159 0,500
SIZE 32,772 1,243 30,318 35,526
LEV 0,089 0,039 0,027 0,238
LDR 0,599 0,119 0,248 0,992
LLR 0,021 0,013 0,003 0,088
GROW 0,289 0,091 0,072 0,883
GDP 0,058 0,016 0,026 0,080
CPI 0,050 0,046 0,006 0,187

Nguồn: Tính toán của tác giả

Dựa trên kết quả bảng 4.1 ta thấy hệ số Z-SCORE có giá trị trung bình là 8,130. Trong đó, giá trị tối thiểu là -65,602 của TPB năm 2013 và giá trị tối đa là 21,459 của ACB năm 2013. Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Chỉ số ĐDHTN (DIV) có giá trị trung bình là -56,9%. Trong đó, giá trị tối thiểu là 24815,9% của TPB năm 2013 và giá trị tối đa là 50% của MSB năm 2016.

Quy mô ngân hàng (SIZE) có giá trị trung bình Log(Tổng tài sản) là 32,772. Trong đó, giá trị tối thiểu là 30,318 của SGB năm 2015 và giá trị tối đa là 35,526 của BID năm 2024. Đòn bẩy tài chính (LEV) có giá trị trung bình là 8,9%. Trong đó, giá trị tối thiểu là 2,7% của SCB năm 2022 và giá trị tối đa là 23,8% của SGB năm 2015. Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) có giá trị trung bình là 59,9%. Trong đó, giá trị tối thiểu là 24,8% của MSB năm 2016 và giá trị tối đa là 99,2% của VPB năm 2024. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) có giá trị trung bình là 2,1%. Trong đó, giá trị tối thiểu là 0,3% của SCB năm 2017 và giá trị tối đa là 8,8% của SHB năm 2014. Tốc độ tăng trưởng tín dụng (GROW) có giá trị trung bình là 28,9% và độ lệch chuẩn 9,1%. Trong đó, giá trị tối thiểu là 7,2% của SCB năm 2013 và giá trị tối đa là 88,3% của TPB năm 2013.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có giá trị trung bình là 5,8%, giá trị tối thiểu là 2,6% vào năm 2023 đối sánh đại dịch Covid – 19 xuất hiện làm cho kinh tế cả nước tuột dốc, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa đình trệ làm cho GDP năm này thấp nhất lịch sử trong giai đoạn 10 năm gần đây và giá trị tối đa là 8% vào năm 2016. Tỷ lệ lạm phát (CPI) có giá trị trung bình là 5%, đối với tỷ lệ lạm phát, độ lệch chuẩn thấp vì Chính phủ luôn cố gắng duy trì lạm phát ổn định để hàng hóa lưu thông tốt. Giá trị tối thiểu là 0,6% vào năm 2017 và giá trị tối đa là 18,7% vào năm 2013.

4.2. Phân tích tương quan các biến trong mô hình

Hệ số tương quan chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa từng cặp biến với nhau. Đồng thời với hệ số dương chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa các cặp biến, hệ số âm cho thấy quan hệ ngược chiều giữa hai biến. Tương quan giữa các biến độc lập của mô hình cần xem xét để xem xét mô hình có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến hay không. Bảng 4.2 trình bày ma trận của sự tương quan.

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan của các biến độc lập trong mô hình

  DIVER SIZE LEV LDR LLR GROW GDP INF
DIVER 1,000
SIZE 0,094 1,000
LEV 0,033 -0,618 1,000
LDR 0,103 0,157 0,137 1,000
LLR 0,067 -0,238 0,162 0,003 1,000
GROW -0,386 -0,292 0,418 0,155 0,110 1,000
GDP -0,015 -0,020 -0,034 -0,030 -0,027 0,032 1,000
CPI -0,178 -0,252 0,174 -0,006 0,253 0,056 0,039 1,000

Nguồn: Tính toán của tác giả

Phần lớn các biến độc lập theo cặp có tương quan thấp dưới 0.5. Riêng cặp biến LEV – SIZE có tương quan -0.618. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn nhỏ hơn 0.8 theo chuẩn so sánh theo Farrar và Glauber (1967) không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

4.3. Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Để đánh giá tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024, tác giả sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM. Kết quả hồi quy của các mô hình này được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM

Tên biến OLS FEM REM
DIV 0,333*** 0,322*** 0,321***
SIZE 2,089*** 4,606*** 0,169
LEV 0,674 -0,557 0,169
LDR 12,12*** 8,239*** 11,26***
LLR -131,5*** -71,97*** -86,95***
GROW 16,18*** 7,097 7,231*
GDP -24,21 -19,777 -20,59
CPI 28,30 41,47*** 33,61***
_cons -69,31*** -148,9*** -107,4***
R-square 68,23% 79,23% 78,49%

Nguồn: Tính toán của tác giả

Cả 3 mô hình trên đều có ý nghĩa thống kê khoảng trên 65% mang ý nghĩa giải thích tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM. Có nhiều biến có ý nghĩa thống kê ở mức 1% cho thấy sự phù hợp của mô hình nghiên cứu. Để lựa chọn mô hình mang lại ước lượng hiệu quả và vững, tác giả thực hiện kiểm định các mô hình.

Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả kiểm định các hồi quy OLS, FEM, REM

Kiểm định Z-SCORE
Đa cộng tuyến 1,43
White chi2(54) = 112,42 Prob > chi2 = 0,0000
Fisher F(8,256) = 122,10

Prob > F = 0,0000

Wald chi2(24) = 188,77 Prob > chi2 = 0,0000
Breusch and Pagan Lagrangian chi2(24) = 893,49 Prob > chi2 = 0,0000
Hausman chi2(8) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B)= 35,12

Prob > chi2 = 0,0000

Wooldridge F(1, 29) = 75,139

Prob > F = 0,0000

Nguồn: Tính toán của tác giả Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Sau quá trình ước lượng, mô hình bình phương nhỏ nhất đã được sử dụng để đo lường tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam thông qua hệ số Z-SCORE, tác giả tính toán hệ số VIF cho kết quả 1,43 thấp hơn 2 chắc chắn không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Sau đó thực hiện kiểm định White để xem mô hình OLS có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi hay không thì ta thấy hệ số Prob > chi2 = 0,0000 thấp hơn 5% nên giả thuyết H0 được chấp nhận, có nghĩa là mô hình OLS xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.

Phương pháp ước lượng OLS với giả định không có sự khác biệt trong hệ số ZSCORE giữa các NHTM khác nhau, cũng như rủi ro của các NHTM là không thay đổi theo thời gian; trong khi mô hình các yếu tố ảnh hưởng cố định (FEM) loại bỏ được các yếu tố không quan sát, không đo lường được và không thay đổi theo thời gian nhưng có tác động lên biến hệ số Z-SCORE NHTM. Tác giả thực hiện chạy mô hình FEM để xem xét tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam. Kết quả kiểm định Fisher p-value là 0,000 nhỏ hơn 5% vì vậy FEM phù hợp. Tiếp theo, kiểm định Wald có kết quả p-value là 0,0000 thấp hơn 5% nên FEM này bị phương sai thay đổi.

Tiếp đến tác giả thực hiện chạy mô hình REM thì kết quả mô hình REM thể hiện ở bảng 4.3. Sau đó, tác giả thực hiện kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian để lựa chọn mô hình OLS hay REM thì kết quả p-value đều là 0,0000 thấp hơn 5% (bảng 4.4) nên lựa chọn REM.

Tiếp theo, kết quả thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình FEM hay REM cho kết quả p-value của mô hình là 0,0000 thấp hơn 5% (bảng 4.4) nên mô hình FEM được chọn để tiếp tục nghiên cứu. Đối với mô hình FEM, thực hiện kiểm định Wooldridge, nếu p-value = 0,0000 thấp hơn 5% thì không có tự tương quan.

Tuy nhiên, đa số các biến tài chính đều được thể hiện qua các dữ liệu có dạng bảng động, các biến trễ hệ số Z-SCORE NHTM có tác động đến rủi ro NHTM; mô hình có thể xảy ra hiện tượng nội sinh (Meslier và cộng sự, 2016; Sharma và Anand, 2020). Thông qua kết quả kiểm định Durbin Wu-Hausman (Beck và cộng sự, 2015), hệ số p của cả mô hình FEM là 1,000 đều lớn hơn 5% nên mô hình FEM bị nội sinh. Để khắc phục tình trạng này, các tác giả Meslier và cộng sự (2016); Sharma và Anand (2020) đã sử dụng biến trễ hệ số Z-SCORE và biến trễ hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro làm biến công cụ trong mô hình GMM hệ thống (System GMM). Kết quả mô hình GMM theo phương pháp System GMM như sau:

Bảng 4.5: Kết quả nghiên cứu mô hình System GMM

Tên biến GMM – ZSCORE
L.ZSCORE 0,042**
DIV 3,771**
SIZE 1,933***
LEV -24,451**
LDR 9,783***
LLR -56,990***
GROW 13,743***
GDP -11,537***
CPI 16,359***
Hằng số -63,248***

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả mô hình hồi quy GMM được sử dụng để thảo luận và phân tích tác động của ĐDHTN đến hệ số Z-SCORE của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Dựa trên kết quả của mô hình GMM, chúng ta có thể thấy rằng các biến số ĐDHTN (DIV), quy mô NHTM (SIZE), tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR), tăng trưởng tín dụng (GROW) và tỷ lệ lạm phát có tương quan dương với hệ số Z-SCORE. Nghĩa là, chúng có tương quan đồng hướng với rủi ro. Ngược lại, các biến số LEV, LLR và CPI lại có tương quan âm với hệ số Z-SCORE. Nói cách khác, chúng có tương quan nghịch hướng với rủi ro.

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định ngoại sinh Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Biến phụ thuộc Z-SCORE
Hệ số tự tương quan bậc 1 z = 1,0303  Pr > z = 3029
Kiểm định Sargan chi2(7) = 13,4673  Prob > chi2 = 0,1987
Kiểm định Hansen Prob > chi2 = 0,1987

Nguồn: Tính toán của tác giả

Các kiểm định Sargan và Hansen được thực hiện để đánh giá tính ngoại sinh của các biến công cụ trong mô hình GMM. Kết quả cho thấy, giá trị p-value của mô hình GMM (xem Bảng 4.6) lớn hơn 5%, cho thấy rằng các biến công cụ của mô hình GMM là ngoại sinh. Ngoài ra, kiểm định tự tương quan bậc hai Arellano Bond cũng cho thấy giá trị p-value của mô hình GMM là 0,1987, vẫn lớn hơn 5%, cho thấy rằng không có hiện tượng tự tương quan bậc hai trong phần dư của mô hình GMM.

4.4. Phân tích kết quả nghiên cứu

Thứ nhất, hệ số hồi quy của tỷ lệ ĐDHTN (DIV) và hệ số Z-SCORE là 3,778 với mức ý nghĩa thống kê là 5% cho thấy hai biến số này có mối quan hệ cùng chiều với nhau; hay nói cách khác, tỷ lệ ĐDHTN tăng lên thì rủi ro tại các NHTM Việt Nam có xu hướng giảm xuống. Điều này luận giải cho lý thuyết trung gian tài chính do Diamond (1984) về giảm bất cân xứng thông tin và chi phí giám sát của NHTM. Bên cạnh đó, lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory – MPT) là một phương pháp thực tế để đa dạng hóa đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận tổng thể trong mức rủi ro có thể chấp nhận được. Ngoài ra, lý thuyết tính kinh tế theo quy mô Panzar và Willig (1977) các NHTM thực hiện đa dạng hóa các dịch vụ NHTM thì NHTM sẽ có thể sử dụng chung các nguồn lực như công nghệ, nhân lực, cơ sở vật chất, thông tin,… Chính những vấn đề này làm cho các NHTM gia tăng hiệu quả hoạt động và có thể giảm thiểu rủi ro của mình. Kết quả nghiên cứu này tương đồng với Molyneux và Yip (2015); Meslier và cộng sự (2016); Sharma và  Anand (2020); Moudud và cộng sự (2022); Buyuran và  Ekşi (2023); Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017); Lâm Thanh Phi Quỳnh và cộng sự (2021); Phạm Gia Quyên và cộng sự (2023). Vì vậy, chấp nhận giả thuyết H1.

Thứ hai, hệ số hồi quy của quy mô NHTM (SIZE) và hệ số Z-SCORE là 1,9329 với mức ý nghĩa 1% cho thấy hai biến số này có mối quan hệ cùng chiều với nhau; hay nói cách khác, quy mô NHTM ảnh hưởng ngược chiều với rủi ro của các NHTM Việt Nam. Khi quy mô NHTM càng được gia tăng thì rủi ro của các NHTM được hạn chế. Điều này luận giải cho việc khi các NHTM Việt Nam gia tăng được quy mô của mình thì ngày càng củng cố được sức mạnh tài chính của mình, lúc này sẽ nâng cao được khả năng chống chọi lại các rủi ro. Mặt khác, khi nâng cao quy mô thì điều này chứng tỏ các NHTM đang có sự hoạt động kinh doanh ổn định nên các rủi ro trong NHTM cũng từ đó cũng được các nhà quản lý đưa ra những chính sách phù hợp để hạn chế nó. Vì vậy, chấp nhận giả thuyết H2 đưa ra. Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Thứ ba, hệ số hồi quy của đòn bẩy tài chính (LEV) và hệ số Z-SCORE là -24,4508 với mức ý nghĩa 1% cho thấy hai biến số này có mối quan hệ nghịch chiều với nhau; hay nói cách khác, đòn bẩy tài chính ảnh hưởng cùng chiều với rủi ro của các NHTM Việt Nam. Khi NHTM Việt Nam sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu thì rủi ro của các NHTM sẽ gia tăng. Điều này luận giải cho việc, khi các NHTM Việt Nam huy động được nhiều hơn các nguồn vốn dài hạn thì sẽ tiến hành mở rộng các kênh đầu tư hay hạng mục với tài sản có tính rủi ro nhằm thu được nhiều lợi nhuận. Chính điều này làm gia tăng cao hơn rủi ro cho NHTM. Mặt khác, chi phí sử dụng nguồn vốn này sẽ cao hơn chi phí sử dụng các khoản nợ và NHTM phải chịu trách nhiệm với các cổ đông. Do đó, nếu nguồn vốn dài hạn này không có tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh dài hạn thì khi đến kì chi trả cổ tức sẽ gây cho NHTM các rủi ro và mất uy tín với các cổ đông. Kết quả này ngược với các nghiên cứu của Sharma và  Anand (2020); Moudud và cộng sự (2022); Buyuran và  Ekşi (2023); Wang và Lin (2023); Abbas và Ali (2023); Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017); Lâm Thanh Phi Quỳnh và cộng sự (2021); Phạm Gia Quyên và cộng sự (2023). Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H3.

Thứ tư, hệ số hồi quy của tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) và hệ số Z-SCORE là 9,7826 với mức ý nghĩa 1% cho thấy hai biến số này có mối quan hệ cùng chiều với nhau; hay nói cách khác, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ảnh hưởng ngược chiều với rủi ro của các NHTM Việt Nam. Khi tỷ lệ này gia tăng thì rủi ro của các NHTM được hạn chế. Điều này luận giải cho việc khi các NHTM tập trung cho vay và các khoản tín dụng này sẽ giúp cho các NHTM gia tăng được lợi nhuận, hay có thể giảm được rủi ro hay áp lực thanh toán các khoản nợ các TCTD khác khi đến hạn. Kết quả này ngược lại với các nghiên cứu của Molyneux và Yip (2015); Zhou (2016); Meslier và cộng sự (2016); Sharma và Anand (2020); Moudud và cộng sự (2022); Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017); Nguyễn Quang Khải (2018). Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H4.

Thứ năm, hệ số hồi quy của tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) và hệ số ZSCORE là -56,99 với mức ý nghĩa 1% cho thấy hai biến số này có mối quan hệ nghịch chiều với nhau; hay nói cách khác, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng ảnh hưởng cùng chiều với rủi ro của các NHTM Việt Nam. Điều này luận giải cho thấy, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong việc tìm kiếm lợi nhuận của NHTM. Hay rủi ro nợ xấu và nợ quá hạn vẫn là rủi ro hoạt động lớn nhất mà các NHTM Việt Nam luôn phải đối mặt. Khi nợ xấu xuất hiện thì để bảo hiểm rủi ro thì các NHTM buộc phải trích lập dự phòng. Do đó, các khoản thanh toán của NHTM Việt Nam cho người gửi tiền tiết kiệm, tiền lãi vay các TCTD khác sẽ đe dọa NHTM Việt Nam rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sharma và Anand (2020); Moudud và cộng sự (2022); Wang và Lin (2023); Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017). Vì vậy, chấp nhận giả thuyết H5.

Thứ sáu, hệ số hồi quy của tăng trưởng tín dụng (GROW) và hệ số Z-SCORE là 13,7427 với mức ý nghĩa 1% cho thấy hai biến số này có mối quan hệ cùng chiều với nhau; hay nói cách khác, tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng trái chiều với rủi ro của các NHTM Việt Nam. Khi tăng trưởng tín dụng càng được gia tăng thì rủi ro của các NHTM Việt Nam được hạn chế. Điều này có thể luận giải thông qua việc các NHTM Việt Nam khi tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn tuân thủ các quy định của NHNN và Basel 2 về hệ số an toàn vốn thì lúc này vẫn sẽ đảm bảo được việc rủi ro của các NHTM Việt Nam có thể được kiểm soát hay hạ thấp nhưng vẫn có thể kiếm được lợi nhuận. Ngoài ra, một cách lý giải được đề cập tại các NHTM Việt Nam hiện nay các NHTM thường muốn tăng trưởng dư nợ tín dụng thông qua việc cho các khách hàng lớn có pháp lý và nguồn vay nợ lớn nhưng có kế hoạch trả nợ cụ thể để gia tăng tính ổn định và hạn chế tối đa được rủi ro. Kết quả này ngược với nghiên cứu của Zhou (2016); Wang và Lin (2023); Abbas và Ali (2023); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2024). Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H6.

Thứ bảy, hệ số hồi quy của tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và hệ số Z-SCORE là -11,5372 với mức ý nghĩa 1% cho thấy hai biến số này có mối quan hệ nghịch chiều với nhau; hay nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng cùng chiều với rủi ro của các NHTM Việt Nam. Khi nền kinh tế Việt Nam có sự tăng trưởng thì rủi ro của các NHTM có thể gia tăng. Thông thường, khi nền kinh tế tăng trưởng thì sẽ tạo điều kiện cho các ngành nghề hay tổ chức kinh doanh làm ăn thuận lợi. Tuy nhiên, không loại trừ những trường hợp khi tốc độ tăng trưởng kinh tế gia tăng thì các NHTM Việt Nam sẽ có xu hướng chủ quan với thị trường, bắt đầu tập trung vào các hạng mục đầu tư có rủi ro, tăng trưởng tín dụng nóng nhằm tìm kiếm lợi nhuận và mở rộng thị phần. Cũng chính điều đó đã khiến cho các NHTM lâm vào hoàn cảnh gặp những rủi ro khi đầu tư không hiệu quả hoặc bắt tay với các đối tác làm ăn thiếu tính trung thực và gây ra rủi ro nghiêm trọng cho NHTM mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn được cơ quan quản lý duy trì tại mức tốt. Kết quả này ngược với các nghiên cứu của Wang và Lin (2023); Abbas và Ali (2023); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2024). Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H7 được đưa ra.

Cuối cùng, hệ số hồi quy giữa tỷ lệ lạm phát (CPI) và hệ số Z-SCORE là 16.3595 với mức ý nghĩa 1%, cho thấy hai biến này có mối quan hệ dương với nhau. Nói cách khác, tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng nghịch với rủi ro của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Khi tỷ lệ lạm phát tăng, rủi ro của các Ngân hàng thương mại Việt Nam được hạn chế. Điều này luận giải cho việc khi các NHTM Việt Nam đánh giá được tình hình kinh tế tiêu thụ hàng hóa kém, giá cả tăng cao do lạm phát gây ra thì các nhà quản lý có những chính sách chặt chẽ và thận trọng hơn, từ đó hạn chế được các rủi ro liên quan đến tín dụng hay đầu tư một cách tự phát và chủ quan. Kết quả này ngược với các nghiên cứu của Wang và Lin (2023); Abbas và Ali (2023); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2024). Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H8. Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Trong chương này tác giả đã chạy các mô hình hồi quy OLS, FEM, REM, GMM dựa trên số liệu thu thập được của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 – 2024. Đầu tiên tác giả mô tả tổng quát mẫu nghiên cứu thông qua việc thống kê mô tả mẫu nghiên cứu. Đồng thời, tác giả xem xét hiện tượng tương quan của các biến độc lập trong mô hình. Sau đó, tác giả chạy các mô hình hồi quy và thực hiện các kiểm định và khẳng định mô hình GMM là mô hình mang lại ước lượng vững và hiệu quả nhất để đánh giá tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

5.1. Kết luận

Theo xu hướng phát triển của xã hội và công nghệ, hoạt động kinh doanh NHTM hướng đến các nghiệp vụ NHTM hiện đại để ĐDHTN. Trong quyết định tái cấu trúc giai đoạn 1 ban hành kèm theo quyết định 254/QĐ-TTg/2013 có giải pháp dạng hóa thu nhập để tăng tính ổn định và an toàn hạn chế rủi ro của các NHTM Việt Nam. Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài luận văn này. Luận văn đã đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã đề ra trong chương 1.

Kết quả nghiên cứu được thực hiện cho 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn năm 2013 – 2024, tác giả đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu ban đầu đề ra là xác định chiều hướng ảnh hưởng của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam và khuyến nghị chính sách. Kết quả nghiên cứu của mô hình tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam đã làm rõ các biến DIV tác động đến Z-SCORE có ý nghĩa thống kê cho thấy mối quan hệ tích cực giữa ĐDHTN đến hệ số điều chỉnh rủi ro Z- SCORE hay chính là quan hệ tiêu cực với rủi ro của các NHTM Việt Nam.

5.2. Hàm ý chính sách Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

5.2.1. Đối với hoạt động đa dạng hóa thu nhập

ĐDHTN và rủi ro kinh doanh là vấn đề mà các nhà quản trị NHTM và cả NHNN quan tâm. Trong giai đoạn 2013 – 2024, NHNN đã thực hiện tái cấu trúc các NHTM theo quyết định 254/2014/QĐ-TTg giai đoạn 1 từ 2014 – 2017 và quyết định 1058/2018/QĐ-TTg đề cập rất rõ nhiệm vụ xử lý ĐDHTN tại các NHTM. Theo đó, các NHTM đã thực hiện nhiều biện pháp để gia tăng ĐDHTN, hạn chế kinh doanh tập trung. Luận văn đã chứng minh ĐDHTN làm hạn chế được rủi ro của các NHTM Việt Nam nên cần có giải pháp làm tỷ lệ ĐDHTN tăng có tác động làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn. Theo như kết quả nghiên cứu đã được phân tích ở phần trên, các NHTM muốn hạn chế rủi ro của mình cần quan tâm hơn nữa đến một số khía cạnh sau:

Tăng cường các hoạt động đa dạng hóa các nguồn thu nhập bằng cách đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có cũng như phát triển các dịch vụ mới. Khi các sản phẩm, dịch vụ NHTM phát triển giúp cho hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng và đầu tư cũng phát triển theo. Trước sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các NHTM Việt Nam cần xem xét phát triển các sản phẩm dịch vụ gắn liền với công nghệ fintech, bigdata, trí tuệ nhân tạo, dịch vụ NHTM số.

Đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có là điểm mạnh và mũi nhọn để phát triển dịch vụ NHTM. Các NHTM cần bổ sung, đầu tư mở rộng các dịch vụ cũng như nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có, hạn chế hình thức thanh toán bằng tiền mặt, nên đẩy mạnh việc chuyển sang các dịch vụ không dùng tiền mặt như thẻ, dịch vụ NHTM điện tử, … NHTM cần chú ý ĐDHTN nhưng cần tính toán lợi thế theo quy mô, tận dụng nguồn lực, công nghệ, … hiện có; tránh mở rộng hoạt động quá mức gây tốn kém chi phí, sẽ tạo ra tác dụng ngược lại lên hiệu quả kinh doanh.

Trong nhiệm vụ đa dạng hóa dịch vụ, NHTM nên quan tâm bảo mật nguồn lực hữu hình, bí quyết sản xuất như các chính sách điều chỉnh đặc biệt, thông tin đặc điểm khách hàng, thông tin về các ngành chiến lược NHTM hoạt động, … bằng việc tổ chức đa dạng hóa dịch vụ phối hợp theo chiều dọc, dẫn tới tối ưu hệ thống, tăng chi phí cơ hội về chi phí giao dịch nếu khách hàng chuyển đổi lựa chọn dịch vụ NHTM khác, ngăn chặn đối thủ cạnh tranh. Triển khai theo chiều dọc còn làm giảm chi phí và kiếm soát được chất lượng dịch vụ. Khi đa dạng hóa dịch vụ NHTM, các NHTM có thể bù giá chéo hay hỗ trợ cho các dịch vụ khác, giảm giá phí hoặc tăng khuyến mãi. Điều này làm tăng rào cản cho các đối thủ cạnh tranh.

5.2.2. Đối với các biến kiểm soát Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Kết quả mô hình hồi quy cho thấy tăng trưởng quy mô sẽ giúp NHTM giảm thiểu được rủi ro. Quy mô tổng tài sản của NHTM bao gồm ngân quỹ, chứng khoán, cho vay, tài sản cố định & các tài sản có khác, trong đó cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất. Việc tăng quy mô tổng tài sản cho thấy sự phát triển và hoạt động ổn định của NHTM, cho vay nhiều hơn, mua sắm các tài sản cố định nhiều hơn, gia tăng đầu tư hay nâng cao tính thanh khoản nhờ dự trữ tiền ngân quỹ nhiều hơn. Để tăng được tổng tài sản, điều quan trọng là gia tăng nguồn vốn từ vốn huy động và gia tăng vốn tự có. Các biện pháp này đã được trao đổi ở các mục trên. Điều quan trọng là các NHTM cần có lộ trình phù hợp cho quá trình mở rộng quy mô của mình, xác định cơ cấu tài sản phù hợp, kiểm soát thận trọng trong việc sử dụng đòn bẩy, đảm bảo các rủi ro gia tăng do việc mở rộng quy mô nằm trong tầm kiểm soát của NHTM. Việc tăng trưởng quá nóng ở các tài sản cho vay, đầu tư hoặc mua sắm thêm các tài sản cố định có thể dẫn tới việc sử dụng không hiệu quả nguồn vốn huy động được, gây ra rủi ro cho các NHTM.

Để vừa đảm bảo mục tiêu quản trị thanh khoản, vừa gia tăng lợi nhuận cho NHTM một cách bền vững, tác giả đề xuất gia tăng chỉ số dư nợ cho vay trên tổng huy động bằng cách tăng đồng thời cả hai yếu tố và tăng dần tỷ lệ cho vay trên tổng huy động đối với các NHTM đang ở mức thấp. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động sẽ được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất. Nguồn vốn này có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM, nếu NHTM huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp sẽ giúp mở rộng tín dụng, đầu tư, đồng thời giúp cho NHTM bù đắp được thiếu hụt trong hoạt động thanh toán.

Ngoài ra, để giảm rủi ro NHTM, các nhà quản trị cần lưu ý không phải khi nào tăng trưởng cho vay cũng hiệu quả mặc dù kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng tín dụng làm giảm rủi ro của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024, nhưng NHTM cần lưu ý đúng mức chất lượng của các khoản tín dụng để hạn chế nợ quá hạn phát sinh. Đồng thời, NHTM cần có biện pháp giảm thiểu nợ xấu từ khi bắt đầu quy trình tín dụng đến khâu thu hồi nợ.

Đối với thị trường tài chính như Việt Nam, không phải thi hành các chính sách tăng vốn chủ sở hữu có thể hạn chế được rủi ro (vốn chủ sở hữu có tác động ngược chiều đến Z-SCORE nên cùng chiều với rủi ro), đặc biệt khi theo đuổi mục tiêu giảm vốn chủ sở hữu đế tối đa hóa hiệu quả cổ đông. Với các khoản tiền gửi cam kết dài hạn, nhà quản trị cần lưu tâm đánh giá đúng vai trò trong đóng góp lợi nhuận.

5.3. Hạn chế của nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

Thứ nhất, giai đoạn dịch bệnh Covid-19 diễn ra từ năm 2021 có thời gian nghiên cứu còn quá ngắn để đánh giá ảnh hưởng của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM.

Thứ hai, đề tài chỉ đánh giá tác động của ĐDHTN đến rủi ro của NHTM trong một giai đoạn nghiên cứu.

Thứ ba, có những phương pháp nghiên cứu mới hơn trong nghiên cứu định lượng nhưng do giới hạn về năng lực nên tác giả chưa thể tiếp cận và sử dụng trong luận văn.

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Thứ nhất, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng dữ liệu hơn để phân tích tác động theo từng thời kì trong năm.

Thứ hai, nghiên cứu tiếp theo có thể chia ra làm 2 giai đoạn: trước và sau Covid19 để so sánh tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM trước và sau Covid19.

Thứ ba, các nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng mới.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Chương 5 đã trình bày về kết luận chung kết quả nghiên cứu về sự tác động của ĐDHTN và các biến kiểm soát đến rủi ro của các NHTM Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu đó tạo ra cơ sở đề xuất các hàm ý chính sách tương ứng với việc gia tăng ĐDHTN trong NHTM. Theo đó là các hoạt động liên quan đến mở rộng quy mô NHTM, tăng trưởng tín dụng, hạn chế tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và sử dụng đòn bẩy tài chính hợp lý. Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các NH […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537