Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại Việt nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Nội dung: Mục tiêu là để kiểm tra mối quan hệ giữa sự thanh khoản và hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Tác giả đã sử dụng những biến đại diện cho sự thanh khoản như Chỉ số trạng thái tiền mặt (CASH), Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR), Chỉ số năng lực cho vay (LA), Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản (ETA) và Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng tài sản (DEP) cùng với những biến kiểm soát khác như quy mô Ngân hàng (SIZE), tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát (INF) và cú sốc kinh tế (RISK) để có được mô hình nghiên cứu. Dữ liệu được sử dụng là từ 29/41 Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2021. Kết quả hồi quy cho thấy hầu hết các biến đều ảnh hưởng đáng kể trừ INF không đủ cơ sở để kết luận với lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) nhưng có ý nghĩa thống kê với biên lãi ròng (NIM). Từ đó, tác giả đã hàm ý một số đề xuất cho ngân hàng liên quan đến công tác đảm bảo thanh khoản nhằm mục đích tránh rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Từ khóa: Thanh khoản, Ngân hàng thương mại, hiệu quả hoạt động
ABSTRACT
Title: The impact of liquidity risk on the operational efficiency of Vietnamese commercial banks
Thesis content: The aim is to examine the relationship between the liquidity of banks and the operational efficiency of commercial banks in Vietnam. The author used variables representing liquidity such as Cash ratio (CASH), Loan to Deposit Ratio (LDR), Loan-to-Asset Ratio (LA), Equity to Total Asset Ratio (ETA) and Deposits (DEP), along with other control variables such as Bank Size (SIZE), Economic Growth (GDP), Inflation (INF) and Economic Shock (RISK) to propose a research model. The data used is from 29 out of 41 joint stock commercial banks operating in Vietnam from 2010-2021 and collected from the General Statistics Office of Vietnam. The results showed that most variables have a significant impact except INF, which is not sufficient to conclude with Return on Assets (ROA) and Return on Equity (ROE) but is statistically significant with Net Interest Margin (NIM). Therefore, the author implied some proposals for banks related to liquidity management to mitigate risks and enhance operational efficiency. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Keywords: Liquidity, Commercial banks, Operational efficiency.
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Theo Arif và Anees (2012) và Halling và Hayden (2006) sức mạnh của hệ thống ngân hàng thì rất cần để đảm bảo ổn định cũng như tăng trưởng kinh tế. Nhiệm vụ của Ngân hàng là tăng cường dòng vốn thông qua việc cho người sử dụng vốn đang cần tiền vay và cũng đảm bảo tính thanh khoản cho người gửi tiết kiệm (đối tượng cung cấp vốn cho Ngân hàng) (Diamond và Rajan, 2001). Ngân hàng là nơi nhận tiền gửi và cho vay cũng như cung cấp các dịch vụ khác cho công chúng (Leykun, 2016). Hơn nữa, ngày nay ngân hàng không chỉ thực hiện các nghiệp vụ truyền thống là cho vay và nhận tiền gửi mà đã dần chuyển sang phát triển các hoạt động phi truyền thống để tối đa hóa lợi nhuận (Lozano-Vivas và Pasiouras, 2010; Stiroh, 2004). Điều này có thể khiến ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản, nghĩa là không đáp ứng được nghĩa vụ cho người gửi tiền (Arif và Anees, 2012; Jenkinson, 2008). Theo ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS, 2008) thì việc một ngân hàng có thể tài trợ cho sự tăng tài sản và hoàn thành được nghĩa vụ khi các cam kết mà không xuất hiện tổn thất vượt quá mức chấp nhận thì được xem là thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là một rủi ro cần chú ý và nó đe dọa năng lực hoạt động và triển vọng sống còn của Ngân hàng (Basel, 2008).
Một số ngân hàng đã có những khó khăn nhất định do không thực hiện tốt việc quản lý thanh quản cẩn trọng sau khủng hoảng tài chính (2007-2008). Hơn nữa, khủng hoảng thanh khoản đã tác động đáng kể đến Ngân hàng (Ndoka và cộng sự, 2017). Thanh khoản được cho là quan trọng với ngân hàng (Ali, 2004). Tuyên bố này tìm thấy sự hỗ trợ từ sự thất bại của nhiều ngân hàng gần đây. Có thể kể đến như sự sụp đổ đột ngột của 3 ngân hàng tại mỹ gồm Silicon Valley Bank (SVB), Signature Bank và Silvergate. Theo đài Fox new, một nghiên cứu mới của một nhóm chuyên gia từ một loạt Đại học Mỹ là Đại học South California, Đại học Northwestern, Đại học Columbia và Đại học Stanford cảnh báo hiện có ít nhất 186 ngân hàng ở Mỹ dễ bị tổn thương trước làn sóng rút tiền không được bảo hiểm – nguyên nhân dẫn tới vụ phá sản của SVB. Theo tỷ phú đầu tư Bill Ackman, vụ sụp đổ của SVB tương tự như vụ đóng cưa Bear Stearns – ngân hàng đầu tiên sụp đổ trong khủng hoảng tài chính (2007-2008). Ông cho rằng rủi ro sụp đổ và mất tiền gửi khiến những ngân hàng có mức an toàn vốn thấp đối mặt nguy cơ bị rút tiền ồ ạt. Tại Việt Nam, sự kiện bắt giữ Bà Trương Mỹ Lan đã tác động đến Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) và người dân ồ ạt rút tiền gửi, dù Ngân hàng đã khẳng định công ty An Đông không phải cổ đông của SCB, bà Trương Mỹ Lan không giữ chức vụ quản lý và điều hành tại SCB nhưng ngân hàng vẫn rơi vào diện kiểm soát đặc biệt của Nhà nước. Ngân hàng trung ương Việt Nam sẽ không cho phép các Ngân hàng phá sản và luôn là cứu cánh sau cùng vì sợ “hiệu ứng domino”. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại không phải lúc nào cũng nhận được sự bảo hộ mãi mãi từ phía Ngân hàng Trung ương, nó có thể bị sáp nhập hoặc mua lại bởi các ngân hàng khác vì vậy các ngân hàng TMCP phải kiểm soát được các rủi ro của mình, đặc biệt là rủi ro thanh khoản. Bởi vì quản lý rủi ro thanh khoản được xem là vấn đề then chốt để đảm bảo hoạt động (Bertham, 2011).
Rủi ro thanh khoản còn ảnh hưởng đến danh tiếng của Ngân hàng (Jenkinson, 2008). Người dân mất lòng tin và nếu như tiền gửi không được thanh toán kịp thời sẽ đe dọa đến ngân hàng (Arif và Anees, 2012). Sự cố thanh khoản có thể là nguyên nhân của sự giảm cổ phiếu cũng như làm giảm giá trị của cổ đông (Mogusu và cộng sự, 2022). Chính vì vậy mà Basel III ra đời với những quy định chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng và số lượng vốn của các ngân hàng, đồng thời thắt chặt các yêu cầu về thanh khoản để phòng ngừa và ứng phó tốt hơn với sự cố bên ngoài (Trang và cộng sự, 2021). Một vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý ngân hàng là làm thế nào để kiểm soát được thanh khoản tốt cho ngân hàng, đảm bảo tuân thủ quy định và thu được lợi nhuận tối đa. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Theo Bhunia và Khan (2011) quản lý thanh khoản trở thành vấn đề then chốt quản lý tài chính, là sự trao đổi của thanh khoản và lợi nhuận. Vấn đề giữa thanh khoản và lợi nhuận không phải là một vấn đề mới nhưng vẫn nhận được nhiều quan tâm trong giai đoạn tình hình thế giới đang căng thẳng và một số chuyên gia kinh tế nhận định có khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng khi các ngân hàng ở Mỹ đóng cửa. Đặc biệt cả thế giới trong đó có Việt Nam, vừa trải qua đại dịch Covid-19, sự kiện đã ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của người dân và kinh tế và ngành Ngân hàng không phải là ngoại lệ.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của một quốc gia. Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển kinh tế của quốc gia.
Hơn nữa, tình hình thanh khoản của Việt Nam cũng không đồng đều ở các ngân hàng. Vào 16/03/2023, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã được vinh danh ở hạng mục Best Enterprise Risk Management in Vietnam”. Giữa bối cảnh mục tiêu chung của các ngân hàng là tìm cách nâng cao tỷ lệ cấp tín dụng nhưng việc tăng trưởng tín dụng quá nhanh ở Việt Nam sẽ gây ra sự không thể kiểm soát được chất lượng tín dụng. Điều này dẫn đến tăng khoản nợ xấu, lợi nhuận sụt giảm, thanh khoản kém. Đặc biệt là những ngân hàng mới thành lập, vừa và nhỏ tín dụng sẽ gây áp lực và khó khăn trong việc thanh toán cho khách hàng đến hạn hoặc rút tiền bất ngờ (ThS. Nguyễn Thị Thanh Thủy). Hơn nữa, mặc dù đã có nhiều cải cách, có nhiều chính sách được ban hành, chất lượng được nâng cao nhưng vấn đề thanh khoản kiểm soát đúng mức, nhiều ngân hàng đã, đang và có khả năng sẽ gặp khó khăn trong thanh khoản (Phạm Ngọc Vân, 2021), đặc biệt khi mà tình hình bất động sản lên cơn sốt giá, nhiều nhà đầu tư cần nguồn tiền vốn để đầu tư.
Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro cơ bản mà các ngân hàng thương mại phải đối mặt. Khả năng của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh toán và rút tiền của khách hàng có thể ảnh hưởng đến sự tin cậy và sự phụ thuộc của khách hàng vào ngân hàng đó. Việc quản lý và quản trị rủi ro, đặc biệt thanh khoản đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động. Dựa vào giả thuyết về quyền lực thị trường và cấu trúc hiệu quả mà mối quan hệ giữa thanh khoản và hiệu quả được chú ý (Trầm Thị Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga, 2018). Thị trường tài chính sẽ không có nhiều biến động nếu khả năng thanh khoản của các Ngân hàng tốt. Hiện nay, các ngân hàng thương mại đang dần mất đi niềm tin từ khách hàng từ những sự cố liên quan đến thanh khoản và cũng có nhiều nghiên cứu về sự tác động của đến hệu quả hoạt động. Tuy nhiên thanh khoản luôn thay đổi theo thời gian và là một trong những rủi ro quan trọng, mà các nhà điều hành Ngân hàng cần phải theo dõi và kiểm thời kiểm soát. Hiểu rõ tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại là một vấn đề quan trọng đối với người quản lý ngân hàng, nhà nghiên cứu và ngành công nghiệp tài chính. Nghiên cứu trong lĩnh vực này có thể cung cấp thông tin giá trị để đưa ra quyết định và phát triển chính sách. Chính vì vậy, nghiên cứu của tác giả là cần thiết trong thời điểm hiện tại.
Mặc khác, một số nghiên cứu nhận định rằng các hành vi sai lầm trong việc duy trì mức thanh khoản là một trong những nguyên nhân đến mất khách hàng và có thể phá sản, do không đủ thanh khoản theo yêu cầu do thiếu sử dụng hiệu quả và hiệu quả thanh khoản sẵn có và ngược lại, Ngân hàng có thể giữ lại nhiều thanh khoản hơn mức cần thiết dẫn đến việc không thể tạo ra lợi nhuận yêu cầu do thiếu sử dụng hiệu quả và hiệu quả thanh khoản sẵn có (AL-Ardah và Al-Okdeh, 2022). Ngoài ra, một số nghiên cứu trước đem đến mâu thuẫn trong kết quả như Alzorqan (2014), Arif và Anees (2012), Falconer (2001) và Kosmidou và cộng sự (2012). Cũng có một số nghiên cứu cho thấy tác động tích cực như M. E. Barth và cộng sự, (2001), Berger (1995), Bourke (1989) và Molyneux và Thornton (1992). Vì vậy mối quan hệ này còn tồn tại nhiều tranh cãi (Saeed, 2015). Hơn nữa những nghiên cứu trước thường được thực hiện ở các nền kinh tế tiên tiến (Imbierowicz và Rauch, 2014; Roman và Şargu, 2014; Saeed, 2015). Hơn nữa hầu hết các nghiên cứu về rủi ro thanh khoản trong ngân hàng đều tập trung vào khía cạnh nợ phải trả trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng và ít chú ý đến rủi ro thanh khoản phát sinh từ khía cạnh tài sản (Saeed, 2015) và rủi ro. Nhiều nghiên cứu trước đây chưa xử lý vấn đề nội sinh của các biến, có thể ảnh hưởng đến độ chính xác kết quả nghiên cứu của mô hình hồi quy, trừ nghiên cứu của Huong và cộng sự (2021) nghiên cứu ở Đông Nam Á.
Ngoải ra, Các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với một loạt các biến động và thách thức trong môi trường kinh doanh. Điều này bao gồm sự biến đổi của thị trường tài chính, tăng cường quy định và sự cạnh tranh khốc liệt. Hiểu rõ cách rủi ro thanh khoản ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể giúp ngân hàng phát triển các chiến lược và giải pháp phù hợp để đối phó với những biến động này.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn đồng thời mong muốn được đóng góp tài liệu nghiên cứu mà tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu về những ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động. Trong bài viết này, tác giả sẽ xem xét sự tác động và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đại diện cho rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP giai đoạn 2010 – 2021 với phương pháp tiếp cận xử lý vấn đề nội ngoại sinh. Từ đó có thể kiến nghị những đề xuất nhằm đạt được hiệu quả như mong muốn của các ngân hàng thông qua đề tài: “Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam”.
1.3. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Mục tiêu chung: đánh giá ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần tại Việt Nam trên cơ sở đo lường sự tác động. Thông qua đó, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng trong tương lai. Mục tiêu cụ thể:
- Kiểm tra sự ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
- Từ kết quả hồi quy, tác giả đề xuất một số giải pháp liên quan đến chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu, tác giả cần làm rõ một số câu hỏi sau:
- Mức độ ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động như thế nào?
- Những kiến nghị nào phù hợp dựa trên bằng chứng thực nghiệm?
1.5. Đốı tượng và phạm vı nghıên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm 29 ngân hàng trong tổng số 41 ngân hàng hiện đang hoạt động tại Việt Nam. Sự lựa chọn này được đưa ra để đảm bảo tính đầy đủ và đáng tin cậy của dữ liệu, bởi vì trong giai đoạn nghiên cứu, có một số ngân hàng đã bị mua lại hoặc sáp nhập. Thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 2010 đến 2021, bao gồm giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính và sự ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công (2011-2012) và đại dịch Covid-19 (2020-2021) tại Việt Nam. Đặc biệt, vào ngày 10/01/2011, Luật tổ chức Tín dụng chính thức có hiệu lực và Basel III đã được bổ sung quy định về thanh khoản ngân hàng. Basel III là phiên bản mới nhất của chuẩn mực Basel, được Ban Ngân hàng Trung ương Thế giới (BIS) đưa ra vào năm 2010 và triển khai từ năm 2013. Do đó, thời gian nghiên cứu đủ dài và bao gồm một số sự kiện quan trọng để đưa ra các kết luận có giá trị.
1.6. Đóng góp của nghiên cứu
Nghiên cứu này dự kiến sẽ đóng góp những giá trị như sau:
Đầu tiên, nghiên cứu bổ sung vào các tài liệu trước đây về sự ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đối với khả năng sinh lời ở ngân hàng. Thứ hai, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động ở các NHTMCP. Thứ ba, nghiên cứu này cung cấp sự hiểu biết về rủi ro thanh khoản, các nhân tố đóng vai trò then chốt và mức độ tác động của nó đến hiệu quả hoạt động để các nhà quản lý ngân hàng sẽ có những quyết định tốt hơn. Cuối cùng, xem xét thêm sự tác động của những rủi ro trong nền kinh tế ảnh hưởng đến mối quan hệ này.
Từ đó có những khuyến nghị phù hợp cho những giai đoạn nền kinh tế bất ổn.
1.7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định lượng đã được áp dụng để phân tích mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Sự lựa chọn này được căn cứ vào tính tối ưu của phương pháp định lượng trong nghiên cứu khoa học và xã hội, giúp kiểm tra các giả thuyết và đưa ra các câu trả lời phù hợp cho các câu hỏi nghiên cứu (AL-Ardah và Al-Okdeh, 2022).
Bước thực hiện gồm:
- Bước 1: Xác định các nhân tố ảnh hưởng dựa vào tổng quan nghiên cứu trước đây.
- Bước 2: Thống kê mô tả dữ liệu thu thập
- Bước 3: Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến
- Bước 4: Phân tích hồi quy và lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp trong các mô hình Pooled OLS, FEM và REM;
- Bước 5: Kiểm tra các khuyết tật mô hình và xử lý các khuyết tật thông qua mô hình GLS và GMM
- Bước 6: Đưa ra kết luận cuối cùng. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
1.8.Kết cấu luận văn
- Chương 1: Phần mở đầu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Rủi ro thanh khoản
2.1.1.1. Khái niệm rủi ro thanh khoản
Theo Ndoka và cộng sự (2017), đây không phải là một vấn đề mới nhưng thanh khoản trong tài liệu về tài chính lại không có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi. Nguyên nhân có thể là xuất phát từ những quan điểm kinh tế khác nhau (Adler, 2012). Tuy nhiên, một số tài liệu nghiên cứu trước đây cũng có đưa ra nhiều khái niệm về thanh khoản. Mwangi (2014) và Cai và Zhang (2017) cho rằng khả năng để tăng lượng tài sản và đáp ứng kỳ vọng cũng như nghĩa vụ về tiền mặt cho người gửi và những phát sinh bất ngờ mà không gây ra những tổn thất nghiêm trọng thì được xem là thanh khoản.
Trong khi đó, AL-Ardah và Al-Okdeh (2022) lại cho rằng thanh khoản là tập hợp một lượng tiền hoặc quỹ có sẵn để ngân hàng có thể đối phó các tình huống bất ngờ hoặc bổ sung vốn ngay tức thì. Nó được xem là biên độ an toàn để dựa vào đó có thể giúp ngân hàng tăng khả năng thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội (Iman và cộng sự, 2017). Ông cũng chỉ ra thanh khoản phản ánh khả năng trong việc thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn của họ mà không cần bất kỳ hỗ trợ tài chính bên ngoài.
Tính thanh khoản của ngân hàng là còn được xem xét ở khía cạnh hoàn thành được các cam kết tài chính hoặc các hoạt động tài trợ như cho vay, đầu tư, rút tiền gửi (Alshatti, 2014; Msuku, 2020; BIS, 2008). Theo Trabelsi (2015) và Muranaga và Ohsawa (2002), khái niệm về thanh khoản xuất phát từ sự lo lắng và không chắc chắn đối với sự quản lý của định chế tài chính. Họ cho rằng một tổ chức có thể việc chuyển tài sản thành phương tiện thanh toán nhanh chóng được xem là thanh khoản.
Hơn nữa, theo Basel (2008), thanh khoản là khả năng tài trợ vốn cho việc mua thêm tài sản và thực hiện đúng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những tổn thất vượt quá ngưỡng ngân hàng chấp nhận (Edem, 2017; Msuku, 2020). Tài sản thanh khoản thường tồn tại dưới các hình thức như tiền mặt, các khoản tương đương tiền và tài sản có thể bán được ngay lập tức để thu hồi tiền mặt (Edem, 2017; Eljelly, 2004). Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Về định nghĩa của rủi ro thanh khoản, Duttweiler (2009) nghĩa là việc Ngân hàng mất khả năng thanh toán tại một thời điểm hay Ngân hàng phải chấp nhận trả chi phí cao, bị ép buộc bán tài sản giá thấp. Nguyễn Thị Bích Thuận và Phạm Ánh Tuyết (2021) cho rằng rủi ro thanh khoản chỉ xuất hiện khi ngân hàng không kịp chuyển đổi các loại tài sản ra tiền mặt một cách nhanh chóng để chi trả những hợp đồng thanh toán. Có thể hiểu đơn giản là ngân hàng không còn đủ tiền cần để đáp ứng được nhu cầu của thị trường và nó có thể không chỉ dừng lại ở một ngân hàng mà có nguy cơ lan rộng. Ngân hàng Nhà nước thì khi ngân hàng mất khả năng thực hiện hoàn trả nợ khi đến hạn hoặc phải trả chi phí nhiều hơn (trích Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/8/2017). Tương tự, Wang (2022) trong nghiên cứu của ông cũng đưa ra khái niệm rủi ro thanh khoản theo định nghĩa của cơ quan quản lý ngân hàng Trung Quốc – China Banking Regulatory Commission (CBRC) như sau: rủi ro thanh khoản là không kịp thời thanh toán với chi phí hợp lý và không đáp ứng được các nhu cầu vốn khác trong hoạt động của Ngân hàng. Nó là rủi ro không thể thanh lý một tài sản kịp thời ở mức giá hợp lý, mất khả năng đáp ứng hiệu quả cả dòng tiền hiện tại và tương lai dự kiến và bất ngờ (Sabir, 2021; Muranaga và Ohsawa, 2002). Bên cạnh đó, theo Ủy ban Basel việc ngân hàng lấy tiền gửi ngắn hạn cho những mục đích, hoạt động dài hạn tức là chuyển đổi các khoản nợ thanh khoản ngắn hạn thành các khoản nợ dài hạn kém thanh khoản đã tạo ra tính dễ bị tổn thương, phát sinh vấn đề rủi ro.
Do đó, tầm quan trọng của quản lý rủi ro thanh khoản như một công cụ hiệu quả đối với các ngân hàng thương mại trong các hoạt động hàng ngày. Nó giúp đánh giá tình hình tài chính của các công ty và tổ chức tài chính (Rasham và Daghim, 2018). Đồng thời nó sẽ đảm bảo được dòng tiền trong ngân hàng. Điều này không những tạo và nâng cao được uy tín mà còn là động lực thu hút được người gửi tiền vào Ngân hàng. Theo Ibe (2013) đã báo cáo rằng quản lý thanh khoản đòi hỏi cần phải thiết lập các khoản tài sản mà dòng tiền ra có thể cung cấp mà không cần điều chỉnh về trách nhiệm pháp lý.
2.1.1.2.Nguyên nhân dẫn đến kém thanh khoản
Lukorito và cộng sự (2014) khuyến nghị nên có cơ chế kiểm soát mức nợ xấu này để tránh ảnh hưởng hệ thống ngân hàng gây mất khả năng thanh khoản. Trong khi đó, Rochet (2008) đã đưa ra ba nguyên nhân dẫn đến sự kém thanh khoản gồm:
Thứ nhất, vì sự không chắc chắn rất lớn về tiền gửi, đáo hạn các khoản vay đã vô tình tạo ra sự nghi ngờ khi có sự thiếu hụt thanh khoản chung hoặc khi nền kinh tế có cú sốc bên ngoài. Ngân hàng nhà nước yêu cầu các ngân hàng báo cáo và đảm bảo lượng tiền dự trữ để không bị mất khả năng thanh khoản (Obi-Nwosu và cộng sự, 2017). Các ngân hàng cần lập lế hoạch quản lý trên cơ sở tuân thủ pháp luật.
Nhưng thực tế việc quản lý còn chưa chặt chẽ do sự lên kế hoạch không đầy đủ.
Thứ hai, một số điều không chắc chắn về số lượng vay mới trong tương lai. Ngân hàng mặc dù có thể từ chối cấp các khoản vay mới này nhưng sẽ làm mất cơ hội tạo thêm lợi nhuận, điều ngân hàng không mong muốn. Nếu công ty vay xảy ra phá sản thì sẽ gây tổn thất thêm cho Ngân hàng. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Cuối cùng là hoạt động ngoại bảng như hạn mức tín dụng và những cam kết khác. Hơn nữa, vị thế trên thị trường phái sinh cũng có thể tạo ra nhu cầu thanh khoản cao trong thời kỳ bất ổn. Khá ít ngân hàng ở Việt Nam có sự lên kế hoạch chỉnh chu cho các nhu cầu của Ngân hàng. Cụ thể là dự đoán được cung và cầu tiền trong tương lai (Emefiele, 2015).
Trong cuốn sách “Commercial Bank Management” của Rose (2002) thì nguyên nhân dẫn đến sự mất khả năng thanh khoản đến từ: Thứ nhất, sự suy thoái kinh tế: Nếu kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, các khoản vay có thể bị thất thoát hoặc khách hàng không thể trả nợ đúng hạn, gây ra không thanh toán nhanh các khoản vay khác. Thứ hai, sự suy giảm giá trị tài sản: Nếu giá trị các tài sản mà ngân hàng sở hữu giảm sút, ví dụ như giá trị của các khoản vay bị mất giá hoặc giá trị của các khoản đầu tư giảm, thì ngân hàng có thể không thể đáp ứng được yêu cầu thanh toán của khách hàng. Thứ ba, chênh lệch trong kỳ hạn huy động và cho vay: Ngân hàng huy động nguồn tiền nhàn rỗi với đủ mọi kỳ hạn từ nền kinh tế và biến chúng thành các khoản tín dụng ngắn và dài hạn. Nhưng nếu ngân hàng sử dụng nhiều nguồn huy động ngắn hạn cho các mục đích dài hạn sẽ làm mất cân bằng giữa các kỳ đến hạn (Oldfield và Santomero, 1997; Madhuwanthi and Morawakage 2019). Dòng tiền thu hồi không đáp ứng được các khoản chi trả. Bên cạnh đó, nếu ngân hàng không còn cung cấp được khoản vay phù hợp với nhu cầu của khách hàng hoặc nhu cầu vay giảm đáng kể, thìcó thể mất khả năng thanh khoản. Thứ tư, sự tăng nợ xấu: Nếu tỷ lệ nợ xấu tăng cao, thì ngân hàng có thể không thể thu hồi được khoản nợ, gây ra ngân hàng mất khả năng thanh toán nhanh các khoản vay khác. Thứ năm là chính sách ngân hàng không hợp lý cụ thể như chỉ tập trung huy động một số nguồn nhất định và cho vay những đối tượng nhất định. Cuối cùng, sự mất niềm tin của thị trường: Nếu thị trường mất niềm tin vào ngân hàng, ví dụ như do tin đồn hoặc tin tức xấu, thì có thể khó huy động vốn, dẫn đến mất khả năng thanh toán nhanh các khoản vay khác. Ngoài ra, sự nhạy cảm đối với lãi suất. Khi lãi suất ngân hàng tăng thì người gửi nhiều hơn và vay ít lại. Người vay tìm cách để tiếp xúc với các nguồn vốn khác bên ngoài thị trường. Tỷ suất lợi nhuận đầu tư tăng thì người gửi tiền có thể rút tiền hoặc hạn chế để đầu tư vào những nơi đem đến lợi nhuận cao hơn.
Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác như ngân hàng càng lớn thì tính thanh khoản càng thấp (Vodova, 2011), nguồn vốn và lãi cận biên (Delechat và cộng sự, 2012).
2.1.1.3. Cung cầu thanh khoản Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Trong lĩnh vực ngân hàng, lý thuyết về cung cầu thanh khoản tập trung vào việc đánh giá và quản lý sự thanh khoản của ngân hàng, đảm bảo khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu rút tiền và giao dịch của khách hàng.
Cung thanh khoản trong ngân hàng đề cập đến khả năng của ngân hàng chuyển đổi các tài sản thành tiền mặt hoặc tài sản có thanh khoản cao một cách nhanh chóng và hiệu quả. Các tài sản thanh khoản cao trong ngân hàng bao gồm tiền mặt, các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng với các ngân hàng khác, hoặc các công cụ tài chính như chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn. Cung thanh khoản được xem là quan trọng vì nó đảm bảo ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền và các giao dịch tài chính của khách hàng một cách hiệu quả.
Cầu thanh khoản trong ngân hàng liên quan đến nhu cầu của khách hàng và người gửi tiền để sử dụng dịch vụ ngân hàng và rút tiền mặt từ tài khoản của họ. Cầu thanh khoản phụ thuộc vào mức độ sử dụng dịch vụ ngân hàng, nhu cầu vay vốn và sự tin tưởng vào ngân hàng. Khi cầu thanh khoản tăng, ngân hàng cần có đủ tài sản thanh khoản để đáp ứng nhu cầu rút tiền và giao dịch của khách hàng.
Quản lý cung cầu thanh khoản trong ngân hàng là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự cân nhắc giữa việc tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo khả năng thanh toán và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng phải đảm bảo rằng mình có đủ tài sản thanh khoản để đáp ứng nhu cầu ngắn hạn của khách hàng mà không gặp khó khăn trong việc tìm nguồn vốn. Đồng thời, ngân hàng cũng phải đảm bảo rằng các tài sản của họ không quá nhiều tài sản thanh khoản, từ đó gây thiếu hụt lợi nhuận.
Để quản lý cung cầu thanh khoản, ngân hàng thường áp dụng các biện pháp như kiểm soát lượng tiền mặt, quản lý nguồn vốn, phân tích dòng tiền và định giá tài sản.
Ngoài ra, các quy định của cơ quan quản lý như ngân hàng trung ương cũng có vai trò quan trọng trong việc quản lý và đảm bảo thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Lý thuyết về cung cầu thanh khoản trong ngân hàng là một phần quan trọng của quản lý rủi ro và quản trị tài chính của ngân hàng, đảm bảo hoạt động của ngân hàng ổn định và đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả.
2.1.1.4. Trạng thái thanh khoản
Trạng thái thanh khoản trong ngân hàng đề cập đến mức độ và khả năng của ngân hàng để chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hoặc tài sản có thanh khoản cao một cách nhanh chóng và hiệu quả. Trạng thái thanh khoản được đánh giá dựa trên sự cân nhắc giữa cung cầu thanh khoản, nhu cầu của khách hàng và nguồn cung cấp tài chính.
Trạng thái thanh khoản có thể được phân loại thành các mức độ khác nhau, bao gồm:
Thanh khoản tốt: Trạng thái thanh khoản tốt đồng nghĩa với việc ngân hàng có đủ tài sản thanh khoản để đáp ứng mọi yêu cầu rút tiền và giao dịch của khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Ngân hàng có khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt mà không gặp khó khăn và không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình.
Thanh khoản trung bình: Trạng thái thanh khoản trung bình chỉ ra rằng ngân hàng có khả năng đáp ứng một phần yêu cầu rút tiền và giao dịch của khách hàng. Tuy nhiên, có thể có một số hạn chế về thanh khoản, và ngân hàng có thể cần một khoảng thời gian tương đối để chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hoặc tài sản có thanh khoản cao hơn.
Thanh khoản kém: Trạng thái thanh khoản kém xảy ra khi ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu rút tiền và giao dịch của khách hàng một cách hiệu quả. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Điều này có thể xảy ra khi ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hoặc tài sản có thanh khoản cao hơn, và có thể gây trở ngại cho khả năng hoạt động của ngân hàng.
Trạng thái thanh khoản trong ngân hàng có thể thay đổi theo thời gian và tình hình kinh tế. Điều quan trọng là ngân hàng phải đánh giá và quản lý cẩn thận trạng thái thanh khoản để đảm bảo hoạt động ổn định và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
2.1.1.5. Đo lường rủi ro thanh khoản
Theo Leykun (2016) nếu xét về lý thuyết và thực tiễn trong hoạt động ngân hàng thì chưa có chỉ số nào dùng để đại diện cho thanh khoản mà được chấp nhận rộng rãi. Ngwu (2006) lưu ý rằng cần tìm ra một tiêu chuẩn và điểm chuẩn để đo lường thanh khoản của Ngân hàng. Ông cho rằng vì không thể đoán được chính xác nhu cầu tương lai nên việc xác định tính thanh khoản sẽ rất khó. Để có được tính thanh khoản hợp lý yêu cầu phải có sự dự báo chính xác về nhu cầu tiền mặt cũng như tài sản lưu động dự đến trong một khoảng thời gian. Có nhiều quan điểm khác nhau về các biện pháp đo lường như: chỉ ra có một số chỉ số đã được sử dụng để đo lường như vốn lưu động (AL-Ardah và Al-Okdeh, 2022; Msuku, 2020), tỷ lệ thanh toán hiện hành (Du Rietz và Henrekson, 2000; Gitman và cộng sự, 2015; Msuku, 2020). Trong đó, tỷ số thanh toán hiện hành dùng để đánh giá mối quan hệ giữa tài sản hiện hành và tổng nợ hiện tại của công ty. Vốn lưu động là phần vốn luôn sẵn có để có thể mua sắm được các nguyên vật liệu đầu vào, hàng tồn kho và dùng để thanh toán nợ ngắn hạn (Diamond và Rajan, 2001). AL-Ardah và Al-Okdeh (2022) cho rằng vốn lưu động ròng là phần thặng dư của tài sản lưu động so với nợ ngắn hạn.
Nó dung để để đánh giá khả năng thanh khoản của các ngân hàng cũng như khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn (Al-Armouti, 2017). Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Ngoài ra, Mustafa (2020) thì sử dụng tiền gửi, khoản dự trữ tiền mặt, tỷ lệ nợ xấu và quy mô ngân hàng để làm chỉ số thanh khoản. Lukorito và cộng sự (2014) cho rằng tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ mạnh với khủng hoảng ngân hàng. Trong khi đó, Purbaningsih và Fatimah (2018) cho rằng khả năng thanh khoản có thể đo dựa vào tỷ lệ tài chính trên tiền gửi (FDR), tài sản thanh khoản so với tiền gửi (LAD) và tài sản thanh khoản trên tổng tài sản (LTA). Liu (2011) đã chỉ ra một số cách khác để đo lường như tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ vốn vay/ tài sản, tỷ lệ tiền mặt/ tài sản, tỷ lệ dự trữ tiền mặt, tỷ lệ tiền gửi/ tài sản (Arif và Anees, 2012; Dezfouli và cộng sự, 2014), tỷ lệ cho vay/ tài sản (Ariffin, 2012) và khả năng thanh toán nợ. Mogusu và cộng sự (2022) và Khalid và cộng sự (2019) dùng tỷ lệ tổng cho vay trên tổng tiền gửi.
Theo Basel III, thanh khoản được đo lường và tính toán theo khe hở thanh khoản và tỷ lệ thanh khoản. Trong đó, khe hở thanh khoản là chỉ sự chênh lệch giữa tài sản và nợ ở thời điểm hiện tại và tương lai. Nghĩa là chênh lệch giữa tài sản và nợ phải trả dương tương đương với thâm hụt ở bất kể thời điểm (Bessis, 2011). Bên cạnh đó, tính thanh khoản còn được xem xét theo quy mô như tỷ lệ tài sản tiền mặt/tổng tài sản (Barth và cộng sự, 2003; Demirgüç-Kunt và Detragiache, 1998), tỷ lệ tiền mặt (Chen và Mahajan, 2010). Ngoài ra, còn có tỷ lệ tổng tài sản, tỷ lệ khoản vay ròng/ tổng tài sản (Kosmidou, 2008).
Hơn nữa, AL-Ardah và Al-Okdeh (2022) và Gitman và Zutter (2012) đã áp dụng tỷ lệ tiền mặt và đầu tư trên tổng tiền gửi (CITDR), tỷ lệ này càng cao thì tổ chức tài chính đáp ứng được các nghĩa vụ vào ngày đến hạn càng cao. Trần Huy Hoàng (2011) và Trương Quang Thông (2013) đã sử dụng thêm chỉ số vốn tự có trên tổng tài sản để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Xuất phát từ những thông tin trên, tác giả sử dụng những chỉ số sau đại diện cho thanh khoản:
- Biến Chỉ số trạng thái tiền mặt (CASH)
Theo Ngwu (2006) ngân hàng cần có dự báo chính xác về lượng tiền mặt cần dùng cho các hoạt động trong thời gian ngắn để đảm bảo tính thanh khoản. Thật vậy, ngân hàng có lượng tài sản thanh khoản cao sẽ tự tin hơn trong các quyết định đầu tư ngắn hạn, mua sắm thiết bị và chi trả những khoản nợ đến hạn. Chỉ số trạng thái tiền mặt (CASH) dùng để đo lường khả năng thanh toán của một tổ chức. Một chỉ số CASH thấp có thể cho thấy rằng doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ và có thể phải tìm kiếm nguồn vốn khác để đảm bảo thanh toán và ngược lại. Chen và Mahajan, (2010), Mustafa (2020) và Liu (2011) đã dùng chỉ số này công thức như sau:
- Biến Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR)
Bunda và Desquilbet ( 2008), Vodova (2011), Delechat và cộng sự (2012), Ferreira và cộng sự (2011) và Munteanu (2012) đề xuất các tỷ số thanh khoản để đánh gia năng lực cho vay của ngân hàng. Theo Dezfouli và cộng sự (2014), Khalid và cộng sự (2019), Siaw và cộng sự (2013) và Mogusu và cộng sự (2022) LDR thể hiện khả năng huy động và lượng tiền cho hoạt động truyền thống. Chỉ số này cho biết tổng số tiền được cho vay bởi ngân hàng so với tổng số tiền mà ngân hàng huy động được từ các nguồn khác nhau. Nó cũng được dùng xem xét sự an toàn của Ngân hàng. Nếu tỷ lệ LDR quá thấp, điều này có thể cho thấy ngân hàng đang cầm chừng đầu tư và không tận dụng hết khả năng huy động vốn của mình để tăng cường hoạt động cho vay và ngược lại. Chỉ số LDR thường được sử dụng để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng. Nếu tỷ lệ này quá cao, ngân hàng có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ của mình trong trường hợp các khách hàng yêu cầu rút tiền một cách đột ngột. Nếu tỷ lệ này quá thấp, ngân hàng có thể không tận dụng hết khả năng huy động vốn của mình để tăng cường hoạt động cho vay và do đó bị mất cơ hội để tăng doanh thu và lợi nhuận. Công thức như sau:
- Biến Chỉ số năng lực cho vay (LA) Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Chỉ số năng lực cho vay (LA) đã được Liu (2011), Alshatti (2015), Kosmidou (2008) và Cucinelli (2013) được họ áp dụng. Dựa vào chỉ số LA, ngân hàng sẽ cân đối được khả năng thanh khoản. Công thức của chỉ số năng lực cho vay được tính như sau:
- Biến Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản (ETA)
Một ngân hàng có nguồn vốn tự có lớn cũng là một trong những điểm mạnh để cạnh tranh và đảm bảo được sự thanh khoản. Nó giúp ngân hàng dễ dàng ra những chính sách, quyết định và sản phẩm phù hợp với thị trường mà không cần đợi huy động từ những nguồn khác. Theo Trần Huy Hoàng (2011) ETA càng cao thì thanh khoản càng được đảm bảo. Nó là lớp bảo vệ trước những rủi ro của ngân hàng (Trương Quang Thông, 2013). ETA được tính theo công thức:
- Biến Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng tài sản (DEP)
DEP là tỷ lệ giữa tổng số tiền gửi của khách hàng và tổng số tài sản của một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính. Nó thường được sử dụng để đánh giá mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào tiền gửi của khách hàng và khả năng của ngân hàng để cung cấp các khoản vay. Chỉ số DEP cao có thể cho thấy rằng ngân hàng đang phụ thuộc nhiều vào tiền gửi của khách hàng để cung cấp khoản vay. Điều này có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản cho ngân hàng nếu một số khách hàng đồng loạt rút tiền gửi của mình hoặc không có nhiều khoản vay đến từ khách hàng khác để bù đắp. Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá thấp, ngân hàng có thể không có đủ tiền gửi để cung cấp khoản vay hoặc đầu tư. DEP được sử dụng để làm biến kiểm soát theo các nghiên cứu Arif và Anees (2012), Dezfouli và cộng sự (2014) và Liu (2011). DEP được tính theo công thức:
Tuy nhiên, hiện nay có 04 phương pháp đo lường thanh khoản bao gồm: phương pháp chỉ số thanh khoản, phương pháp xác suất theo tình huống, phương pháp cấu trúc vốn và phương pháp nguồn và sử dụng vốn. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung trình bày về phương pháp chỉ số thanh khoản vì (i) Phương pháp chỉ số thanh khoản là một trong những phương pháp phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong việc đo lường thanh khoản của các ngân hàng; (ii) Phương pháp chỉ số thanh khoản đã được nghiên cứu và áp dụng trong nhiều nghiên cứu trước đây, đã được chứng minh tính tin cậy và khả năng đo lường chính xác của nó; (iii) Phương pháp chỉ số thanh khoản đơn giản và dễ hiểu, giúp xác định mức độ thanh khoản của ngân hàng dựa trên các chỉ số đo lường như tỷ lệ thanh khoản, thời gian thu hồi nợ, quy mô nợ phải thu, và quy mô nợ phải trả.
2.1.2. Hiệu quả hoạt động Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
2.1.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động
Theo ECB (2010), hiệu quả hoạt động của ngân hàng là lợi nhuận của ngân hàng. Farrell (1957) thì cho rằng hiệu quả lợi nhằm đánh giá khả năng tối thiểu đầu vào và đạt hiệu quả tốt nhất cho đầu ra (Trần Thị Thanh Nga, 2018). Rose (2002) theo nghĩa hẹp thì hiệu quản hoạt động lợi nhuận đồng thời đảm bảo an toàn các hoạt động của Ngân hàng và nghĩa rộng là lợi nhuận đạt được từ tài sản và có xu hướng tăng trưởng ổn định. Trương Quang Thông (2013) thì hiệu quả là kết quả từ hoạt động kinh doanh. Ở nghiên cứu này tác giả sẽ tiếp cận hoạt động dựa trên khả năng sinh lời.
2.1.2.2. Đo lường hiệu quả hoạt động Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Tính bền vững phụ thuộc vào khả năng sinh lời và nguồn tiền sẵn. Lợi nhuận là một trong những nguồn chính để tích lũy tài sản (Ndoka và cộng sự, 2017). Theo Zou và Li (2014), khả năng sinh lời là một chỉ báo cho thấy cho thấy cách tiếp cận quản lý và vị thế cạnh tranh trong ngân hàng dựa trên thị trường. Naser Ail (2013) tin rằng chỉ số này giúp các ngân hàng chấp nhận một số mức độ rủi ro cũng như hỗ trợ chống lại bất kỳ vấn đề ngắn hạn nào. Alzorqan (2014) đã đo lường bởi ROE và ROA. ROA có thể đo lường hiệu quả sử dụng tiềm năng của ngân hàng (Trabelsi, 2015). Khi hiệu quả tài chính của ngân hàng được biểu thị bằng khả năng sinh lời thì tỷ suất cao là hoạt động tốt (Abbas và cộng sự, 2012).
Tương tự, Mogusu và cộng sự (2022), Altarawneh và Shafie (2018), Cebenoyan và Strahan (2004), Vong và Chan (2009), Cai và Zhang (2017), Alshatti, (2015), Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018), Siaw (2013), Dezfouli và cộng sự (2014), Khalid và cộng sự (2019) và Almekhlafi và cộng sự (2016) cũng cho rằng hiệu quả hoạt động có thể là ROA. Bởi vì chỉ số này thể hện toàn diện nhất cho việc do lường hiệu quả (Iqbal, 2001). ROA biểu thị cho lợi nhuận đến từ đầu tư vào tài sản sau khi loại trừ tất cả thuế và chi phí (Paul và cộng sự, 2013). Một ROA thấp có thể cho thấy ngân hàng đang gặp phải các vấn đề về quản lý tài sản hoặc không sử dụng tài sản của mình một cách hiệu quả để tạo ra lợi nhuận và ngược lại. Musiega và cộng sự (2017), Cheung và cộng sự (2007) chỉ ra rằng các công ty lớn hơn có xu hướng đo lường hiệu quả hoạt động của công ty thấp hơn như ROA.
Tỷ suất này được tính như sau:
- ROA
Có tỷ số tài chính khác liên quan đến chủ sở hữu được dùng để chỉ khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận từ tiền đầu tư của họ (Alshatti, 2014) như ROE. Chỉ số này tính toán bằng cách lấy tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng và vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Nếu ROE của ngân hàng cao, tức là ngân hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận lớn từ vốn chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là ngân hàng đang sử dụng vốn chủ sở hữu của mình hiệu quả để tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Farooq và cộng sự (2015), Paul và cộng sự (2013), Al-Rdaydeh và cộng sự (2017), Trabelsi (2015), Alshatti (2015), Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018), Siaw (2013), Dezfouli và cộng sự (2014) và Khalid và cộng sự (2019) sử dụng ROE.
Công thức chỉ số:
- ROE
Hua Shen và cộng sự (2009), Chen và cộng sự (2018), Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018), Adusei (2015) và Siaw (2013) sử dụng biên lãi ròng (NIM) được. NIM cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động cho vay và hoạt động cấp tín dụng khác. Chỉ số này tính toán bằng cách lấy tỷ lệ giữa doanh thu lãi suất ròng và tài sản tổng cộng của ngân hàng. Một lợi ích của NIM là nó giúp ngân hàng đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động cấp tín dụng và cho vay của mình. Nếu NIM của ngân hàng cao, tức là ngân hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận lớn từ hoạt động cấp tín dụng. Chỉ số NIM càng cao, tức là ngân hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận từ hoạt động cấp tín dụng cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
- Tỷ suất này được tính theo công thức:
Trong khi đó, chỉ xem thu nhập của ngân hàng như là thước đo hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Arif và Anees, 2012). Nhưng phổ biến nhất vẫn là ROA và ROE Điều này cũng thấy nhiều trong một số công trình học thuật (Doyran 2013). Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại, ROA (Return on Assets), ROE (Return on Equity) và NIM (Net Interest Margin) là các chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính của ngân hàng. Tác giả muốn tập trung vào các chỉ số này với nhiều lý do như sau: (1) ROA (Lợi nhuận trên Tổng tài sản):
Chỉ số này đo lường khả năng của ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ quỹ tài sản của mình. ROA cho thấy mức độ tận dụng tài sản và khả năng sinh lời của ngân hàng. Nếu ROA cao, tức là ngân hàng tạo ra lợi nhuận tốt từ các hoạt động kinh doanh của mình. (2) ROE (Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu): Chỉ số này đo lường khả năng của ngân hàng tạo ra lợi nhuận cho cổ đông dựa trên vốn sở hữu. ROE thể hiện mức độ sinh lời và hiệu suất quản lý của ngân hàng. Ngân hàng với ROE cao thường cho thấy khả năng tạo ra giá trị gia tăng cho cổ đông. (3) NIM (Lợi nhuận ròng từ Lãi suất): Chỉ số này đo lường hiệu suất của ngân hàng trong việc sinh lời từ hoạt động lãi suất. NIM biểu thị chênh lệch giữa lãi suất thu về từ hoạt động cho vay và lãi suất trả cho tiền gửi. Một NIM cao thường chỉ ra khả năng sinh lời tốt của ngân hàng từ hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính.
Ngoài ra, còn có rất nhiều chỉ số khác có thể đại diện như hiệu suất sử dụng tài sản, EPS nhưng những chỉ số trên là những chỉ số phổ biến trong các nghiên cứu trước đây.
2.2. Biến kiểm soát Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Trong lĩnh vực ngân hàng, quy mô (SIZE) thường được đo bằng nhiều chỉ số khác nhau như tổng tài sản, khoản vay, số tiền gửi, số lượng chi nhánh, số lượng khách hàng, số lượng nhân viên, doanh thu, lợi nhuận và các chỉ số tài chính khác.
Các chỉ số này đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường quy mô của ngân hàng và thể hiện khả năng và năng lực của ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính và phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, quy mô của ngân hàng được đo bằng Logarit tự nhiên của tổng tài sản. Việc sử dụng logarit tự nhiên giúp chuẩn hóa quy mô và giảm hiện tượng đơn vị đo khác nhau giữa các ngân hàng. Bằng cách chuyển đổi tổng tài sản sang đơn vị logarithm, ta có thể so sánh và phân tích quy mô của các ngân hàng một cách khách quan. Việc đo lường quy mô của ngân hàng là rất quan trọng vì nó mang lại cái nhìn tổng quan về khả năng và năng lực của ngân hàng đối với các nhà đầu tư, khách hàng và các cơ quan quản lý. Thông qua đo lường quy mô, chúng ta có thể đánh giá và so sánh sự phát triển và quy mô của các ngân hàng trong ngành. Đồng thời, việc nắm bắt quy mô cũng có thể giúp dự đoán tiềm năng rủi ro và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Quy mô ngân hàng được tính như sau: SIZE = Log (Tổng tài sản)
- Biến Tăng trưởng kinh tế (GDP) Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Tăng trưởng kinh tế (GDP – Gross Domestic Product) được coi là một chỉ số quan trọng để đo lường giá trị tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một quý hoặc một năm. Nó thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, và được xem là một chỉ số quan trọng để đo lường sức khỏe và tiềm năng phát triển của một quốc gia. Tăng trưởng GDP đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu suất và sự phát triển của một quốc gia. Một tăng trưởng GDP đáng kể thường tương đương với sự gia tăng về sản xuất, doanh thu, việc làm và thu nhập. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân trong quốc gia đó.
Mục tiêu của nhiều quốc gia là đạt được tăng trưởng GDP bền vững. Tăng trưởng GDP bền vững được định nghĩa là tăng trưởng kinh tế được duy trì ổn định trong thời gian dài mà không gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường, tài nguyên và xã hội. Tăng trưởng bền vững đồng nghĩa với việc đảm bảo sự phát triển cân bằng và bền vững, tạo điều kiện cho sự tiến bộ và phát triển của cả quốc gia. Đồng thời, tăng trưởng GDP cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia tham gia vào thị trường quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài. Sự gia tăng về GDP cũng có thể mang lại cơ hội tăng trưởng và phát triển cho các ngành công nghiệp, tạo ra sự đa dạng và sự phát triển bền vững cho nền kinh tế quốc gia.
Công thức tính tốc độ tăng trưởng kinh tế:
- Biến Lạm phát (INF)
Lạm phát, trong ngữ cảnh của ngành ngân hàng, được coi là một yếu tố bên ngoài có tác động đến tính thanh khoản của các ngân hàng. Khi một nền kinh tế đang trải qua giai đoạn lạm phát, các ngân hàng thường hạn chế việc cấp tín dụng. Tỷ lệ lạm phát cao cũng tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ lạm phát hàng năm được đo bằng chỉ số CPI (Consumer Price Index), được xem là yếu tố bên ngoài duy nhất ảnh hưởng đến lạm phát. CPI đo lường sự thay đổi trung bình theo thời gian của giá cả hàng hóa và dịch vụ. Tác động của lạm phát đến khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào việc liệu nhà quản lý ngân hàng có dự đoán lạm phát chính xác hay không. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng cả lạm phát được dự đoán và không dự kiến đều ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động và tính thanh khoản của ngân hàng (Athanasoglou và đồng nghiệp, 2006).
Vì lạm phát giảm giá trị của đồng tiền trong tương lai, việc dự báo lạm phát trong khoảng thời gian tương lai là rất quan trọng đối với cả người cho vay và người đi vay. Điều này giúp các bên liên quan có thể đưa ra các quyết định tài chính hợp lý và đối phó với tác động của lạm phát đến hoạt động kinh doanh và tài sản.
Công thức tính lạm phát:
- Biến cú sốc trong nền kinh tế (RISK)
Biến cú sốc trong nền kinh tế là một khái niệm quan trọng để đo lường mức độ biến động và rủi ro trong một thị trường kinh tế. Chỉ số RISK được sử dụng để đánh giá mức độ rủi ro trong nền kinh tế và có thể phản ánh các cú sốc kinh tế quan trọng trong quá khứ. Trong khung thời gian từ năm 2011 đến 2012, khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Trong giai đoạn này, nền kinh tế toàn cầu chứng kiến sự suy giảm với việc tăng cao nợ công, giảm sản xuất, tăng thất nghiệp và suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP. Đặc biệt, khủng hoảng nợ châu Âu đã gây tác động lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Trong thời gian này, chỉ số rủi ro tăng cao, cho thấy mức độ rủi ro trong nền kinh tế gia tăng và nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn trong việc tăng trưởng, duy trì hoạt động và trả nợ.
Từ năm 2020 đến 2021, đại dịch Covid-19 đã gây tác động đáng kể lên nền kinh tế toàn cầu. Việc áp đặt các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội đã đặt nhiều doanh nghiệp vào tình thế khó khăn khi phải đối mặt với việc duy trì hoạt động và trả nợ. Trong khi đó, các chính phủ đã triển khai các biện pháp hỗ trợ tài chính để giảm thiểu tác động của đại dịch lên nền kinh tế. Trong giai đoạn này, chỉ số rủi ro có thể ghi nhận mức độ rủi ro cao do tác động của đại dịch.
Điều đó có nghĩa là nếu thời gian nghiên cứu rơi vào năm 2011-2012 (khủng hoảng kinh tế) hoặc 2020-2021 (đại dịch Covid-19), giá trị của biến cú sốc (RISK) có thể được ghi nhận là 1 để chỉ sự xuất hiện của các cú sốc kinh tế quan trọng trong thời gian đó.
2.3. Lý thuyết liên quan về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Garza-Garcia (2012), Lukorito và cộng sự (2014) và Bhatti và cộng sự (2010) đều chỉ ra rằng việc sử dụng hai giả thuyết quyền lực thị trường (MP), Cấu trúc-Hành vi-Hiệu suất (SCP) và Sức mạnh Thị trường Tương đối (RMP) cùng với hai biến thể của giả lythuyết Cấu trúc Hiệu quả (ES) được kiểm tra để tìm hiểu hoạt động của ngân hàng được thúc đẩy bởi cấu trúc thị trường hay không hiệu ứng hoặc hiệu quả cao hơn.
Athanasoglou và cộng sự (2006), lý thuyết Sức mạnh thị trường (MP) nhận định các ngân hàng có quyền kiểm soát thị trường sẽ tận dụng lợi thế này để tăng giá cước và tăng lợi nhuận, dẫn đến sự kém hiệu quả của ngành ngân hàng. Trong khi đó, lý thuyết Cấu trúc Hiệu quả (ES) cho rằng cấu trúc hoạt động hiệu quả của ngân hàng sẽ tạo ra sự cạnh tranh và đẩy giá cước và chi phí xuống, dẫn đến sự tăng trưởng và hiệu quả của ngành ngân hàng. Họ chỉ ra rằng cả hai lý thuyết đều có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, trong trường hợp của các ngân hàng Hy Lạp, lý thuyết Cấu trúc Hiệu quả (ES) có tác động lớn hơn đến hiệu quả hoạt động so với lý thuyết Sức mạnh thị trường (MP). Olweny và cộng sự (2011) cho rằng cả hai yếu tố cấu trúc thị trường và sức mạnh thị trường cũng có ảnh hưởng. Trong đó, cấu trúc thị trường ảnh hưởng mạnh hơn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng so với sức mạnh thị trường. Vì vậy, tăng cường của sức mạnh thị trường có thể làm giảm tác động tiêu cực của cấu trúc thị trường đến hiệu quả hoạt động.
2.3.1. Lý thuyết Cấu trúc – Hiệu quả (ES – efficient structure)
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả của Demsetz (1973) đề xuất rằng sự tồn tại của một tổ chức được xác định bởi khả năng của nó để kiểm soát chi phí và đánh giá rủi ro trong quá trình sản xuất và bán sản phẩm. Các doanh nghiệp không hiệu quả sẽ bị loại bỏ khỏi thị trường. Lý thuyết của Demsetz cũng đề cập đến việc tạo ra cấu trúc thị trường hiệu quả nhất. Theo đó, các doanh nghiệp cạnh tranh trong cùng một thị trường sẽ phải đạt được một mức độ hiệu quả nhất định để tồn tại và phát triển. Trong trường hợp một doanh nghiệp không đạt được mức độ hiệu quả đó, nó sẽ phải rời khỏi thị trường. Việc loại bỏ các doanh nghiệp không hiệu quả này sẽ dẫn đến sự tối ưu hóa của cấu trúc thị trường, vì các doanh nghiệp hiệu quả hơn sẽ cạnh tranh với nhau để đạt được lợi nhuận cao hơn. Anyanwaokoro (1996) và Trầm Thị Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga (2018) đã cho rằng rằng lợi nhuận thu hút người gửi tiền gửi tiền vào ngân hàng. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Một ngân hàng hiệu quả sẽ có khả năng kiểm soát chi phí và đánh giá rủi ro tốt hơn các đối thủ cạnh tranh. Do đó, ngân hàng hiệu quả sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn và có thể giành được cả lợi nhuận và thị phần cao hơn. Một ngân hàng hiệu quả có thể kiểm soát được chi phí và đánh giá rủi ro, và do đó có thể cung cấp dịch vụ tài chính với mức giá cạnh tranh hơn. Điều này sẽ tăng khả năng số lượng khách hàng mới và duy trì khách hàng cũ. Khi ngân hàng có được một lượng khách hàng đủ lớn, nó sẽ có một mức độ thanh khoản tốt hơn, giúp nó tăng cường hoạt động cho vay và tăng lợi nhuận.
Tuy nhiên, việc tăng cường hoạt động cho vay cũng đồng nghĩa với việc tăng rủi ro cho ngân hàng. Do đó, khả năng đánh giá rủi ro của ngân hàng sẽ là một yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả và lợi nhuận của ngân hàng. Nếu ngân hàng không đánh giá rủi ro tốt, nó có thể phải đối mặt với những khoản nợ xấu và mất lợi nhuận.
Al-Muharrami và Matthews (2009) đã phát hiện sự tương quan trong việc quản lý chi phí và rủi ro của các ngân hàng ở GCC là mạnh mẽ và đáng kể. Những ngân hàng có khối lượng dư địa lớn hơn thường có hiệu quả quản lý chi phí và rủi ro tốt hơn. Khối lượng dư địa (surplus) là khối lượng một sản phẩm hoặc dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp vượt quá nhu cầu hoặc yêu cầu của thị trường. Điều này có nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ đó không thể được bán hết trong thị trường hiện tại. Jesus Gustavo Garza-Garcia (2012) cho thấy rằng giả thuyết Cấu trúc hiệu quả (ES) được ủng hộ, vì có mối quan hệ tích cực giữa hiệu quả của cấu trúc ngân hàng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Điều này cho thấy rằng các ngân hàng hiệu quả hơn về mặt cơ cấu có xu hướng hoạt động tốt hơn trong lĩnh vực ngân hàng Mexico. Jesus Gustavo Garza-Garcia (2012) chỉ ra hai biến thể của giả thuyết ES đó là:
Giả thuyết Cấu trúc Hiệu quả trực tiếp (Direct Efficient Structure Hypothesis): Giả thuyết này cho rằng hiệu quả phụ thuộc trực tiếp vào cấu trúc tổ chức của ngân hàng như kích thước của ngân hàng, tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn, và sự đa dạng về sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng.
Giả thuyết Cấu trúc Hiệu quả gián tiếp (Indirect Efficient Structure Hypothesis): Giả thuyết này cho rằng hiệu quả phụ thuộc vào cấu trúc và sự cạnh tranh trên thị trường. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của ngân hàng trong giả thuyết này bao gồm độ tập trung của thị trường, số lượng ngân hàng trên thị trường, và mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Ghulam Ali Bhatti và cộng sự (2010), Lý thuyết ES được trình bày như là một giả thuyết cho rằng hiệu quả phụ thuộc vào cấu trúc tổ chức của nó, bao gồm kích thước, tập trung thị trường, đa dạng hóa sản phẩm và quy mô hoạt động. Theo lý thuyết ES, một ngân hàng có thể đạt được hiệu quả cao hơn nếu nó có cấu trúc tổ chức hiệu quả. Nhưng điều này cũng có thể tùy thuộc vào độ tập trung của thị trường và độ đa dạng hóa sản phẩm. Vì vậy, lý thuyết ES chỉ là một trong nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của ngân hàng. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
2.3.2. Lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power)
Lý thuyết Quyền lực thị trường (Market Power – MP) là một khái niệm trong kinh tế học, mô tả khả năng của một hoặc nhiều doanh nghiệp có thể tác động đến giá cả và sản lượng trên thị trường một cách độc đáo mà không gặp sự can thiệp từ các đối thủ cạnh tranh. Theo lý thuyết MP, nếu một doanh nghiệp có quyền lực thị trường, nó có thể tạo ra mức giá cao hơn và sản lượng bán ra ít hơn so với tình trạng cạnh tranh hoàn hảo, từ đó đạt được lợi nhuận tốt hơn. Khi đó, quyền lực thị trường là một yếu tố quan trọng trong việc xác định hiệu quả của một doanh nghiệp và thị trường nó hoạt động.
Tuy nhiên, việc có quyền lực thị trường cũng có thể dẫn đến một số hậu quả không mong muốn, chẳng hạn như giảm sự cạnh tranh, tăng giá cả cho người tiêu dùng, giảm chất lượng, và cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp mới. Do đó, chính phủ và tổ chức quốc tế thường thực hiện các biện pháp kiểm soát đối với các doanh nghiệp có quyền lực thị trường, như hạn chế tập trung thị trường, kiểm soát giá cả và sản lượng, và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
2.3.3. Lý thuyết cấu trúc hành vi hiệu quả (Structure-ConductPerformance – SCP)
Theo Lê Thị Thúy (2015), lý thuyết SCP(Structure-Conduct- Performance)nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường, hành vi của các công ty trên thị trường và hiệu quả của ngành công nghiệp đó. Lý thuyết này thể hiện cấu trúc thị trường (Structure) ảnh hưởng đến hành vi của các doanh nghiệp (Conduct), và hành vi của các công ty này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả ngành (Performance). Học thuyết SCP trong ngành ngân hàng thường tập trung vào việc đánh giá mức độ tập trung của thị trường, hành vi cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của ngành. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Lý thuyết Quyền lực thị trường tương đối (Relative Market Power – RMP) được phát triển từ Học thuyết cạnh tranh và hiệu quả (SCP) bởi các nhà kinh tế học như Harold Demsetz (1973), Sam Peltzman (1977) và George Brozen (1982). RMP nhấn mạnh vào mức độ quyền lực của các công ty ngành này so với công ty thuộc ngành khác và khối lượng kinh doanh của chúng. Theo RMP, mức độ cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc vào mức độ quyền lực tương đối của từng công ty trong ngành.
Tuy nhiên, RMP cũng coi trọng sự đối đầu giữa các công ty trong ngành, do đó cơ hội để các công ty khác có thể chiếm ưu thế bằng cách tăng cường cạnh tranh và đưa ra các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn.
Trong nghiên cứu của Gillian và đồng nghiệp (1984), họ xác định rằng học thuyết RMP giải thích về sự khác biệt của hiệu quả giữa các ngân hàng. Theo họ, những ngân hàng có quy mô lớn và độ tập trung cao hơn có thể tận dụng lợi thế quyền lực thị trường để tăng giá cả và giảm chi phí. Nhưng họ cần phải chuẩn bị với sự cạnh tranh gay gắt hơn từ đối thủ. Nghiên cứu của Gillian và đồng nghiệp (1984) cho thấy rằng học thuyết RMP là hữu ích để giải thích hiệu quả ở thị trường cạnh tranh. Ngoài ra, những ngân hàng có hình ảnh tốt thì thường được tin tưởng bởi khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút và giữ chân khách hàng (Berger, 1995). Leykun (2016) khẳng định rằng sức mạnh thị trường tăng lên mang lại lợi nhuận độc quyền. Với ngân hàng, giả thuyết MP cho rằng cầu trúc thị trường ngành ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Theo Trầm Thị Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga (2018), hiệu quả hoạt động hay khả năng sinh lợi của ngân hàng dựa vào ES và MP.
2.3.4. Lý thuyết ưa thích thanh khoản
Theo Leykun (2016), Msuku (2020) và Musiega và cộng sự (2017), Lý thuyết ưa thích thanh khoản được đề xuất bởi Keynes (1936). Nó đề cập đến sự ưu tiên của người đầu tư trong việc chọn giữa các khoản đầu tư có tính thanh khoản cao. Nghĩa là tài sản có thể được bán ra hoặc chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng, điều này sẽ giúp các nhà đầu tư đối phó được với những tình huống khẩn cấp như khủng hoảng tài chính hoặc sự suy giảm của nền kinh tế. Tuy nhiên, các khoản đầu tư có tính thanh khoản cao thường có mức lợi suất thấp hơn so với các khoản đầu tư có tính thanh khoản thấp hơn. Điều này là do các khoản đầu tư có tính thanh khoản cao đã được định giá ở mức độ an toàn hơn, vì vậy các nhà đầu tư phải trả giá cho tính thanh khoản và sự an toàn này. Do đó, một sự cân nhắc phải được thực hiện giữa lợi nhuận và tính thanh khoản của các khoản đầu tư.
Theo Bibow (2005), trong cuốn sách “Lý thuyết tổng quan về việc sử dụng tiền tệ, lãi suất và chi phí” năm 1936, John Maynard Keynes cũng đã đề xuất ba động cơ thúc đẩy nhu cầu thanh khoản của các nhà đầu tư, đó là: Động cơ giao dịch: Đây là động cơ đơn giản nhất trong ba động cơ để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu hàng ngày của các nhà đầu tư, chẳng hạn như chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ, hóa đơn và chi phí phát sinh. Động cơ này thể hiện nhu cầu ngắn hạn (Tily, G2006). Động cơ dự phòng: Động cơ này xuất hiện khi các nhà đầu tư muốn đối phó với những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai. Các nhà đầu tư muốn giữ tiền mặt để đối phó với những rủi ro. Động cơ này thể hiện nhu cầu thanh khoản trung hạn. Động cơ mục đích: Động cơ này là nhu cầu thanh khoản dài hạn. Đây là nhu cầu thanh khoản để đáp ứng các mục đích dài hạn như việc đầu tư vào tài sản như địa ốc, chứng khoán và các khoản đầu tư khác. Các nhà đầu tư có thể muốn đổi lại các khoản đầu tư dài hạn này thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu.
Theo Elgar (1999), cá nhân có nhu cầu về tiền vì họ có những kế hoạch liên quan đến chi tiêu hoặc tài trợ hoặc đoán được triển vọng về lãi suất trong tương lai. Vì vậy, giữ một phần tài sản dưới dạng lành mạnh. Nó được biết đến thông qua ba động cơ thúc đẩy của Keynes. Ba động cơ thúc đẩy nhu cầu thanh khoản của Keynes đã giúp những nhà kinh tế rõ hơn về cơ chế của nhu cầu thanh khoản của các nhà đầu tư và cũng đã cung cấp những giải pháp để quản lý và điều tiết nhu cầu thanh khoản này.
2.4. Tổng quan nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Phần này tác giả sẽ tiến hành tổng quan lại những nghiên cứu trước đây để có cái nhìn toàn cảnh. Từ đó rút ra khoảng trống nghiên cứu phù hợp cho nghiên cứu của tác giả.
2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Kiểm soát rủi ro thanh khoản là ưu tiên hàng đầu của các tổ chức tài chính (Purbaningsih và Fatimah, 2018). Quản lý thanh khoản thực sự là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng Ibe (2013). Có nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động là cùng chiều nhưng cũng có nghiên cứu cho kết quả ngược lại hoặc không có đủ bằng chứng để kết luận (Ndoka và cộng sự, 2017), điều này tạo ra sự mâu thuẫn trong kết quả nghiên cứu (Madhuwanthi và Morawakage 2019). Lartey, Antwi và Boadi (2013) cho rằng duy trì một mức độ thanh khoản tốt có thể giúp tăng lợi nhuận ngân hàng ở Ghana (2004 – 2010). Bên cạnh đó tác giả cho thấy rằng quy mô thì tiêu cực đến thanh khoản của ngân hàng, nhưng ảnh hưởng lọi nhuận không lớn. Tốc độ tăng trưởng tài sản có tác động thuận chiều đến lợi nhuận, nhưng thanh khoản thì không nhiều. Tỷ lệ tiền gửi/nguồn vốn có tác động âm đến thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, các tác động của các biến này đều không được xác định rõ ràng và có độ tin cậy thấp, phạm vi nghiên cứu hạn chế, thiếu dữ liệu chi tiết, không xác định được mối tương quan nhân quả và không xem xét được những yếu tố liên quan đến thị trường.
Tương tự, Alshatti (2015) cho thấy rằng quản lý thanh khoản ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Jordan. Nghiên cứu sử dụng một mẫu dữ liệu bao gồm các ngân hàng thương mại ở Sở giao dịch chứng khoán Amman trong giai đoạn 2005 – 2012. Họ chỉ ra các ngân hàng có khả năng quản lý thanh khoản tốt hơn thường có lợi nhuận cao hơn và tăng trưởng nhanh hơn so với các ngân hàng quản lý thanh khoản kém. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng sự tác động của quản lý thanh khoản có giới hạn và phụ thuộc vào kích thước, năng lực và môi trường tổng thể của Jordan. Nghiên cứu của Khalid và cộng sự (2019) sử dụng dữ liệu từ 25 ngân hàng trong một số quốc gia mới nổi như Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Philippines và Việt Nam, trong khoảng thời gian từ 2011 đến 2017. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Kết quả cho thấy rằng rủi ro thanh khoản có tác động đáng kể đến hiệu suất hoạt động của các ngân hàng. Các ngân hàng có mức độ rủi ro thanh khoản cao hơn thường có hiệu suất hoạt động thấp hơn (Bourke, 1989; Kosmidou và cộng sự, 2005).
Ở các thị trường mới nổi thường gặp phải các vấn đề về thanh khoản cao hơn so với thị trường phát triển. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng giảm rủi ro thanh khoản và cải thiện hiệu suất hoạt động bằng cách tăng tỷ lệ tiền gửi/nguồn vốn và giảm tỷ lệ vay/nguồn vốn. Ngoài ra, thanh khoản dựa vào lệ tài sản lưu động trên khách hàng và nguồn vốn ngắn hạn tỷ lệ thuận với ROA trong nghiên cứu của Kosmidou và cộng sự (2005). Tuy nhiên, nghiên cứu của Kosmidou và cộng sự (2005) sử dụng dữ liệu quá chung chung và không phân tích tác động của các biến không liên quan đến thu nhập ngoài lãi. Olagunju và cộng sự (2012), Charity (2012) cũng có kết quả tích cực và bị ảnh hưởng đáng kể bởi tính thanh khoản. Arif và Anees (2012) đã kiểm tra các yếu tố rủi ro thanh khoản và đánh giá tác động của chúng đối với ngân hàng Pakistan trong giai đoạn (2004-2009). Ông tìm thấy được bằng chứng về việc tăng tiền gửi dẫn đến tăng khả năng lợi nhuận về mặt giảm sự phụ thuộc vào ngân hàng trung ương trong việc đáp ứng các nghĩa vụ của khách hàng và khả năng sinh lời. Nhưng các tác giả chỉ tập trung sử dụng dữ liệu chỉ từ ba ngân hàng thương mại ở Pakistan, do đó không thể áp dụng kết quả cho toàn bộ ngành ngân hàng hoặc các nước khác và không xét đến các yếu tố khác.
Có thể thấy được việc quản lý thanh khoản hiệu quả sẽ nâng cao tính lành mạnh của ngân hàng Agbada và Osuji (2013). Lartey và cộng sự (2013) thấy rằng có một mối quan hệ cùng chiều rất yếu giữa tính thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết ở Ghana. Addin và cộng sự (2013) chỉ ra rằng có mối quan hệ đồng biến nhưng không có mối quan hệ giữa chỉ số vòng quay tiền cũng như số dư thanh khoản ròng và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Almazari (2014) phát hiện ra rằng có mối tương quan thuận giữa khả năng sinh lời được đo bằng ROA của các ngân hàng Ả Rập và Jordan với một số chỉ số thanh khoản, cũng như có mối tương quan nghịch với các chỉ số thanh khoản khác giữa khả năng sinh lời được đo bằng ROA của các ngân hàng Ả Rập và Jordan Tuy nhiên, nghiên cứu không đề cập yếu tố bên ngoài. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Shen và cộng sự (2010) tìm được mối quan hệ tích cực giữa rủi ro thanh khoản với biên lãi ròng. Điều này cho thấy tài sản kém thanh khoản lại nhận được lãi suất sao cao hơn nhưng kết quả chỉ áp dụng cho Ngân hàng ở Đài Loan khó áp dụng cho quốc gia khác vì nhiều khác biệt về kinh tế, văn hoa, thu nhập, … Tương tự chỉ nghiên cứu ở Kosovo, Ndoka và cộng sự (2017) đã nhận định rằng kết quả này đi ngược với cơ sở ban đầu về biên lãi ròng. Họ nghĩ rằng ngân hàng sẽ chịu khoản phí huy động cao hơn trên thị trường nếu có tài sản kém thanh khoản. Nghiên cứu của Mustafa (2019) cho thấy rằng có sự đối nghịch giữa tính thanh khoản và tính lợi nhuận của ngân hàng. Tác giả đề xuất nhà quản lý ngân hàng để cân bằng giữa hai yếu tố này và đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng bền vững của ngân hàng. Tuy nhiên, ông chỉ tập trung vào mâu thuẫn giữa tính thanh khoản và sinh lợi.
Bessis (2010) xem xét rủi ro thanh khoản từ ba khía cạnh khác nhau. Trong trường hợp đầu tiên, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn với chi phí hợp lý vì các điều kiện liên quan đến lãi suất, khối lượng giao dịch và khó khăn trong việc cấp vốn cho đối tác. Trong quan điểm thứ hai, tính thanh khoản được xem như một tấm đệm an toàn giúp kiếm lời trong những tình huống khó khăn, tuy nhiên, tính thanh khoản cũng có nguy cơ không phù hợp khi tài sản ngắn hạn không đủ để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn. Quan điểm cuối cùng là rủi ro thanh khoản được coi là tình huống cực đoan, phát sinh khi có một khoản lỗ lớn tạo ra các vấn đề về thanh khoản. Ủy ban Basel về ngân hàng và giám sát (2008) đã công bố các nguyên tắc giám sát và quản lý rủi ro thanh khoản lành mạnh, trong đó nhấn mạnh các nguyên tắc cơ bản cho việc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Vì vậy nên có khung quản lý rủi ro để đảm bảo sẵn có tài sản thanh khoản đủ để tồn tại trong môi trường căng thẳng (Kim, 2015). Các nguyên tắc khuyến nghị rằng các ngân hàng nên xác định, theo dõi, đo lường và kiểm soát các dòng tiền tiềm ẩn liên quan đến các khoản ngoại tệ, các cam kết và nợ tiềm ẩn vì hầu hết các ngân hàng cho vay đều đánh giá thấp rủi ro thanh khoản. Distinguin và cộng sự (2014) đề xuất một khung nghiên cứu dựa trên thị trường để dự đoán sự khó khăn tài chính của các ngân hàng. Họ xác định các chỉ số thanh khoản như tài sản liên ngân hàng so với nợ liên ngân hàng, tổng cho vay khách hàng và vốn ngắn hạn, tài sản lưu động đối với khách hàng và nguồn vốn ngắn hạn, và tài sản lưu động trên tổng tiền gửi. Họ phát hiện rằng tài sản lưu động trên tổng tiền gửi có đóng góp tiêu cực đáng kể vào thay đổi về thanh khoản, do đó dự đoán sự khó khăn tài chính. Ngoài ra, các công ty lớn hơn có thể thu hút rủi ro lớn hơn, và do đó quy mô có thể ảnh hưởng đến hiệu suất (DeNicolo, 2000).
Katuku và Dzingirai (2014) cho thấy quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê và có mối quan hệ nghịch chiều với khả năng đổ vỡ. Khi quy mô ngân hàng tăng lên, xác suất đổ vỡ giảm xuống. Điều này khác với nghiên cứu của Anas và Fauziah (2014), nghiên cứu tập trung vào rủi ro tài chính đối với các ngân hàng Hồi giáo và khả năng sinh lời, trong đó quy mô ngân hàng được sử dụng như một biến kiểm soát có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời.
Nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2008) về ngân hàng tại châu Âu trong giai đoạn 1996-2002, đã tìm hiểu tác động của thu nhập ngoài lãi đến cấu trúc rủi ro của các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng niêm yết và không niêm yết. Kết quả cho thấy rủi ro tăng ở các ngân hàng nhỏ hơn khi so sánh với thu nhập từ hoạt động, trong khi các ngân hàng lớn hơn thì ít rủi ro hơn. Tương tự, DeNicolo (2000) đã nghiên cứu mối quan hệ tích cực đáng kể giữa quy mô ngân hàng và khả năng sinh lời của các ngân hàng ở Mỹ, Nhật Bản và một số nước châu Âu. Amr và Osama (2015) đã tiến hành nghiên cứu so sánh hiệu quả tài chính giữa ngân hàng truyền thống và ngân hàng Hồi giáo ở Ai Cập và cho thấy quy mô ngân hàng không ảnh hưởng đến mức sinh lời. Nghiên cứu của Ndoka và cộng sự (2017) đã chỉ ra rằng có mối tương quan giữa Lợi nhuận trước thuế và Tiền mặt. Điều này có thể có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tài chính của các ngân hàng. Kết quả phân tích hồi quy của nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan nghịch giữa Tiền gửi và Khoảng cách thanh khoản với Lợi nhuận trước thuế. Điều này có thể đưa ra đề xuất rằng các ngân hàng nên đưa ra chính sách quản lý tiền gửi và thanh khoản hợp lý để tối đa hóa lợi nhuận trước thuế. Almekhlafi và cộng sự (2016) đã phân tích một số yếu tố độc lập như Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản (LA), Tỷ lệ nợ xấu (NPL), Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), Lạm phát (INF) và cho thấy Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều với tỷ suất sinh lời ROA trong khi các biến còn lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều với ROA. Các tác giả đề xuất cho các ngân hàng rằng cần tập trung vào quản lý tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản để tối đa hóa lợi nhuận và giảm rủi ro thanh khoản.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Trong nước cũng có nhiều nghiên cứu xét về khía cạnh ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng. Có thể kể đến như nghiên cứu của Trương Quang Thông (2013) tập trung vào việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố như lợi nhuận, tỷ lệ dư nợ cho vay, tỷ lệ tiền gửi và tỷ lệ tài sản cố định ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của NHTMCP tại Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả chỉ sử dụng dữ liệu trong một khoảng thời gian ngắn.
Tương tự, nghiên cứu của Đặng Văn Dân (2015) sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả và phân tích hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu từ 24 ngân hàng thương mại trong giai đoạn từ 2008 đến 2013. Ông tìm được bằng chứng về tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dư nợ cho vay và lợi nhuận gộp ảnh hưởng mạnh đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu của ông chỉ tập trung vào các nhân tố nội tại của ngân hàng và không đề cập đến các yếu tố bên ngoài như môi trường kinh tế, chính sách tài chính, hoặc biến động thị trường.
Đoàn Việt Hùng (2016) đã tìm thấy được rủi ro thanh khoản ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động, tác giả chỉ ra các yếu tố như tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu, độ tin cậy của khách hàng và biến động lãi suất là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu này còn một số hạn chế, bao gồm việc sử dụng chỉ số ROA (Return on Assets) để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng mà chưa thể hiện đầy đủ tình hình hoạt động kinh doanh.
Tăng Mỹ Sang (2020) sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính để đánh giá quan hệ giữa các biến số. Tác giả nhận định rằng quản trị thanh khoản có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng. Nó giúp tăng khả năng thanh toán của ngân hàng và giảm nguy cơ mất tiền gửi của khách hàng, đồng thời giúp tăng cường khả năng tài chính và cải thiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu từ một số ngân hàng lớn và không đại diện cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Đồng thời cũng chỉ xem xét tác động của quản trị thanh khoản đến khả năng sinh lời, mà không xem xét đến các yếu tố khác như rủi ro và chi phí. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Trong khi đó, nghiên cứu của Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018) sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trên một mẫu gồm 16 ngân hàng thương mại trên thị trường Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cụ thể, khi rủi ro thanh khoản tăng, các ngân hàng sẽ có khả năng sinh lời thấp hơn và tăng chi phí vốn, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Nhưng số lượng Ngân hàng trong nghiên cứu lại không bao gồm được phần lớn ngân hàng tại Việt Nam nên sự đánh giá còn hạn chế.
Nghiên cứu của Trần Huy Hoàng và Trần Thị Bích Loan (2021) cho thấy rằng, rủi ro thanh khoản ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Cụ thể, rủi ro thanh khoản dẫn đến giảm lợi nhuận và tăng tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng. Ngoài ra, các yếu tố như kích thước tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ dự trữ nợ xấu cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có hạn chế khi chỉ tập trung vào các ngân hàng thương mại Việt Nam mà không bao gồm các ngân hàng đầu tư và phát triển khác. Ngoài ra, các tác động của rủi ro thanh khoản cũng có thể khác nhau tùy thuộc vào từng thời điểm và điều kiện kinh tế xã hội.
Với mục đích mở rộng hơn ở khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga (2018) tập trung vào tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng ở Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình hồi quy đa biến và bộ dữ liệu của 34 ngân hàng từ năm 2008 đến năm 2012. Kết quả cho thấy rằng rủi ro thanh khoản ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng ở khu vực nghiên cứu. Cụ thể, rủi ro thanh khoản làm giảm lợi nhuận ròng, tăng tỷ lệ nợ xấu và giảm giá trị tài sản của ngân hàng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản có sự khác biệt giữa các ngân hàng trong khu vực. Một hạn chế của nghiên cứu là dữ liệu chỉ bao phủ một thời gian ngắn và chỉ tập trung vào khu vực Đông Nam Á, do đó không thể áp dụng kết quả cho các khu vực khác hoặc cho thời gian dài hơn. Nghiên cứu cũng chỉ sử dụng phương pháp mô hình hồi quy đa biến, không thể đánh giá được các mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố khác trong hoạt động của ngân hàng.
2.5. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
Sau khi xem xét các nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng trong lĩnh vực nghiên cứu về ngân hàng, hiện chưa có nhiều nghiên cứu đồng thời xem xét được những yếu tố liên quan đến thanh khoản và các yếu tố đại diện cho kinh tế vĩ mô. Thường thì các nghiên cứu chỉ sử dụng một số chỉ tiêu để đại diện cho tính thanh khoản hoặc hiệu quả hoạt động của ngân hàng, dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố này vì mỗi thước đo có sự ảnh hưởng khác nhau.
Hơn nữa, một số nghiên cứu chưa xem xét được các yếu tố không ổn định trong nền kinh tế như khủng hoảng tài chính hay dịch bệnh. Các kết quả nghiên cứu cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn và chưa thống nhất, đồng thời, không thể áp dụng trực tiếp những nghiên cứu nước ngoài vào thị trường ngân hàng Việt Nam do sự khác biệt về văn hóa, quan điểm sống, tâm lý, thu nhập cũng như chính sách.
Ngoài ra, các nghiên cứu trong nước cũng có nhược điểm là khá cũ và chưa xem xét đủ số lượng ngân hàng lớn để đem đến kết quả và đánh giá chính xác. Một khía cạnh khác ít được nghiên cứu đề cập đến là biên lãi ròng (NIM – Net Interest Margin).
Do những khoảng trống và hạn chế trên, tác giả quyết định sử dụng các thước đo về thanh khoản và hiệu quả hoạt động đa dạng hơn, đồng thời xem xét số lượng ngân hàng nhiều hơn, nhằm đem đến kết quả có tính bao hàm, chính xác và mang tính cập nhật cao hơn trong nghiên cứu của mình.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong chương này tác giả tiến hành tổng quan các lý thuyết liên quan làm cơ sở để định nghĩa biến và thực hiện nghiên cứu. Ngoài ra tác giả còn tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Từ đó tác giả trình bày những khoảng trống nghiên cứu cho luận văn. Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng […]