Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại và thực tiễn thi hành tại Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tên đề tài: “Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại và thực tiễn thi hành tại Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh”.
Nội dung:
Cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại nói riêng thể hiện quyền năng của cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo BA, QĐ có hiệu lực thi hành được thi hành triệt để, kịp thời, nghiêm chỉnh và đúng pháp luật. Tuy nhiên, các quy định liên quan đến cưỡng chế thi hành trong Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề pháp lý cần phải được giải quyết. Do đó tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại và thực tiễn thi hành tại Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ của mình. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Việc nghiên cứu đề tài luận văn, người viết hướng đến mục tiêu làm rõ và hệ thống hóa các quy định của pháp luật cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại và thực tiễn thi hành tại Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở những quy định của pháp luật và lý luận khoa học pháp lý kết hợp với quan sát thực tiễn việc áp dụng quy định về cưỡng chế thi hành án trong thời gian qua, từ đó đưa ra những kết luận và kiến nghị nhằm mở rộng, chi tiết hơn các quy định của pháp luật.
Trong từng chương, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng xuyên suốt Luận văn để phân tích các nội dung của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về cưỡng chế THADS nói chung và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại nói riêng; Phương pháp so sánh, thống kê, phương pháp nghiên cứu tình huống được thực hiện áp dụng cho chương 2 và chương 3 của luận văn trong quá trình thu thập các bản án, các hồ sơ thi hành án cụ thể, số liệu cụ thể từ thực tiễn thực hiện biện pháp cưỡng chế THADS để đảm bảo đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục THADS TP. HCM
Từ khóa: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
SUMMARY
Thesis title: “Coercive execution of commercial business judgments and practice at the Civil Judgment Execution Department of Ho Chi Minh City”.
Content:
Coercive enforcement of judgments in general and enforcement of commercial business judgments in particular demonstrate the power of competent agencies to organize judgment enforcement, ensure the strictness of the law, and ensure judgments. Effective decisions shall be implemented thoroughly, promptly, strictly and in accordance with law. However, the provisions related to enforcement in the Law on Civil Judgment Execution in 2008 which were amended and supplemented in 2014 still have many legal issues that need to be resolved. Therefore, the author chooses to study the topic “Coercive enforcement of commercial business judgments and practice at the Ho Chi Minh City Civil Judgment Execution Department” as his master’s thesis.
Researching the topic of the thesis, the writer aims to clarify and systematize the provisions of the law on enforcement of commercial business judgments and practice at the Ho Chi Minh City Civil Justice Department. On the basis of the provisions of the law and legal scientific theory combined with practical observations on the application of regulations on enforcement of judgments in the past time, from which conclusions and recommendations are made. expanded, more detailed provisions of the law. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
In each chapter, the author uses a number of research methods such as: Historical method, analytical and synthesis method used a lot in Chapter 1 and Chapter 2 to research and learn about coercive measures of judgment debtors in commercial business judgments; as well as studying issues related to the legal provisions on coercive measures of judgment debtors in commercial business judgments and generalizing each issue studied in the thesis; The enumeration method, the method of dialectical analysis between theory and practice are used a lot in Chapter 3. The enumeration method is implemented in the process of collecting Court judgments and decisions from practice. judgments related to distraint of assets of judgment debtors. The method of dialectical analysis between theory and practice is used in the study to give some recommendations and directions to resolve disputes, problems and problems that the author has set out from the coercion of property. of judgment debtors in actual commercial business judgments.
Keywords: Coercive enforcement of commercial business judgments
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu
1.1 Đặt vấn đề
Thi hành án dân sự là hoạt động trực tiếp liên quan đến việc xử lý tài sản của các bên đương sự, cụ thể: Tiền trong tài khoản, các giấy tờ có giá, vốn góp, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất… nên giai đoạn này thường phát sinh mâu thuẫn gay gắt giữa các bên đương sự và thường gặp phải sự chống đối, tìm mọi cách kéo dài, tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Để đảm bảo BA, QĐ của Tòa án được thi hành đúng quy định, cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành nhiều thủ tục như: thu thập thông tin, xác minh, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp kê biên xử lý tài sản, bán đấu giá tài sản…. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng các đương sự lợi dụng kẻ hở của pháp luật, lợi dụng sự chủ quan của cơ quan thi hành án mà cụ thể là các CHV trực tiếp tổ chức thi hành để tẩu tán tài sản dẫn đến việc không thể thu hồi tiền, tài sản cho bên được thi hành án. Bên cạnh đó đương sự là người được thi hành án chưa chủ động trong việc tìm kiếm thông tin, xác minh tài sản của người phải thi hành án để yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay trong giai đoạn Tòa án thụ lý xét xử, hoặc chỉ yêu cầu thi hành án khi người phải thi hành án không thực hiện việc thi hành theo đúng cam kết đã thỏa thuận, không thực hiện theo đúng nội dung BA đã tuyên và cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án để buộc người phải thi hành án thực hiện. Việc không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc không kịp thời yêu cầu thi hành án đã tạo điều kiện cho người được thi hành án tẩu tán tài sản, gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự trong công tác xác minh, xử lý tài sản về sau. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Thi hành án dân sự là một hoạt động quan trọng nhằm hiện thực hóa kết quả của quá trình tố tụng và giải quyết tranh chấp trong thực tiễn. Việc bảo đảm thi hành các BA, QĐ của Tòa án một cách có hiệu quả đã được ghi nhận tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013: “BA, QĐ của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Năm 2008, Luật thi hành án dân sự được ban hành là cột mốc quan trọng đánh dấu sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự. Luật thi hành án dân sự ra đời là cơ sở pháp lý góp phần to lớn vào việc bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, củng cố trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những ưu điểm tích cực, trải qua quá trình triển khai thực hiện Luật thi hành án dân sự cũng đã có những thiếu sót, bất cập, như: Một số quy định chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn thi hành án dân sự, còn có những quy định chưa thống nhất giữa Luật thi hành án dân sự với các đạo luật khác, có những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn nhưng chưa được pháp luật thi hành án dân sự điều chỉnh. Ngoài ra, có rất nhiều thủ tục về thi hành án có những đặc thù riêng như: thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp trong các Bản án kinh doanh thương mại; Kê biên, bán đấu giá tài sản là cổ phiếu, vốn góp, quyền sở hữu trí tuệ…, nhưng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành chỉ quy định chung cho một loại thủ tục thi hành án; điều đó đã gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án dân sự. Trước bối cảnh Hiến pháp năm 2013 ra đời, trong đó đề cao quyền con người và tăng cường thực hiện quyền tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014, có hiệu lực 01/7/2015 để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo hiệu lực thi hành bán án, quyết định của Tòa án và quyết định của Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. “Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho BA, QĐ của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước”. Để hiện thực hóa các quyền, nghĩa vụ đã ghi nhận trong BA, QĐ của Tòa án cũng như quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự thì bên cạnh việc thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, trong nhiều trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy rằng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự còn những vướng mắc, bất cập cả về lý luận và thực tiễn cần phải có sự nghiên cứu có hệ thống và toàn diện hơn. Ví dụ như: về mặt lý luận, chưa làm rõ mối quan hệ giữa tự nguyện và cưỡng chế trong thi hành án dân sự khi mà về nguyên tắc thì cưỡng chế chỉ đặt ra khi đương sự không tự nguyện thi hành án nhưng sự tự nguyện của đương sự vẫn được khuyến khích sau khi cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp cưỡng chế. Về mặt thực tiễn, trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự còn chồng chéo, kéo dài; trong nhiều việc thi hành án, các chủ thể chưa thực hiện đúng quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự (người phải thi hành án cản trở, chống đối việc cưỡng chế thi hành án; Chấp hành viên chưa tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục cưỡng chế…); các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự (kinh phí, phương tiện làm việc, công cụ hỗ trợ…) chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự và yêu cầu đảm bảo hiệu lực, hiệu quả cưỡng chế thi hành án dân sự Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Thực tiễn cưỡng chế thi hành án dân sự đặt ra những đòi hỏi khách quan là cần phải có sự nguyên cứu chuyên sâu về cưỡng chế thi hành án dân sự, đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự, đảm bảo tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong cưỡng chế thi hành án dân sự, nâng cao hiệu quả hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã chọn đề tài “Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại và thực tiễn thi hành tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế của mình.
2. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, có một số giáo trình và công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài này như sau:
Học viện tư pháp (2018), Giáo trình nghiệp vụ thi hành án dân sự, phần kỹ năng, Nhà xuất bản Tư pháp. Đây là cuốn sách chuyên khảo trình bày một cách khoa học, hệ thống các vấn đề cơ bản về cưỡng chế thi hành án dân sự, các tác giả đã phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành, đưa ra các kỹ năng áp dụng pháp luật thi hành án dân sự nói chung, cũng như biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng để góp phần hoàn thiện pháp luật về hoạt động thi hành án dân sự.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội. Đây là giáo trình có tính chuyên ngành về thi hành án dân sự, được sử dụng để giảng dạy tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Nội dung giáo trình đề cập đến những kiến thức cơ bản về pháp luật thi hành án dân sự trên cơ sở pháp luật hiện hành, phân tích cụ thể mô hình tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự; các trình tự, thủ tục thi hành án dân sự, trong đó có nội dung liên quan trực tiếp đến những vấn đề lý luận và thưc tiễn về thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự. Giáo trình đã đưa ra khái niệm, đặc điểm cơ bản, đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Tuy nhiên giáo trình tiếp cận phân tích cưỡng chế thi hành án dân sự dưới góc độ là các biện pháp được áp dụng theo quy định của pháp luật mà chưa phân tích, đề cập đến cưỡng chế thi hành án dân sự với ý nghĩa là hoạt động thực tế nhằm tổ chức thực hiện các “quyết định cưỡng chế” do chủ thể có thẩm quyền ban hành. Tuy vậy, những nội dung của Giáo trình có giá trị thi hành ánm khảo quan trọng trong việc đánh giá thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hoàng Thị thi hành ánnh Hoa, Hồ Quân Chính, Nguyễn Văn Nghĩa (2022), “Kỹ năng nghề nghiệp Chấp hành viên thi hành án dân sự”, Nhà xuất bản tư pháp. Cuốn sách phân tích, tổng hợp các quy định pháp luật và kỹ năng thực tiễn giúp cho Chấp hành viên, công chức thi hành án dân sự có thể áp dụng, nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ thi hành án dân sự được giao, trong đó có các vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Nguyễn thi hành ánnh Thủy, Lê Thị Kim Dung (chủ biên) (2010), Xử lý tình huống trong thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Cuốn sách tổng hợp, phân tích các tình hướng phát sinh trong thực tiễn thi hành án dân sự đòi hỏi có sự nhận thức thống nhất trong cách hiểu và áp dụng các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự, trong đó chủ yếu là quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự. Kết quả nghiên cứu của tác giả có liên quan chặt chẽ và là nguồn thi hành ánm khảo quan trọng để nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự của các cơ quan thi hành án dân sự.
Lê Thị Lệ Duyên (2013), “Những vướng mắc trong phối hợp thực hiện quy định về cưỡng chế trả giấy tờ”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Tác giả bài viết cho rằng việc thực hiện quy định về cưỡng chế trả giấy tờ chỉ được thực hiện khi không còn giải pháp nào khác, vì thực tế việc cưỡng chế buộc thực hiện hành vi theo quy định trên không mang lại hiệu quả, đượng sự không những không thực hiện quyết định cưỡng chế buộc thực hiện hành vi mà còn không nộp phạt vi phạm hành chính. Thậm chí, quy định về đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên thể hiện sự nghiêm khắc, nhưng thực tế không khả thi, vì hành lang pháp lý để truy cứu hình sự đối với hành vi này chưa được hướng dẫn và chưa có sự thống nhất giữa cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án. Những phân tích, kiến nghị của tác giả mặc dù chỉ đề cập đến biện pháp cưỡng chế cụ thể là “cưỡng chế giao trả giấy tờ” nhưng có giá trị thi hành án khảo cho việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Hồ Quân Chính (2014), “Bất cập trong quy định về việc lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề về thi hành án dân sự). Bài viết đề cập đến việc thực hiện quy định về lập kế hoạch cưỡng chế theo Điều 72 Luật thi hành án dân sự, tuy nhiên hiện nay vẫn có cách hiểu khác nhau về các trường hợp phải lập kế hoạch cưỡng chế và trường hợp phải thực hiện cưỡng chế ngay. Tác giả cho rằng yêu cầu phải lập kế hoạch trong trường hợp cưỡng chế đơn giản chỉ mang tính thủ tục là không cần thiết và trường hợp phải cưỡng chế ngay vẫn chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp của từng cơ quan hữu quan, nhất là trường hợp cưỡng chế theo quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Vì vậy, tác giả cho rằng cần có những quy định hướng dẫn cụ thể để thi hành Điều 72 Luật thi hành án dân sự trong việc lập kế hoạch cưỡng chế để thống nhất cách hiểu, áp dụng giữa các cơ quan trong việc lập kế hoạch và phối hợp thực hiện kế hoạch cưỡng chế thi hành án dân sự. Tuy bài viết chỉ đặt vấn đề bất cập trong thủ tục lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án dân sự nhưng có giá trị thi hành ánm khảo quan trọng trong việc đưa ra các kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
Luận văn thạc sĩ luật học “THADS về đất đai tại Thành phố Hồ Chí Minh ” của Nguyễn Như thi hành án Trúc “bảo vệ năm 2012 tại Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học “THADS đối với doanh nghiệp từ thực tiễn Thành phổ Hồ Chí Minh” của Hoàng Huy Trường “bảo vệ năm 2013 tại Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học “Thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại Thành phổ Hồ Chí Minh” của Phạm Huy Hoàng “bảo vệ năm 2020 tại Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học “Cưỡng chế thi hành án dân sự đối với tài sản của công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại Thành phổ Hồ Chí Minh” của Đỗ Huy Du “bảo vệ năm 2018 tại Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam”…
Liên quan đến thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, có các bài viết, như: “Khó tổ chức thi hành khi doanh nghiệp mất tích” của tác giả Hoàng Lan, Trang thông tin Cục thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang; “Thi hành án kinh doanh, thương mại – Thực trạng và những giải pháp nâng cao kết quả trong thời gian tới” của tác giả Nguyễn Thị Nhàn, Tạp chí dân chủ pháp luật; “Nâng cao chất lượng công tác thi hành án dân sự đối với các BA kinh doanh, thương mại” của tác giả Vũ Phương Nhi, Báo Chính phủ… Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả lớn, có giá trị phục vụ cho khoa học pháp lý. Có công trình nghiên cứu ở mức độ chung chung, thể hiện quan điểm cá nhân, có công trình nghiên cứu tổng quan, đưa ra các vấn đề cơ bản xoay quanh cưỡng chế thi hành án dân sự. Tuy nhiên, việc tách riêng để nghiên cứu về chế định cưỡng chế thi hành án dân sự đối với Bản án kinh doanh thương mại cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác cưỡng chế thi hành án đối với Bản án kinh doanh thương mại thì tác giả chưa thấy công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống chế định nêu trên. Thiết nghĩ thi hành án dân sự là một trong những lĩnh vực rất phức tạp và nhạy cảm, vì nó động chạm trực tiếp đến lợi ích của người phải thi hành án, cũng như quyền lợi của người được thi hành án, do đó việc hoàn thiện chế định “cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại” một trong những chế định phức tạp, gây nhiều khó khăn, vướng mắc khi thực hiện là một việc làm cần thiết, góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn trong công cuộc sửa đổi và áp dụng Luật thi hành án dân sự của nước ta.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này tác giả muốn làm sáng tỏ những quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp góp phần hoàn thiện biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nhằm thi hành các Bản án kinh doanh thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các quy định pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự.
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự để thi hành Bản án kinh doanh thương mại nói chung và tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
- Đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự, đồng thời đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Cưỡng chế thi hành án dân sự là gì?
- Khi thực hiện cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại phải đáp ứng yêu cầu, trình tự, thủ tục gì?
- Khi thực hiện cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp những khó khăn, vướng mắc gì? Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
- Làm thế nào để thủ tục cưỡng chế góp phần nâng cao hiệu quả thi hành Bản án kinh doanh thương mại?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các quy định của pháp luật Việt Nam tại Luật thi hành án dân sự hiện hành về cưỡng chế thi hành án dân sự và việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn thi hành Bản án kinh doanh thương mại và phương hướng hoàn thiện những quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
5.2.1 Phạm vi về nội dung
Cưỡng chế thi hành án dân sự là một vấn đề khá phức tạp, có liên quan đến nhiều hành vi từ việc xác minh điều kiện thi hành án, tống đạt các quyết định cưỡng chế, quyết định giải tỏa…Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, theo đúng tên đề tài “Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại và thực tiễn thi hành tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh” tác giả xin phép chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chế định cưỡng chế thi hành án dân sự theo Luật thi hành án dân sự hiện hành khi thi hành Bản án kinh doanh thương mại của Tòa án các cấp, không nghiên cứu cưỡng chế thi hành án dân sự đối với các BA, QĐ khác như: Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản…Từ đó, tác giả đánh giá, phân tích thực trạng các quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành đối với các Bản án kinh doanh thương mại và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong quá trình cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5.2.2 Phạm vi về không gian và thời gian
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự trong các Bản án kinh doanh thương mại theo Luật thi hành án dân sự hiện hành và thực tiễn thực hiện tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 05 năm từ 2017 – 2022.
6. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp khoa học cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê để làm rõ biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, đánh giá thực trạng áp dụng và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện. Các phương pháp được dùng cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng xuyên suốt Luận văn để phân tích các nội dung của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về cưỡng chế thi hành án dân sự và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu, đồng thời tác giả còn sử dụng phương pháp này trong việc phân tích những khó khăn, vướng mắc của việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về cưỡng chế THADS từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả cưỡng chế thi hành án dân sự tại Cục thi hành án dân sự TP. HCM
Phương pháp so sánh, thống kê, phương pháp nghiên cứu tình huống được thực hiện áp dụng cho chương 2 và chương 3 của luận văn trong quá trình thu thập các BA, các hồ sơ thi hành án cụ thể, số liệu cụ thể từ thực tiễn thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để đảm bảo đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế thi hành án dân sự tại Cục thi hành án dân sự TP. HCM
Thông qua các phương pháp nghiên cứu khoa học nêu trên tác giả muốn làm rõ các vấn đề về cưỡng chế thi hành án dân sự, từ đó phân tích những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về cưỡng chế thi hành án dân sự và đề xuất kiến nghị, góp phần hoàn thiện nâng cao hiệu quả thi hành pháo luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự TP. HCM. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
7. Ý nghĩa khoa học và giá trị nghiên cứu của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm khái niệm, đặc điểm, nội dung của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự và cơ sở của việc quy định các biện pháp này; luận văn phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của Luật thi hành án dân sự về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự khi thi hành Bản án kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thực tiễn: Từ những phân tích, đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất được những kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại nói riêng tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
7.2 Giá trị nghiên cứu của đề tài
Luận văn có thể sử dụng để làm tài liệu thi hành án khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật và các cơ sở đào tạo chức danh tư pháp; có giá trị thi hành án khảo đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi, giải quyết các vấn đề liên quan. Đồng thời, có thể sử dụng làm tài liệu thi hành án khảo trong quá trình tác nghiệp của Luật sư, Chấp hành viên, Thư ký thi hành án.
8. Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu thi hành án khảo, nội dung luận văn bao gồm 03 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Khái quát chung và quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại .
- Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH BẢN ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về cưỡng chế thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại
1.1.1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại
1.1.1.1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự
THADS là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên đã được BA, QĐ của Tòa án ghi nhận. Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo BA, QĐ của Tòa án. Tự nguyện thi hành án dân sự đã trở thành một nguyên tắc, biện pháp quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự.
Khi người phải thi hành án được Chấp hành viên giải thích, thuyết phục tự nguyện thi hành án nhưng vẫn tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không tự nguyện thi hành, thì buộc cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức cưỡng chế thi hành.
Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2020 không định nghĩa biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nhưng theo khoản 2 Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2020 thì ngời phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Tại Điều 45, 46 Luật thi hành án dân sự cũng quy định sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của các cơ quan có thẩm quyền thi hành án, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo BA, QĐ. Cưỡng chế thi hành án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án.
Cách hiểu này tuy chỉ mang tính tương đối nhưng đã xác định được:
Chủ thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự được trao quyền áp dụng trong từng vụ việc thi hành án dân sự cụ thể. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Khách thể của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là trật tự thực thi những BA, QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân… là người phải thi hành án thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tiền, tài sản theo BA, QĐ của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Phương tiện của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là quyền lực Nhà nước được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật về thi hành án dân sự
Mục đích của áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản và đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, các tổ chức và công dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại
Những năm gần đây do khủng hoảng của nền kinh tế, kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tốc độ phục hồi kinh tế chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro, tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng gay gắt dẫn đến các BA, QĐ về kinh doanh thương mại của Tòa án ngày càng tăng cao. Do đó việc thi hành Bản án kinh doanh thương mại đang trở thành thách thức lớn đối với các cơ quan thi hành án dân sự, nhất là quá trình cưỡng chế thi hành án, một biện pháp nghiêm khắc, dùng quyền lực Nhà nước buộc tổ chức, cá nhân nhất định phải tuân theo.
Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thì những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm: Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
- Tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”.
Sau khi BA, QĐ của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự sẽ chủ động tổ chức thi hành đối với phần BA, QĐ về án phí, lệ phí, tịch thu sung quỹ nhà nước… theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Luật thi hành án dân sự khi nhận được BA, QĐ do Toà án chuyển giao; đối với phần thi hành án theo yêu cầu, cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyết định và tổ chức thi hành khi nhận được yêu cầu thi hành án theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự.
Cũng giống như cưỡng chế thi hành án dân sự, cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại cũng do chủ thể có thẩm quyền thi hành án dùng quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cá nhân, doanh nghiệp khi “người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định”, nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Tuy nhiên, có thể thấy khách thể của biện pháp cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại hẹp hơn khách thể của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do khách thể của biện pháp cưỡng thế thi hành Bản án kinh doanh thương mại chỉ là trật tự thực thi những Bản án kinh doanh thương mại của Toà án có hiệu lực pháp luật, không bao gồm tất cả những BA, QĐ của Toà án.
Như vậy có thể hiểu khái niệm cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại là biện pháp dùng quyền lực nhà nước, nhằm buộc người phải thi hành án thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tiền, tài sản theo Bản án kinh doanh thương mại có hiệu lực pháp luật của Toà án, do Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự quyết định áp dụng theo thẩm quyền trong trường hợp người phải thi hành án có điếu kiện thi hành án, đã được thông báo hợp lệ, đã hết thời gian tự nguyện thi hành án mà không tự nguyện thi hành, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản.
1.1.2. Đặc điểm cưỡng chế thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại có những đặc điểm chung của cưỡng chế thi hành án dân sự. Đồng thời cũng mang đặc điểm riêng của việc cưỡng chế trong thi hành Bản án kinh doanh thương mại
1.1.2.1. Đặc điểm chung của biện pháp cưỡng chế thi hành án
Thứ nhất, cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Ở nước ta, thẩm quyền tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự thuộc về cơ quan thi hành án dân sự
Thứ hai, cưỡng chế thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Mọi hành vi gây cản trờ, chống đối việc cưỡng chế thi hành án dân sự đều có thể bị phạt tiền hoặc bị đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải căn cứ vào nội dung BA, QĐ; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của nguời phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Thứ tư, chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Ngoài ra, Chấp hành viên không được tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau Tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.
Thứ năm, đối tượng của cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của người phải thi hành án và được thực hiện trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành.
Thứ sáu, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ theo BA, QĐ của Toà án, người phải thi hành án còn phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án.
Thứ bảy, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự không chỉ có hiệu lực với người phải thi hành án mà còn có hiệu lực với cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Thứ tám, việc tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết khác. Chấp hành viên phải ước tính giá trị tài sản để làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Thứ chín, để thực hiện cưỡng chế thi hành án, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đều phải tuân thủ thủ tục và một số nguyên tắc chung như: xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trước khi tiến hành cưỡng chế; xây dựng kế hoạch cưỡng chế; thông báo hợp lệ các văn bản, quyết định về thi hành án cho đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các cơ quan hữu quan theo luật định; tuân thủ các quy định của pháp luật về thời hạn, thời hiệu trước, trong và sau cưỡng chế…
1.1.2.2. Đặc điểm riêng của cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại
Ngoài những đặc điểm chung của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung, có thể thấy rằng chủ thể của án kinh doanh thương mại chủ yếu là doanh nghiệp. Do vậy, việc cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại ngoài những đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự còn có những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của án kinh doanh thương mại thường là doanh nghiệp. Do vậy, khi cưỡng chế thi hành án đối với các chủ thể này cần phải xác định rõ loại hình doanh nghiệp để có cơ sở pháp lý xem xét tư cách chủ thể, từ đó mới có thể có cơ chế giải quyết đối với từng chủ thể trong vụ việc cụ thể. Ví dụ: chủ thể là doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp thi hành án gia giả quyết và có thể có ý kiến quyết định về các nội dun liên quan quá trình giải quyết vụ việc, trường hợp khác đương sự là công ty cổ phần thì phải xem xét điều lệ công ty xem quy định cho ai là người có thẩm quyền thi hành án gia vào quá trình tiến hành các trình tự thủ tục thi hành án, tránh tình trạng người thi hành án gia ký kết văn bản là người không có thẩm quyền để quyết định những nội dung, những vấn đề mà họ không có quyền quyết định, ký kết.
Thứ hai, tài sản để áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành Bản án kinh doanh thương mại cũng phức tạp hơn tài sản trong các loại việc dân sự khác. Tài sản phải xử lý để thi hành Bản án kinh doanh thương mại thường có tính đặc thù: hầu hết tài sản của doanh nghiệp bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là: nhà xưởng, máy móc, nguyên nhiên vật liệu, hàng hoá, những tài sản này nhiều khi có giá trị rất lớn, mang yếu tố kỹ thuật, công nghệ… do vậy nếu không nắm được các quy định pháp luật có liên quan và xử lý không triệt để sẽ dẫn đến khiếu nại, vi phạm và nhiều trường hợp phải bồi thường số tiền rất lớn. Nhiều tài sản của doanh nghiệp là tài sản hình thành trong tương lai, vốn góp, tài sản vô hình, tài sản hữu hình… rất khó để Chấp hành viên xử lý trong quá trình thi hành Bản án kinh doanh thương mại . Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Thứ ba, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành Bản án kinh doanh thương mại thường nảy sinh rất nhiều vấn đề đặc thù của chủ thể, liên quan đến người lao động, đây là vấn đề rất nhạy cảm, phức tạp mà về mặt pháp luật cũng rất hạn chế, hầu như không có quy định làm cơ sở để giải quyết phát sinh cho đối tượng này, thực tiễn khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, kê biên xử lý tài sản của doanh nghiệp đang có người lao động là vấn đề phức tạp và khó khăn, nhiều trường hợp cơ quan thi hành án dân sự lúng túng không biết xử lý ra sao dẫn đến chậm trễ thi hành án hoặc vi phạm khác, có trường hợp còn dẫn đến khiếu kiện đông người, gây mất ổn định, an ninh chính trị địa phương.
Thứ tư, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành Bản án kinh doanh thương mại phải tiến hành đồng bộ nhiều thủ tục, không chỉ với doanh nghiệp phải thi hành án mà còn liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân như cơ quan quản lý kinh doanh, Sở Kế hoạch Đầu tư, cơ quan bảo hiểm, cơ quan Thuế, cơ quan Tài nguyên Môi trường, Sở Giao dịch chứng khoán, chính quyền địa phương…nên rất khó khăn và phức tạp, lượng việc mà cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện là rất nhiều và khó thực hiện.
Thứ năm, Về quyền sở hữu và trách nhiệm liên quan đến quyền sở hữu. Hầu hết các doanh nghiệp, ngoại trừ doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh, đều có tính chịu trách nhiệm hữu hạn. Vì vậy, trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với doanh nghiệp, bên cạnh việc xác minh các tài sản của doanh nghiệp, CHV cần lưu ý về số vốn các thành viên đã cam kết góp vào doanh nghiệp và các văn bản, giấy tờ ghi nhận quá trình góp vốn đó để xác định trách nhiệm của các thành viên góp vốn đối với khoản nợ của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một pháp nhân, có quyền sở hữu tài sản riêng, do đó, trong quá trình xác minh, xử lý tài sản, CHV cần phân biệt tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp và tài sản thuộc sở hữu của các thành viên góp vốn. Trên thực tế, rất nhiều trường hợp Giám đốc doanh nghiệp hoặc một số thành viên góp vốn sử dụng xe ô tô, tài sản có giá trị khác là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình vào hoạt động của doanh nghiệp. CHV cần thận trọng trong việc xử lý đối với tài sản này. Ngoài ra, CHV cần lưu ý các quy định khi xử lý các tài sản đặc biệt là dây chuyền công nghệ, nhãn hiệu hàng hóa, thương hiệu kinh doanh…
Thứ sáu, Giá trị tài sản phải thi hành lớn. Các BA hay quyết định của Tòa án về kinh doanh thương mại thường có giá trị lớn, nhiều trường hợp giá trị vụ việc thi hành án có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn, tồn tại, phát triển hoặc phá sản một doanh nghiệp, do đó hậu quả xã hội của nó là rất lớn. thi hành án đối với Bản án kinh doanh thương mại thường không đặt ra vấn đề miễn giảm chi phí cưỡng chế thi hành án. Tất cả các chi phí liên quan đến việc cưỡng chế, người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả hoặc bị khấu trừ vào tiền bán đấu giá tài sản hay trừ vào tài sản của họ do người thứ ba đang cầm giữ, quản lý. Biện pháp cưỡng chế trong thi hành án đối với doanh nghiệp trong các Bản án kinh doanh thương mại thường chỉ áp dụng biện pháp chủ yếu là trừ vào tài sản của người phải thi hành án do người khác giữ, ví dụ: Vốn góp, cổ phần, kê biên bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án
1.2. Quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
1.2.1. Quy định pháp luật chung về cưỡng chế thi hành án dân sự
1.2.1.1. Căn cứ của việc quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Hiến pháp năm 2013, Điều 106 quy định “BA, QĐ của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong BA, QĐ của Toà án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm cho các quyết định của Toà án được ghi trong BA, QĐ được thực thi trên thực tế. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Mặc dù cưỡng chế thi hành án không được nhà nước khuyến khích nhưng khi biện pháp tự nguyện không đạt kết quả thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án là cần thiết để vừa giải quyết dứt điểm vụ việc, vừa có tác dụng giáo dục, răn đe những đối tượng phải thi hành án khác có điều kiện thi hành mà cố tình chây ỳ.
Nghĩa vụ và quyền lợi của người dược thi hành án và người phải thi hành án là một nội dung nhạy cảm, nó liên quan mật thiết với không những cả về lợi ích kinh tế mà nhiều khi còn liên quan cả yếu tố tinh thần… Trong xu thế mở cửa, hội nhập phát triển kinh tế quốc tế, các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng, kinh doanh thương mại ngày càng tăng với giá trị phải thi hành ngày càng lớn, phức tạp.
Xuất phát từ tính chất nhạy cảm, phức tạp, tầm quan trọng cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định hết sức chặt chẽ về điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế, tránh tình trạng cưỡng chế một cách bừa bãi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân, gây mất lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan Nhà nước và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội chung. Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng, nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại. Do đó thi hành dứt điểm các BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.
1.2.1.2. Căn cứ, điều kiện, nguyên tắc, phân loại biện pháp cưỡng chế THADS
- Căn cứ cưỡng chế thi hành án dân sự
Điều 70 Luật thi hành án dân sự hiện hành quy định căn cứ cưỡng chế thi hành án dân sự gồm:
BA, QĐ có hiệu lực thi hành: Đây là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của chủ thể liên quan được cơ quan có thẩm quyền xét xử, giải quyết tranh chấp (Toà án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh…). Bởi vì, thực tế trong đời sống xã hội, các chủ thể có thể thi hành án gia nhiều quan hệ pháp luật, nhiều giao dịch làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự nhưng chỉ khi các mối quan hệ, tranh chấp phát sinh được giải quyết, xét xử thông qua cơ quan có thẩm quyền trên thì mới có căn cứ làm phát sinh các quan hệ pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung, cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Quyết định thi hành án: Sau khi BA, QĐ có hiệu lực thi hành thì cơ quan có thẩm quyền xét xử, giải quyết tranh chấp ban hành BA, QĐ cấp cho đương sự (có ghi: “Để thi hành”) và chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự. Trên cơ sở BA, QĐ có hiệu lực thi hành, để bắt đầu cho quá trình tổ chức thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phải ra “Quyết định thi hành án” (chủ động hoặc theo đơn yêu cầu). Hay nói cách khác, quyết định thi hành án là cơ sở để tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành án dân sự, nếu không ban hành “Quyết định thi hành án” thì không thể tiến hành trình tự, thủ tục thi hành án dân sự nói chung và trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng.
Quyết định cưỡng chế: Trên cơ sở quyết định thi hành án, Chấp hành viên thực hiện các trình tự, thủ tục pháp luật quy định (xác minh điều kiện thi hành án, thuyết phục, động viên đương sự tự nguyện thi hành án…). Về nguyên tắc, Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định pháp luật, do đó khi phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự phải ban hành quyết định cưỡng chế thi hành án – thể hiện ý chí của cơ quan thi hành án dân sự về việc buộc người phải thi hành án và các chủ thể liên quan phải chấp hành.
- Điều kiện cưỡng chế thi hành án dân sự
Cưỡng chế thi hành án dân sự là giải pháp cuối cùng sau khi Chấp hành viên xác minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành án và đã thuyết phục, đôn đốc người phải thi hành án tự nguyện thi hành nhưng không có kết quả. Như vậy, để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thì cần có các điều kiện cơ bản như: người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo BA, QĐ có hiệu lực thi hành; người phải thi hành án có điều kiện thi hành án; người phải thi hành án không tự nguyện thi hành. Ngoài các điều kiện trên, để đảm bảo hiệu quả cưỡng chế thi hành án dân sự trên thực tế thì chủ thể có thẩm quyền cưỡng chế thi hành án còn xác minh các điều kiện khác như: nhân thân của người phải thi hành án; khả năng cản trở, chống đối của người phải thi hành án và những người liên quan; sự ủng hộ của dư luận xã hội, chính quyền địa phương; điều kiện giao thông, địa hình nơi tổ chức cưỡng chế; sự ảnh hương của việc tổ chức cưỡng chế đối với tình hình an ninh, trật tự tại địa phương… để phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan tổ chức việc cưỡng chế thi hành án dân sự.
- Nguyên tắc cưỡng chế thi hành án dân sự Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Xuất phát từ đặc trưng của thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành BA, QĐ của Toà án về tài sản hoặc thực hiện hành vi nhất định hoặc phải nộp phí thi hành án nên đối tượng của cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi, công việc nhất định. Điều này hoàn toàn khác biệt so với đặc trung của thi hành án hình sự là nhằm hạn chế hoặc tước đoạt quyền và lợi ích của người bị kết án. Chính vù vậy cưỡng chế thi hành án hình sự mang tính cứng rắn và tuyệt đối còn thi hành án dân sự mang tính mềm dẻo hơn. Điều này thể hiện ở các nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chỉ người có thẩm quyền thi hành án mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự và chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong Luật thi hành án dân sự hiện hành.
Theo pháp luật hiện hành thì chỉ có cơ quan thi hành án dân sự được Nhà nước trao cho quyền tổ chức thi hành các BA, QĐ có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền xét xử, giải quyết tranh chấp (Toà án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh…) và chỉ người có thẩm quyền thi hành án mới có quyền quyết định biện pháp cưỡng chế được áp dụng.
Để tránh sự lạm quyền của các chủ thể trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự, pháp luật đã quy định cụ thể các biện pháp cưỡng chế mà người có thẩm quyền thi hành án có quyền áp dụng, trình tự, thủ tục áp dụng. Như vậy, người có thẩm quyền thi hành án chỉ có thể áp dụng sáu biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự hiện hành.
Thứ hai, chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự khi hết thời gian tự nguyện thi hành trừ trường hợp áp dụng cưỡng chế ngay.
Hết thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Tuy nhiên, để đảm bảo công tác thi hành án thật sự hiệu quả, với mục đích ngăn chặn những hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của đương sự trong thời gian tự nguyện thi hành án thì chủ thể có thẩm quyền thi hành án vẫn được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Thứ ba, không được cưỡng chế thi hành án trong thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế
Pháp luật quy định không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt như 15 ngày trước và sau Tết Nguyên đán, các ngày truyền thống của các đối tượng chính sách; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục tập quán tại địa phương. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Thứ tư, chủ thể có thẩm quyền thi hành án có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và chi phí hợp lý về thi hành án.
Nguyên tắc này được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về tiền như trả nợ, bồi thường… và có nhiều tài sản. Để đảm bảo nguyên tắc này, khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên cần thực hiện việc ước tính giá trị tài sản để làm cơ sở cho việc lựa chọn tài sản cưỡng chế. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có thể tổ chức xác định giá trị của từng tài sản của người phải thi hành án để có cơ sở thực hiện nguyên tắc cưỡng chế “tương ứng”. Tuy nhiên, trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án và các chi phí phát sinh mà tài sản đó không thể phân chia hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đó để thi hành án.
- Phân loại các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Điều 71 Luật thi hành án dân sự hiện hành quy định: Biện pháp cưỡng chế thi hành án
- Khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA.
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
- Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Căn cứ vào đối tượng áp dụng cưỡng chế đối với tài sản là tiền để thi hành nghĩa vụ trả tiền có thể phân loại thành 05 biện pháp cưỡng chế như:
Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản: Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc, Ngân hàng, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản đối với một hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án. Cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án: Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án đối với các khoản như: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp: Theo thoả thuận của đương sự; BA, QĐ ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án. Mức khấu trừ không được vượt quá 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.
Thứ ba, biện pháp cưỡng chế thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án: Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp xác định được người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án theo định kỳ tuỳ theo tính chất ngành nghề kinh doanh của người phải thi hành án. Khi thu tiền Chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình; Mức để lại phải đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo tính chất ngành, nghề của người phải thi hành án và đảm bảo mức sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình theo quy định về chuẩn nghèo của nhà nước.
Thứ tư, biện pháp cưỡng chế thu tiền của người phải thi hành án đang giữ: Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền đó là của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người phải thi hành án.
Thứ năm, biện pháp cưỡng chế thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ: Khi phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án, Chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền đó để thi hành án. Trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân đang phải trả tiền, tài sản cho người phải thi hành án mà khoản tiền, tài sản đó đã được xác định bằng BA, QĐ của Toà án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức, cá nhân đó giao nộp số tiền, tài sản cho cơ quan thi hành án để thi hành án. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Căn cứ vào đối tượng áp dụng cưỡng chế là tài sản khác (không phải là tiền) để thi hành nghĩa vụ trả tiền, có thể phân loại thành 04 biện pháp cưỡng chế sau:
Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá: Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ có giá đó để thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ: Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án, kể cả quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án đã chuyển quyền sử dụng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.
Thứ ba, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là quyền sử dụng đất: Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sở hữu, sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai. Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 100, 101 Luật Đất đai, hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó. Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà Tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo chó người có tài sản gắn liền với đất. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Thứ tư, biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản: Chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án hoặc người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức: Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác; Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản. Người khai thác tài sản này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.
Căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là vật để thi hành nghĩa vụ trả vật theo nội dung được ghi cụ thể trong BA, QĐ, có thể phân loại thành 04 biện pháp cưỡng chế.
Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế trả vật: Theo đó, đối với vật đặc định, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án. Đối với vật cùng loại thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung BA, QĐ. Trường hợp vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng, giảm giá trị thì xử lý theo thoả thuận của đương sự.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà: Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà, nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà. Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thi hành án toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả tiền cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định.
Thứ ba, biện pháp cưỡng chế trả giấy tờ: Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế buộc người phải thi hành án trả giấy tờ cho người được thi hành án. Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao giấy tờ để thi hành án. Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định huỷ giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án.
Thứ tư, biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất: Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong trường hợp BA, QĐ tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất cho người được thi hành án. Khi tiến hành giao đất phải có sự thi hành án gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao. Trường hợp quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất được chuyển giao hình thành sau khi có BA, QĐ có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có BA, QĐ sơ thẩm nhưng BA, QĐ được thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Toà án đã ra BA, QĐ giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại nội dung BA theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định theo nội dung BA, QĐ, có thể phân loại thành 04 biện pháp cưỡng chế sau:
Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định: Theo đó, trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo BA, QĐ mà người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án: nếu công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thi hành ány thì Chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện, chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu. Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định: Theo đó, người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo BA, QĐ không được thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Thứ ba, biện pháp cưỡng chế giao người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo BA, QĐ: Chấp hành viên ra quyết định buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo BA, QĐ. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị – xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Thứ tư, biện pháp cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc: Trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo BA, QĐ thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc ngời đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Trường hợp không thể bố trí người lao động làm việc trở lại theo BA, QĐ thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thi hành án toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thi hành án toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Ngoài các biện pháp cưỡng chế trên, pháp luật về thi hành án dân sự còn quy định cưỡng chế thi hành án dân sự trong một số trường hợp cụ thể như: Kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp; Kê biên tài sản đang do người thứ ba giữ; Kê biên vốn góp; Kê biên phương tiện giao thông; Kê biên hoa lợi; Kê biên đồ vật bị khoá, đóng gói… Các trường hợp cụ thể này đều thuộc một trong số các biện pháp cưỡng chế ở trên.
1.2.2. Quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại
1.2.2.1. Các bước cưỡng chế trong thi hành Bản án kinh doanh thương mại
THA đối với người phải thi hành án trong các Bản án kinh doanh thương mại được thực hiện theo trình tự thủ tục quy định của Luật thi hành án dân sự. Tuy nhiên, có một số đặc điểm riêng biệt so với các hình thức thi hành án khác, đó là đa số chủ thể của thi hành án là các doanh nghiệp trong các BA, QĐ của Tòa án; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại… Hiện nay, tình hình thi hành các BA, QĐ của Tòa án và của cơ quan có thẩm quyền mà người phải thi hành án là doanh nghiệp chủ yếu là các tranh chấp giữa một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân với nhau, trong đó chủ thể kinh doanh và mục đích lợi nhuận chính là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt với các chủ thể thi hành án dân sự khác; tài sản đảm bảo thi hành án thường có giá trị lớn; về quá trình tổ chức thi hành án cũng phải áp dụng nhiều quy định pháp luật khác nhau, nên rất khó khăn trong việc thực hiện.
Ngoài việc tuân thủ các quy định về pháp luật thi hành án dân sự trong việc tổ chức thi hành một BA, QĐ của Tòa án nói chung, thì việc tổ chức thi hành án đối với Bản án kinh doanh thương mại còn phải tuân thủ các quy định về doanh nghiệp, luật chuyên ngành có liên quan đến lĩnh vực tranh chấp theo nội dung BA, QĐ hay tài sản thi hành án. Tuy nhiên, cho dù là BA hay quyết định nào của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thì việc tổ chức thi hành án vẫn phải tuân thủ các bước theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, cụ thể như sau:
Bước 1: Cơ quan thi hành án dân sự nhận chuyển giao BA, QĐ hoặc đơn yêu cầu thi hành án của đương sự (kèm theo BA, QĐ của Tòa án) thụ lý, ra quyết định thi hành án và phân công CHV tổ chức thi hành. Quyết định thi hành án phải ghi rõ người phải thi hành án tự nguyện thi hành BA, QĐ thi hành án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo hợp lệ về quyết định thi hành án. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Ngay sau khi được phân công, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản (trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án), CHV phải thực hiện thủ tục giao quyết định thi hành án cho người phải thi hành án và người được thi hành án (người có liên quan) theo Điều 39 Luật thi hành án dân sự năm 2014. Đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp thì việc tiếp cận làm việc thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền. Cụ thể: “theo khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, thì: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp thì có người đại diện khác nhau và một doanh nghiệp tối thiểu phải có một người đại diện theo pháp luật. Do vậy, việc tổ chức thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp, CHV cần nắm rõ các quy định về người đại diện đối với từng loại hình doanh nghiệp để làm việc, giải quyết vụ việc thi hành án thông qua người đại diện, nơi cấp phép thành lập doanh nghiệp cho phù hợp.
Bước 2: Xác minh điều kiện thi hành án
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, thì CHV tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án ngay theo quy định tại Điều 44 Luật thi hành án dân sự. Riêng đối với việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là doanh nghiệp phải được thực hiện theo các quy định của Luật thi hành án dân sự và các quy định của Luật Doanh nghiệp, cụ thể, CHV khi tổ chức thi hành án, cần phải tiến hành xác minh tại:
- Nơi cấp phép cho doanh nghiệp hoạt động như Sở Kế hoạch Đầu tư, cơ quan chủ quản để xác định được ngành nghề hoạt động, người chịu trách nhiệm trước pháp luật của doanh nghiệp, các thi hành án đổi về đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp; nguồn và số lượng vốn điều lệ của doanh nghiệp; cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
- Cơ quan Thuế mà doanh nghiệp nộp thuế để xác định được doanh thu của doanh nghiệp, tình hình hoàn thuế giá trị gia tăng, tài khoản kinh doanh của doanh nghiệp; Báo cáo tài chính trong thời gian gần nhất…
- Xác minh tại Ngân hàng để xác định khoản tiền có trong ngân hàng của doanh nghiệp;
- Xác minh tại chính quyền địa phương nơi đặt trụ sở của doanh nghiệp để làm rõ doanh nghiệp còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký hay không; Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
- Xác minh tài sản của doanh nghiệp như: Trụ sở hoạt động có phải là tài sản của doanh nghiệp không, tài sản cố định; tài sản lưu động; hàng hóa; Điều lệ công ty để biết thủ tục điều kiện góp vốn, chuyển nhượng vốn; Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản doanh nghiệp; Số vốn mà các thành viên sáng lập cam kết góp vào… Nơi xác minh có thể là tại trụ sở chính và chi nhánh nếu có của doanh nghiệp, tại các cơ quan có thẩm quyền. Nếu doanh nghiệp không có tài sản để thi hành án, CHV sẽ thông báo cho người được thi hành án biết và yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản của doanh nghiệp, nếu người được thi hành án không cung cấp được thêm thông tin về tài sản của doanh nghiệp thì cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định việc chưa có điều kiện thi hành án và tiếp tục thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án theo định kỳ tại Điều 44a Luật thi hành án dân sự năm 2014. Căn cứ kết quả xác minh tài sản, CHV thực hiện bước tiếp theo.
Bước 3: Lựa chọn biện pháp cưỡng chế
Sau khi có kết quả xác minh điều kiện thi hành án, CHV tiến hành xử lý các tài sản bảo đảm thi hành án được ghi nhận trong BA, QĐ của Tòa án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc các tài sản CHV xác minh được trong quá trình tổ chức thi hành án theo cung cấp của đương sự, lựa chọn áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp để thi hành BA, QĐ theo quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ nội dung BA, QĐ, trên cơ sở tính chất, mức độ, nghĩa vụ phải thi hành án, điều kiện của người phải thi hành án, đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương, Chấp hành viên sẽ lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cho phù hợp.
Bước 4: Xây dựng kế hoạch cưỡng chế (trường hợp có huy động lực lượng)
Đây là nội dung bắt buộc khi cưỡng chế có huy động lực lượng, Chấp hành viên thống nhất với cơ quan Công an về bảo vệ cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ
Công an. Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cùng cấp, Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án. Nội dung của kế hoạch cưỡng chế phải có tên của người bị áp dụng cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng, thời gian, địa điểm, phương án tiến hành cưỡng chế, dự trừ chi phí cưỡng chế và yêu cầu về lực lượng thi hành án gia bảo vệ cưỡng chế.
Bước 5: Thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Chấp hành viên phải đảm bảo thực hiện đầy đủ quy định về thông báo thi hành án, thực hiện thông báo trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Việc thông báo được thực hiện qua 03 hình thức: Thông báo trực tiếp; Niêm yết công khai hoặc Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Đối với việc dân sự có liên quan đến người nước ngoài mà cần phải thông báo thì cần phải thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 181 Luật thi hành án dân sự.
Bước 6: Tiến hành cưỡng chế
Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế tại nơi có tài sản hoặc đối tượng cần cưỡng chế. Trước khi thực hiện việc cưỡng chế theo kế hoạch và quyết định cưỡng chế đã ấn định, Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành án chủ trì phổ biến toàn bộ kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị, từng người, nêu các tình huống có thể xảy ra và biện pháp xử lý các tình huống đó.
Chuẩn bị đầy đủ các biên bản, văn bản cần sử dụng trước khi tiến hành cưỡng chế. Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, điều kiện liên quan đã dự kiến phục vụ tốt cho việc cưỡng chế
Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành án chủ trì điều hành toàn bộ quá trình cưỡng chế, kịp thời xử lý mọi tình huống đã dự kiến trong kế hoạch và tình huống phát sinh diễn ra trong quá trình cưỡng chế cho đến khi kết thúc việc cưỡng chế.
1.2.2.2. Quy định của pháp luật về thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại
Luật thi hành án dân sự và các văn bản có liên quan chưa có quy định riêng về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại do đó khi thực hiện các biện pháp cưỡng chế sẽ áp dụng các quy định như các BA, QĐ khác.
1.2.2.2.1. Biện pháp cưỡng chế cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án đối với Bản án kinh doanh thương mại
Khấu trừ tiền trong tài khoản thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo BA, QĐ mà người phải thi hành án đang có tiền trong tài khoản hoặc đang đang sở hữu giấy tờ có giá. Như vậy, đối tượng bị cưỡng chế xử lý của biện pháp này là tiền và giấy tờ có giá. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền. Biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế hoàn toàn độc lập với các biện pháp cưỡng chế thi hành án khác. Việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế nào do CHV quyết định nhưng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án là những biện pháp đầu tiên mà CHV phải cân nhắc lựa chọn. Chỉ khi nào không đủ điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế này, thì CHV mới lựa chọn các biện pháp cưỡng chế khác (như biện pháp kê biên xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án). Vì biện pháp cưỡng chế này trên thực tế dễ thực hiện hơn biện pháp cưỡng chế khác.
Trình tự, thủ tục của biện pháp này được quy định tại “khoản 1 Điều 71, Điều 76, Điều 77 Luật thi hành án dân sự và Điều 21 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐCP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTCBLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội”.
CHV phải tuân thủ nghiêm túc, chặt chẽ tất cả các nguyên tắc và điều kiện chung khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên, đối với từng biện pháp cưỡng chế có những nguyên tắc và điều kiện áp dụng cũng rất khác nhau. Dưới đây là một số nguyên tắc và điều kiện khi áp dụng:
Chỉ CHV mới có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án.
Người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền: nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án chính là nghĩa vụ mà theo BA, QĐ của Tòa án người phải thi hành án phải trả cho người được thi hành án .
Phải hết thời gian tự nguyện thi hành án: Thời hạn tự nguyện thi hành án là khoản thời gian sắp xếp, chuẩn bị khoản tiền để thi hành án toán cho bên được thi hành án theo quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự và cũng là khoản thời gian đương sự tự lựa chọn, cân nhắc biện pháp thi hành án ( tự nguyện hay bị cưỡng chế thi hành án). Thời hạn tự nguyện là 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án: người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trong thi hành nghĩa vụ trả tiền được hiểu là người phải thi hành án có tài sản hoặc quyền tài sản. CHV phải có căn cứ chứng minh bằng các biện pháp xác minh thể hiện điều kiện thi hành án của người phải thi hành án như: người phải thi hành án đang có tiền mặc hoặc có tiền trong tài khoản mở tại ngân hàng, kho bạc nhà nước hay tổ chức tín dụng hoặc có giấy tờ có giá thì mới có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế này .
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cưỡng chế phát sinh theo quy định pháp luật. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Để áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án là doanh nghiệp thì nội dung xác minh của CHV phải chứng minh được doanh nghiệp có tiền trong tài khoản tại các ngân hàng, các tổ chức tín dụng hay không. Để thực hiện mục đích trên, CHV yêu cầu người được thi hành án cung cấp thông tin, hoặc CHV tiến hành xác minh.
CHV tiến hành thu thập thông tin về doanh nghiệp như: số tài khoản, nơi mở tài khoản, số dư trong tài khoản. Để thu thập được số tài khoản của người phải thi hành án là doanh nghiệp, trên thực tế CHV thường thực hiện một số tác nghiệp như sau:
Trước hết lấy thông tin qua mạng internet về giấy phép đăng ký kinh doanh qua cổng thông tin của Sở Kế hoạch và đầu tư cấp tỉnh hoặc trực tiếp yêu cầu bằng văn bản đến Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cung cấp bản sao giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Qua giấy phép đăng ký kinh doanh có thể biết một số thông tin: tên chính thức và đầy đủ của doanh nghiệp, địa chỉ của trụ sở, ngành nghề kinh doanh, điện thoại, mã số thuế, người đại diện theo pháp luật…
Tiến hành đối chiếu với BA, QĐ được thi hành xem tên doanh nghiệp có chính xác hay không, trụ sở có gì biến động. Từ mã số doanh nghiệp, mã số thuế có thể biết được số tài khoản của doanh nghiệp đó thông qua cơ quan thuế.
Bên cạnh đó CHV có thể thông qua người được thi hành án hoặc đối tác của doanh nghiệp phải thi hành án để biết được số tài khoản. Đây là những hành vi được pháp luật cho phép, nhưng để đạt được hiệu quả thì CHV đã phải hết sức kiên trì mềm dẻo và rất linh hoạt.
Khi đã có số tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án, CHV có văn bản yêu câu ngân hàng, tổ chức tín dụng cung cấp số dư trong tài khoản của doanh nghiệp cùng với giấy giới thiệu và thẻ CHV trực tiếp đến ngân hàng, tổ chức tín dụng mà doanh nghiệp mở tài khoản tại đó để xác minh số dư trong tài khoản. Thông tin về số dư trong tài khoản được thể hiện trong hồ sơ thi hành án, có thể bằng biên bản hoặc là bản in từ máy tính của ngân hàng. Mặt khác, CHV thường kết hợp với việc yêu cầu ngân hàng cung cấp những giao dịch gần đây của doanh nghiệp để xem tài khoản đó doanh nghiệp có còn sử dụng không, lần sử dụng gần nhất vào thời điểm nào, giao dịch với số tiền lớn nhất và nhỏ nhất là bao nhiêu…
Xử lý giấy tờ có giá của người phải thi hành án. Theo Điều 82, 83 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì CHV ban hành quyết định thu giữ giấy tờ có giá nếu phát hiện doanh nghiệp phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá để thi hành án và doanh nghiệp phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân phải giao giấy tờ có giá đó cho CHV cơ quan thi hành án dân sự theo quy định pháp luật.
Ngoài các quy định trên thì hiện nay pháp luật về thi hành án dân sự vẫn chưa có thêm các quy định hoặc các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về xử lý tài sản là giấy tờ có giá. Điều này gây khó khăn cho CHV và cơ quan thi hành án dân sự rất nhiều.
1.2.22..2. Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án đối với Bản án kinh doanh thương mại
Biện pháp cưỡng chế này được quy định tại Điều 78 Luật thi hành án dân sự, biện pháp này chỉ được áp dụng khi thoả mãn một trong những điều kiện: Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
- Do đương sự thoả thuận;
- BA, QĐ của Toà án ấn định biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án;
- Thi hành các khoản cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ hoặc khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
Việc quy định cụ thể các điều kiện riêng của biện pháp cưỡng chế này là do tính đặc thù của nó. Hậu quả của biện pháp cưỡng chế này có thể gây ảnh hưởng lớn tới cuộc sống hàng ngày của bản thân người phải thi hành án và gia đình của họ. Vì vậy, khoản 3 Điều 78 Luật thi hành án dân sự đã quy định mức cao nhất được trừ không quá 30% tổng số tiền người phải thi hành án được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác.
Một đặc điểm nổi bật của biện pháp cưỡng chế này là chỉ áp dụng với cá nhân mặc dù trong nội dung điều luật chỉ quy định chung là người phải thi hành án, mà người phải thi hành án thì bao gồm cả cá nhân và pháp nhân. Bản án kinh doanh thương mại với đặc điểm chủ thể thường là doanh nghiệp thì thực tiễn rất ít hoặc gần như không có
Bản án kinh doanh thương mại mà người phải thi hành án bị áp dụng biện pháp cưỡng chế này.
1.2.2.2.3. Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ đối với Bản án kinh doanh thương mại Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Đây là biện pháp cưỡng chế được áp dụng phổ biến nhất trong các biện pháp cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại, được quy định tại các Điều 74, 75, 84, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 111 Luật thi hành án dân sự. Theo đó đối tượng của biện pháp này là tài sản bao gồm: tài sản là vật, vốn góp, nhà ở, tài sản gắn liền với đất, phương tiện giao thông, hoa lợi, lợi tức, quyền sở hữu trí tuệ và quyền sử dụng đất. Với đặc thù của Bản án kinh doanh thương mại, thì các loại tài sản thường bị áp dụng biện pháp kê biên, cưỡng chế để bảo đảm thi hành án, gồm:
- Kê biên tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
Với đặc thù chủ thể và đối tượng tranh chấp của Bản án kinh doanh thương mại thì đây là một trong những tài sản thường bị cưỡng chế khi thi hành án án kinh doanh thương mại. Năm 2005 Luật sở hữu trí tuệ ra đời, đánh dấu một bước tiến của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ là loại tài sản “vô hình” con người không thể cầm, nắm được và theo Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ được chia làm hai lĩnh vực chính: đó là quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp. Khi thực hiện kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải nắm được các đặc thù về quyền sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên để thi hành án. Trừ trường hợp việc chuyển giao cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định nhằm đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của nhà nước, xã hội thì Chấp hành viên không được kê biên.
- Kê biên vốn góp của người phải thi hành án Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Đây là biện pháp thường được áp dụng trong quá trình thi hành Bản án kinh doanh thương mại, việc quy định biện pháp nêu trên trong luật là phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế cạnh tranh, phù hợp với bối cảnh ngày càng nhiều loại hình doanh nghiệp được thành lập thi hành án gia hoạt động kinh doanh, thương mại trên thị trường.
Khi kê biên phần vốn góp, Chấp hành viên cần phân biệt: Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của doanh nghiệp góp vào vốn điều lệ. Đây là một tài sản đặc biệt được hình thành thông qua việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại của doanh nghiệp. Những tài sản khi được người góp vốn đem góp vào doanh nghiệp trở thành tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Cá nhân người góp vốn được sở hữu phần vốn góp và có các quyền như quyền tài chính; được phân chia lợi nhuận, gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; nhận phần tài sản còn tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp khi doanh nghiệp giải thể, phá sản; các quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thông tin… Giá trị phần vốn góp của thành viên doanh nghiệp thi hành án đổi theo sự phát triển của doanh nghiệp, nó có thể tăng hoặc giảm giá trị so với lúc ban đầu. Do vậy khi tiến hành kê biên phần vốn góp của doanh nghiệp, Chấp hành viên không chỉ kê biên tài sản góp vốn hoặc chỉ kê biên giá trị phần vốn góp được tính từ lúc thành lập doanh nghiệp mà phải xác định được giá trị hiện tại của phần vốn góp. Đây là một vấn đề rất khó khăn và phức tạp, cần phải có sự thi hành án gia của tổ chức có chuyên môn như các công ty thẩm định giá có chức năng thẩm định giá trị doanh nghiệp.
- Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm.
Đối với loại tài sản này, trước khi tiến hành cưỡng chế Chấp hành viên cần yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký… Và sau khi thực hiện xong việc cưỡng chế, CHV phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm về việc kê biên để các cơ quan này xử lý theo quy định.
- Kê biên tài sản gắn liền với đất
Tài sản bị cưỡng chế, kê biên trong Bản án kinh doanh thương mại thường là các nhà xưởng, công trình được xây dựng trên đất. Đối với loại tài sản này khi kê biên, Chấp hành viên phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên như đất lấn chiếm, đất không phải của người phải thi hành án… hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó, ví dụ: nhà sàn…
Đối với công trình xây dựng đồ sộ, có giá trị kinh tế cao mà thuộc loại không thể kê biên quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên có thể chuyển sang áp dụng biện pháp cưỡng chế khác như: biện pháp khai thác tài sản để thi hành án.
1.2.2.2.4. Biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án đối với Bản án kinh doanh thương mại
Biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản đối với tài sản để thi hành án quy định tại khoản 4 Điều 71 Luật thi hành án dân sự và được quy định cụ thể tại các Điều 107, Điều 109 Luật THADS Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Theo quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự, CHV áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án trong các trường hợp sau đây: “Tài sản của người phải thi hành có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án; người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác đối với tài sản của người phải thi hành án phải chấp hành các quy định chung như: hết thời gian tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, thời gian áp dụng và số tiền thu được từ việc khai thác tài sản phải tương ứng với số tiền phải thi hành án và các chi phí cần thiết của người phải thi hành án.
1.2.2.2.5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
Biện pháp cưỡng chế buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ được quy định tại khoản 5 Điều 71 và được cụ thể hóa tại các điều từ Điều 114 đến Điều 117, Mục 9 Chường IV Luật thi hành án dân sự.
Cưỡng chế trả vật quy định tại khoản 5 Điều 71, Điều 114 Luật thi hành án dân sự, Điều 113 Bộ Luật Dân sự năm 2015. Thứ nhất, người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả vật theo BA, QĐ. Thứ hai, chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế trả vật sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án. Thứ ba, chỉ cưỡng chế trả vật khi vật phải trả còn tồn tại. Đối với vật phải trả là vật đặc định hay vật cùng loại thì CHV chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế trả vật nếu vật phải trả hiện đang còn tồn tại trên thực tế và được thể hiện trong kết quả xác minh. Nếu vật không còn thì CHV không áp dụng biện pháp cưỡng chế trả vật.
Cưỡng chế trả nhà, giao nhà được quy định tại khoản 5 Điều 71, khoản 2 Điều 104, Điều 115 Luật thi hành án dân sự. Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả nhà, giao nhà được áp dụng trong các trường hợp: BA, QĐ tuyên người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà cho người được thi hành án; cưỡng chế giao nhà cho người mua được nhà bán đấu giá; cưỡng chế giao nhà cho người được thi hành án trừ vào tiền được thi hành án. Chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao nhà sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành mà người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng nhà không tự nguyện giao nhà.
Cưỡng chế giao, trả giấy tờ quy định tại khoản 5 Điều 71, Điều 116 Luật thi hành án dân sự. Giấy tờ cũng được coi là một dạng của vật, tuy nhiên giấy tờ không chỉ có giá trị sử dụng thông thường mà trong nhiều trường hợp còn có ý nghĩa tinh thần gắn với thân nhân của một cá nhân, cơ quan, tổ chức nhất định. Về cơ bản, biện pháp cưỡng chế giao, trả giấy tờ cũng được áp dụng các bước tương tự như biện pháp cưỡng chế trả vật. Trước khi áp dụng biện pháp biện pháp cưỡng chế giao, trả giấy tờ CHV cần xác minh về tình trạng của giấy tờ (còn hay mất, đang do ai quản lý, giấy tờ có thể cấp lại được không).
Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất quy định tại Điều 117 Luật thi hành án dân sự. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
Biện pháp này được áp dụng khi có đủ các điều kiện: Người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất theo BA, QĐ hoặc theo quy định của pháp luật; đã hết thời hạn người phải thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án.
1.2.2.2.6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định
Biện pháp cưỡng chế này được quy định tại khoản 6 Điều 71, từ Điều 118 đến Điều 121 Luật thi hành án dân sự. Để áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định cần đảm bảo, chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khi người phải thi hành án phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hành vi nhất định, chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án và khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành.
Kết luận chương 1
Trong chương này tác giả trình bày một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự; đồng thời phân tích khái niệm, đặc điểm pháp lý về cưỡng chế thi hành án dân sự trong thi hành Bản án kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Các quy định về cưỡng chế thi hành án và nhân tố tác động đến xây dựng, tổ chức thực thi pháp luật về cưỡng chế thi hành án Bản án kinh doanh thương mại, từ đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng cưỡng chế thi hành án dân sự đối với Bản án kinh doanh thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự qua thực tiễn tại Cục thi hành án dân sự HCM được đề cập ở chương tiếp theo. Luận văn: Cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh

Pingback: Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh