Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: các giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2040 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Quan điểm xây dựng giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu
Trong xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, du lịch BR-VT có vị trí quan trọng và không thể thiếu đối với du lịch Việt Nam và khu vực. Quan điểm phát triển là sự chỉ đạo xuyên suốt cho quá trình hoạch định các bước đi cụ thể và các giải pháp cho tầm vĩ mô của du lịch BR-VT.
Định hướng để xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh BR-VT là Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và tầm nhìn đến năm 2040.
3.1.1 Du lịch phải là ngành kinh tế động lực của tỉnh BR-VT
Sự phát triển của ngành du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất phục vụ du lịch như: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và góp phần thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế, từ đó tạo ra thu nhập của xã hội ngày càng cao. Vì vậy, BR-VT cần xác định du lịch, dịch vụ là ngành kinh tế giữ vai trò đầu tàu trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Năm 2015 trong cơ cấu tổng sản phẩm xã hội, ngành nông nghiệp chiếm 4,18% (tương đương 917.673 triệu đồng), công nghiệp và xây dựng chiếm 82,38% (tương đương 18.105.563 triệu đồng), dịch vụ chiếm 13,44% (tương đương 2.953.541 triệu đồng). Đến năm 2023, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 5,06% (tương đương 2.440.525 triệu đồng, tăng gấp 2,66 lần so với năm 2015), công nghiệp và xây dựng chiếm 80,69% (tương đương 26.897.955 triệu đồng, tăng gấp 1,49 lần so với năm 2015), dịch vụ chiếm 14,25% (tương đương 5.037.229 triệu đồng, tăng gấp 1,09 lần so với năm 2015). Qua phân tích số liệu cho thấy, mặc dù có sự tăng lên về giá trị tuyệt đối của các ngành trong thời gian qua, nhưng nếu xét về mặt tương đối thì sự thay đổi trong cơ cấu ngành vẫn chưa hợp lý so với xu hướng giảm tỷ trọng ngành Nông nghiệp và gia tăng tỷ trọng các ngành Công nghiệp, Dịch vụ. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
3.1.2 Khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài để xây dựng và phát triển du lịch
Các nguồn lực thúc đẩy phát triển chính là tiềm năng thế mạnh về tài nguyên, về thị trường khách du lịch, về con người, cơ sở vật chất và vốn đầu tư. Tuy nhiên, nếu chỉ khai thác các nguồn lực bên trong mà không tranh thủ huy động và khai thác nguồn lực bên ngoài thì không thể thành công trong sự phát triển vì chính các yếu tố bên ngoài tạo khả năng phát huy tác dụng đến mức tối đa các nguồn lực bên trong.
Ngành Du lịch BR-VT không thể phát triển với tốc độ nhanh nếu chỉ nhờ vào nguồn lực bên trong, song tiềm năng về tài nguyên, văn hóa, con người nếu như không được đầu tư đúng mức thì cũng sẽ làm giảm hiệu quả kinh tế.
Việc tăng cường các nguồn lực bên ngoài chính là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển du lịch BR-VT. Vì vậy cần chú trọng liên doanh, liên kết, kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư từ các địa phương và liên doanh trong cả nước theo Luật đầu tư nước ngoài và Luật đầu tư trong nước.
Trong những năm gầm đây, BR-VT đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện tốt cho Luật đầu tư được triển khai thuận lợi trong lĩnh vực Du lịch. Đó chính là tín hiệu tốt lành trong việc khai thác triệt để tiềm năng du lịch của tỉnh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.3 Trong quá trình phát triển du lịch phải gắn lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội, hết sức coi trọng vấn đề xã hội của Tỉnh
Sự phát triển của du lịch nói chung tạo nên thu nhập và việc làm cho một bộ phận lớn trong dân cư, đồng thời tạo nên những vấn đề tích cực đối với văn hóa, xã hội qua tiếp xúc quốc tế và các vùng của đất nước.
Phát triển xã hội thường phải dựa trên sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên hai vấn đề trên còn sự tác động qua lại, trong một mức độ nào đó phát triển xã hội có thể đi trước phát triển kinh tế. Du lịch phát triển làm cho liên kết kinh tế và liên kết văn hóa ngày càng tăng lên. Sự phát triển của du lịch tác động mạnh vào cơ cấu kinh tế của tỉnh, làm gia tăng tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GDP góp phần làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Chính vì vậy, trong quá trình phát triển, du lịch là ngành có sức thu hút lớn về lao động, giảm thất nghiệp, tạo tiền đề căn bản cho công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh.
Sự phát triển của du lịch tác động mạnh đến phân bố lực lượng lao động nữ – lực lượng chủ yếu làm việc trong các doanh nghiệp du lịch. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Vấn đề bức thiết hiện nay là phải đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung tư bản để xây dựng cơ sở vật chất cho nền sản xuất. Điều quan trọng của quá trình phát triển là không được làm mất đi bản sắc văn hóa, những giá trị tinh thần được hun đúc hàng trăm năm. Phát triển du lịch là cơ hội tôn tạo các giá trị văn hóa, xã hội, có dịp chiêm nghiệm giá trị di sản vốn có, làm gia tăng quá trình giao tiếp các luồng văn hóa mà vẫn giữ được nền văn hóa cổ truyền – yếu tố hấp dẫn thu hút du khách lớn nhất.
3.1.4 Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn các di sản văn hóa, các di tích lịch sử
Thỏa mãn các nhu cầu du lịch nhưng không làm phương hại đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên là yếu tố hấp dẫn chủ yếu của du lịch. Tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa là những vốn quý mà không ai có quyền hủy hoại. Một yếu tố không kém phần quan trọng là vấn đề kế hoạch hóa dân số, bởi lẽ không quản lý dân số thì nhu cầu gia tăng về lương thực thực phẩm sẽ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
Việc xây dựng các công trình nhân tạo cũng làm phá vỡ nhiều cảnh quan văn hóa. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội phải hướng đến sự quân bình giữa các công trình và nét đẹp thiên nhiên vốn có, đó nguyên tắc chung không chỉ cho ngành du lịch mà còn cho các ngành khác. Vậy nên khi quy hoạch phát triển du lịch tuyệt đối phải tuân phát triển theo hướng triển bền vững, vừa giữ gìn, tôn tạo di tích lịch sử, vừa đảm bảo sự hài hòa của nét đẹp tự nhiên mà thiên nhiên ban tặng.
Lợi tức từ ngành du lịch phải được điều tiết lại cho việc tôn tạo các thắng cảnh, bảo tồn các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, trong những năm đầu phát triển, ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu cần đầu tư một lượng vốn lớn cho công tác quy hoạch các vùng thiên nhiên chuyên dùng cho du lịch.
3.1.5 Mở rộng giao lưu và hợp tác để phát triển du lịch quốc tế, đồng thời chú trọng phát triển du lịch nội địa Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Phát triển du lịch phải chú trọng đáp ứng nhu cầu về du lịch ngày càng tăng của nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, lòng yêu nước, yêu quê hương, tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Việc mở rộng thị trường quốc tế là một đòi hỏi mang tính lâu dài của ngành du lịch, bởi đó chính là yếu tố quan trọng nhất cho chiến lược tăng trưởng của ngành. Tuy nhiên, ở thời kỳ đầu, cơ sở vật chất và đội ngủ của ngành du lịch Việt Nam nói chung, du lịch BR-VT nói riêng vẫn còn thiếu và yếu về chuyên môn nên chưa thể đáp ứng tốt những đột phá lớn về lượng khách quốc tế.
Thị trường bền vững cho du lịch BR-VT là du lịch nội địa, nguồn khách đến từ các tỉnh lân cận như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,… theo các chuyến du lịch cuối tuần tăng nhanh trong những năm gần đây đã làm tăng đáng kể về doanh thu của ngành, vì vậy ngành du lịch cần có chiến lược cụ thể để thu hút nguồn du khách này để góp phần làm giảm áp lực về tính thời vụ của ngành du lịch.
3.2. Căn cứ để xây dựng giải pháp phát triển du lịch BR-VT Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Giai đoạn 2016-2020, kinh tế BR-VT có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng giảm dần tỷ trọng các ngành nông, lâm nghiệp từ 4,25% xuống 3,80% do kết quả thực hiện quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đã giảm diện tích đất nông nghiệp chuyển sang đất sản xuất phi nông nghiệp và đất chuyên dùng; Tỷ trọng ngành công nghiệp tăng từ 82,45% lên 85,83%, tỷ trọng ngành dịch vụ giảm từ 13,3% xuống 10,3%, lĩnh vực dịch vụ phát triển còn chậm trong quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu trên phạm vi toàn tỉnh. Bước sang giai đoạn 2021-2025, tỷ trọng ngành dịch vụ có xu hướng tăng lên, điều này cho thấy định hướng phát triển tổng thể kinh tế xã hội đã phát huy tác dụng.
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế tỉnh BR-VT giai đoạn 2016-2023
| Ngành kinh tế | 2015 | 2016 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 |
| – Nông lâm nghiệp | 4.18% | 4.25% | 3.80% | 4.41% | 4.67% | 5.06% |
| – Công nghiệp | 82.38% | 82.45% | 85.83% | 83.45% | 82.60% | 80.69% |
| – Dịch vụ | 13.44% | 13.30% | 10.37% | 12.14% | 12.73% | 14.25% |
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh BR-VT
Dự án điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2025 và định hướng đến năm 2040 của Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra một số mục tiêu kinh tế xã hội như sau:
“…Tăng trưởng GDP trung bình/năm giai đoạn 2021 – 2025 đạt 11,32% (không tính dầu khí đạt 17,49%); giai đoạn 2011 – 2034 đạt 11,8% (không tính dầu khí đạt 16,58%); giai đoạn 2035 – 2040 đạt 11,13% (không tính dầu khí đạt 13,35%); Đến năm 2040 cơ cấu kinh tế là: Công nghiệp và xây dựng chiếm 61,55%; Dịch vụ tăng lên khoảng 36,8%; Nông, lâm, ngư nghiệp 1,65% (nếu không tính dầu khí cơ cấu kinh tế tương ứng là: 53,23%; 44,77%; 2%); Tạo sự chuyển biến cơ bản và toàn diện ngành giáo dục và đào tạo; chú trọng đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50% vào năm 2025 và trên 80% vào năm 2040”. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
3.3. Dự báo một số chỉ tiêu ngành du lịch BR-VT đến năm 2040
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích các số liệu trong những năm qua của các cơ quan quản lý Nhà nước cùng với số liệu điều tra, tổng hợp của tác giả từ khách du lịch và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, có thể kết luận rằng: có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh ngành du lịch, tuy nhiên những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển của ngành du lịch phải kể ra đó là:
- Thị trường du khách hiện tại và khách hàng tiềm năng;
- Nét đặc trưng, khác biệt của sản phẩm dịch vụ du lịch của địa phương;
- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch;
- Chất lượng và trình độ nguồn nhân lực ngành du lịch.
Tiến hành dự báo các chỉ tiêu kinh tế, đề tài thực hiện qua các bước:
- Bước thứ nhất, dựa vào tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010–2023 kết hợp với sử dụng phương pháp hồi quy doanh thu theo thời gian để dự báo doanh thu cho các năm tiếp theo [phụ lục 27].
- Bước thứ hai, sau khi phân tích sự phù hợp về xu hướng phát triển của ngành và lựa chọn chỉ tiêu về doanh thu, đề tài ứng dụng phương pháp hồi quy dự báo các chỉ tiêu về lượng khách, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và lao động theo doanh thu ngành du lịch.
3.3.1. Dự báo doanh thu ngành du lịch Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Dự báo doanh thu theo tốc độ phát triển bình quân – Phương án 1 (PA1):
Tốc độ phát triển bình quân về doanh thu du lịch BR-VT trong giai đoạn 2010-2023 là 10,92%, giả định tốc độ phát triển trong giai đoạn 2025-2040 là 10,92% thì có thể dự báo doanh thu du lịch đến năm 2034 là 4.342.493 (triệu đồng) và năm 2040 là 7.291.022 (triệu đồng) [phụ lục 27].
Dự báo doanh thu theo phương pháp hồi quy – Phương án 2 (PA2):
Sử dụng phương pháp hồi quy doanh thu du lịch theo thời gian giai đoạn 2010-2023 để dự báo doanh thu ngành du lịch cho các năm tiếp theo. Mô hình hồi quy: LDT = a*t + b Trong đó:
- LDT: Ln DT (DT: Doanh thu ngành du lịch – giá cố định năm 2009)
- t: Thời gian
Kết quả hồi quy [phụ lục 21] cho thấy biến thời gian (t) giải thích 83,65% sự thay đổi của biến doanh thu ngành du lịch, tỷ lệ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2010-2023 là 9,7776%, giả định tốc độ tăng doanh thu bình quân các năm tới không đổi, dự báo doanh thu ngành du lịch năm 2025: 2.533.373 (triệu đồng); năm 2034: 4.038.981 (triệu đồng) và năm 2040: 6.439.385 (triệu đồng):
Lựa chọn phương án: Nếu tính riêng giai đoạn 2016-2023 thì tốc độ phát triển bình quân về doanh thu du lịch của BR-VT là 15,10%. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong thời gian qua đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang tăng chậm lại, đặc biệt đã ảnh hưởng lớn đến doanh thu ngành du lịch (doanh thu du lịch Việt Nam năm 2024 tăng khoảng 9% so với năm 2023, trong khi tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2015–2022 là 21,5%) [16; phụ lục 8]. Bên cạnh đó, khi ngành du lịch tỉnh đã phát huy tiềm năng thì những năm tiếp theo mức tăng tuyệt đối về doanh thu sẽ cao nhưng xét về tương đối, tỷ lệ gia tăng sẽ có xu hướng giảm dần.
Mặt khác, phần lớn các dự án có quy mô lớn trên địa bàn tỉnh chỉ mới bắt đầu triển khai thực hiện. Nếu tiến độ triển khai các dự án đúng kế hoạch thì đến cuối giai đoạn 2034-2040 các khu du lịch này mới có thể đưa vào hoạt động. Từ nhận định trên, cùng với chủ trương phát triển bền vững của địa phương, tác giả chọn phương án 2 để làm mục tiêu xây dựng các chỉ tiêu kinh tế.
Dự báo doanh thu ngành du lịch vào năm 2034 là 4.038.981 (triệu đồng) và năm 2040 là 6.439.385 (triệu đồng). Các chỉ tiêu liên quan như: Lượng khách du lịch, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, lao động ngành du lịch cũng được dự báo theo chỉ tiêu doanh thu của phương án 2. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
3.3.2. Dự báo số lượng khách du lịch
Dự báo lượng khách du lịch cho những năm tiếp theo dựa vào mô hình hồi quy lượng khách du lịch theo doanh thu [phụ lục 22]:
- LKDL(t) = a * LDT(t) +b Trong đó:
- LKDL: Ln KDL (KDL: Tổng khách du lịch, khách quốc tế, khách nội địa)
- LDT: Ln DT (DT: Tổng doanh thu ngành du lịch – theo giá cố định 2009)
Từ kết quả hồi quy, giả định trong những năm tới sự tác động giữa lượng khách và doanh thu không đổi, dự báo về số lượng khách du lịch đến BR-VT như sau:
- Năm 2025 du lịch BR-VT sẽ đón tiếp khoảng 7.793.005 lượt khách (trong đó: khách quốc tế: 336.936 lượt khách; khách nội địa: 7.456.069 lượt khách);
- Năm 2034 du lịch BR-VT sẽ đón tiếp khoảng 10.982.302 lượt khách (trong đó: khách quốc tế: 458.617 lượt khách; khách nội địa: 10.523.685 lượt khách);
- Năm 2040 du lịch BR-VT sẽ đón tiếp khoảng 15.476.824 lượt khách (trong đó: khách quốc tế: 624.242 lượt khách; khách nội địa: 14.852.582 lượt khách).
3.3.3. Dự báo về nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng tăng thêm của ngành du lịch
Dự báo vốn đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch theo doanh thu dựa vào mô hình hồi quy [phụ lục 24]:
- LCSHT(t) = a * LDT(t) +b Trong đó:
- LCSHT: Ln CSHT (CSHT: Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng ngành du lịch tăng thêm hàng năm)
- LDT: Ln DT (DT: Tổng doanh thu ngành du lịch – theo giá cố định 2009)
Kết quả hồi quy cho thấy R2 = 0,606635, có nghĩa là biến doanh thu giải thích khoảng 60,66% sự thay đổi của biến đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy mức độ ảnh hưởng giữa 2 biến theo kết quả hồi quy không lớn, nhưng thực tế cho thấy nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế và đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp cho ngành du lịch. Để đạt doanh thu theo dự báo, giả định trong những năm tới sự tác động giữa vốn đầu tư và doanh thu không đổi thì ngành du lịch của tỉnh cần tập trung huy động vốn đầu tư vào ngành du lịch giai đoạn 2025-2034: 3.549,93 tỷ đồng, bình quân 591.65 tỷ đồng/năm; Giai đoạn 2035-2040: 4.754,66 tỷ đồng, bình quân 950,93 tỷ đồng/năm. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Dự báo theo kết quả hồi quy ở phụ lục 23, lượng khách du lịch lưu trú tại BR-VT năm 2034 là 2.396.710 khách, năm 2040 là 3.492.977 khách. Việc thiết kế số giường trong cùng phòng tại các khách sạn nói chung và theo đánh giá của chuyên gia thì Hệ số sử dụng chung phòng lưu trú (số người bình quân trong 1 phòng lưu trú) tại BR-VT hiện tại là 1,85. Nếu những năm tới, công suất sử dụng phòng vẫn là 58,2% [bảng 2.3], số ngày lưu trú trung bình (1,9 ngày/khách) và hệ số sử dụng chung phòng không đổi, thì số phòng cần để đáp ứng nhu cầu lưu trú năm 2034 và năm 2040 lần lượt là:
Như vậy, giai đoạn 2025 – 2034 cần đầu tư thêm 3.892 phòng (trung bình 649 phòng/năm) và giai đoạn 2035 – 2040 cần đầu tư thêm 5.300 phòng (trung bình 1.060 phòng/năm).
3.3.4. Dự báo về nhu cầu lao động trong ngành du lịch
Hiện nay, nhu cầu lao động trực tiếp tính bình quân cho một phòng khách sạn của cả nước và khu vực là 1,8 – 2,0 lao động. Như vậy nếu chỉ tính riêng lao động làm việc tại khách sạn thì vào năm 2034 số lao động trực tiếp khoảng 20.855 – 23.174 người, năm 2040 có khoảng 30.397 – 33.774 người.
Dự báo nhu cầu lao động phục vụ du lịch theo doanh thu dựa vào mô hình hồi quy [phụ lục 25]:
- LLDDL(t) = a * LDT(t) +b Trong đó:
- LLDDL: Ln LDDL (LDDL: Lực lượng lao động tham gia trong ngành du lịch)
- LDT: Ln DT (DT: Tổng doanh thu ngành du lịch – theo giá cố định 2009)
Giả định mức độ ảnh hưởng giữa lực lượng lao động và doanh thu các năm tới không đổi, dự báo nhu cầu về lao động ngành du lịch năm 2034 là 26.920 người và đến năm 2040 cần khoảng 29.629 người [phụ lục 27].
Theo kinh nghiệm của các nước Châu Âu và các chuyên gia ngành du lịch, định hướng nhà nước về cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực được coi là hợp lý và có hiệu quả, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển với mức tăng trưởng cao, có thể áp dụng là cơ cấu đào tạo theo tỷ lệ 5:10:85. Nghĩa là cứ đào tạo 100 người thì trong đó: 5 người lao động lãnh đạo quản lý, được đào tạo tại các trường đại học; 10 người là lao động chuyên viên kinh tế hoặc kỹ thuật, được đào tạo tại các trường chuyên ngành khách sạn và du lịch; 85 người là lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch, được đào tạo tại các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề hoặc trường công nhân kỹ thuật [3, tr.147]. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Với kết quả dự báo lao động theo doanh thu trong những năm tới, nếu tỷ lệ lao động qua đào tạo của ngành du lịch vẫn duy trì ở mức 84,4% thì vào năm 2040, ngành du lịch BR-VT cần khoảng 25.000 lao động qua đào tạo. Như vậy, cần có 1.250 lao động lãnh đạo quản lý được đào tạo từ các trường đại học; 2.500 lao động chuyên viên kinh tế hoặc kỹ thuật được đào tạo từ các trường chuyên ngành khách sạn và du lịch; 21.250 lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch được đào tạo từ các trường nghiệp vụ. Ngoài các chỉ tiêu dự báo của ngành du lịch, trong thời gian tới nếu Dự án du lịch
Hồ Tràm Strip với tổng vốn đầu tư 4,2 tỷ USD đi vào hoạt động đúng tiến độ (20112014), hệ thống khách sạn lên đến 9.000 phòng sẽ giải quyết thêm khoảng hơn 20.000 lao động. Đồng thời, dự án này sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu hút khách du lịch nước ngoài và doanh thu ngành du lịch tất yếu sẽ gia tăng rất nhanh.
3.4. Giải pháp phát triển du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2040 Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong những năm tới, BR-VT phải tìm những giải pháp để thu hút các thành phần khách cao cấp, tăng mức chi tiêu và tăng độ dài ngày lưu trú hơn là đơn thuần tăng số lượng khách du lịch. Để thực hiện được mục tiêu trên, cần phải có hành động cụ thể trong việc xác định và khai thác tối đa thị trường khách du lịch nội địa và quốc tế; cải thiện môi trường tự nhiên và môi trường xã hội để phát triển du lịch; phát triển cơ sở vật chất cho du lịch để tạo nhiều sản phẩm độc đáo thu hút khách du lịch cao cấp; quan tâm sâu sắc đến yếu tố chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cả trong và ngoài ngành du lịch; nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế,…
Cần nhìn nhận rằng du lịch không chỉ là đi lại và nghỉ ngơi mà còn là các hoạt động giải trí, nghiên cứu và học tập. Nói cách khác, du lịch là mạng lưới kinh doanh rộng lớn và tổng hợp phục vụ cho việc đi lại, nghỉ ngơi, ăn uống và thỏa mãn nhu cầu của khách từ thiết yếu đến cao cấp.
Từ việc phân tích thực trạng các yếu tố liên quan đến phát triển du lịch và các số liệu dự báo đến năm 2040, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể sau:
3.4.1. Giải pháp về thị trường khách du lịch
Hiện nay, thị trường khách quốc tế của BR-VT phần lớn là khách Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore. Mặc dù phần lớn khách hàng thuộc nhóm này có yêu cầu cao trong thưởng thức các sản phẩm du lịch, tuy nhiên họ đã phần nào chấp nhận sản phẩm du lịch Việt Nam nói chung và du lịch BR-VT nói riêng, nhưng cần thiết phải có những chính sách thích hợp và đầu tư thỏa đáng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch. Có thể áp dụng chính sách ưu đãi về giá, chất lượng dịch vụ và quà tặng để tiếp tục thu hút đối với nguồn khách này. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bên cạnh đó, nguồn du khách với số lượng khá ổn định, đóng góp vào doanh thu du lịch BR-VT phải kể đến đó là đội ngũ lao động đến từ nước Nga, thuộc Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro. Ngành du lịch nên chủ động phối hợp với Xí nghiệp Vietsovpetro và các tổ chức du lịch ở Nga tổ chức các chương trình du lịch kết hợp thăm người thân, bạn bè đang làm việc tại Vũng Tàu bằng các chương trình hấp dẫn với ý nghĩa thân thiện.
Hiện nay, khách quốc tế còn thiếu thông tin về BR-VT. Ngành du lịch phải thành lập trang thông tin chuyên đề về du lịch BR-VT với nhiều ngôn ngữ như: Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật, Trung Quốc, Nga,… nhằm hướng vào thị trường Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là các nước Đông Nam Á.
Việc tổ chức các tour du lịch trọn gói từ các nước Đông Nam Á sang Việt Nam đến các vùng du lịch đang là ưu thế cạnh tranh của các Công ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, vì vậy ngành du lịch BR-VT cần nắm bắt cơ hội hợp tác, liên kết để phát huy lợi thế, thu hút mạnh mẽ du khách quốc tế.
Ngành du lịch cần tranh thủ các lễ hội Festival, hội chợ, triển lãm, hội thảo tại các tỉnh Miền Bắc, Cao nguyên và Miền Trung, đưa hình ảnh BR-VT đến khách du lịch trong và nước ngoài, đặc biệt là Việt kiều và Doanh nhân.
3.4.2. Giải pháp quảng bá sản phẩm và dịch vụ du lịch Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Doanh nghiệp du lịch cần có sản phẩm du lịch và chiến lược Marketing phù hợp như: tổ chức các chương trình du lịch thư giản cuối tuần, tour du lịch dành cho khách hàng thân thiện, du lịch về nguồn, các chương trình giao lưu văn hoá ẩm thực,… để thu hút nguồn khách nội địa đến từ các tỉnh, thành lân cận nhằm làm giảm ảnh hưởng của tính thời vụ trong kinh doanh du lịch.
Quà lưu niệm cũng là một trong những công cụ quảng bá hình ảnh du lịch. Việc phát triển và làm phong phú các món ăn đặc sản và hàng lưu niệm phải tập trung vào các sản phẩm làm từ biển, các đặc sản được tinh chế nhất thiết là phải đóng gói tại địa phương và phải in logo BR-VT.
Nghiên cứu tình hình Nhật Bản và một số nước Tây Âu, số người có tuổi thọ tăng lên, nhu cầu ra nước ngoài chữa bệnh có kỳ hạn của họ cũng gia tăng. BR-VT là một trong những địa phương lý tưởng về nghỉ ngơi điều dưỡng và chữa bệnh, nhưng cần phải đầu tư cho cơ sở vật chất về y tế, chăm sóc sức khỏe để đón tiếp nguồn khách này.
Để giữ được uy tín đối với du khách, nhất thiết ngành du lịch không nên thả nổi về giá cả, không vì lợi ích của một số doanh nghiệp mà gây tổn hại đến toàn ngành. Giá cả phải được thay đổi theo mùa, theo chuyên đề và chất lượng. Việc xác định giá cả phải khuyến khích được du khách thông qua việc áp dụng chính sách một giá để khách du lịch yên tâm với sản phẩm, dịch vụ mà mình chọn.
Trong ngắn hạn, thị trường khách du lịch của BR-VT chủ yếu vẫn là khách nội địa đến từ các tỉnh, thành phố lân cận, nhất là những ngày nghỉ, lễ, Tết dương lịch và sau tết Nguyên đán. Đây chính là dịp các nhà nghỉ, khách sạn tăng giá cao, nhưng chất lượng phục vụ thấp vì quá đông khách. Chính quyền địa phương cần phải tổ chức các đội thanh tra du lịch để giám sát, kiểm tra các cơ sở kinh doanh ăn uống, lưu trú và các điểm tham quan du lịch về vấn đề chất lượng, vệ sinh và an toàn của du khách.
3.4.3. Giải pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch
Để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trước các đối thủ như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Thuận, Khánh Hòa, Lâm Đồng,… ngành du lịch BR-VT cần xác định rõ các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng mang tính khác biệt của Tỉnh so với sản phẩm du lịch của các địa phương khác. Vì vậy, trong thời gian tới ngành du lịch cần tập trung đầu tư và khai thác các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá dân tộc, du lịch thể thao bãi biển và ẩm thực.
Ngoài lợi thế về tài nguyên biển, BR-VT còn có Côn Đảo, rừng nguyên sinh Bình Châu – Phước Bửu và các địa danh lịch sử, ngành du lịch cần tăng cường khai thác nguồn khách có nhu cầu nghiên cứu và học tập thông qua tổ chức các tour du lịch về nguồn dành cho học sinh và sinh viên của các trường trong cả nước. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Để thoả mãn nhu cầu du lịch của du khách cần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch như: thiết lập hệ thống hỗ trợ và hợp tác về du lịch với các tỉnh, thành lân cận để tạo ra các sản phẩm du lịch thông qua các tour du lịch liên vùng cho khách nội địa, đẩy nhanh tiến độ đầu tư các khu vui chơi giải trí cao cấp phục vụ khách quốc tế.
Du lịch là một ngành hoạt động mang tính thời vụ, đối với BR-VT tính thời vụ ảnh hưởng rõ rệt, nguồn khách du lịch đến đây chủ yếu tập trung vào các tháng có các ngày nghỉ lễ, Tết và mùa hè (tháng 1; 6 và 8), đều này ảnh hưởng lớn đến việc khai thác nguồn khách, công suất sử dụng phòng, lực lượng lao động, chi phí quảng cáo,… Vì vậy, ngành du lịch cần đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách trong thời gian này. Bên cạnh đó, cần có chính sách thu hút du khách trong các tháng mà người dân có nhu cầu đi du lịch thấp (tháng 3; 4; 5 và tháng 10).
Sản phẩm du lịch của BR-VT chủ yếu tập trung ở dọc tuyến đường ven biển từ thành phố Vũng Tàu đến huyện Xuyên Mộc. Tuyến du lịch được xác định dựa vào một số tiêu chuẩn như: Tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn) và khả năng thu hút khách; Các cơ sở vui chơi giải trí; Cơ sở hạ tầng; Các cơ sở lưu trú; Sự trong sạch của môi trường; Các điều kiện về đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội. Các tuyến, điểm du lịch được quy hoạch phải có nét đặc trưng, không nên để du khách nhàm chán vì phải thưởng thức cùng loại sản phẩm trong suốt chuyến du lịch như hiện nay, cụ thể phải xác định:
- Trung tâm, cụm du lịch Thành phố Vũng tàu và các khu vực phụ cận là trung tâm du lịch văn hóa, lễ hội, giải trí về đêm, thể thao, thương mại, hội nghị.
- Cụm Du lịch Long Hải – Phước Hải là cụm văn hóa, thể thao tổng hợp, nghỉ dưỡng biển cao cấp của địa phương và vùng Đông Nam bộ.
- Cụm du lịch Núi Dinh – Bà Rịa là cụm nghỉ dưỡng núi, hỗ trợ cho Thành phố Vũng Tàu phát triển du lịch thương mại, hội nghị.
- Cụm du lịch Bình Châu – Hồ Linh là cụm du lịch sinh thái rừng nguyên sinh, điều dưỡng chữa bệnh.
- Cụm du lịch Côn Đảo là cụm du lịch sinh thái rừng, biển, đảo, tham quan di tích lịch sử cách mạng, nghỉ dưỡng, giải trí cấp quốc gia và quốc tế, theo mô hình một đặc khu kinh tế du lịch.
Ngoài ra, chính quyền địa phương cần có biện pháp cứng rắn để ngăn dòng nhập cư bất hợp pháp, không để xảy ra tình trạng ăn xin hoặc bán hàng rong tại các điểm du lịch, tạo cảm giác thoải mái, an toàn khi đến du lịch tại BR-VT.
3.4.4. Giải pháp hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Định hướng phát triển ngành du lịch cần phải có chiến lược đầu tư phù hợp, phát huy cao nhất hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Đầu tư nâng cấp, mở rộng hoạt động, tạo ra loại hình vui chơi giải trí độc đáo, hiện đại ở các khu du lịch đã xác định. Đồng thời, tôn tạo các di tích văn hoá – lịch sử và phát triển các lễ hội truyền thống phục vụ du lịch. Cụ thể:
Trên cơ sở Quy hoạch tổng phát triển du lịch huyện Tân Thành, huyện Châu Đức, đẩy mạnh kêu gọi đầu tư khai thác thế mạnh tài nguyên du lịch ở hai huyện này. Một số công việc cần làm ngay như: Hoàn chỉnh hạ tầng khu du lịch Núi Dinh, ưu tiên kêu gọi đầu tư các dự án qui mô lớn để triển khai thực hiện việc xây dựng khu du lịch Lâm viên văn hóa Núi Dinh; Đầu tư thêm hạ tầng kỹ thuật để đưa khu du lịch Thác Hòa Bình vào hoạt động.
Tách một phần đất lâm nghiệp dành cho các dự án du lịch xây dựng cơ sở vật chất (khu Núi Dinh, núi Minh Đạm, Hồ Tràm, Hồ Cốc, Hồ Linh), dành quỹ đất khu vực Hồ Tràm – Hồ Linh, Núi Dinh cho việc qui hoạch đất để kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài từ những tập đoàn kinh doanh du lịch chuyên nghiệp, các công ty có tiềm năng về vốn và công nghệ du lịch để tạo ra những sản phẩm có sức thu hút mạnh mẽ du khách quốc tế.
Nhanh chóng triển khai đề án phát triển kinh tế Côn Đảo, đẩy mạnh việc tuyên truyền giới thiệu tiềm năng, thế mạnh du lịch của Côn Đảo để kêu gọi đầu tư thông qua các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước. Tìm kiếm những tập đoàn kinh tế mạnh đầu tư khai thác du lịch theo Đề án được Chính phủ phê duyệt.
Xây dựng đề án trùng tu di tích danh lam thắng cảnh theo hướng bảo tồn di tích gắn với việc khai thác di tích để phục vụ kinh doanh du lịch.
Nghiên cứu bổ sung phương tiện giao thông tại các tuyến du lịch ven biển nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách. Nâng cấp, tu bổ các đường giao thông nằm trên tuyến du lịch, tăng cường cắm biển báo, biển chỉ dẫn khách du lịch đến các điểm tham quan di tích trên các trục đường chính.
Trong thời gian tới, khi trụ sở của các cơ quan chính quyền cấp tỉnh chuyển về thị xã Bà Rịa, thì thành phố Vũng Tàu sẽ chính thức trở thành thành phố của du lịch và dịch vụ. Vì vậy cần sớm nâng cấp chợ Vũng Tàu ngang tầm với một thành phố du lịch, kết hợp phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách ở các trung tâm thương mại: Vũng Tàu, Bà Rịa, Tân Thành. Nâng cấp các bãi đậu xe, xây dựng các quầy rút tiền, đổi tiền tự động, trạm bảo dưỡng xe trong khuôn viên các trung tâm thương mại.
Hoàn thành siêu thị mỹ nghệ, phát triển một số điểm làm hàng mỹ nghệ từ sò, ốc phục vụ nhu cầu tham quan, mua sắm của khách du lịch. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Xây dựng khu hội chợ triển lãm, hội nghị tại Vũng Tàu để tạo cơ sở hạ tầng bước đầu cho việc phát triển loại hình du lịch hội nghị – hội thảo (MICE).
Hoàn thiện nhà thi đấu đa năng, khu thể thao Bàu Trũng – Vũng Tàu, các trung tâm văn hóa thể thao ở Long Điền, Bà Rịa, Xuyên Mộc, thu hút các giải đấu, các đợt tập huấn thể thao cấp vùng, miền và cấp quốc gia.
3.4.5. Giải pháp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành du lịch
Để trở thành một trung tâm du lịch của vùng và cả nước, một yếu tố không thể thiếu đó là con người. Một địa phương có điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ du lịch hiện đại đến đâu cũng không thể đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách nếu phong cách phục vụ tồi, kém chất lượng. Để giải quyết vấn đề về nguồn lao động có kỹ năng phục vụ tốt cho ngành, cần thiết phải thực hiện một số vấn đề sau:
- Trước mắt, cần tập trung tạo mọi điều kiện để người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch được cập nhật kiến thức thông qua các hình thức đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ. Bên cạnh đó, việc cơ cấu lại đội ngũ nhân sự tại các doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết để mỗi người thể hiện đúng năng lực thực sự của mình.
- Khi doanh nghiệp tuyển dụng lao động mới chưa qua đào tạo và gửi cho các cơ sở đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp thì các bên phải có sự phân giao về trách nhiệm trong quá trình đào tạo lý thuyết – thực hành, thông qua hình thức này có thể tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học tham gia học nghề vì đảm bảo được việc làm ngay khi rời ghế nhà trường.
- Hiện nay nhu cầu học tập và trau dồi ngoại ngữ (tiếng Anh, Hoa, Hàn Quốc) đối với người lao động đang làm việc tại các huyện là rất lớn nhưng còn thiếu các trung tâm dạy ngoại ngữ có chất lượng, nếu có cũng chỉ đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh phổ thông chứ chưa phục vụ cho đội ngũ người lao động. Vì vậy, chính quyền địa phương cần tích cực hơn đối với chủ trương xã hội hóa giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập và nâng cao trình độ của người lao động.
- Theo dự báo cho thấy, đến năm 2040, nhu cầu về lao động trong ngành du lịch là 29.629 người (tăng 5.170 người so với năm 2025). Như vậy, trung bình mỗi năm phải đào tạo thêm khoảng 1.000 lao động có tay nghề để vừa bổ sung vừa thay thế cho đội ngũ lao động hiện nay. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 2 trường đại học và 4 trường trung cấp đào tạo các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật và một số trung tâm có liên kết đào tạo bậc trung cấp, đại học với các trường cao đẳng, đại học trong cả nước với quy mô đào tạo hàng năm khoảng 1.500 học viên (trong đó có 1 trường đào tạo nghiệp vụ du lịch với chỉ tiêu 300 học viên mỗi năm). Nhìn chung, số học viên sau khi học xong tại đây chưa có khả năng “nhập cuộc”, nhất là học viên ngành du lịch, do chương trình đào tạo nói chung còn nặng về mặt lý thuyết, thiếu tính thực hành, giảng viên thiếu kinh nghiệm và thực tiễn. Trước tình hình đó, đòi hỏi ngành giáo dục phải trang bị kịp thời về cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, thiết bị dạy nghề để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp.
- Trong những năm tới, các khu du lịch quy mô lớn đi vào khai thác sử dụng thì nhu cầu về số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động ngành du lịch sẽ rất lớn. Bên cạnh đó, BR-VT là địa điểm thuận lợi cho công tác đào tạo thực hành đối với chuyên ngành du lịch. Vì vậy, cần thiết phải nâng cấp trường trung cấp nghiệp vụ du lịch của tỉnh trở thành trường đại học du lịch chất lượng cao với chỉ tiêu hàng năm khoảng 1.000 sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu địa phương cũng như khu vực và cả nước.
- Ngoài ra, còn có một nguồn lao động có kỹ năng đến từ các trung tâm đào đạo lớn của cả nước (thành phố Hồ Chí Minh) là cơ hội để BR-VT tuyển chọn và sử dụng. Nhưng để thu hút được tối đa lực lượng này, cần thiết phải có chế độ thu hút và đãi ngộ tương xứng.
Kết luận chương 3 Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch cùng những dự báo các chỉ tiêu kinh tế du lịch BR-VT đến năm 2040, đề tài đã đề ra các giải pháp phát triển du lịch, đó là:
Tăng cường khai thác các thị trường khách du lịch nội địa, trong đó mục tiêu chủ yếu là các tỉnh Miền Đông Nam Bộ. Mở rộng thu hút khách từ các tỉnh Miền Tây, Miền Nam trung bộ thông qua hợp tác địa phương và liên kết vùng. Khai thác thị trường mới là nguồn khách quốc tế có nhu cầu nghỉ dưỡng. Tăng cường quảng bá sản phẩm du lịch đối với thị trường mà Việt Nam đang nhắm tới là các nước ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Du lịch BR-VT còn thiếu những sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng và khác biệt so với các tỉnh, thành trong vùng. Cần thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa thể thao, du lịch khám phá, Đa dạng hóa sản phẩm du lịch theo từng tuyến du lịch để ngăn chặn sự nhàm chán và giảm sút của thị trường, hướng tới xây dựng BR-VT trở thành trung tâm du lịch hội nghị, hội thảo của vùng và cả nước. Đổi mới sản phẩm du lịch để chào đón nguồn khách quốc tế quay trở lại BR-VT.
Tích cực quy hoạch và xây dựng các khu du lịch và các tuyến, điểm du lịch nhằm thu hút và kéo dài thời gian lưu trú và chi tiêu của khách du lịch. Việc xây dựng và phát triển các khu du lịch, tuyến, điểm du lịch là công tác quan trọng cho trước mắt và lâu dài của BR-VT.
Chính quyền địa phương cần chủ động sắp xếp lại đội ngũ quản lý nhà nước về du lịch, tạo mọi điều kiện thuận lợi để ngành du lịch có được 1 đội ngũ lao động lành nghề. Đồng thời, thực hiện vai trò chủ đạo trong công tác đào tạo để đáp ứng nhu cầu lao động ngành du lịch trong thời gian tới, chú trọng đào tạo trình độ ngoại ngữ cũng như nghiệp vụ bàn, buồng, bếp,… đạt chất lượng.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trên cơ sở xác định rõ mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài, luận văn đã hoàn thành những vấn đề cơ bản sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về du lịch, khái niệm sản phẩm du lịch, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực du lịch và vai trò của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế của địa phương.
- Nghiên cứu tiềm năng du lịch BR-VT cho thấy, BR-VT có lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên có nhiều ưu đãi, tài nguyên nhân văn phong phú và đa dạng, thuận lợi cho phát triển du lịch.
- Phân tích thực trạng hoạt động du lịch BR-VT thông qua số liệu tổng hợp từ các cơ quan quản lý ngành cho phép rút ra một số kết luận quan trọng.
Doanh thu du lịch BR-VT trong những năm qua tương đối ổn định, tỷ lệ đóng góp của ngành trên tổng GDP của tỉnh đạt khá so với mục tiêu đề ra của cả nước.
Lượng khách du lịch đến BR-VT trong các năm qua chưa ổn định và lượng khách lưu trú có nhiều biến động.
Quy mô khách sạn còn nhỏ, mật độ phân bố chưa đồng điều, tuy nhiên công suất sử dụng buồng phòng đạt khá so với mức trung bình của WTO đưa ra.
Lực lượng lao động ngành du lịch trong những năm qua tăng khá nhanh, nhưng chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số lao động trên toàn tỉnh. Tỷ lệ lao động nữ ngành du lịch đang có xu hướng giảm xuống, trong khi định hướng chung của tỉnh là đang đặt chỉ tiêu tăng tỷ lệ lao động nữ trong ngành du lịch.
Tiến hành khảo sát 94 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch và 2.459 khách du lịch nội địa tại 3 cụm du lịch: Thành phố Vũng Tàu, khu du lịch Long Hải và khu du lịch biển Hồ Cốc – Suối nước khoáng nóng Bình Châu, kết quả phân tích cho thấy, Sản phẩm du lịch BR-VT khá phong phú nhưng ngoại trừ dịch vụ tắm khoáng tại khu du lịch Bình Châu và di tích Côn Đảo thì vẫn chưa có nét đặc trưng, khác biệt so với các địa phương khác; Tỷ lệ khách du lịch nước ngoài so với tổng số du khách đến BR-VT chiếm tỷ lệ khá cao; nguồn khách du lịch nội địa của BR-VT chủ yếu đến từ các tỉnh, thành phố lân cận; Tỷ lệ khách nam cao hơn khách nữ, trên 50% du khách thuộc độ tuổi trực tiếp tài trợ cho chuyến du lịch của họ; Du khách đến BR-VT chủ yếu nhằm mục đích nghỉ ngơi giải trí dưới các loại hình tắm biển và du lịch sinh thái; Thời gian lưu trú của khách du lịch nội địa ngắn nên ảnh hưởng đến chi tiêu của chuyến đi; Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch được du khách đánh giá cao, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần bổ sung như phương tiện giao thông công cộng chưa xuyên suốt trên các tuyến du lịch, mức độ tiện nghi của khách sạn, nhà nghỉ vẫn đang ở mức trung bình so với ngành; Việc tuyển dụng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, mặt bằng về trình độ nhân lực vẫn còn thấp, chủ yếu là tự phát, thiếu chuyên nghiệp, thu nhập bình quân của người lao động ngành du lịch còn thấp so với các ngành sản xuất và chưa tương xứng với một ngành đòi hỏi cao về chuyên môn, nghiệp vụ. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động du lịch, kết hợp tổng hợp đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của ngành cùng với định hướng phát triển ngành du lịch của địa phương, tác giả sử dụng các mô hình định lượng để dự báo các chỉ tiêu kinh tế của ngành du lịch.
Trên cơ sở dự báo các chỉ tiêu kinh tế du lịch của tỉnh BR-VT đến năm 2040, tác giả đề xuất các giải pháp thực hiện để đạt mục tiêu đề ra. Trong đó, tập trung vào 4 nhóm giải pháp cụ thể: Giải pháp về thị trường và quảng bá sản phẩm du lịch; Giải pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch; Giải pháp hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; Giải pháp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành du lịch.
Những kết quả đạt được của đề tài hy vọng gợi mở ý tưởng cho những nhà quản lý ngành, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, cơ sở đào tạo nghề trong quá trình xây dựng chiến lược, chính sách, giải pháp phát triển ngành du lịch nói riêng và kinh tế xã hội tỉnh BR-VT nói chung. Ngoài ra, đề tài còn có ý nghĩa trong việc định hướng cho đội ngũ lao động trong thời gian tới. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn, tác giả nhận thấy còn nhiều vấn đề chưa có điều kiện nghiên cứu đầy đủ như: hiệu quả kinh doanh du lịch và tác động của sự phát triển ngành du lịch đối với các ngành kinh tế của địa phương. Các dự báo về chỉ tiêu của ngành chỉ dừng lại ở mức độ xu hướng phát triển, chưa có đầy đủ dữ liệu để lượng hóa các chỉ tiêu nên việc đề ra giải pháp vẫn còn hạn chế, cần thiết có những nghiên cứu kế tiếp đầy đủ và sâu sắc hơn./.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
