Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

5/5 - (1 bình chọn)

Chia sẻ đề tài Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, đến các bạn sinh viên tham khảo. Và còn rất nhiều đề tài tiểu luận khác được Dịch vụ hỗ trợ viết luận văn cập nhập hàng ngày đến các bạn sinh viên đang làm tiểu luận triết học về đề tài Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, nếu như các bạn muốn tham khảo nhiều bài viết hơn nữa thì tham khảo tại trang website của Dịch vụ hỗ trợ viết luận văn nhé.

Ngoài ra, các bạn có gặp khó khăn trong việc làm bài tiểu luận môn học, hay tiểu luận tốt nghiệp thì liên hệ với Dịch vụ viết luận văn để được hỗ trợ làm bài. Hoặc các bạn có thể tham khảo dịch vụ viết thuê tiểu luận tại đây nhé.

===> Viết Thuê Tiểu Luận Môn

LỜI MỞ ĐẦU (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Lâu nay, tên tuổi Hồ Chí Minh đã trở nên gần gũi và quen thuộc không những đối với dân tộc Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Nhắc đến Hồ Chí Minh người ta sẽ nghĩ ngay đến một con người vĩ đại, thông minh, tài giỏi, một con người giản dị, chân chất. Hồ Chí Minh là con người Việt Nam ưu tú điển hình của mọi thời đại. Suốt cuộc đời hoạt động Người đã dành phần lớn tâm tư và sức lực cho sự nghiệp vĩ đại là tìm ra con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đây cũng là một trong những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh.

Trong bài tiểu luận này chúng em sẽ trình bày một cách tương đối có hệ thống về vấn đề “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc’. Qua bài tiểu luận, chúng em sẽ nêu lên được sự cống hiến của Hồ Chí Minh trong việc làm phong phú thêm những vấn đề lớn trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin như về vấn đề cách mạng giả i phóng dân tộc.

Tuy nhiên,vấn đề chúng em đề cập đến có nội dung lý luận rất lớn,nên bài tiểu luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định.Vì thế chúng em mong muốn nhận được ỵ kiến đóng góp từ giảng viên. Xin chân thành cảm ơn.

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

I/Lí do (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của Cách mang Việt Nam từ Cách mang dân tộc dân chủ đến Cách Mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lê nin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam ,đồng thời là sự kết tinh tinh hoa của dân tộc giả i phóng giai cấp và giả i phóng con người.

Con đường giải phóng dân tộc của đát nươc ta phải trải qua rất nhiều khó khan. Bác là người đã tìm ra con dường đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực thì Cách mạng giải phóng dân tộc là một chủ đề l ớn, khẳng định sự thành công của dân tộc ta là nhờ thực hiện một đường lối cách mạng đúng đắn. Vì vậy chúng em chọn đề tài này nhằm phân tích rõ hơn về Cách mạng giải phóng dân tộc và để hiểu sâu sắc hơn về con đường đi đến thắng lợ i của dân tộc ta.

II/Mục đích:

  • Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
  • Giúp sinh viên có thêm kiến thức về con đường giải đi đến độc lập tự do của Việt nam ta
  • Giúp sinh viên nắm vững những kiến thức đã học và co them nhiều kiến thức mới.

III/Phương pháp nghiên cứu

Thu thập thông tin từ tài liệu Tư tưởng Hồ Chí Minh,báo chí,truyền hình,các trang mạng xã hội,trang báo giấy,điện tử…cùng những hiểu biết bản thân để hệ thống thông tin thành từng chương,từng mục rõ ràng,khoa học.Sau đó đưa ra nhận xét đánh giá,kết luận đề tài trên phương diện khách quan nhất.

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TIỂU LUẬN (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

I/Khái niệm và cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 1.Khái niệm

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người, là sự biểu hiện mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh con người. Được sử dụng không phả i vớ i ý nghĩa là ý thức, tư tưởng của một cá nhân một cộng đồng mà vói nghĩa là ý chí, nguyện vọng, ý chí của một giai cấp, một dân tộc.

Theo kết quả nghiên cứu đạt được trong những năm qua ta cũng có thể bước đầu định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh như sau: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thông các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam,từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa,là kết quả vạn dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta,đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộ c,giả phóng giai cấp và giải phóng con người.

Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm:

  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Đảng cộng sản Việt Nam với tư cách là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, về đạo đức văn hóa, về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam về kinh tế về quân sự về phương pháp và phong cách.

2.Cơ sở hình thành

2.1.Cơ sở khách quan

a.Điều kiện lịch sử xã hội

Bối cảnh xã hội Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX

Người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động.trong nước chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành một số chính sách đối nội đối ngoại bảo thủ phản động:tăng cường đàn áp bóc lột nhân dân.Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đã lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hang thừa nhận nền bảo hộ của Pháp trên đất nước ta.

Đến cuối thế kỉ XIX các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu”Cần Vương”do các sĩ phu văn than lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại.điều này chứng tỏ hệ tư tưởng phong kiến đã lỗ i thờ i trước hoàn cảnh hiệm vụ của kịch sử.

Sự khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã khiến cho xã hội Việt Nam có sư phân hóa và chuyển biến rõ rệt,giai cấp công nhân,tiểu tư sản và tư sản xuất hiện tạo ra tiền đề bên trong phong trào yêu nước giả i phóng dân tộc.

Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc các sĩ phu yêu nước tiên bộ tiêu biểu như Phan Bội Châu ,Phan Châu Trinh đã tổ chức vận đông cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp.Song chủ trương của hai bậc tiền bối đều đã thất bại.Còn con đường của Hoàng Hoa Thám thì mang nặng”cốt cách phong kiến”chưa phải là hương đi đúng đắn.Từ đó,phong trào yêu nước của nhân dân ta muốn thắng lợi thì cần có m t con đường mới. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Hoàn cảnh thế giới bấy giở:

Lịch sử thế giới trong giai đoạn này cũng đang có nhứng biến đổi hết sức to lớn.Chủ nghĩ tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang độc quyền và thống trị trên phạm vi toàn cầu.Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thuộc địa

Các cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã dẩn đến một cao trào cách mạng thế giới và đỉnh cao là cách mạng tháng Mười Nga 1917.

Cuộc cách mạng này đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lâp chính quyền Xô Viết- mở ra mọt kỉ nguyên mới cho lịch sử loai người và đã thức tỉnh các dân tộc châu cũng như toàn thế giới.Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga đã dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết(1922).Tiếp đó là sự ra đời của quốc tế Cộng sản(3-1919) đã làm cho phong trào công nhân ở các nước có được mối quan hệ mật thiết với nhau cùng đấu tranh chông chủ nghĩa đế quốc.

b.Những tiền đề về tư tưởng lý luận

Giá trị truyền thông của dân tộc.

Những giá trị truyền thông hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam đã được hình thành từ l ịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời và trở thành tiên đề tư tưởng xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.Đó là truyền thông yêu nước kiên cường bất khuất,long nhân nghĩa, là ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn thư thách,thông minh ,tài sáng tạo.

Chủ nghĩa yêu nước là truyên thống tư tưởng tình cảm cao quý nhất.Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc dục Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước đấu tranh giải phóng dân tộc.Cũng chính từ thực tiển đó Hồ Chí Minh đã đúc kết thành chân lý”dân ta có một làng nồng nàn yêu nước.Đó là truyền thống quý báu của ta.Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi,nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ ,to lớn,nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn,nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Tinh hoa văn hóa nhân loại

Đó là sư kết hợp giữa các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với thành tựu văn hóa phương Tây để góp phần hình thành nhân cách văn hóa Hồ Chí

Văn hóa phương Đông đối với Hồ Chí Minh là sự chắt lọc lấy những gì tinh túy nhất trong các học thuyết triết học,trong tư tưởng của Lảo Tử,Mặc Tử,Quản Tử

…Người còn tiếp thu những mặt tích cực của Nho Giáo.Về Phật Giáo,Hồ Chí Minh tiếp thu va ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha,từ bi bác ái,cứu khổ cứu nạn,thương người…là nếp sống có đạo đức trong sạch,giản dị.Không những thế Người còn tiếp tục tìm hiểu chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn .

Cùng với tư tưởng triết học phương Đông,Hồ Chí Minh còn nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.Nhìn chung lạ i,trên hành trình yêu nước Hồ Chí Minh đã tự làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại.Cùng với đó là sự suy nghĩ,lựa chọn ,kế thừa,đổi mới vân dụng và phát triển.

Chủ nghĩa Mác-Lê Nin

Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê Nin trên nền tảng của tri thức văn hóa tinh túy được chắt lọc và một vốn chính trị,hiểu biết vô cùng phong phú được Người tích lũy qua thực tiễn hoat động đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc khọi áp bức nô lệ.

Từ những nhân thức ban đầu về chủ nghĩa Lê Nin,Hồ Chí Minh đã tiến dần tới những nhận thức “lý tính”trở lại nghiên cứu Mác sâu sắc hơn đẻ r ồi tiếp thu học thuyết của họ một cách có chọn lọc,không sao chép giáo điều.Người tiếp thu bằng cách nắm lấy tinh thần bản chất để vân dụng vào thục tiễn cách mạng Việt Nam.

2.2.Cơ sở chủ quan

Khả năng tư duy và trí tuệ thiên tài củ a Hồ Chí Minh . (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Suốt những năm tháng hoạt động bôn ba trên thế giới Người đã không ngừng quan sát,nhận xét thực tiễn,làm phong phú thêm sự hiểu biết của mình để t ạo dựng nên những thành công trong lĩnh vực hoạt động lý luận của Người sau này.

Trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã khám phá ra các quy luật vận động xã hội đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể khái quát thành lý luận và vận dụng vào thực tiễn.Nhờ vậy mà lý luận của Người mang tính khách quan,cách mạng và khoa học.

Phấm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn

Phẩm chất và tài năng đó được biểu hiện trước hết ở tư duy đối lập,tự chủ sáng tạo với sự sáng suốt tinh tường của Người. Phẩm chất và tài năng ấy cũng được thể hiện ở bản lĩnh kiên định,kiêm tốn, giản dị, ham học hỏi của Người.Hồ Chí Minh vì thế đã trở thành anh hung giải phóng dân tộc,lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Người còn là một nhà yêu nước chân chính,một chiến sĩ nhiệt thành với cách mạng, một trái tim yêu nước thương dân, sẵn sang hi sinh vì độc lập tự do của Tổ Quốc.Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng của Người đã trở thành tư tưởng Việt Nam hiện đại của mọi thế hệ hôm nay và mai sau.

II/Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

1.Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc

1.1.Tính chất, nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc

Sau một quá trình tìm hiểu và phân tích, Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự phân hóa giai cấp ở các nước thuộc địa phương Đông không giống như ở các nước tư bản phương Tây.Các giai cấp ở thuộc địa đều có chang một số phận giống nhau là mất nước,chịu làm nô lệ, nếu như mâu thuẫn ở các nước tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản thì mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa phương Đông là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức vớ i chủ nghĩa thực dân.

Hồ Chí Minh đã phân tích:“xã hội phương Đông ,Ấn Độ hay Trung Quốc xét về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp không quyết liệt bằng ở đây”.Do mâu thuẫn chủ yếu khác nhau nên tính chất cuộc đấu tranh cách mạng cũng khác nhau,nếu như ở các nước tư bản chủ nghĩa phải tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp thì ở các nước thuộc địa trước hết phả i tiến hành cuộc đấu tranh giả i phóng dân tộc.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh,giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu,trên hết,trước hết của cách mạng Việt Nam. Giải phóng dân tộc,xét về thực chất là đánh đổ ách thống trị,áp bức,xâm lược của đế quốc thực dân giành độc lập dân tộc,hình thành nhà nước dân tộc,độc lập và tự do lựa chọn con đường phát triển của dân tộc phù hợp vớ i xu thế phát triển của thời đại,tiến bộ xã hội.Yêu cầu bức thiết của nhân dân các nước thuộc địa là độc lập dân tộc,trong phong trào cộng sản quốc tế có quan điển cho rằng “vấn đề cơ bản của cách mạng thuộc địa là vấn đề nông dân”. Và chủ trương vấn đề ruộng đất, nhấn mạnh đấu tranh giai cấp các nước thuộc địa nông dân là nạn nhân chính của chính sách khai thác thuộc địa,bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất,vì thế kẻ thù số một của nông dân là bọn đế quốc thực dân. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa là mâu thuẫn dân tộc,quy định tính chất và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa là giải phóng dân tộc.Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”Nguyễn Áí Quốc đã nhấn mạnh tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc,Người nói rõ: “giai cấp nông dân là số lượng lớn nhất trong dân

tộ c nên giải phóng dân tộc chủ yếu là giải phóng nông dân,nông dân có yêu cầu về ruộng đất. Khi tiến hành đánh đổ chủ nghĩa đế quốc,yêu cầu đó cũng phần nào được đáp ứng vì ruộng đất của bọn đế quốc và tay sai sẽ thuộc về nông dân.Đế quốc và tay sai là kẻ thù số một của nông dân,lật đổ chế độ thuộc địa là nguyện vọng hàng đầu của nông dân.Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam càng được thể hiện rõ hơn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Áí Quốc soạn thảo.Tại hội nghị lần thư 8 ban chấp hành trung ương Đảng(5-1941) do Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định thành lập mặt trận Việt Minh thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên cơ s ở liên minh công-nông,giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,nhấn mạnh đó là nhiện vụ bức thiết nhất,chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và chỉ tiến hành nhiêm vụ đó ở một mức độ nhất định,thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp,Người cũng đã nêu rõ và khẳng định “trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi,thông nhất,độc lập nhất định thành công”.Đó không những là quyết tâm mà còn là nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam bấy giờ.

1.2.Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc

Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là đấu tranh giành độc lập dân tộc đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Từ khi Nguyễn Áí Quốc tìm ra con đường cứu nước,tin tưởng vào chủ nghĩa Mac_Lênin và quốc tế thứ 3 thì mục tiêu giải phóng dân tộc ngày càng được thể hiện rõ hơn.mục tiêu cấp thiết của cách mạng thuộc địa chưa phải là giành quyền lợi riêng biệt cũa mổi giai cấp mà quyền lợi chung của toàn dân tộc .đó là những mục tiêu của chiến lược đấu tranh dân tộc,phù hợp với xu thế c ủa mỗi thời đại cách mạng chống đế quốc.

Tuy nhiên do những hạn chế trong nhận thức và thực tiễn của cách mạng thuộc đia, lại chịu ảnh hưởng của tư tưởng giáo điều,tả khuynh nhấn mạnh chiều đấu tranh giai cấp.hội nghị l ần thứ nhất ban chấp hành trung ương đảng(10/1930) đả phê phán những quan điểm củ a Nguyển Áí Quốc,nhưng với bản lĩnh cách mạng kiên cường bám sát thực tiễn Viêt Nam,kiên quyết chống giáo điều,tại Hội nghị lần thứ Tám ban chấp hành Trung Ương Đảng chủ trương thay đổi chiến lược từ nhấn mạnh đấu tranh giai cấp sang đấu tranh giải phóng dân tộc,hội nghị khẳng định cuộc cách mạng Đông Dương là hiện tại không phải là cuôc cách mạng tư sản dân quyền,cuộc cách mạng phả i giả i quyết hai vấn đề:phản đế và điền địa nữa mà là cuộc cách mạng chỉ giải quyết một vấn đề cần thiết “dân tộc giải phóng” vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiên tại là một cuộc cách mạng giải phóng”. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Cuối cùng thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 cũng như thắng lợi năm 1975 đã khẳng định dược đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn và tư tưởng độc lập,tư do của Hồ Chí Minh.đem lại kết quả vô cùng ý nghĩa cho cách mạng Việt Nam.

2.Con đường giải phóng dân tộc-Con đường cách mạng vô sản

2.1.Con đường cứu nước củ a các thế hệ đi trước

Để giả i phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp ông cha ta đã sử dụng nhiều con đường với những khuynh hướng chính trị khác nhau sử dụng những vũ khí tư tưởng khác nhau nhưng đều bị thất bại. Thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chứng tỏ rằng, những con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến hoặc tư tưởng tư sản là không đáp ứng được yêu cầu khách quan là giành độc lập, tự do của dân tộc do lịch sử đặt ra. HCM sinh ra và lớn lên trong bố i cảnh đất nước đã bị biến thành thuộc địa, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, Hồ Chi Minh́ nước của ông cha Người rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, nhưng Người không tán thành các con đường cứu nước của họ mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mớ i, Người đã đến nhiều quốc gia và châu lục trên thế giới. *Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản:

  • Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước ác măng (Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song phong trào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn ra. Phong trào Cầ n Vươ ng (1885-1896), mộ t phong trào đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã mở cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quả ng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biể u là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895). Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913. Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giả i quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)
  • Đầ u thế kỷ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ l ập hiến của Nhật. Ông lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908).Chủ trương dựa vào đế quốc Nhật để chống đế quốc Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời. Giữa lúc đó Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911). Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam

Quang phục Hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng rồi cũng không thành công.

Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam. ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những nội dung và phương pháp mới, tiêu biểu là trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. ở Trung Kỳ, có cuộc vận động Duy tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong trào đấu tranh chống thuế (1908).

Do những hạn chế về l ịch sử, về giai cấp, nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc, nên chỉ sau một thờ i kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt.

*Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất mặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, về thế l ực kinh tế và chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã bắt đầu vươn lên vũ đài đấu tranh với thực dân Pháp bằng một số cuộc đấu tranh cụ thể vớ i những hình thức khác nhau:

  • Năm 1919-1923, Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và địa chủ lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ ngoại hoá; chống độc quyền thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ; đòi thực dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia.
  • Năm 1923 xuất hiện Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư sản và địa chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để lôi kéo quần chúng. Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp hoặc nhân nhượng cho một số quyền lợi thì họ lại đi vào con đường thỏa hiệp. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Năm 1925-1926 đã diễn ra Phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới. Họ l ập ra nhiều tổ chức chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn, Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao vọng (1926); thành lập nhiều nhà xuất bản như Nam Đồng thư xã (Hà Nội), Cường học thư xã (Sài Gòn), Quan hả i tùng thư (Huế); ra nhiều báo chí tiến bộ như Chuông rạn (La Cloche fêlée), Người nhà quê (Le Nhaque), An Nam trẻ (La jeune Annam)… Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang khá lớn như đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), lễ truy điệu và để tang Phan Châu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926). Cùng với phong trào đấu tranh chính trị, tiểu tư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên, càng về sau, cùng sự thay đổ i của điều kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày càng bị phân hoá mạnh. Có bộ phận đi sâu hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư sản (như Nam Đồng thư xã), có bộ phận chuyển dần sang quỹ đạo cách mạng vô sản (tiêu biểu là Phục Việt, Hưng Nam).

Năm 1927-1930 Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25-12-1927). Cội nguồn Đảng này là Nam Đồng thư xã, lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội Pháp. Về tư tưởng, Việt Nam quốc dân Đảng mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Về chính trị, Việt Nam quốc dân Đảng chủ trương đánh đuổi đế quốc, xóa bỏ chế độ vua quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa bao giờ có một đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng. Về tổ chức, Việt Nam quốc dân Đảng chủ trương xây dựng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, nhưng cũng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất. Ngày 9-2-1929, một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát tên trùm mộ phu Badanh (Bazin) tại Hà Nội. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố phong trào yêu nước. Việt Nam Quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế hết sức bị động, các lãnh tục ủa Đảng quyết định dốc toàn bộ l ực lượng vào một trận chiến đấu cuối cùng với tư tưởng “không thành công cũng thành nhân”. Ngày 9-2-1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên Bái với cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa. ở một số địa phương như Thái Bình, Hải Dương… cũng có những hoạt động phối hợp.

Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, vì thế nó nhanh chóng bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Các lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng cùng hàng ngàn chiến sĩ yêu nước bị bắt và bị kết án tử hình. Trước khi bước lên đoạn đầu đài họ hô vang khẩu hiệu “Việt Nam vạn tuế”. Vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

2.2. Cách mạng tư sản là không triệt để

Trong khoả ng 10 năm vượt qua các đại dương, đến với nhân loại cần lao đang tranh đấu ở nhiều châu lục, quốc gia trên thế giới. Người đã kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn 3 cuộc CM điển hình: CM Mỹ 1776, CM tư  ản Pháp 1789 và CM tháng 10 Nga, Người đọc Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của cách mạng Pháp. Người nhận thấy: CM Pháp cũng như CM Mỹ đều là CM tư sản, CM không đến nơi, tiếng là Cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa, công nhân nỗi dậy khắp nơi. Chúng ta đã hi sinh làm CM thì làm đến nơi, làm sao khi CM rồi thì quyền giao lại cho dân chúng số nhiều, thế thì dân chúng khỏi phải hi sinh nhiều lần, dân chúng mới hạnh phúc. Bởi lẽ đó, Người không đi theo con đường cách mạng tư sản.

2.3.Con đường giải phóng dân tộc

*Ảnh hưởng to lớn và sâu sắc của CM Tháng Mười Nga đến phong trào CM Việt Nam:

CM Tháng Mười Nga thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nhân loại-Thờ i kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Thành công của CM Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến phong trào CM trên thế giới nói chung và CM Việt Nam, nói riêng. Những ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất đầy đủ và hướng phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đi theo. Nhận xét của Chủ t ịch Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung trong tác phẩm “Đường cách mệnh” và tác phẩm “CM Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giả i phóng cho dân tộc”. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra tính triệt để của CM Tháng Mười Nga: “Trong thế giới bây giờ chỉ có CM Tháng Mười Nga là đã thành công và thành công đến nơi”. Tính triệt để của CM Tháng mười Nga đã được Chủ t ịch Hồ Chí Minh nhận thức một cách rất sâu sắc. Đó là, chính quyền thuộc về tay đại đa số quần chúng nhân dân lao động. Nếu chính quyền còn nằm trong tay “một bọn ít người”-bọn tư bản, thì CM không triệt để, “chưa đến nơi”. Bên cạnh đó, theo Chủ t ịch Hồ Chí Minh tính triệt để của một cuộc CM còn thể hiện ở chỗ: giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột một cách triệt để và đem lại hạnh phúc, tự do và bình đẳng thực sự cho họ. Điều này, sau này, được Người thể hiện dưới dạng khát vọng lớn lao: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bực là làm sao nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (5). Nhận xét này của của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lóe sáng khát vọng về xã hộ i tương lai-xã hội XHCN. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Từ nhận thức về tính triệt để của CM Tháng Mười Nga, Chủ t ịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “CM Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường CM Tháng Mười Nga. Đây là một trong những bài học thành công của CM tháng Mười Nga. “Tinh thần CM triệt để”, theo Bác, một là tiến công kẻ thù một cách triệt để, hai là, thái độ tinh thần dũng cảm, kiên quyết đấu tranh, không ngại gian khổ hy sinh-Người chỉ rõ: “luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng CM, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh đến cùng vì độc lập dân tộc vì CNXH”. Vận dụng bài học này vào Việt Nam, Người chỉ rõ: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập”-CM Tháng Tám; “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chị u làm nô lệ” -Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến; “chúng ta quyết không sợ…Không có gì quý hơn độc lập tự do”-kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

“Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản”. Bài học này đượ c chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách khá nhuần nhuyễn vào cách mạng Việt Nam. Trong quá trình tiến hành CM giả i phóng dân tộc cũng như trong CM XHCN, một mặt chúng ta tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, mặt khác chúng ta cũng thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế với các nước anh em (Lào, Campuchia, Trung Quốc…) và thế giới. Về bài học này, Người chỉ rõ: “…trong thời đại ngày nay, CM giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của của cách mạng vô sản, trong phạm vi toàn thế giới, CM giải phóng dân tộc phát triển thành CM XHCN thì mới giành thắng lợi hoàn toàn”. Lịch sử Việt Nam chứng minh nhận định trên của người là hoàn toàn đúng đắn.

CM Tháng Mười Nga thành công đã có ảnh hưởng rất to lớn đối với CM Việt nam, nói riêng và CM thế giới, nói chung. Một mặt cổ vũ tinh thần, mặt khác để l ại những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận xét rất sâu sắc, toàn diện về CM Tháng Mười Nga. Từ đó, Người lãnh đạo CM Việt Nam theo con đường mà CM Tháng Mười Nga đã mở ra bằng cách vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý và đưa CM Việt Nam theo xu thế thời đại mà CM Tháng Mườ i Nga đã mở ra. Và thực tế l ịch sử đã chứng minh tính đúng đắn trong nhận xét và vận dụng những bài học CM Mười Nga vào CM Việt Nam của Bác. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Thực tế : Trong hơn 7 thập kỉ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước XHCN vừa đạt dược thành tựu quang trọng: sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất với quy mô và công nghệ hiện đại, đảm bảo ngày càng tốt hơn về vật chất và tinh thần của nhân dân. Từ một nước Nga kiệt nghèo nàn và lạc hậu, sau một thời gian xây dựng vừa trở thành một cường quốc của thế giới, đạt được bước tiến lớn trong nghiên cứu khoa học, chinh phục vũ trụ, có tiềm lực quân sự, và quốc phòng hùng mạnh…tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển. Hàng trăm nước vừa giành được độc lập dân tộc lũy phần quyết định vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới và hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Bên cạnh thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 70 năm qua dưới sự lãnh đạo của đảng vừa khẳng định tính đúng dắng của sự lự a chọn đó.

3.Lực lượng của cách mạng bao gồm toàn dân trên cơ sở liên minh công nông

Tập hợp đại bộ phận nông dân và phải dựa vào dân cày nghèo,lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất ,lôi kéo tiểu tư sản,trí thức,trung nông…đi vào phe vô sản giai cấp:đối với phú nông,trung,tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lơ i dụng,ít lâu mới làm cho họ đứng trung lâp. Bộ phân nào đã ra mặt phản cách mạng thì phả i đánh đổ.

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua đã chứng minh rằng vấn đề nông dân,công nhân chẳng những là nội dung cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ, mà còn là lực lương co ý nghĩa quyết định đối với việc xác lập vai trò lảnh đạo của Đảng ta, phương pháp cách mạng trong việc giành và giử chính quyền. Người khẳng định:công nông”là gốc cách mệnh” khẳng định vai trò động lực cách mạng của thức của những nhà yêu nước trước đó.

Liên minh công nông và đôi ngũ trí thức là môt nguyên tắc chiến lược của chủ nghĩa Mác_Lenin ,một tất yếu phổ biến đối với các cuộc cách mạng do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. Liên minh này đặc biệt có tầm quan trọng đối với cách mạng nước ta nhất là ở chặng đường đầu của thờ i kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Hơn 45 năm tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,Đảng ta đã dày công xây dựng khối liên minh công nông và đội ngũ trí thức cách mạng.Đảng chú ý giáo dục tinh thần yêu nước của chủ nghĩa Mác-Lê Nin cho công nhân nông dân và trí thức để đoàn kết, tập hợp họ chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, chống đế quốc và tay sai.

3.3. Củ ng cố và phát triển lự c lượng cách mạng

Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,Đảng ta xây dựng khối lien minh công nông và đội ngũ trí thức cách mạng trên cơ sở nhận thức và giải quyết sớm những vấn đề cơ bản:Một là sớm nhận thức vị trí các giai cấp trong lien minh,coi trọng khả năng cách mạng của đội ngũ trí thức.Hai là giải quyết kịp thời quyền lợi thiết tha của công, nông và trí thức .Ba là xác định đúng các mối quan hệ trong quá trình cách mạng.

Thấm nhuần học thuyết Mác-LêNin,những người cộng sản Việt Nam sớm khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân trong cách mạng Việt Nam.Giai cấp công nhân Việt Nam tồn tại và trưởng thành trước giai cấp tư sản Việt Nam và bước lên vũ đài chính trị sau cách mạng tháng Mười Nga đã giành được thắng lợi và giai cấp tư sản ở nhiều nước đã vứt bỏ ngọn cờ dân tộc.Chính bối cảnh chính trị thế giới ấy đã làm cho giai cấp công nhân Việt Nam có them uy tín chính trị để giương cao ngọn cờ lãnh đạo dân tộc làm cách mạng giải phóng,giành độc lập dân chủ theo con đường mới.

Điều quan trọng hơn là giai cấp công nhân Việt Nam sớm chủ nghĩa Mác-LêNin,có lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng tiền phong đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của dân tộc và giai cấp.Sau khi ra đời Đảng đã lập ra tổ chức công hội,hội văn hóa cứu quốc và đoàn thể thanh niên,phụ nữ…để giáo dục,tổ chức công nhân,trí thức và các từng lớp lao động khác.Đánh giá về giai cấp công nhân Việt Nam,chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:“chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất,cách mạng nhất,luôn luôn gan góc đối đầu vớ i bon thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế,giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Hồ Chí Minh và những người công sản Việt Nam thấu hiểu điều mong muốn tha thiết của nông dân.Từ khi thành lập, Đảng cộng sản Việt Nam đã chủ trương lãnh đạo dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến.

Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ đúng đắn của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho phong trào nông dân từng bước xích lại gần với phong trào công nhân. Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cộng sản sớm coi trọng yếu tố dân tộc,đồng thời cũng là người đề cao sức mạnh dân tộc.Người cho rằng dân khí mạnh thì quân lính nào,súng ống nào cũng không chống lại nổi.Khi thành lập Đảng, Người vạch ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,trong đó nêu cao tư tưởng đoàn kết dân tộc,đoàn kết tất cả các giai cấp cách mạng bao gồm:công nhân,nông dân,tiểu tư sản trí thức,trí thức,tư sản dân tộc và cá nhân yêu nước thuộc tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ đứng dưới ngọn cờ của Đảng đấu tranh cho độc lập dân tộc,dân chủ“để đi tới chủ nghĩa cộng sản”.Khi được Quốc tế cộng sản phân công về phụ trách cách mạng Đông Dương và chủ trì hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng Người kêu gọi phát huy cao độ yếu tố dân tộc để đấu tranh giải phóng khỏi ách phát xít Nhật,Pháp. Chủ trương tập hợp lực lượng của Hồ Chí Minh phản ánh tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh. Quan điểm “lấy dân làm gốc” xuyên suốt quá trình chỉ đạo chiến tranh của Người. Người đặt niềm tin ở truyền thống yêu nước nồng nàn củ a nhân dân Việt Nam. Người khẳng định: “Địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm sao chiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta”. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Khi phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (tháng 12-1946), Người kêu gọi toàn dân đánh giặc và đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phả i ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Kêu gọi toàn dân kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh khẳng định: Chống Mỹ, cứ u nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. “Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân”. “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”. Ngày 9-4-1965, trả lời phóng viên báo Acahata (Nhậ t Bả n) Hồ Chí Minh khẳng định, trong thời đại chúng ta, một dân tộc đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh kiên quyết, hoàn toàn có thể đánh bại bọn đế quốc xâm lược hung hãn, gian ác và có nhiều vũ khí.

Xuất phát từ tương quan lực lượng lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, Hồ Chí Minh không chủ trương tiến hành kiểu chiến tranh thông thường, chỉ dựa vào lực lượng quân độ i và tiến hành một số trận quyết tử với kẻ thù, mà chủ trương phát động chiến tranh nhân dân. Kháng chiến toàn dân gắn với kháng chiến toàn diện. Lực lượng toàn dân là điều kiện để đấu tranh toàn diện với kẻ thù đế quốc, giải phóng dân tộc . Hồ Chí Minh nói: “Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Trong chiến tranh, “quân sự là việc chủ chốt”, nhưng đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị. Theo Người, thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi chính trị, thắng lợi chính trị sẽ làm cho thắng lợi quân sự to lớn hơn.

Đấu tranh ngoại giao cũng là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược, có tác dụng thêm bạn bớt thù, phân hóa và cô lập kẻ thù, phát huy yếu tố chính nghĩa của cuộc đấu tranh giả i phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ quốc tế

Mục đích cách mạng và chiến tranh chính nghĩa – vì độc lập tự do, làm cho khả năng tiến hành chiến tranh nhân dân trở thành hiện thực, làm cho toàn dân tự giác tham gia kháng chiến. Tư tưởng chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh là ngọn cờ cổ vũ, dẫn dắt cả dân tộc ta đứng lên kháng chiến và kháng chiến thắng lợi, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ trong 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam, làm nên thắng lợi vĩ đạ i có tính thời đại sâu sắc. . Hồ Chí Minh chủ trương: “vừa đánh vừa đàm”, “đánh là chủ yếu, đàm là hỗ trợ”.

Đấu tranh kinh tế là ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế của ta, phá hoại kinh tế của địch. Người kêu gọi “hậu phương thi đua với tiền phương”, coi “ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”, “tay cày tay súng, tay búa tay súng, ra sức phát triển sản xuất để phục vụ kháng chiến”.

4. CM giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước CM VS ở chính quốc.

Nghiên cứu luận cương của Lê Nin về CM thuộc địa và xuất phát từ áp bức của CNĐQ với thuộc địa, Hồ Chí Minh lập luận về nguyên nhân của CM thuộc địa : ” Người Đông Dương không được học, nhưng đau khổ, đói nghèo và sự bạo ngược của CNTD là người thầy dạy mầu nhiệm của họ; người Đông Dương sẽ tiến bộ một cách nhanh chóng khi thời cơ cho phép và họ biết tỏ ra xứng đáng với những người thầy dạy của họ .””Không, người Đông Dương không chết, người Đông Duơng sống mãi. Bên cạnh sự phục tùng tiêu cực, Người Đông Dương sống âm ỷ và sẽ bùng nổ mãnh liệt khi thời cơ đến.”

Hồ Chí Minh chỉ rõ tính chủ động của CM thuộc địa: “Thuộc địa là mắc xích yếu nhất trong hệ thống CNĐQ, trong khi đó nhân dân thuộc địa luôn có tinh thần yêu nước, căm thù xâm lược, họ sẽ vùng lên khi thời cơ đến”. Vì vậy, năm 1924 Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “CM thuộc địa không những không phụ thuộc vào CMVS chính quốc mà có thể nổ ra và giành thắng lợi trước CM chính quốc và khi hoàn thành CM thuộc địa họ có thể giúp đỡ giai cấp vô sản chính quốc phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

  1. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường bạo lực

5.1.Bạo lực cách mạng trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam

Các thế lực đế quốc sử dụng bạo lực để xâm lược và thống trị thuộc địa, đàn áp dã man các phong trào yêu nước . Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Chưa đè bẹp ý chí xâm lược của chúng thì chưa thể có thắng lợ i hoàn toàn. Vì thế con đường để giành và giữ độc lập dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng bạo lực . Đánh giá đúng bản chất cực kỳ phản động của bọn đế quốc và tay sai, Hồ Chí Minh cho rằng: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc,cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”

Quán triệt quan điểm sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh cho rằng bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng. Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, nhưng phải “tùy tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợ i cho cách mạng”.

Trong chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang giữ vị trí quyết định trong việc tiêu diệt lực lượng quân sự địch, làm thất bại những âm mưu quân sự và chính trị của chúng. Nhưng đấu tranh vũ trang không tách biệt với đấu tranh chính trị. Theo Hồ Chí Minh, các đoàn thể cách mạng càng phát triển, quần chúng đấu tranh chính trị càng mạnh thì càng có cơ s ở vững chắc để t ổ chức lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh vũ trang.

Xuất phát từ tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người, Hồ Chí Minh luôn tranh thủ khả năng giành và giữ chính quyền ít đổ máu. Người tìm mọi cách ngăn chặn xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, chủ động đàm phán, thương lượng, chấp nhận những nhượng bộ có nguyên tắc.

Việc tiến hành các hội nghị Việt – Pháp và ký các hiệp định trong năm 1946 là thể hiện tư tưởng nhân đạo và hòa bình của Hồ Chí Minh. Theo Người, tinh thần thiện chí của Việt Nam khi ký hiệp ước còn giá trị hơn mọi văn bản và lời nói, vì chúng ta bảo đảm những lợ i ích tinh thần, văn hóa và vật chất của Pháp, và ngược lại, Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng ta. Một chữ “Độc lập ” là đủ để đưa lại một sự tín nhiệm đang cần được khẳng định. “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp”. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Sau khi miền Bắc nước ta được giải phóng, Người kiên trì yêu cầu đối phương thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.

Việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng. Chỉ khi không còn khả năng thương lượng, hòa hoãn, khi kẻ thù ngoan cố bám giữ lập trường thực dân, chỉ muốn giành thắng lợi bằng quân sự, thì Hồ Chí Minh mới kiên quyết phát động chiến tranh.

5.2. Phương châm chiến lược đánh lâu dài trong cách mạng giải phóng dân tộc

Trước những kẻ thù lớn mạnh, Hồ Chí Minh chủ trương sử dụng phương châm chiến lược đánh lâu dài. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nói: “Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng”1, “Trường kỳ kháng chiến… nhất định thắng lợi”. Kháng chiến phải trường kỳ vì đất ta hẹp, dân ta ít, nước ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâu dài và phải có sự chuẩn bị toàn diện của toàn dân. Theo Người, họa thực dân cũng như một chứng bệnh trầm trọng. Muốn chữa bệnh ấy, ta phải thật gan dạ để chịu đau đớn khi mổ xẻ, phải có đủ thời giờ để bồi dưỡng lại sức, kết quả nhất định tẩy trừ được bệnh ấy. Công cuộc kháng chiến cũng như vậy. Người phân tích: “Với binh nhiều, tướng đủ, khí giới tố i tân, chúng định đánh mau thắng mau. Với quân đội mới tổ chức, với vũ khí thô sơ, ta quyết kế trường kỳ kháng chiến… thắng lợi với trường kỳ phải đi đôi với nhau”.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người khẳng định: Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố , xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Tự lực cánh sinh cũng là một phương châm chiến lược rất quan trọng, nhằm phát huy cao độ nguồn sức mạnh chủ quan, tránh tư tưởng bị động trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người chỉ rõ: muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã. Tháng Tám (1945) khi thời cơ tổng khởi nghĩa xuất hiện, Hồ Chí Minh kêu gọi Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giả i phóng cho ta. Tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất (tháng 6-1952), Người nói, muốn thắng lợ i phải trường kỳ gian khổ, muốn trường kỳ phải tự lực cánh sinh.

Mặc dù rất coi trọng sự giúp đỡ quốc tế nhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh bên trong, phát huy đến mức cao nhất mọi nỗ l ực của dân tộc, đề cao tinh thần độc lập tự chủ. Người nói: “Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự l ực cánh sinh. Trông vào sức mình… Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lạ i, không được ngồi mong chờ người khác”. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Độc lập tự chủ, tự lực tự cường kết hợp vớ i tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế là một quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Người đã động viên sức mạnh của toàn dân tộc, đồng thời ra sức vận động, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế to lớn và có hiệu quả, cả về vật chất và tinh thần, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để kháng chiến thắng lợi.

III/Đảng cộng sản Việt Nam ra đời-nhân tố quyết định của cách mạng giải phóng dân tộc.

Lịch sử nước ta từ khi đế quốc Pháp xâm lược đầu những năm 1920 đã chứng kiến hơn 300 cuộc đấu tranh hết sức anh hùng của dân tộc ta chống đế quốc Pháp xâm lược .Nhưng cuối cùng đều không giành được thắng lợi vì chưa có một đường lối cứu nước đúng đắn.

1.Đảng cộng sản Việt Nam ra đời

Trong vòng 7 tháng,từ ngày 17-06-1929 đến ngày 01-01-1930,ở nước ta đã xuất hiện 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương cộng sản Đảng,An Nam cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn.Các tổ chức cộng sản ra đời là hợp với xu thế phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc và thời đại. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Sau khi ra đời,3 tổ chức cộng sản đã có sự tranh giành ảnh hưởng,tranh giành quần chúng và công kích lẫn nhau.Đây là mâu thuẫn trong quá trình phát triển đi lên của phong trào cộng sản Việt Nam.Tình hình ấy phản ánh sự ấu trĩ và khuynh hướng biệt phái,tiểu tư sản.Trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở thuở ban đầu Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng đã nhiều lần trao đổi thư từ để giải quyết những bất đồng những vẫn không giải quyết được .Đông Dương cộng sản lien đoàn chưa có ban chấp hành Trung ương của lien đoàn. Những người cộng sản và những người yêu nước chân chính đều nhận thấy cần phải sớm khắc phục hiện tượng này:thành lập một Đảng cộng sản thống nhất thực sự mác xít,leninnit để lãnh đạo cách mạng tiến lên giành thắng lợi

Trước tình hình ấy,quốc tế cộng sản đã gửi thư cho những người cộng sản ở Đông Dương yêu cầu thống nhất lại thành một Đảng duy nhất.Bức thư nêu rõ:”cho tới nay quá trình thành lập một Đảng cộng sản là rất chậm so với sư phát triển của phong trào cách mạng Đông Dương.Việc thiếu một Đảng cộng sản duy nhất trong lúc phong trào quần chúng công nhân và nông dân ngày càng phát triển,đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt của cuộc cách mạng ở Đông Dương”.Trong thư còn nêu rõ:”nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất cua tât cả những người công sản Đông Dương là thành lập một Đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản,nghĩa là một Đảng cộng sản có tính quần chúng ơ Đông Dương.Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộ ng sản duy nhất ở Đông Dương.

Từ ngày 06-01 đến ngày 07-02-1930 hội nghị hợp nhất được tiến hành tại nhà một người công nhân lao động nghèo ở bán đảo Cửu Long gần Hương Cảng. Tham dự hộ i nghị có hai đại biểu của Đông Dương cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh và hai đại biểu của An Nam cộng sản Đảng là Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm.Đông Dương cộng sản lien đoàn vì thanh lập muộn hơn nên không kịp cử đại biểu đến dự . Hộ i nghị tiến hanh dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc,đại biểu của quốc tế cộng sản. Sau một quá trình làm việc khẩn trương các đại biểu đã hoàn toàn nhất trí tán thành ý kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về thong nhất các Đảng phái hiện có trong nước thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Hồ Chí Minh đã xây dưng được một đảng cách mạng tiên phong,phù hợp với thực tiễn Việt Nam,gắn bó với nhân dân,với dân tộc,một lòng phụng sự nhân dân,được nhân dân,được dân tộc thừa nhận là đọi tiên phong của mình.

Theo Hồ Chí Minh,Đảng cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân,của nhân dân lao đọng và của dân tộc Việt Nam.Kết hợp với lý luận Mác-Lê Nin về Đảng Công Sản với thực tiễn cách mạng Việt Nam,Hồ Chí Minh đã vân dụng và phát triển sang tạo chủ nghĩa Mác-LêNin trên một loạt vấn đề về cách mạng giải phóng dân tộc,xây dựng nên một lý luận cách mạng giải phóng dân tộc .Hồ Chí Minh cho rằng Đảng cộng sản Việt Nam là “Đảng của giai cấp vô sản” đồng thời là “Đảng của dân tộc Việt Nam”.Khi khẳng định Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh đã nêu một luân điểm quan trọng bổ sung thêm cho lý luận của chủ nghĩa Mác-LêNin về Đảng cộng sản định hướng cho việc xây dựng

Đảng cộng sản Việt Nam thành một Đảng có sự gắn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân,vớ i nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, đảng do Hồ Chí Minh sáng lập đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh của toàn bộ giai cấp công nhân và cả dân tộc Việt Nam. Đó là một đặc điểm và đồng thời là một ưu điểm của Đảng. Nhờ đó ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối vởi cách mạng và trở thành nhân tố hàng đầu bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

2.Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Vớ i tư tưởng độc lập tự chủ tự lực tự cường và với nhãn quan chính trị mẫn cảm, sắc bén, Hồ Chí Minh đã vận dụng đường lối của Quốc tế cộng sản một cách sang tạ o vào điều kiện nước ta.Những đường lối quan điểm chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Người đã được thể hiện trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Về đánh giá tình hình và tính chất cách mạng Việt Nam,cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã phân tích sâu sắc tính chất xã hội nước ta là một nước thuộc đia, nửa phong kiến.Trong xã hội đó nổi bật lên hai mâu thuẩn cơ bản ngày càng gay gắt.đó là mâu thuẩn giữ a dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân đông đảo,chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Muốn giải quyết mâu thuẩn đó,mở đường cho dân tộc ta đi đến tự do,hạnh phúc nhân dân ta phải tiến hành đấu tranh cách mạng đánh đổ hai đối tượng của cách mạng là: đánh đổ đế quốc thực dân pháp giành độc lập dân tộc và đánh đuổi giai cấp địa chủ,thực hiện khẩu hiệu”người cày có ruộng” giải quyết vấn đề yêu cầu ruộng đất cho nông dân.

Về mục tiêu và mục đích của cách mạng cương lĩnh thể hiện ở hai cấp độ cho mộ t cuộc cách mạng vô sản ở nước thuộc địa. Ở giai đoạn đầu,mục tiêu của nó là tiến hành cách mạng chính trị lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai của chúng,giành độc lập tự do dân chủ cho nhân dân,Mục đích cuối của cách mạng là”đi tới xã hôi công sản”

Theo Hồ Chí Minh,cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên xã hội chủ nghĩa liên quan mật thiết nội tại với nhau,ảnh hưởng và thúc đẩy lẫn nhau ,cuộc vận động trước thành công làm tiền đề cho cuộc vận động sau thắng lợi.đó là cuộc vận động giải phóng dân tôc về mặt chính trị và cuộc vận động giải phóng dân tộc về kinh tế.

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong cách mạng Việt Nam.Cương lĩnh đả trả lời đúng những vấn đề cấp bách mà phong trào cách mạng Việt Nam đặt ra.Nó là vũ khí sắc bén chống lại những tư tưởng và hành động trái với chủ nghỉa Mác_Lênin tính cách mạng triệt để chứa đựng trong cương lĩnh là sự phát triển tiếp tục luận điểm nổi tiếng của Hồ Chí Minh từ gần mười năm trước khi thành lập Đảng”chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc”.Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa công sản và cuộc cách mạng thế giới.

3.Sự vận dụng của Đảng ta

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH –chinh́ la sự vận dụng sáng toạ tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay. Đang̉ ta đa khăng̃ ̉đinh, đ̣ổi mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn, và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”(1). Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chính trị không thay đổi, dù trong bất cứ giai đoạn nào, hoàn cảnh nào của cách mạng Việt Nam. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Khắc sâu bài học về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đã thuộc về nhân dân ta, công cuộc đổi mới trong thời gian qua, càng khẳng định bản lĩnh chính trị đúng đắn, vững vàng của Đảng ta về kiên định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam, trong giai đoạn mới. Công cuộc đổi mới hiện nay

Bài học củ a Đại hội X về độc lập dân tộc và CNXH chinh́ là sự trung thành và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay. Theo Hồ Chí Minh, quá độ lên CNXH ở Việt Nam là thời kỳ xây dựng chế độ dân chủ mới, trong đó, về chính trị, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; về kinh tế, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần.

Như vậy, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ phát triển kinh tế nhiều thành phần. Quan điểm này đã được chúng ta thực thi từ khởi sự đổi mới (1986) và ngày một hoàn thiện nó. Đại hội X khẳng định trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Ở đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế.

Hồ Chí Minh rất coi trọng các thành phần kinh tế t ư nhân, tư bản và xác định vị trí kinh tế – xã hội to lớn của nó trong thời kỳ quá độ. Người cho rằng, nếu ta khéo lãnh đạo, khéo tổ chức thì giai cấp tư sản cũng có thể theo chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Về bản chất, đây là thờ i kỳ phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Muốn vậy, phải tập trung phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng triệt để sức sản xuất; quan hệ sản xuất phải phù hợp vớ i tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này, Đại hội X chỉ rõ Nhà nước phả i tập trung làm tốt các chức năng:

  • Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)
  • Tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hộ i cho phát triển.
  • Hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội.
  • Bả o đảm tính bền vững tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.

Về văn hóa xã hội, con người, một lần nữa, Đại hội X làm rõ và vận dụng đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắ c dân tộc với năm quan điểm chỉ đạo cơ bản mang tính chiến lược trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà trong thời kỳ quá độ. Đồng thời Đại hội X khẳng định: Đảng ta “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng”(4), với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH:

  • Kiên trì đường lối đổi mới, đổi mới toàn diện, có nguyên tắc và sáng tạo; trong quá trình đổi mới, phải luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định CN Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, không đa nguyên, đa đảng. Đây chính là bản lĩnh chính trị của Đảng trung thành với quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo CM thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
  • Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng, và tổ chức, thường xuyên tự đổi mớ i, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; đổi mới công tác xây dựng Đảng. Phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật; thường xuyên tự phê bình và phê bình; giữ gìn và tăng cường xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đấu tranh kiên quyết với những phần tử cơ hội thực dụng… Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh, tinh gọn; xác định thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Coi trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng. Đây là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền.
  • Đảng chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ. Đặc biệt, coi trọng xây dựng hạt nhân lãnh đạo, trọng dụng nhân tài mà Hồ Chí Minh hằng quan tâm. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)
  • Tăng cường gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Xây dựng các thiết chế mở rộng và phát huy dân chủ, bảo đảm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân dân, phản ánh ý chí, lợi ích chính đáng của nhân dân, của quốc gia, dân tộc . Cán bộ, đảng viên và công chức luôn thực sự là công bộc của nhân dân như Hồ Chí Minh đã dạy.
  • Để làm trong sạch Đảng và bộ máy công quyền, tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát – chức năng và phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng để phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời mọi sai phạm, khuyết điểm; kiểm tra, giám sát kết quả công tác, năng lực và phẩm chất của cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh.
  • Đổi mới phương thức lãnh đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà nước

*Kiên đinḥ con đường đi lên CNXH

Đối với Viêt Nam HCM khẳng định trước sau như một chỉ có CNXH mới có đủ cơ sở và điều kiện để thực hiện công cuộc giải phóng con người một cách triệt để và thiết thực .Tức là thực hiện đầy đủ các quyền của con người, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc tất cả con người. Cũng chính vì vậy mà con đường đi lên CNXH và độc lập phải gắn liền với CNXH trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng HCM và là mục tiêu chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam của Đảng cọng sản Viêt Nam suốt hai phần ba thế kỷ và mãi mãi về sau.

Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hộ i. Thực tiễn đã khẳng định rằng CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phả i thay bằng hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đù là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa.Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người nên chủ nghĩa xã hội khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà loài người vươn tớ i luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đâị diện cho lợi ích của người lao động, là hình thái kinh tế xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản. Đi lên CNXH là sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người .Đi theo dòng chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử.

Chỉ có đi lên CNXH mới giữ vững được độc lập, tự do cho dân tộc, mới thực hiện được mục tiêu làm cho mọi người dân được ấm no,tự do, hạnh phúc. Sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc lại phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó thể hiện qua sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tât yếu của lịch sử

IV/ Vai trò và sức mạnh của yếu tố dân tộc trong tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh

1.Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc

Quan điểm về vấn đề này trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện:

  • Phải đảm bảo cho các dân tộc, quyền dân tộc cơ bản, đó là: Quyền được sống trong hoà bình, độc lập, tự do, bình đẳng, hạnh phúc
  • Độc lập dân tộc gắn vớ i sự thống nhất quốc gia, sự vẹn toàn lãnh thổ đất nước.
  • Độc lập dân tộc gắn với quyền tự quyết dân tộc, tức là quyền được lựa chọn con đường phát triển không phụ thuộc vào bên ngoài (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)
  • Độc lập dân tộc phải gắn với ấm no, hạnh phúc cho nhân dân
  • Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, nếu kẻ nào xâm phạm thì phải kiên quyết chiến đấu để giành lại

2.Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập

Tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh là: “ở các nước thuộc địa, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”, thể hiện:

  • Để đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợ i ở các nước thuộc địa, nhất là ở Việt Nam thì phải khơi dậy và phát huy được động lực này. Nếu không làm được điều đó cách mạng sẽ không thể thành công.
  • Quốc tế Cộng sản phải “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản”. Bởi vì nếu chủ nghĩa dân tộc thắng lợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế.
  1. Yếu tố dân tộc trong cách mạng Việt Nam

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-LêNin đã chỉ rõ mối quan hệ không thể tách rời giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, cũng như giữa dân tộc và dân chủ.Song căn cứ tình hình ở các nước tư bản phương Tây giữa thế kỉ XIX đầu thế kỉ mà Mác,Ăngghenc cũng như LêNin đều coi trọng yếu tố giai cấp hơn,đều lấy sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản làm nhiệm vụ trung tâm và điều kiện cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thuộc địa, Mác,Ăngghen viết: “hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”.

Vận dụng học thuyết cách mạng vô sản của Mác vào hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc và từ thực tiễn phong trào cách mạng thuộc địa những năm đầu thế kỉ XX, LêNin đã chú ý nhiều hơn đến vấn đề dân tộc.Tại đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản(1920),LêNin đề xuất thay danh từ “dân chủ tư sản” bằng “dân tộc cách mạng”.Theo ông,ý nghĩa của việc thay thế ở chổ những người cộng sản phải ủng hộ và chỉ ủng hộ những phong trào giải phóng có tính chất tư sản trong các nước thuộc địa.Nhưng với 2 điều kiện: một là, phong trào đó thực sự cách mạng;hai là,những lãnh tụ của phong trào đó không ngăn cản những người cộng sản tuyên truyền, giáo dục và tổ chức quần chúng theo tinh thần cách mạng. LêNin chỉ rõ: “nếu không có được những điều kiện như thế thì những người cộng sản ở trong nước đó phải đấu tranh chống giai cấp tư sản cải lương,trong đó có cả những anh hùng của quốc tế . Căn cứ vào 2 điều kiện đó mà LêNin đã ủng hộ và giúp đỡ Tôn Dật Tiên và cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc. Đại hội lần thứ VI Quốc tế cộng sản (1928) đã tổng kết phong trào cách mạng thuộc địa và khẳng định yếu tố dân tộc có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình cách mạng của tất cả các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.

Để phát huy yếu tố dân tộc khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam,Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp cách mạng,các lực lượng và các cá nhân yêu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh chống đế quốc và tay sai,giải phóng dân tộc để tới xã hội cộng sản. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

4.Yếu tố dân tộc là một động lực lớn của cách mạng Việt Nam

Trong khi nhiều người cộng sản thì phê phán chủ nghĩa dân tộc,đánh giá chủ nghĩa dân tộ c là sản phẩm và thành quả của giai cấp tư sản thì từ 1924,Hồ Chí Minh đã viết: “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.Bằng câu nói đó,Người đã phân biệt chủ nghĩa dân tộc của các dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa dân tộc tư bản.Theo Hồ Chí Minh,các dân tộc thuộc địa bị chủ nghĩa tư bản đế quốc tước mất quyền độc lập tự do, tước mất quyền làm người.Vì thế họ phải đấu tranh giành lại cái mà họ bị tước đoạt.Khái niệm “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”mà Người dùng để đối lập với chủ nghĩa dân tộc mà chủ nghĩa tư bản thường rêu rao.Người viết: “Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908,nó dạy cho người culi biết phản đối,nó làm cho người nhà quê phản đối ngầm trước thuê tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc;nó đã thúc dục thanh niên bãi khóa,làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917”.

Theo Hồ Chí Minh chủ nghĩa dân tộc đồng nghĩa với chủ nghĩa yêu nước,chủ nghĩa dân tộc chân chính,cần được khơi dậy và phát huy theo tinh thần vô sản.Người dự báo “nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế.”

V/ Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

1.Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Hộ i nghị TW 6(khóa 7) đã xác định rõ nguồn lực và phát huy nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó nguồn lực con người cả về thể chất và tinh thần là quan trọ ng nhất. Cần khơi dậy truyền thống yêu nước của con người VN biến thành động lực để chiến thắng kẻ thù, hôm nay xây dựng và phát triển kinh tế.

2.Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấ p

Khẳng định rõ vai trờ , sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản , của Đảng cộng sản, kết hợp vấn đề dân tộc và giai cấp đưa CMVN từ giải phóng dân tộc lên CNXH. Đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công-nông và tầng lớp trí thức do Đả ng lãnh đạo. Trong đấu tranh giành chính quyền phải sử dụng bạo lực của quần chúng cách mạng chống bạo lực phản cách mạng. Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

3.Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân t ộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của đảng nêu: vấn đề dan tộc và đại đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Lịch sử ghi nhận công lao của các dân tộc miền núi đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lươc . Hồ Chí Minh nói: đồng bào miền núi đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt.

Trong công tác đền ơn, đáp nghĩa Hồ Chí Minh chỉ thị, các cấp bộ Đảng phải thi hành đúng chính sách dân tộc , thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc sao cho đạt mục tiêu: nhân dân no ấm hơn, mạnh khỏe hơn. Văn hóa sẽ cao hơn. Giao thông thuận tiện hơn. Bản làng vui tươi hơn. Quốc phòng vững vàng hơn.

CHƯƠNG 3:KẾT LUẬN (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc mang nhiều luận điểm sáng tạo,làm phong phú đường lối đấu tranh cách mạng của Đảng góp phần vô cùng to lớn vào giá trị thực tiễn và lý luận

Hồ Chí Minh đã định đoạt con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng chính trị vô sản.Người đã vận dụng kết hợp khai hóa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp và gắn độc lập dân tộc với định hướng chủ nghĩa xã hội.Vì vậy lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điếm sáng tạ o và lý luận đó luôn đúng đắn.Cũng chính lý luận ấy đã làm phong phú them chủ nghĩa Mác-LêNin về cách mạng thuộc địa.

Hồ Chí Minh đã từng bước tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc một cách hết sức độc đáo,sáng tạo thấm nhuần tính nhân văn.Đó là phương pháp khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân.Người đã vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết LêNin về cách mạng thuộc đị a thành hệ thống luận điểm mới mẽ sáng tạo.Chính Hồ Chí Minh đã làm chuyển hóa tính cách mạng từ việc tập hợp các thanh niên yêu nước dẫn dắt họ đi theo đất nước .Chúng ta phải biết khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước trên lập trường giai cấp công nhân,cùng nhau xây dựng mối đoàn kết toàn dân,giữa các dân tộc an hem.Góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh dân chủ công bằng xã hội văn minh,sánh vai được với các cường quốc trên thế giới. (Tiểu Luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc)

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537