Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

5/5 - (1 bình chọn)

Chia sẻ đề tài Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính, đến các bạn sinh viên tham khảo. Và còn rất nhiều đề tài tiểu luận khác được Dịch vụ viết luận văn cập nhập hàng ngày đến các bạn sinh viên ngành luật, nếu như các bạn muốn tham khảo nhiều bài viết hơn nữa thì tham khảo tại trang website của Dịch vụ viết luận văn nhé.

Ngoài ra, các bạn có gặp khó khăn trong việc làm bài tiểu luận môn học, hay tiểu luận tốt nghiệp thì liên hệ với Dịch vụ viết luận văn để được hỗ trợ làm bài. Hoặc các bạn có thể tham khảo dịch vụ viết thuê tiểu luận tại đây nhé.

===> Dịch Vụ Viết Thuê Tiểu Luận – Bảng giá

Lời mở đầu Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã và đang tiến hành ở nước ta từ năm 1992 đến nay. Việc ban hành các quy định pháp luật về cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước là một việc làm hết sức quan trọng. Việc hoàn thiện cơ chế chính sách cổ phần hóa, khung pháp lý phù hợp sẽ khuyến khích, thúc đẩy cổ phần hóa, đa dạng các hình thức sở hữu, đổi mới quy trình cổ phần hóa, có cơ chế chính sách phù hợp để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam.

Ngoài ra việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách, khung pháp lý còn để các doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh công khai, minh bạch, xóa bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Để hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhóm chúng tôi xin chọn đề tài: “ Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính Và Xác Định Giá Trị Doanh Nghiệp Khi Cổ Phần Hóa

Mặc dù nhóm chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu, song do thời gian có hạn, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn góp ý bổ sung để nhóm có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình.

Chương 1: Cơ sở lý luận và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam

1.1 Cơ sở lý luận Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

1.1.1  Định nghĩa công ty cổ phần, cổ phần hóa

1.1.1.1 Công ty cổ phần

Theo điều 110 Luật Doanh nghiệp 2015 (của Việt Nam), công ty cổ phần được định nghĩa như sau:

  • Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
  • Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
  • Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;
  • Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính
  • Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.
  • Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
  • Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.

1.1.1.2 Cổ phần hóa

Cổ phần hóa là cách gọi tắt của việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần ở Việt Nam. Chương trình cổ phần hóa bắt đầu được Việt Nam thử nghiệm trong các năm 1990-1991 và chính thức được thực hiện từ năm 1992, được đẩy mạnh từ năm 1996.

1.2 Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay

1.2.1  Tính tất yếu của việc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Một thực tế cho thấy rằng kinh nghiệm trên thế giới các nước có thành phần kinh tế công càng lớn thì tốc độ tăng trưởng cao cần có sự cơ cấu lại thành phần kinh tế này ta muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao cần có sự cơ cấu lại thành phần kinh tế này. Cổ phần hóa sẽ giúp sàng lọc doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp đã có những người chủ thực sự. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Việc cổ phần hóa cũng giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước một con số đáng kể. Mặt khác, thông qua cổ phần hóa Nhà nước thu lại được phần giá trị tài sản Nhà nước trước đây đã giao cho các doanh nghiệp quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả. Tất cả các khoản tiền này sẽ được dùng để tài trợ cho các dự án mang tầm quốc gia phục vụ lợi ích cho toàn dân tộc như: giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tác động gián tiếp của việc cổ phần hóa cũng có mặt hạn chế của nó chẳng hạn; cổ phần hóa là tiềm ẩn của sự gia tăng thất nghiệp tăng áp lực về số lượng lao động dư thừa trong xây dựng. Vậy việc cổ phần hóa cần có chính sách cụ thể rõ ràng cho người lao động trong tình trạng thất nghiệp.

Bên cạnh những lý do đã nêu, thì hiện nay thị trường chứng khoán hay thị trường tài chính phát triển ngày càng lớn và nhu cầu có nguồn hàng cung cấp cho thị trường thứ cấp đang khan hiếm chính vì thế, cổ phần hóa là cách giúp cho thị trường giải quyết lượng hàng khan hiếm này, tránh gây ra hiện tượng cổ phiếu thiếu gây ra tình trạng làm giảm giá trên thị trường gây rối loạn thị trường đang trỗi dậy trong khoảng mấy năm trở lại đây. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Một cái nhìn khách quan hơn cho thấy công cuộc cổ phần hóa là một giải pháp tích cực để hạn chế tình trạng tham nhũng, nâng cao dân chủ và công bằng xã hội. Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa hoạt động theo Luật doanh nghiệp khi đó có mọi hoạt động theo cơ chế thị trường chi phối bởi quy luật cung cầu và pháp luật, và chủ doanh nghiệp là toàn thể cổ đông không còn hiện tượng tham nhũng, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được công khai đối với cổ đông.

Công ty cổ phần có:

  • – Khả năng huy động vốn lớn nhờ phát hành cổ phiếu và trái phiếu.
  • – Được tổ chức quản lý chặt chẽ
  • – Gắn người lao động với kết quả cuối cùng
  • – Để mở rộng tầm hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách gọi thêm vốn dưới dạng cổ phiếu và trái phiếu.

1.2.2 Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay

1.2.2.1 Bối cảnh Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Đổi mới tư duy quản lý kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986. Một trong những tư duy quản lý đã thay đổi đó là cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, yêu cầu phải chuyển sang hình thức kinh doanh hạch toán kinh tế, lời ăn lỗ chịu.

Để có thể tiến hành cải cách kinh tế bắt đầu từ nửa sau của thập kỷ 1990, Việt Nam đã đề nghị sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của các thể chế tài chính toàn cầu như Nhóm Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á và các nhà tài trợ mà hầu hết là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Một trong những cái giá Việt Nam phải trả là phải tiến hành một số cải cách theo đề nghị của những tổ chức và nhà tài trợ – những cải cách mà vào thời điểm đầu thập niên 1990 Việt Nam còn chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết và do đó rất miễn cưỡng thực hiện. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Trong số những cải cách miễn cưỡng này có tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Để tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ và nhân dân lo ngại về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Chính phủ Việt Nam đã quyết định sẽ không bán đứt các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thay vì đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần. Tài sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu. Tùy từng doanh nghiệp, phần cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100%.

1.2.2.2 Các giai đoạn cổ phần hóa doanh nghiêp nhà nước

  1. Giai đoạn thí điểm rụt rè

Cổ phần hóa ở Việt Nam được thực hiện theo đường lối thử và sửa (try and fix). Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử chuyển đổi thành công ty cổ phần. Kết quả là có 2 doanh nghiệp trong năm 1990-1991 được cổ phần hóa. Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra Quyết định số 202 ngày 8 tháng 6 năm 1992 yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Kết quả là đến tháng 4 năm 1996, có 3 doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và 2 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổ phần hóa. Trừ Công ty dịch vụ vận tải mà Nhà nước chỉ còn giữ 18% tổng số cổ phần, 4 công ty khác Nhà nước đều giữ khoảng 30% tổng số cổ phần. Các nhà đầu tư bên ngoài chỉ mua được cao nhất là gần 35% tổng số cổ phần trong trường hợp Công ty cổ phần Giày Hiệp An, còn lại đều ở khoảng 20%.

  1. Giai đoạn thí điểm mở rộng

Từ kinh nghiệm của 7 trường hợp cổ phần hóa nói trên, năm 1996 Chính phủ quyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn. Nghị định 28/CP được Chính phủ ban hành ngày 7 tháng 5 năm 1996 yêu cầu các bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập danh sách doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phần hóa cho đến năm 1997. Tinh thần của Nghị định 28/CP là chọn những doanh nghiệp mà Nhà nước thấy không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn nữa làm đối tượng. Nghị định số 25/CP ngày 26 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có thêm quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp được chọn làm thử. Theo đó, đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống thì lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa trên cơ sở Nghị định số 28/CP. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Kết quả của giai đoạn thí điểm cổ phần hóa mở rộng này là có 25 doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển thành công ty cổ phần.

  1. Giai đoạn đẩy mạnh

Sau hai giai đoạn cổ phần hóa thí điểm trên, Chính phủ Việt Nam quyết định chính thức thực hiện chương trình cổ phần hóa. Ngày 29 tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Nghị định này quy định rằng đối với cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp được chuyển đổi nhưng Nhà nước vẫn muốn nắm quyền chi phối, cá nhân không được phép mua quá 5% và pháp nhân không được phép mua quá 10%. Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp nhân được phép mua tới 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Riêng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu, cá nhân và pháp nhân được phép mua không hạn chế. Tiền thu được từ bán cổ phần sẽ được sử dụng để đào tạo lại lao động, sắp xếp việc làm cho lao động dư thừa, bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước khác.

Sau khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP được áp dụng cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2001, có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

  1. Giai đoạn tiến hành ồ ạt Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp về doanh nghiệp nhà nước và ra nghị quyết của Trung ương Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Để triển khai Nghị quyết trung ương này, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2002 về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, và Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới của cổ phần hóa – giai đoạn tiến hành ồ ạt. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:

  1. Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.
  2. Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
  3. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
  4. Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.

Đối với cổ phần phát hành lần đầu, các nhà đầu tư trong nước được phép mua không hạn chế. Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép mua quá 30%. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Tháng 1 năm 2004, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp phiên thứ IX, tại đó có thảo luận và quyết định đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, theo đó cả các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và ngay cả chính tổng công ty nhà nước nào mà Nhà nước không muốn chi phối đều có thể trở thành đối tượng cổ phần hóa.

Điểm mới quan trọng nữa trong Nghị định này là quy định việc bán cổ phần lần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấu giá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán nếu là công ty có số vốn trên 10 tỷ đồng, tại các trung tâm tài chính nếu là công ty có số vốn trên 1 tỷ đồng, và tại công ty nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng. Bán đấu giá khiến cho giá cổ phiếu phát hành lần đầu của nhiều công ty nhà nước được đẩy vọt lên, đem lại những nguồn thu rất lớn cho Nhà nước. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Chẳng hạn, đợt đấu giá cổ phần của 5 công ty nhà nước được cổ phần hóa là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm, Nhà máy thiết bị bưu điện, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh, Công ty điện lực Khánh Hòa, Công ty sữa Việt Nam, Nhà nước đã thu vượt dự kiến 450 tỷ đồng. Mặt khác, bán đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa còn trở thành một động lực cho sự phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết ở Việt Nam.

Trong số 30 công ty niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 31 tháng 10 năm 2005, có 29 công ty là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa.

Quá trình cổ phần hóa kiểu này đến 2008, đã thực hiện ở khoảng trên 3.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ được cổ phần hóa. Còn khoảng 2.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn như BIDV, Vietinbank, VMS-MobiFone, Vinaphone,… dự trù sẽ cổ phần hóa đến năm 2010. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Chính phủ Việt Nam cũng khẳng định quyết tâm cổ phần hóa các trường đại học.

Các cơ sở giáo dục ở Việt Nam muốn tránh nguy cơ bị biến dạng do đưa các hoạt động giáo dục thành các dịch vụ đơn thuần, mang nặng tính thương mại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sứ mệnh và mục tiêu của trường nên sẽ có quá trình tách bạch và phân định rõ các bộ phận thương mại hay phi thương mại hóa.

Chương 3: Liên hệ thực tiễn việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và ý kiến chuyên gia Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

3.1 Ví dụ điển hình – Vinacomin Power

Công ty Vinacomin Power (lúc này là doanh nghiệp nhà nước) thực hiện định giá doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần. Hiện tại, Tổng công ty đang sở hữu 12,8 triệu cổ phiếu NT2  của CTCP Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 và được đánh giá là món hời cho NĐT khi tham gia đấu giá cổ phần. Vì giá cổ phiếu NT2 tại thời điểm xác định giá trị Vinacomin để thực hiện cổ phần hóa ngày 1/4/2014 là 23.600 đồng/CP gấp 3 lần giá 1 năm về trước. Và các nhà đầu tư giả định giá cổ phiếu NT2 còn có thể tăng nữa. Thế nhưng, giả định này có thể trở thành “cái bẫy” với nhà đầu tư.

Theo điều 10, thông tư 127/2014/TT-BTC, xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, phần chênh lệch tăng giá trị đầu tư tài chính phát sinh xác định tại thời lập báo cáo tài chính chuyển đổi thành CTCP so với thời điểm định giá sẽ được hạch toán tăng vào phần vốn góp của cổ đông Nhà nước. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Theo đó, giả sử tại thời điểm chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động sang CTCP, giá NT2 tăng lên mức 30.000 đồng/CP, thì các cổ đông tham giá đấu giá Vinacomin Power sẽ coi như bị mua NT2 với mức giá 30.000 đồng/CP, quy mô vốn điều lệ của Tổng công ty sẽ tăng thêm tương ứng khoảng 280 tỷ đồng.Nếu NT2 tiếp tục tăng giá, đó sẽ là nỗi ám ảnh của các NĐT tham gia vào Vinacomin Power, bởi đơn giản, mức giá này được xác định trên diễn biến tăng lợi nhuận đột biến của NT2. Với hiện trạng kinh doanh của NT2, đây có thể không phải là mức giá phù hợp cho nắm giữ lâu dài.

3.2 Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Theo các chuyên gia kinh tế, việc 432 DN tiến hành tái cơ cấu, CPH trong 2 năm sẽ cần một nguồn vốn rất lớn để hấp thụ số lượng cổ phiếu khổng lồ. Trong khi đó, trong 2 năm tới, chuyển biến kinh tế Việt Nam và thế giới chưa có nhiều thuận lợi. Hiện quá trình hồi phục kinh tế thế giới chưa hoàn toàn khiến dòng vốn đầu tư từ các nước đang co cụm, phòng thủ thay vì mạnh mẽ đầu tư. Khó có dòng vốn lớn cả trong và ngoài nước nên xu hướng thoái vốn của khối DN nhà nước sẽ gặp không ít khó khăn…

Mới đây, trong số 25 DN chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) theo hình thức đấu giá, có đến 15 DN không bán hết cổ phần. Một số trường hợp như Công ty TNHH MTV Vận tải và Xếp dỡ đường thủy nội địa (Trancinwa) còn dư 99%, công ty dành hơn 2,5 triệu cổ phần đưa ra đấu giá nhưng chỉ bán được 24.200 đơn vị. Hay Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội (Hancorp) cũng bị dư khối lượng lớn cổ phần khi chỉ bán được hơn 3%, dù công ty dự kiến đấu giá hơn 49,7 triệu cổ phần khi IPO… Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Tại Nghị quyết 15/NQ-CP của Chính phủ về đẩy mạnh CPH DN nhà nước có yêu cầu Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) xem xét, mua lại các khoản đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của các DN nếu thoái vốn không thành công và các lĩnh vực khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Giá mua được xác định theo giá thị trường nhưng không cao hơn giá trị trên sổ sách trừ đi các khoản dự phòng giảm giá đầu tư đã trích lập đầy đủ.

3.3 Ý kiến chuyên gia Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

TS Lê Đạt Chí, Trưởng Bộ môn Đầu tư Tài chính Trường ĐH Kinh tế TP HCM, cho rằng đối với những DN muốn chuyển từ công ty TNHH một thành viên sang công ty cổ phần, CPH không thành công có thể triển khai bán phần vốn cho SCIC hoặc các quỹ đầu tư phát triển địa phương. Chẳng hạn, tại TP HCM có Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước (HFIC), khi một DN bán cổ phần nhà nước để thoái vốn nhưng chỉ được vài phần trăm, số cổ phần còn lại sẽ bán cho HFIC để đơn vị này chọn thời điểm thích hợp bán dần, phát hành trái phiếu để huy động vốn, khi đó việc thoái vốn sẽ nhẹ nhàng hơn.

Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế TP HCM, quá  trình tái cơ cấu DN không chỉ có hình thức duy nhất là CPH mà có thể sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản bởi chúng ta quan tâm nhiều về chất lượng hơn là số lượng các DN. “Quá trình này nếu làm tốt sẽ góp phần làm giảm nợ xấu hệ thống NH vì nợ xấu gắn với quá trình vay nợ rất lớn của DN. Khi tái cơ cấu sẽ giúp xử lý nợ xấu và giải bài toán kép cho nền kinh tế” – ông Ngân nói. Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

TS Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam, đề xuất không nên tiến hành CPH toàn bộ 432 DN cùng lúc mà nên chọn ra những chỗ nào, lĩnh vực nào làm tốt thì triển khai trước để có sức lan tỏa. Chẳng hạn, những DN có vị trí quan trọng, ngành nghề trọng điểm cần sắp xếp lại, tập trung làm có thể đợt đầu chậm nhưng các đợt tiếp theo có kinh nghiệm sẽ làm nhanh hơn.

Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, quá trình CPH cần được giám sát và các đại biểu Quốc hội cũng có trách nhiệm theo dõi để tránh thất thoát tài sản nhà nước. Lâu nay, khi đề cập đến tái cơ cấu DN, trong đó có việc thoái vốn nhà nước, dư luận thường không chấp nhận bán dưới mệnh giá sợ dẫn đến lỗ lã trong DN. Giờ cần chấp nhận quan điểm trong kinh doanh có lời, lỗ, quan trọng là khoản lỗ phát sinh từ đâu?Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Nếu lỗ do tiêu cực thì cần xử lý còn nếu nguyên nhân do suy thoái kinh tế, thị trường tài chính, bất động sản khó khăn… nên chấp nhận thoái vốn theo cơ chế thị trường. Người mua chấp nhận giá bao nhiêu thay vì cứ bán giá cao. “Quá trình định giá cũng cần phù hợp để nhà đầu tư thấy triển vọng DN, thấy lợi ích khi mua cổ phần” – ông Ngân nói.

Thực tế, rất nhiều DN sau IPO đã không niêm yết, cổ đông không thể giám sát được khi đưa ra nhiều lý do chần chừ. Nhiều công ty cấp nước, thoát nước, công ty dược sau CPH đã không lên sàn, vốn nhà nước không biết hiệu quả ra sao… Nhà nước phải có biện pháp bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, thực thi chính sách hiệu quả không để cho DN hô hào CPH xong là đâu lại vào đó.

Kết Luận Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

Có thể, hiện nay quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, đòi hỏi cần có các quy định pháp luật cụ thể, chính xác và đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh ngay lập tức.

Cho nên, việc ban hành các quy định của pháp luật về xử lý tài chính và định giá giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã tạo ra một kênh pháp lý phù hợp để tiến  hành cồ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Trong quá trình áp dụng vào thực tế đã có một số vướng mắc và hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới.

Tài Liệu Tham Khảo Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính

  • Chính phủ nước CHXHCN VN, (2011), Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
  • Chính phủ nước CHXHCN VN, (2007), Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
  • Chính phủ nước CHXHCN VN, (2014), Nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 06/03/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái hóa vốn Nhà nước tại doanh nghiệp;
  • Bộ Tài Chính, (2014), Thông tư số 127/2014/TT-BTC của Bộ Tài Chính về việc Hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
  • Bộ Tài Chính, (2011), Thông tư số 202/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính về việc Hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ;
  •  Một số website: Tiểu Luận Luật Kinh Tế: Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Chính
  • http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thong-bao-van-ban-moi/email/8231/huong-dan-thuc-hien-co-phan-hoa-dn-100-von-nha-nuoc
  • https://www.bsc.com.vn/News/2015/4/4/442758.aspx
  • http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/co-phan-hoa-con-duong-gap-ghenh-neu-ho-hao-se-that-bai-20140524212623472.htm

TẢI FILE MIỄN PHÍ TẠI ĐÂY ( Copy FILE ĐỂ TẢI)

https://docs.google.com/document/d/1pwsEcbq7u6ztBeU_dFbIjZf7-DWDn_6J/edit?usp=sharing&ouid=108886880319045830957&rtpof=true&sd=true

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537