Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt 1998

Chia sẻ đề tài Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt 1998, đến các bạn sinh viên tham khảo. Và còn rất nhiều đề tài tiểu luận khác được Dịch vụ viết luận văn cập nhập hàng ngày đến các bạn sinh viên đang làm tiểu luận triết học về đề tài Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt 1998, nếu như các bạn muốn tham khảo nhiều bài viết hơn nữa thì tham khảo tại trang website của Dịch vụ viết luận văn nhé.

Ngoài ra, các bạn có gặp khó khăn trong việc làm bài tiểu luận môn học, hay tiểu luận tốt nghiệp thì liên hệ với Dịch vụ viết luận văn để được hỗ trợ làm bài. Hoặc các bạn có thể tham khảo dịch vụ viết thuê tiểu luận tại đây nhé.

===> Viết Thuê Tiểu Luận Môn

Sự cần thiết sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam 2015 :

Một là, nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 3 của Luật có phần cứng nhắc, gò bó, thiếu những quy định đồng bộ, nên khó thực hiện trên thực tế, đồng thời cũng chưa thực sự phản ánh đúng nguyện vọng của một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng vẫn mong muốn giữ quốc tịch Việt Nam.Một trong những ý nghĩa to lớn của nguyên tắc một quốc tịch là nhằm hạn chế sự xung đột về quốc tịch, nhưng ý nghĩa này cũng không đạt được. Trên thực tế một bộ phận khá lớn người Việt Nam định cư ở nước ngoài vừa có quốc tịch nước ngoài vừa có quốc tịch Việt Nam, gây ra tình trạng tranh chấp giữa ta và nước ngoài trong việc bảo hộ công dân.

Hai là, Luật năm 2015 chưa có cơ chế hữu hiệu, khả thi để giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người không quốc tịch, những người không rõ quốc tịch đã cư trú ổn định lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam.Do đó, chưa thực hiện được một số chính sách quan trọng của Luật là ở nước ta mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch và hạn chế tình trạng không quốc tịch.

Ba là, cơ chế quản lý nhà nước về quốc tịch có nhiều bất cập, hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao; việc giải quyết các vấn đề quốc tịch Việt Nam nhìn chung rất chậm, một số thủ tục còn rườm rà, không phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, gây phiền hà cho đương sự. (Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt)

Bốn là, so với bối cảnh ban hành Luật năm 2015, thì hiện nay đất nước ta đã có nhiều thay đổi quan trọng torng phát triển kinh tế – xã hội; uy tín và vị thế quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐIỂM TIẾN BỘ CỦA DỰ THẢO SỬA ĐỔI LUẬT QUỐC TỊCH 2015 (Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt)

Cuối tháng 3/2008 , Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ Dự thảo Luật Quốc Tịch (sửa đổi) (“Dự thảo”).Theo Dự thảo, Luật Quốc tịch gồm 06 Chương 42 Điều và có nhiều nội dung mới so với Luật Quốc Tịch 2015. Chúng tôi xin giới thiệu 03 nội dung mới và đáng chú ý nhất của Dự thảo.

2.1 Nguyên tắc một quốc tịch :

Nội dung đáng chú ý nhất của Dự thảo là bãi bỏ nguyên tắc một quốc tịch, mở rộng diện những người có hai quốc tịch.Theo đó, Điều 3 Luật Quốc tịch 2015 về nguyên tắc một quốc tịch được bãi bỏ. Thay vào đó, Điều 12 của Dự thảo quy định: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa được thôi, chưa bị tước quốc tịch Việt Nam hoặc chưa bị mất quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên thì vẫn là người có quốc tịch Việt Nam.Quy định này phù hợp với xu hướng hội nhập hiện nay khi mà việc công nhận nhiều quốc tịch cho công dân được xác định trên cơ sở lợi ích cũng như nguyện vọng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.Qua đó giải quyết được những tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ công dân giữa Việt Nam và các nước, đồng thời cũng làm cho các Cơ quan nhà nước Việt Nam thuận tiện khi giải quyết các vấn đề giao dịch dân sự, kinh tế của những công dân mang hai quốc tịch.Trên thực tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đều có hai quốc tịch, một của nước sở tại, một của Việt Nam vì họ chưa thôi quốc tịch Việt Nam, và ở những nước họ đang định cư người ta không yêu cầu thôi quốc tịch Việt Nam.Bà con Việt kiều vì nhiều lý do khác nhau buộc phải nhập quốc tịch nước sở tại để thuận tiện cho cuộc sống nhưng họ vẫn muốn giữ quốc tịch Việt Nam. (Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt)

Tuy nhiên có một số nước cho phép công dân của họ có hai hoặc nhiều quốc tịch nhưng chỉ công nhận quốc tịch của nước mình khi giải quyết vấn đề phát sinh hoặc các tranh chấp về quốc tịch.Nếu Luật Quốc tịch của nước ta quy định theo cách như một số nước khác thì có thể sẽ không có lợi cho việc thực hiện chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài như Nghị quyết số 36 QĐ/TW của Bộ Chính trị đã xác nhận.Vì vậy, Điều 41 của Dự thảo Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi) vẫn giữ nguyên quy định của Luật năm 2015, theo đó Chính phủ có nhiệm vụ “căn cứ vào những quy định của Luật này, Chính phủ ký kết với nước ngoài điều ước Quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh từ tình trạng hai hay nhiều quốc tịch”.

Dự thảo sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam 2015 đã mở ra một hướng mới cho việc trở về quê hương của những kiều bào này. “Một trong những yêu cầu và mục tiêu của việc sửa đổi Luật Quốc tịch là nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước, đảm bảo yêu cầu hội nhập quốc tế. Chúng ta sửa luật không những tạo điều kiện cho bà con Việt kiều được hưởng quyền lợi như người ở trong nước, mà còn bảo đảm được cơ sở pháp lý để chúng ta bảo hộ công dân của mình ở nước ngoài” ( Tiến sĩ Trần Thất – Vụ trưởng Vụ Hành chính Tư pháp, Bộ Tư pháp , trích Tuổi trẻ cuối tuần, Chủ nhật 24/02/2008).

2.2 Đăng ký quốc tịch cho người không có quốc tịch: (Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt)

Theo quy định tại Điều 8 Luật Quốc tịch việt Nam 2015 thì: “Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch Việt Nam”. Như vậy , theo Luật Quốc tịch Việt Nam 2015 thì những người không quốc tịch thường trú trên lãnh thổ Việt Nam muốn có quốc tịch Việt Nam chỉ có một cách duy nhất là nhập quốc tịch Việt Nam. Thực tế hiện nay , số người không quốc tịch , không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ nước ta khá nhiều và chủ yếu là ở những khu vực miền núi , biên giới xa xôi. Việc làm thủ tục nhập quốc tịch của những người này là rất khó khăn ,bên cạnh đó thủ tục trình tự giải quyết cho nhập quốc tịch còn rườm rà,phức tạp.

Khoản 1 Điều 40 Dự án Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi)quy định: “trong thời hạn 3 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực ,người không quốc tịch và người không rõ quốc tịch nước nào đang cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam,nếu có nguyện vọng có quốc tịch Việt Nam thì được đăng ký có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Chính phủ”.

2.3 Đăng ký nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam :

2.3.1 Điều kiện để nhập quốc tịch Việt Nam:

Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt : Theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 8 Nghị định số 104/2015/NĐ – CP, thì người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt (trừ trường hợp được miễn).Nhưng yêu cầu này gây ra rất nhiều khó khăn, rườm rà và không khả thi, nhất là đối với những người nghèo sống ở vùng núi, biên giới.Vì vậy trong thời gian qua Bộ Tư pháp đã thống nhất với các Bộ, ngành tháo gỡ vấn đề này bằng cách cho phép những đối tượng này được miễn giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt. (Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt)

Giấy cho thôi quốc tịch nước ngoài để nhập quốc tịch Việt Nam: trong thực tế giải quyết việc cho công dân Campuchia cư trú nhiều năm trên lãnh thổ Việt Nam xin nhập quốc tịch Việt Nam thì họ xin cấp giấy chứng nhận thôi quốc tịch Campuchia là rất khó khăn và hầu hết là không xin được.Trong số này cũng có người tự khai là công dân Campuchia nhưng bản thân họ cũng không có bất cứ giấy tờ nào để chứng minh là công dân Campuchia nên cơ quan có thẩm quyền ở Campuchia không giải quyết.Vì vậy, Luật sửa đổi tại Điều 19 “Miễn điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam : Các trường hợp quy định tại khoản 3, điều 18 về xin nhập quốc tịch Việt Nam thì được miễn các điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều 18 của Luật này”.

2.3.2 Điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam:

Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam, khoản 1 Điều 20 Dự án Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi) quy định: “Người đã mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 22 của Luật này có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam, thì có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam”. Như vậy, quy định này đã loại bỏ các điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam được quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 21 Luật năm 2015, chỉ giữ lại điều kiện quan trọng nhất, đó là: việc trở lại quốc tịch không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

CHƯƠNG 3 : KẾT LUẬN (Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt)

Sau khi nghiên cứu đề tài,chúng tôi có một số kết luận cụ thể như sau:

_Việc bỏ Điều 3 trong dự thảo luật Quốc tịch Việt Nam  2015 là hoàn toàn phù hợp với xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế của nhà nước ta,tạo điều kiện để người Việt đang sinh sống ở nước ngoài chẳng những hoà nhập tốt với luật pháp nước sở tại mà vẫn thường xuyên nhận được sự bảo hộ của nhà nước như mọi công dân đang cư trú trên lãnh thổ.

_Đăng ký quốc tịch Việt Nam cho người không có quốc tịch được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 40 của dự thảo ,theo đó cho người không quốc tịch và không rõ quốc tịch đang cư trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam , tuy tiến bộ nhưng lại gây nhiều mâu thuẫn vì  không phù hợp với quy định 103 Hiến Pháp 1992 : chỉ có Chủ tịch nước mới có thẩm quyền cho người nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam. Theo chúng tôi các nhà soạn thảo Luật Quốc tịch sửa đổi nên cần cân nhắc lại, đồng thời cần nghiên cứu để quy định rõ một số điều kiện cho việc đăng ký có quốc tịch đối với những trường hợp này.

_Theo quy định của dự thảo sửa đổi thì các giấy tờ cũng như thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch đã được đơn giản , tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa công dân Việt Nam ở trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài, qua đó thu hút thêm được tài năng,trí tuệ và nguồn lực để xây dựng Tổ quốc,góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. (Tiểu Luận: Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch Việt)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *