Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch dụ Fintech

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch dụ Fintech hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Sử Dụng Dịch Vụ Fintech Trong Thanh Toán Của khách hàng Cá Nhân Tại Techcombank Khu Vực Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tiêu đề: “Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Sử Dụng Dịch Vụ Fintech Trong Thanh Toán Của khách hàng Cá Nhân Tại Techcombank Khu Vực Thành Phố Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Mục tiêu của bài luận văn cuối khóa này là việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đã khái quát các cơ sở lý luận về Fintech và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech, phân tích và đề xuất nghiên cứu các nhân tố có ảnh hưởng.  Với 300 mẫu quan sát thu thập được, tác giả sử dụng sự hỗ trợ từ phần mềm SPSS.22 để hoàn thiện việc việc khai thác dữ liệu và đánh giá mô hình. Kết quả thu được với 7 yếu tố trong số 9 yếu tố được chọn lựa quan sát trong bài nghiên cứu khảo sát có độ tin cậy nhất định để có thể khẳng định mức độ ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank, trong đó yếu tố Sự hữu ích có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là Tính an toàn và bảo mật, Rủi ro nhận thức, Sự thuận tiện, Hình ảnh ngân hàng, Tính dễ sử dụng và Chuẩn chủ quan.

Với những kết quả thu được về mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech tác giả đề xuất những định hướng thích hợp để ngày càng hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ Fintech tại Techcombank trong thời gian hoạt động sắp tới. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong bài luận văn này. Đầu tiên cần nói đến chính là phạm vi nghiên cứu chỉ thực hiện tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh nên không thể bao hàm được toàn diện vấn đề. Thứ hai là quá trình thực hiện nghiên cứu chỉ diễn ra trong một thời gian nhất định từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2024 nên kết quả sẽ chỉ đúng trong khoảng thời gian này. Tiếp đến là dù mô hình nghiên cứu đưa ra có đến 9 nhân tố nhưng kết quả chỉ 7 nhân tố đủ độ tin cậy để kết luận nên 2 nhân tố còn lại chưa thể kết luận được mức độ ảnh hưởng trong phạm vi của nghiên cứu này.

Từ khóa: Fintech, Công nghệ tài chính, Quyết định sử dụng, Ngân hàng thương mại, Techcombank, Thành phố Hồ Chí Minh.

ABSTRACT  

Title: “Factors Affecting the Decision to Use Fintech Services in Payments of Individual Customers at Techcombank in Ho Chi Minh City.”

Abstract: This thesis aims to identify the factors influencing the decision to use Fintech services of individual customers at Vietnam Technology and Commercial Joint Stock Bank (Techcombank) in Ho Chi Minh City. The thesis generalizes the theoretical basis of Fintech and the factors influencing the decision to use Fintech services, analyzes and proposes research on influential factors.

With 300 collected samples, the author used SPSS.22 software to analyze data and test the model. The results obtained 7 out of 9 factors included in the study with a certain level of reliability to be able to affirm the level of influence on the decision to use Fintech services of individual customers at Techcombank. The most influential factor is perceived usefulness, which is followed by perceived trust, perceived risk, convenience, brand image, perceived ease of use, and subjective norm.

Based on the results obtained on the level of influence of each factor on the decision to use Fintech services, the author proposes appropriate solutions to improve the provision of Fintech services at Techcombank in the coming time.

However, the thesis still has some limitations. First, the scope of the study was only conducted in Ho Chi Minh City, so it cannot comprehensively cover the problem. Secondly, the study only took place for a certain period from January to March 2024, so the results will only be valid during this period. Next, although the research model proposed up to 9 factors, the results only 7 factors are reliable enough to conclude, so the remaining 2 factors cannot be concluded in this study.

Keywords: Fintech, Financial Technology, Decision to Use, Commercial Bank, Techcombank, Ho Chi Minh City.

CHƯƠNG 1:  PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề: Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Kỷ nguyên số và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, được đặc trưng bởi sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông, đã mang lại những thay đổi sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội, bao gồm cả lĩnh vực kinh tế. Ngành ngân hàng, với vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, đang phải đối diện với không chỉ những thách thức mà còn là các cơ hội lớn do đợt sóng đổi mới này mang lại. Sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) đã trở thành một xu hướng tất yếu, thể hiện sự kết hợp giữa tài chính truyền thống và công nghệ tiên tiến. Fintech cung cấp những giải pháp đổi mới, làm thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ tài chính, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán dành cho KHCN.

Thuật ngữ Fintech bao quát một loạt các dịch vụ tài chính, bao gồm ngân hàng trực tuyến, thanh toán kỹ thuật số, công nghệ blockchain và các ứng dụng tài chính khác. Sự xuất hiện của FinTech đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế số, đặc biệt tại các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và Vương quốc Anh. Các sản phẩm FinTech thông dụng như ví điện tử, tiền điện tử, cho vay ngang hàng (P2P), huy động vốn từ cộng đồng và công nghệ bảo hiểm (InsureTech) đã trở thành những giải pháp tài chính thay thế chủ yếu cho cả KHCN và doanh nghiệp. Bài luận văn này sẽ phân tích sâu về sự phức tạp trong việc áp dụng Fintech, với trọng tâm vào những yếu tố quyết định việc sử dụng các dịch vụ này bởi KHCN tại Techcombank, một trong những ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam.

Techcombank vốn được biết đến một tổ chức tài chính hàng đầu với cách tiếp cận tiên phong, đã tích hợp sâu rộng công nghệ Fintech vào hoạt động của mình nhằm cải thiện trải nghiệm hóa cho từng KHCN và tối ưu hóa việc cung cấp các dịch vụ tài chính, đặc biệt là cho KHCN ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế chủ chốt của Việt Nam. Với tiềm năng đổi mới mạnh mẽ, Fintech hứa hẹn sẽ cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận, hiệu suất và chi phí trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, việc KHCN quyết định sử dụng các dịch vụ fintech vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau.

Việc nhận diện và hiểu rõ các yếu tố này là thiết yếu để các ngân hàng như Techcombank có thể điều chỉnh chiến lược của mình một cách hiệu quả và nâng cao trải nghiệm KHCN. Nghiên cứu này sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, bao gồm cả định tính và định lượng, nhằm kiểm tra chi tiết các thông tin cần thiết. Các yếu tố như độ dễ sử dụng, tính hữu ích, lòng tin, và mức độ rủi ro sẽ được xem xét kỹ lưỡng để đánh giá tác động của chúng đối với việc chấp nhận sử dụng các dịch vụ Fintech.

Những kết quả từ nghiên cứu này sẽ đóng vai trò như một nguồn tài nguyên có giá trị, cung cấp những hiểu biết có thể hướng dẫn việc phát triển và ứng dụng các dịch vụ Fintech, không chỉ trong Techcombank tại khu vực TP.HCM mà còn ở các tổ chức ngân hàng tương đương khác trong khu vực và trên toàn thế giới.

Từng chương của luận văn này sẽ trình bày một bài tổng quan tài liệu chi tiết về việc áp dụng Fintech, tiếp theo là phác thảo về phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu được thu thập và thảo luận toàn diện về các phát hiện. Luận văn sẽ kết thúc với phần thảo luận về những tác động của các phát hiện này, cùng với các đề xuất cho các hướng nghiên cứu tiềm năng trong tầm nhìn phát triển cho tương lai. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài:

Fintech hiện đang nổi lên như một lĩnh vực quan trọng trong ngành ngân hàng. Các dịch vụ Fintech không chỉ tối ưu hóa quy trình thanh toán và giao dịch, mà còn giúp KHCN tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy nhiên, tại Việt Nam nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng, việc hiểu rõ thị hiếu và các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của KHCN vẫn còn nhiều hạn chế.

Hơn thế nữa, với việc đang có rất nhiều ngân hàng thương mại đang không ngừng cung cấp dịch vụ Fintech của họ đến KHCN thì việc nghiên cứu và hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN trở nên cực kỳ cấp thiết và cạnh tranh. Techcombank không nằm ngoài xu hướng này. Trong chiến lược 2021 – 2025, Techcombank tập trung đầu tư mạnh mẽ vào 3 trụ cột Số hóa – Dữ liệu – Nhân tài nhằm hiện thực hóa tầm nhìn “chuyển đổi ngành tài chính, nâng tầm giá trị sống”.

Tuy nhiên, thực tế để phục vụ nhóm đối tượng KHCN cũng còn rất nhiều bất cập. Thông qua những khảo sát do chính Techcombank khảo sát về sự hài lòng trong trải nghiệm các sản phẩm công nghệ tài chính của chính những KHCN hiện hữu thì nhận được khá nhiều phản hồi tích cực lẫn tiêu cực khác nhau. Cụ thể có thể thấy rõ thông qua chỉ số Net Promoter Score (Chỉ số sẵn sàng giới thiệu dựa trên trải nghiệm của KHCN hiện hữu) được thống kê nội bộ hằng tháng của ngân hàng cũng cho thấy sự giảm dần đều trong nửa đầu năm 2023 (từ xấp xỉ 63% – nghĩa là với 100 KHCN thì chỉ có 63 người đủ niềm tin để có thể giới thiệu các KHCN tiềm năng khác vào Tháng Một giảm xuống còn 60% vào Tháng Năm và giữ nguyên điểm số này cho đến kỳ quan sát cuối cùng vào Tháng Tám). Điều này cho thấy chiến lược mở rộng thị phần của Techcombank trong việc thu hút KHCN chấp nhận sử dụng các sản phẩm công nghệ được ngân hàng cung cấp cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng này.

Việc thấu hiểu nhu cầu cùng với việc xây dựng niềm tin và động cơ quyết định sử dụng dịch vụ từ phía KHCN là một nhiệm vụ đầy thách thức. Nghiên cứu các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc chấp nhận dịch vụ công nghệ tài chính Fintech trong thanh toán của KHCN tại Việt Nam, đặc biệt là tại TP.HCM, đòi hỏi một quá trình khảo sát kỹ lưỡng và chi tiết. Quá trình này không chỉ giúp các nhà quản lý tại Techcombank nắm bắt rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của KHCN, mà còn tạo điều kiện cho việc xây dựng chiến lược ra mắt các sản phẩm và dịch vụ tài chính mới. Điều này hứa hẹn mở ra nhiều cơ hội lớn cho sự phát triển của dịch vụ Fintech tại TP.HCM – một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam với tỷ lệ chấp nhận công nghệ cao.

Từ những quan sát thực tế như trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài tốt nghiệm cao học là: “Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Sử Dụng Dịch Vụ Fintech Trong Thanh Toán Của Khách Hàng Cá Nhân Tại Techcombank Khu Vực Thành Phố Hồ Chí Minh”. Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đưa một số kiến nghị và giải pháp nhằm giúp phát triển hơn dịch vụ công nghệ tài chính (Fintech) hiệu quả hơn cũng như nâng cao sự hài lòng của KHCN hiện hữu cũng như thu hút hơn nhiều KHCN quyết định chọn và sử dụng các dịch vụ Fintech do Techcombank trong tổng quan phát triển chung của tổ chức tài chính này nói chung và tại khu vực TP.HCM nói riêng.

1.3. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

1.3.1. Mục tiêu tổng quát:  

Phân tích và lượng giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính Fintech trong thanh toán của KHCN của Techcombank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.

1.3.2. Mục tiêu cụ thể:

Từ mục tiêu chính, tác giả xác định những mục tiêu cụ thể bao gồm:

Thứ nhất, Tìm hiểu và xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN trong thanh toán tại ngân hàng Techcombank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ hai, Lượng giá được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của KHCN tại ngân hàng Techcombank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm gia tăng mức độ sử dụng dịch vụ khi lựa chọn sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính Fintech trong thanh toán của KHCN tại ngân hàng Techcombank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của KHCN tại ngân hàng Techcombank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh?

Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của KHCN tại ngân hàng Techcombank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?

Các hàm ý quản trị nào có thể được đề xuất để gia tăng mức độ sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của KHCN tại ngân hàng Techcombank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh?

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn thực hiện nghiên cứu đối với các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của KHCN tại Techcombank khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh.

Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng khảo sát: KHCN tại TP.HCM có sử dụng các dịch vụ Fintech trong thanh toán của Techcombank.

Về nội dung: Khảo sát chọn mẫu lấy ý kiến KHCN về mức độ chấp nhận sử dụng dịch vụ Fintech của Techcombank. Dữ liệu sơ cấp được thu thập dự kiến là 300 phiếu và được tổng hợp bởi phần mềm SPSS 22.

Về thời gian khảo sát: Dự kiến từ Tháng 1/ 2024 đến Tháng 3/ 2024.

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo tính hiệu quả và khoa học trong nghiên cứu, luận văn này chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (Quantitative Research) kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative Research) để bổ sung cho nhau. Phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ được áp dụng để thu thập và phân tích dữ liệu thông qua các kỹ thuật thống kê như phân tích nhân tố (Factor Analysis) và phân tích hồi quy (Regression Analysis). Phương pháp này sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa các biến số, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra kết luận một cách khách quan và chính xác. Phương pháp nghiên cứu định tính sẽ được sử dụng nhằm thu thập thông tin sâu hơn về quan điểm, ý kiến và hành vi của đối tượng nghiên cứu. Các kỹ thuật thu thập dữ liệu định tính có thể bao gồm phỏng vấn, thảo luận nhóm hoặc phân tích tài liệu. Dữ liệu định tính sẽ được phân tích nội dung để xác định các chủ đề, mô hình và yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN. Sự kết hợp giữa hai phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu, từ đó đưa ra những kết luận có giá trị thực tiễn. Chi tiết về các phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3 của luận văn.

1.7 Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp về mặt lý luận

Đề tài này có thể đóng vai trò là nền tảng cho các nghiên cứu tương lai đối với quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của tệp KHCN. Những phát hiện của đề tài sẽ góp phần gia tăng hiểu biết và kiến thức về lĩnh vực này, từ đó tạo nền tảng cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn. Kết quả mang lại có thể được ứng dụng để xây dựng các mô hình dự đoán hành vi sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN. Từ đó, các ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như chất lượng dịch vụ Fintech, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của KHCN.

  • Đóng góp về mặt lý luận

Đề tài này không chỉ góp phần mở rộng lý thuyết về Fintech mà còn mang đến những hiểu biết sâu sắc về các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp giá trị thực tiễn quan trọng cho Techcombank và KHCN của tổ chức này. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Thông qua việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu tố lên quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank, nghiên cứu này sẽ hỗ trợ Ban lãnh đạo Techcombank trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược kinh doanh phù hợp với nhu cầu và mong muốn của người dùng dịch vụ Fintech. Điều này sẽ giúp khắc phục những hạn chế hiện tại trong việc triển khai dịch vụ hoặc trong hệ thống công nghệ, từ đó hoàn thiện và mở rộng hệ thống Fintech tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, nhằm gia tăng số lượng KHCN sử dụng dịch vụ.

Đối với KHCN, nghiên cứu này cung cấp những thông tin quan trọng về các dịch vụ Fintech của Techcombank, giúp họ có cái nhìn rõ ràng hơn để đưa ra quyết định về việc sử dụng dịch vụ. Hơn nữa, các ngân hàng có điều kiện tương tự có thể xem luận văn này như một nguồn tài liệu học thuật, cung cấp thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ Fintech hiện nay.

1.8.  Kết cấu của luận văn:

  • Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
  • Chương 2: Cơ sở nghiên cứu
  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu
  • Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu cụ thể, tạo nền tảng cho việc định hướng chính xác vào các vấn đề then chốt và khả thi. Phạm vi và đối tượng được xem xét nghiên cứu được xác định rõ ràng, đảm bảo tính chính xác, hiệu quả và khả năng thực nghiệm. Tác giả kỳ vọng kết quả sẽ mang lại những đóng góp khoa học và thực nghiệm có giá trị.

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Lý thuyết về dịch vụ Fintech Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

2.1.1. Định nghĩa về Fintech

Công nghệ Tài chính (Financial Technology) – thường được biết đến với cái tên Fintech, là sự giao thoa sáng tạo giữa tài chính truyền thống và công nghệ hiện đại. Sự kết hợp mới mẻ này nhằm mục đích chuyển đổi việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính, làm biến đổi môi trường tài chính theo hướng hiệu quả, dễ tiếp cận và phù hợp với người dùng.

Fintech là thuật ngữ bao hàm một loạt rộng các dịch vụ và ứng dụng trong lĩnh vực tài chính. Nó bao gồm các lĩnh vực như thanh toán kỹ thuật số, ngân hàng trực tuyến, tư vấn tự động (robo-advising), công nghệ bảo hiểm (insurtech), công nghệ blockchain và tiền điện tử. Các dịch vụ này được thiết kế tập trung vào việc nâng cao trải nghiệm của KHCN, tăng hiệu quả hoạt động và cung cấp các phương thức mới, sáng tạo để quản lý và thực hiện các giao dịch tài chính (Zavolokina, Dolata, & Schwabe, 2016).

Fintech không dừng lại ở đó mà còn mở rộng với nhiều ứng dụng thực tiễn khác nhau như nền tảng giáo dục và kiến thức tài chính, ứng dụng đầu tư và tiết kiệm, nền tảng huy động vốn cộng đồng (crowdfunding) và dịch vụ cho vay ngang hàng (peer-topeer lending). Fintech đang làm thay đổi ngành tài chính bằng cách cung cấp các lựa chọn thay thế cho các hoạt động dịch vụ vốn dĩ được các ngân hàng truyền thống thực hiện, do đó thúc đẩy chủ động hóa trong quản lý tài chính và tăng trải nghiệm người dùng đối với các KHCN (Muk, 2017).

Hơn nữa, với sự phát triển hiện này Fintech không chỉ giới hạn là một công cụ được cung cấp bởi các công ty khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp mới; nó còn đang trở thành cuộc chơi với sự tham gia cả các tổ chức định chế tài chính lớn và các ngân hàng truyền thống. Điển hình có thể thấy được thực tế việc ứng dụng công nghệ trong trải nghiệm tài chính của KHCN tại các NHTM hiện nay nhằm cải thiện dịch vụ và hoạt động của mình nhờ vào việc liên tục được đổi mới tiến bộ kỹ thuật, khung pháp lý, các quy định nội bộ đang dần được phát triển, nhờ đó gia tăng tính cạnh tranh trong việc mang đến trải nghiệm KHCN tốt nhất.

Tóm lại, có thể nói Fintech là sự kết hợp giữa tài chính và công nghệ với mục tiêu cải thiện hiệu suất, khả năng dễ dàng tiếp cận và định hướng KHCN của ngành tài chính.

2.1.2. Lịch sử và phát triển của Fintech tại Việt Nam

Sự phát triển của Fintech tại Việt Nam không chỉ là một dòng chảy thời gian đơn thuần, mà còn là minh chứng cho những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực công nghệ và tài chính. Từ đầu những năm 2000, cùng với sự gia tăng chóng mặt của lượng người dùng Internet và khả năng tiếp cận công nghệ ngày càng rộng rãi, Fintech đã bắt đầu manh nha xuất hiện tại Việt Nam. Giai đoạn đầu tiên này được đánh dấu bởi sự ra đời của các cổng thanh toán trực tuyến và ví điện tử, mở ra cánh cửa cho quá trình chuyển đổi số toàn diện trong ngành ngân hàng và dịch vụ tài chính. Sự xuất hiện của Fintech đã tạo ra một cuộc cách mạng trong cách thức tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính của người dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Thị trường Fintech Việt Nam trong những năm gần đây đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng ấn tượng, thể hiện qua sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng, sự đa dạng và khả năng thu hút vốn đầu tư. Mặc dù Fintech đã xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2017, nhưng giai đoạn 2020-2021 đánh dấu sự bùng nổ thực sự của thị trường này. Số liệu từ Solidiance – công ty tư vấn chiến lược hàng đầu, cho thấy thị trường Fintech Việt Nam đạt giá trị giao dịch 4,4 tỷ USD vào năm 2017 và dự kiến sẽ tăng lên 7,8 tỷ USD vào năm 2020. Sự tăng trưởng này cho thấy tiềm năng to lớn của Fintech trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Bức tranh phát triển Fintech Việt Nam được tô điểm bởi sự gia tăng ấn tượng của các công ty Fintech nội địa. Báo cáo thị trường Fintech Việt Nam 2021 và số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thấy, số lượng công ty Fintech đã tăng trưởng gấp 4 lần, từ 39 công ty vào cuối năm 2015 lên hơn 154 công ty vào cuối năm 2021. Đáng chú ý, 70% trong số này là các công ty khởi nghiệp Fintech, góp phần tạo nên một hệ sinh thái Fintech năng động và đa dạng.

Sự phát triển mạnh mẽ của Fintech tại Việt Nam là kết quả của sự hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi. Nền kinh tế Internet Việt Nam đạt giá trị 21 tỷ USD vào năm 2021, đứng thứ 14/50 ở châu Á và 70 trên toàn cầu, tạo bệ phóng vững chắc cho các giải pháp Fintech. Nhu cầu ngày càng cao về các dịch vụ tài chính tiện lợi, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí là động lực thúc đẩy sự phát triển của Fintech. Chính phủ Việt Nam cũng ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển Fintech, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Fintech hoạt động. Sự tham gia của các tổ chức tài chính truyền thống, thông qua hợp tác với các công ty Fintech, góp phần đổi mới sản phẩm và dịch vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh. Với những bước tiến mạnh mẽ trong những năm gần đây, Fintech Việt Nam được dự đoán sẽ tiếp tục phát triển bùng nổ trong tương lai, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số và mang lại nhiều lợi ích cho người dân và doanh nghiệp. (Giang Lê, 2022).

Giai đoạn này đánh dấu sự xuất hiện của các “ông lớn” Fintech như MoMo, Payoo và VNPAY, tạo nên một bước ngoặt trong thị trường thanh toán trực tuyến Việt Nam. Những công ty này đã mang đến cho người dùng những phương thức thanh toán tiện lợi, an toàn và nhanh chóng, góp phần thay đổi thói quen thanh toán truyền thống và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử.

Trong những năm gần đây, xu hướng liên kết và hợp tác giữa các công ty Fintech và ngân hàng ngày càng phổ biến. Thống kê cho thấy hơn 90% các công ty Fintech hoạt động theo mô hình hợp tác ngân hàng-Fintech (Nghiêm Thanh Sơn, 2020). Tất cả các công ty Fintech được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép trong lĩnh vực trung gian thanh toán đều có sự hợp tác với các ngân hàng. Sự hợp tác này dựa trên những lợi thế riêng của từng bên, nhằm mang đến cho KHCN những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, lợi ích tốt hơn và tiết kiệm hơn. Ví dụ, KHCN có thể sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng hơn thông qua Internet và thiết bị di động, ngay cả khi họ không thể đến ngân hàng trực tiếp.

Mặc dù Fintech mang lại khá nhiều lợi ích và phù hợp với xu hướng phát triển chung trong thời đại công nghệ hiện nay, nhưng nó cũng đặt ra những vấn đề, bao gồm những vấn đề về đến bảo mật an toàn thông tin, mối lo âu về an toàn tài chính cũng như việc thiếu các hành lang quy định pháp lý rõ ràng. Đồng thời, người dùng và các tổ chức tài chính gặp khó khăn khi chấp nhận và tiếp nhận công nghệ mới.

2.1.3. Các loại dịch vụ Fintech phổ biến tại Việt Nam Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Giai đoạn này đánh dấu sự xuất hiện của các công ty Fintech như MoMo, Payoo và VNPAY, tạo nên một bước ngoặt trong thị trường thanh toán trực tuyến Việt Nam. Những công ty này đã mang đến cho người dùng những phương thức thanh toán tiện lợi, an toàn và nhanh chóng, đồng thời mở rộng phạm vi dịch vụ tài chính với các sản phẩm như vay tín chấp trực tuyến, quản lý tài chính và ngân hàng số. (Nguyen, 2019).

Nền tảng cho vay ngang hàng (P2P) là một phân khúc fintech nổi bật tại Việt Nam. Loại hình này loại bỏ vai trò trung gian tài chính truyền thống, kết nối trực tiếp người cho vay và người vay. Các nền tảng như VayMuon, Tima và LoanVi đã phát triển mạnh mẽ, cung cấp nguồn vốn cho và doanh nghiệp nhỏ (Leong, Tan, Xiao, Tan và Sun, 2017). Bên cạnh thanh toán kỹ thuật số và cho vay ngang hàng, dịch vụ kiều hối cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái fintech Việt Nam. Các công ty như Cash2VN và Remitano cung cấp dịch vụ kiều hối trực tuyến, cho phép người dùng chuyển tiền xuyên biên giới nhanh chóng và tiết kiệm hơn so với các ngân hàng truyền thống.

Ngoài ra, còn có thể thấy được sự xuất hiện của Insurtech, một ứng dụng thực tiễn của Fintech trong công cuộc đổi mới ngành bảo hiểm, cũng đã thu hút được sự chú ý tại Việt Nam thời gian gần đây. Các công ty như GoBear và Bảo hiểm Số của Bảo

Việt đang đi tiên phong trong lĩnh vực này, lần lượt cung cấp nền tảng cạnh tranh với nhau nhằm dịch vụ bảo hiểm điện tử tiên tiến nhất đến các đối tượng KHCN.

Tóm lại, bức tranh tổng quan về các dịch vụ Fintech tại Việt Nam rất đa dạng và năng động, bao gồm nhiều loại dịch vụ từ thanh toán thông qua kỹ thuật số, cho vay ngang hàng P2P đến các dịch vụ về kiều hối và kể cả Insurtech. Khi các dịch vụ Fintech tiếp tục phát triển, điều này được kỳ vọng sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc định hình ngành dịch vụ tài chính ở Việt Nam.

2.2. Tổng quan về dịch vụ thanh toán kỹ thuật số Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

2.2.1. Dịch vụ thanh toán kỹ thuật số

Thanh toán kỹ thuật số đã trở thành một phần quan trọng trong nền tảng fintech của Việt Nam. Quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ của quốc gia, tỷ lệ sử dụng Internet ngày càng cao và nỗ lực của chính phủ nhằm khuyến khích giao dịch không dùng tiền mặt đều góp phần thúc đẩy xu hướng này (Nguyen, 2019).

Các hệ thống thanh toán mã QR, cổng thanh toán trực tuyến và ví điện tử là một số lựa chọn cho thanh toán kỹ thuật số ở Việt Nam. Các dịch vụ này hỗ trợ quá trình số hóa của ngành ngân hàng và dịch vụ tài chính trong nước bằng cách cho người dùng cơ hội thực hiện các giao dịch tài chính một cách dễ dàng, an toàn và hiệu quả.

Ví điện tử, tiêu biểu như MoMo, ZaloPay và VNPay, đã trở thành phương thức thanh toán phổ biến tại Việt Nam. Người dùng có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch tài chính như lưu trữ tiền, thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại, mua vé xem phim và nhiều dịch vụ khác thông qua ứng dụng di động của các ví điện tử này. Sự tiện lợi, giao diện thân thiện và đa dạng dịch vụ là những yếu tố chính dẫn đến sự chấp nhận rộng rãi của người tiêu dùng Việt Nam đối với ví điện tử. Bên cạnh đó, ví điện tử còn mang đến sự an toàn, bảo mật cao trong các giao dịch tài chính, đồng thời tiết kiệm thời gian cho người dùng. Các chương trình khuyến mãi, ưu đãi và hoàn tiền thường xuyên được triển khai bởi các ví điện tử cũng góp phần thu hút thêm nhiều người dùng mới và giữ chân người dùng hiện tại. Nhờ những ưu điểm vượt trội, ví điện tử đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ và nhu cầu về các giải pháp thanh toán tiện lợi ngày càng tăng cao (Leong, Tan, Xiao, Tan và Sun, 2017).

Các cổng thanh toán trực tuyến như Payoo và NganLuong cũng đã gây được nhiều sự chú ý bên cạnh các ví điện tử. Bằng cách xử lý thanh toán giữa người mua và người bán, các nền tảng này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các giao dịch trên nền tảng thương mại điện tử. Chúng góp phần thúc đẩy tăng trưởng thương mại điện tử nội địa bằng cách cung cấp cho các doanh nghiệp phương thức thanh toán an toàn và hiệu quả.

Công nghệ thanh toán mã QR đang dần trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam. Người dùng có thể dễ dàng thực hiện giao dịch bằng cách quét mã QR trên điện thoại thông minh, mang đến sự nhanh chóng và tiện lợi. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán điện tử vẫn còn gặp một số thách thức. Một bộ phận người dân còn thiếu kiến thức về công nghệ để sử dụng các dịch vụ này một cách hiệu quả và an toàn. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận dịch vụ thanh toán điện tử cũng bị hạn chế do thiếu hạ tầng công nghệ ở một số khu vực. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Nhìn chung, thanh toán kỹ thuật số đang trải qua sự tăng trưởng đáng kể ở Việt Nam và đang được trông mong sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong lĩnh vực dịch vụ tài chính của đất nước. Các dịch vụ này sẽ được sử dụng ngày càng phổ biến rộng rãi khi Việt Nam tiếp tục theo đuổi con đường chuyển đổi số. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều cải tiến để đảm bảo rằng mọi người dân đều có thể tiếp xúc dễ dàng và sử dụng các dịch vụ này một cách dễ dàng và an toàn.

2.2.2. Dịch vụ thanh toán thông qua Fintech tại các ngân hàng tại Việt Nam        

Các ngân hàng Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể trong các dịch vụ thanh toán của mình nhờ việc áp dụng công nghệ Fintech. Việc phát triển các nền tảng và công nghệ mới đã đơn giản hóa và nâng cao quy trình thanh toán, mang lại cho KHCN trải nghiệm hiệu quả và thuận tiện hơn.

Mobile Banking (ngân hàng di động) là một trong những dịch vụ thanh toán nổi bật do Fintech cung cấp tại các ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng như Techcombank, Vietcombank và VPBank đã tiên phong trong việc phát triển ứng dụng ngân hàng di động, cho phép KHCN thực hiện đa dạng giao dịch tài chính trực tiếp trên điện thoại thông minh. Ứng dụng này cung cấp nhiều tính năng tiện ích như chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại di động và nhiều dịch vụ khác. Nhờ sự tiện lợi và dễ sử dụng, ứng dụng ngân hàng di động đã được đông đảo KHCN tại Việt Nam đón nhận. Thanh toán QR, như đã đề cập trước đó, là một dịch vụ thanh toán Fintech đang được áp dụng rộng rãi tại các ngân hàng Việt Nam. Công nghệ này cho phép người dùng thực hiện giao dịch bằng cách quét mã QR trên điện thoại thông minh, mang đến phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện lợi và không tiếp xúc. Techcombank là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc tích hợp công nghệ này vào dịch vụ của mình, góp phần nâng cao hiệu quả và tính tiện lợi cho KHCN trong các giao dịch thanh toán.

Tóm lại, việc ứng dụng Fintech tại các ngân hàng ở Việt Nam đã mang đến một cuộc cách mạng trong lĩnh vực dịch vụ thanh toán. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, các ngân hàng tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục khai thác tiềm năng của Fintech để giới thiệu các giải pháp thanh toán sáng tạo và tiện lợi hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của KHCN.

2.3. Các lý thuyết về quyết định sử dụng dịch vụ Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

2.3.1. Lý thuyết về hành động hợp lý – TRA 

Lý thuyết về hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) được Fishbein và Ajzen công bố vào năm 1975 là một lý thuyết nền tảng trong Tâm lý học Xã hội, có thể được ứng dụng để lý giải việc áp dụng dịch vụ Fintech. TRA khẳng định rằng hành vi của cá nhân được quyết định bởi chính ý định thực hiện hành vi đó, và ý định này sau đó lại chịu ảnh hưởng bởi thái độ của họ đối với hành vi và các chuẩn mực chủ quan liên quan đến hành vi (Fishbein & Ajzen, 1975).

Thái độ của cá nhân đối với hành vi, theo Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA), được hình thành bởi niềm tin của họ về kết quả của những hành vi đó và đánh giá của họ về những kết quả đó. Nói cách khác, thái độ là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá. Nếu một cá nhân tin rằng việc thực hiện một hành vi cụ thể sẽ dẫn đến kết quả tích cực và họ đánh giá cao kết quả đó, họ sẽ có thái độ tích cực đối với hành vi đó. Ngược lại, nếu họ tin rằng hành vi đó sẽ dẫn đến kết quả tiêu cực hoặc họ đánh giá thấp kết quả tích cực, họ sẽ có thái độ tiêu cực đối với hành vi đó.

Chuẩn chủ quan (Subjective Norm): Đây là nhận thức của cá nhân về những gì mà người khác (như bạn bè, gia đình, đồng nghiệp) nghĩ về hành vi và mức độ quan trọng mà họ đặt lên ý kiến của những người khác. Nếu một người tin rằng những người quan trọng trong cuộc sống của họ ủng hộ hành vi và họ quan tâm đến ý kiến của những người này, họ sẽ có nhiều khả năng thực hiện hành vi đó.

Theo Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA), ý định hành động (Behavioral Intention) được xác định bởi hai yếu tố chính: thái độ (Attitude) và chuẩn mực chủ quan (Subjective Norm). Ý định hành động, sau đó, là yếu tố dự đoán tốt nhất cho hành vi thực tế. Nói cách khác, nếu một cá nhân có ý định mạnh mẽ thực hiện một hành vi, họ sẽ có nhiều khả năng thực hiện hành vi đó hơn.

TRA đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục và tiếp thị để thấu hiểu và dự đoán được hành vi của con người. Tuy nhiên, một hạn chế của TRA là nó không xem xét các nhân tố ngoại vi như kiểm soát hành vi cá nhân. Điều này đã tạo nên sự phát triển của Lý thuyết Hành vi Dự tính (Theory of Planned Behavior – TPB) và Lý thuyết Chấp nhận Công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM).

2.3.2. Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM)

Lý thuyết Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM), được phát triển bởi Davis vào năm 1986, là một lý thuyết nền tảng trong lĩnh vực nghiên cứu sự chấp nhận và sử dụng công nghệ của người dùng. Điểm mấu chốt của TAM nằm ở khả năng giải thích và dự đoán mức độ chấp nhận của người dùng đối với công nghệ thông tin dựa trên hai yếu tố chính: Sự hữu ích (perceived usefulness) và Tính dễ sử dụng (perceived ease of use). Sự hữu ích đề cập đến mức độ mà người dùng tin rằng công nghệ sẽ giúp họ hoàn thành công việc hiệu quả hơn, trong khi Tính dễ sử dụng đề cập đến mức độ mà người dùng cảm thấy công nghệ dễ học và sử dụng (Davis, Bagozzi, & Warshaw, 1989).

Sự hữu ích (perceived usefulness), theo Davis, là khả năng tin tưởng của cá nhân về việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ cải thiện hiệu suất công việc của họ. Đối lập với đó, Tính dễ sử dụng (perceived ease of use) được mô tả là khả năng tin tưởng của cá nhân cho rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không tốn nhiều công sức. Mô hình TAM giả định rằng những thành tố này chi phối đáng kể đến thái độ của cá nhân đối với việc sử dụng các hệ thống, từ đó ảnh hưởng lên việc sử dụng hệ thống thực tế (Venkatesh & Davis, 2000). Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Nhiều nghiên cứu đã xem xét TAM để vận dụng cho nhiều lĩnh vực, bao gồm các nền tảng di động, thanh toán điện tử và quản lý hệ thống thông tin. TAM cũng cung cấp một khung lý thuyết quan trọng để hiểu hành vi chấp nhận công nghệ của người dùng. Tuy nhiên, TAM không thể giải thích được tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận công nghệ, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu sau này đã phát triển và hiệu chỉnh

Hình 2.2: Lý Thuyết Chấp Nhận Và Sử Dụng Công Nghệ (TAM)

2.3.3. Lý huyết về hành vi dự tính – TPB 

Lý thuyết Hành vi Có Lập Kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB), được Ajzen đề xuất vào năm 1985, là sự mở rộng của Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA). TPB là một mô hình lý thuyết được công nhận rộng rãi trong Tâm lý học Xã hội. So với TRA, TPB bổ sung thêm một yếu tố quyết định mới là kiểm soát hành vi nhận thức (perceived behavioral control). Yếu tố này đề cập đến nhận thức của cá nhân về khả năng thực hiện một hành vi cụ thể. Nói cách khác, TPB khẳng định rằng hành vi của cá nhân không chỉ bị ảnh hưởng bởi thái độ và chuẩn mực chủ quan, mà còn bị ảnh hưởng bởi nhận thức của họ về khả năng kiểm soát hành vi của chính mình (Ajzen, 1985).

TPB cho rằng từng hành động của cá nhân bị ảnh hưởng bởi ý định thực hiện hành vi đó. Ý định này lại phụ thuộc vào ba yếu tố: thái độ đối với hành vi (attitude towards the behavior), chuẩn mực chủ quan (subjective norms) liên quan đến phản ứng và khả năng điều chỉnh hành vi. Theo TPB, một cá nhân sẽ có khả năng áp dụng một hành vi cụ thể cao hơn, chẳng hạn như sử dụng dịch vụ Fintech, nếu họ biểu hiện tích cực, cảm nhận được những người quan trọng xung quanh nghĩ họ nên áp dụng hành vi đó và tin rằng họ có khả năng thực hiện (Ajzen, 1991).

Nhận thức về kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control – PBC) thể hiện mức độ tự tin của một người vào năng lực bản thân trong việc thực thi một hành động cụ thể. PBC phản ánh sự đánh giá chủ quan của cá nhân về tác động của những nhân tố bên ngoài lên quá trình ra quyết định của họ, bao gồm sự hạn chế về nguồn lực như tài chính, thời gian hay trình độ chuyên môn. Xác suất để một cá nhân hành động theo ý định của mình sẽ gia tăng khi họ nhận thấy bản thân nắm quyền chủ động và có thể chi phối được diễn biến của hành vi ấy.

Theo Lý thuyết Hành vi Có Lập Kế hoạch (TPB), xu hướng hành vi, áp lực xã hội chuẩn hóa và kiểm soát hành động cá nhân chịu ảnh hưởng bởi nhận thức. Tương tự như Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA), ý định hành động được xem là yếu tố dự đoán tốt nhất cho hành vi thực tế.

Hình 2.3: Lý Thuyết Về Hành Vi Dự Tính (TPB)

2.3.4. Lý thuyết về sự đổi mới – IDT Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Một lý thuyết khác trong lĩnh vực tâm lý xã hội là Lý thuyết về sự đổi mới (Diffusion of Innovation Theory – IDT) do Rogers phát triển năm 1962. IDT cung cấp khuôn khổ lý thuyết để hiểu quá trình lan truyền và tiếp nhận các ý tưởng, công nghệ mới giữa các nền văn hóa khác nhau (Rogers, 1962).

Theo IDT, quá trình tiếp nhận diễn ra theo 5 giai đoạn: nhận thức (awareness), quan tâm (interest), đánh giá (evaluation), thử nghiệm (trial) và tiếp nhận (adoption). Bốn yếu tố chính chi phối quá trình lan truyền của một sáng kiến mới theo IDT là bản chất của sáng kiến, nguồn thông tin, yếu tố liên quan đến thời gian cũng như hệ thống xã hội. Mức độ chấp nhận một sáng kiến mới chủ yếu phụ thuộc vào cách thức cá nhân nhìn nhận và đánh giá các đặc điểm của sáng kiến đó. Những yếu tố then chốt tác động đến quá trình này bao gồm: các lợi ích vượt trội mà sáng kiến đem lại so với hiện trạng, sự phù hợp của sáng kiến với giá trị và nhu cầu hiện tại, mức độ dễ hiểu và dễ sử dụng của sáng kiến, cơ hội trải nghiệm sáng kiến trước khi áp dụng chính thức cũng như khả năng trực quan hóa các kết quả mà sáng kiến có thể tạo ra. (Rogers, 2003).

2.3.5. Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified theory of acceptance and use of technology – UTAUT)

Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology – UTAUT), được phát triển bởi Venkatesh và cộng sự vào năm 2003, là một khuôn khổ lý thuyết tổng hợp. UTAUT kết hợp các yếu tố then chốt từ tám lý thuyết nổi bật, bao gồm TAM, TRA và IDT. Mục tiêu của UTAUT là cung cấp hiểu biết toàn diện hơn về các yếu tố quyết định tác động đến ý định sử dụng hệ thống thông tin của cá nhân và các hành vi sử dụng sau đó (Venkatesh et al., 2003).

UTAUT xác định bốn nhân tố then chốt ảnh hưởng mạnh mẽ tới ý định và hành vi ứng dụng công nghệ của người dùng, bao gồm: Kỳ vọng về Hiệu quả (Performance Expectancy), Kỳ vọng về Nỗ lực (Effort Expectancy), Tác động của Xã hội (Social Influence) và Các Điều kiện Hỗ trợ (Facilitating Conditions).Kỳ vọng về Hiệu quả phản ánh niềm tin của cá nhân rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao năng suất làm việc của họ. Kỳ vọng về Nỗ lực thể hiện mức độ đơn giản khi vận hành hệ thống đó. Tác động của Xã hội cho thấy mức độ mà cá nhân nhận thấy những người có ảnh hưởng quanh họ khuyến khích việc áp dụng một hệ thống mới. Các Điều kiện Hỗ trợ đánh giá nhận thức của cá nhân về sự sẵn có của nền tảng kỹ thuật và tổ chức cần thiết để triển khai hệ thống. (Venkatesh et al., 2003).

2.3.6. Lý thuyết về hành vi khách hàng (Consumer Behavior)

Lý thuyết hành vi khách hàng là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc hiểu và dự đoán cách thức khách hàng đưa ra quyết định mua hàng. Theo Solomon et al. (2018), hành vi khách hàng được định nghĩa là “quá trình mà các cá nhân hoặc nhóm lựa chọn, mua, sử dụng hoặc loại bỏ sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc trải nghiệm để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn” (tr. 28). Lý thuyết này xem xét nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng, bao gồm các yếu tố tâm lý, xã hội, văn hóa và cá nhân (Kotler & Armstrong, 2020). Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Blackwell et al. (2006) đã phát triển mô hình quyết định của người tiêu dùng, bao gồm bảy giai đoạn: nhận thức nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn trước khi mua, mua hàng, tiêu dùng, đánh giá sau khi mua và loại bỏ. Mô hình này cung cấp một khung toàn diện để hiểu quá trình ra quyết định của khách hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến từng giai đoạn.

Một khía cạnh quan trọng khác của lý thuyết hành vi khách hàng là việc phân đoạn thị trường. Wedel và Kamakura (2012) định nghĩa phân đoạn thị trường là “quá trình chia nhỏ thị trường thành các nhóm khách hàng đồng nhất dựa trên nhu cầu, đặc điểm hoặc hành vi tương tự” (tr.5). Phân đoạn thị trường cho phép các doanh nghiệp tùy chỉnh chiến lược marketing của họ để đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng phân khúc, từ đó tăng hiệu quả marketing.

Hiểu rõ hành vi khách hàng giúp các doanh nghiệp phát triển chiến lược marketing hiệu quả hơn, cải thiện sản phẩm và dịch vụ, và cuối cùng là tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận (Schiffman & Wisenblit, 2019). Hơn nữa, trong thời đại kỹ thuật số, việc hiểu hành vi khách hàng trực tuyến ngày càng trở nên quan trọng. Như Chaffey và Ellis-Chadwick (2019) đã chỉ ra, hành vi khách hàng trực tuyến có thể khác biệt đáng kể so với hành vi trong môi trường truyền thống, đòi hỏi các chiến lược marketing kỹ thuật số phù hợp.

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN 

Quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech của KHCN là kết quả của một chuỗi tương tác đa chiều giữa nhiều biến số khác nhau. Quá trình ra quyết định này chịu sự tác động của một loạt các nhân tố nội tại cá nhân như tâm lý, độ tuổi, nghề nghiệp, mức thu nhập… cũng như các yếu tố ngoại cảnh bao gồm tác động của xã hội và mức độ phù hợp của dịch vụ trong việc đáp ứng nhu cầu người dùng. Tất cả các yếu tố này đan xen và tương tác với nhau một cách phức tạp để hình thành quyết định cuối cùng của KHCN về việc có sử dụng dịch vụ Fintech hay không.

Trong phạm vi các nhân tố thuộc về cá nhân KHCN, hai yếu tố nổi bật là cảm nhận về tính hữu dụng (perceived usefulness) và cảm nhận về tính dễ vận hành (perceived ease of use) của dịch vụ Fintech. Cảm nhận về tính hữu dụng phản ánh mức độ tin tưởng của KHCN rằng việc sử dụng một dịch vụ Fintech đặc thù sẽ nâng cao hiệu quả của công tác quản trị tài chính cá nhân cũng như chất lượng của các giao dịch tài chính thường nhật. Trong khi đó, cảm nhận về tính dễ vận hành thể hiện niềm tin của KHCN vào sự đơn giản và thuận tiện khi ứng dụng một dịch vụ Fintech cụ thể. Những biến số này, với vai trò nòng cốt trong mô hình TAM, tạo ra tác động đáng kể lên thái độ và hành vi chấp nhận các dịch vụ Fintech của KHCN (Davis, Bagozzi, & Warshaw, 1989). Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Trong số các nhân tố thuộc về môi trường xã hội, hai yếu tố cốt lõi là các chuẩn mực chủ quan (subjective norms) và sự tác động của xã hội (social influence). Các chuẩn mực chủ quan phản ánh nhận thức của KHCN về những kỳ vọng và quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận liên quan tới hành vi ứng dụng các dịch vụ Fintech. Sự tác động của xã hội liên quan tới mức độ mà KHCN nhận thấy những cá nhân có tầm ảnh hưởng trong cuộc sống của họ (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) khuyến khích việc sử dụng các dịch vụ Fintech. Những biến số này, được nhấn mạnh trong Thuyết Hành vi Hợp lý (TRA) và Thuyết Hành vi Hoạch định (TPB), có tác động mạnh mẽ tới ý định sử dụng các dịch vụ Fintech của KHCN (Ajzen & Fishbein, 1980).

Những nhân tố liên quan tới tính chất của bản thân hệ thống Fintech như kỳ vọng về mức độ hiệu quả (performance expectancy), kỳ vọng về sự nỗ lực (effort expectancy) và các điều kiện hỗ trợ (facilitating conditions) đóng vai trò quan trọng trong việc định hình quyết định của KHCN về việc ứng dụng dịch vụ này. Kỳ vọng về mức độ hiệu quả thể hiện niềm tin của người sử dụng vào khả năng cải thiện hoạt động tài chính của một hệ thống Fintech. Kỳ vọng về sự nỗ lực phản ánh mức độ đơn giản và dễ thao tác của hệ thống từ góc nhìn của KHCN. Các điều kiện hỗ trợ bao gồm nền tảng kỹ thuật, dịch vụ chăm sóc KHCN và các yếu tố khác tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận hành trơn tru hệ thống Fintech. Những yếu tố này, là một phần không thể thiếu của Mô hình UTAUT, góp phần định hình việc KHCN áp dụng dịch vụ fintech (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003).

Các tổ chức kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, có thể xác định những yếu tố then chốt tác động tới thái độ và hành vi của KHCN thông qua việc phân tích sâu hành vi người tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp nền tảng thông tin hữu ích cho đội ngũ quản lý và nhân viên kinh doanh của ngân hàng, giúp họ xây dựng các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn nhằm gia tăng mức độ thỏa mãn của KHCN và thúc đẩy hành vi gắn bó lâu dài của họ đối với tổ chức.

Nhìn chung, nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng đóng vai trò nền tảng trong quá trình phát triển các sản phẩm và dịch vụ Fintech của các ngân hàng. Việc nghiên cứu này giúp các ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, hành vi quyết định mua của KHCN sẽ được coi là một chỉ báo phản ánh mức độ sẵn sàng sử dụng dịch vụ của họ đối với ngân hàng (Elbeck, 2008)

2.5. Các nghiên cứu trong và ngoài nước Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

2.5.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài 

Trong việc nghiên cứu hành vi đối với việc sử dụng dịch vụ Fintech của khách hàng cá nhân, đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng khác nhau. Chua, C. J., Lim, C. S., & Khin, A. A. (2018) đã phát triển một mô hình nghiên cứu với các biến số độc lập như Cảm nhận về Tính Hữu dụng (Usefulness), Cảm nhận về Tính Dễ sử dụng (Ease Of Use), Các Lợi thế Tương đối (Relative Advantage), Rủi ro Cảm nhận (Perceived Risk), Chi phí Cảm nhận (Perceived Cost). Mô hình này cũng bao gồm Tác động Trung gian của Nhận thức KHCN (Mediating Effect Of Awareness Of Consumers), và biến phụ thuộc của mô hình là Mức độ Chấp nhận của khách hàng cá nhân đối với các sản phẩm và dịch vụ Fintech.

Một nghiên cứu khác của Hu, Z., Ding, S., Li, S., Chen, L., & Yang, S. (2019) đã mở rộng Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) bằng cách tích hợp các biến số như Tính Sáng tạo của Người dùng (User Innovativeness), Sự Hỗ trợ của Chính phủ (Government Support), Hình ảnh Thương hiệu (Brand Image), và Rủi ro Cảm nhận (Perceived Risk). Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi gửi tới những KHCN đang sử dụng dịch vụ của Ngân hàng Thương mại Nông thôn Khoa học và Công nghệ Hefei, thu thập được 387 phản hồi hợp lệ. Phân tích dữ liệu cho thấy Niềm tin của Người dùng (Users’ Trust) đối với các dịch vụ Fintech có tác động rất mạnh mẽ lên Thái độ Chấp nhận của họ. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng Cảm nhận về Tính Dễ sử dụng (Perceived Ease Of Use) và Cảm nhận về Rủi ro (Perceived Risk) không có ảnh hưởng đáng kể tới thái độ của người dùng trong việc chấp nhận dịch vụ Fintech. Nghiên cứu này đóng góp vào nền tảng lý thuyết về sự chấp nhận dịch vụ Fintech bằng cách cung cấp một góc nhìn tổng quát hơn về các yếu tố tiền đề định hình thái độ của người dùng thông qua việc kết hợp niềm tin vào các dịch vụ Fintech trong mô hình TAM

Daragmeh, A., Lentner, C., & Sági, J. (2021) cũng nghiên cứu các biến số như Sự hữu ích (Perceived usefulness), Rủi ro với Covid 19 (Perceived COVID -19 risk), Tính dễ sử dụng (Perceived ease of use), Chuẩn chủ quan (Subjective Norms), nhằm hiểu rõ hơn về hành vi ứng dụng dịch vụ Fintech trong bối cảnh đại dịch.

Hassan, S., Islam, A., Sobhani, F. A., Nasir, H., Mahmud, I., & Zahra, F. T. (2022) đã kiểm định các giả thuyết liên quan đến sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài lên dự định sử dụng Fintech trên nền tảng di động. Các yếu tố như Sự tin tưởng (Perceived Trust), Nhận thức rủi ro (Perceived Risk), Nhận thức về lợi ích (Perceived Benefit), Ảnh hưởng từ xã hội (Social Influence), Điều kiện thuận lợi (Facilitating Conditions), Kỳ vọng nỗ lực (Effort Expectancy) đã được xem xét đến.

Nghiên cứu của Zavolokina, Dolata và Schwabe (2016) tại Thụy Sĩ đã điều tra việc áp dụng các dịch vụ FinTech trong số KHCN ngân hàng và phát hiện ra rằng tính hữu ích (Usefulness) và tính dễ sử dụng (Perceived Ease Of Use) có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định áp dụng các dịch vụ này của KHCN. Tương tự, một nghiên cứu của Muk (2017) ở Ấn Độ đã xác nhận tầm quan trọng của các yếu tố này, đồng thời cho biết thêm rằng niềm tin và nhận thức về nguy cơ cũng là những thành tố quyết định trọng yếu đến quyết định sử dụng. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Trong một nghiên cứu được thực hiện tại Hàn Quốc, Kim, Shin và Lee (2009) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố Niềm tin của Người dùng (Users’ Trust). Kết quả chỉ ra rằng mức độ tin tưởng ban đầu của KHCN vào các dịch vụ Fintech có tác động đáng kể lên ý định sử dụng dịch vụ của họ. Trong khi đó, một nghiên cứu khác do Shaikh và Karjaluoto (2015) thực hiện tại Phần Lan lại tập trung vào vai trò của Cảm nhận về Tính hữu dụng (Usefulness) và Cảm nhận về Tính dễ sử dụng (Perceived Ease Of Use). Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng xem xét tác động của yếu tố Ảnh hưởng xã hội và Các điều kiện hỗ trợ. Kết quả cho thấy tất cả các biến số này đều có ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định chấp nhận sử dụng dịch vụ ngân hàng di động, một dịch vụ Fintech quan trọng, của người tiêu dùng.

2.5.2. Các nghiên cứu trong nước có đề tài liên quan

Trong nghiên cứu của Lê Huyền Ngọc (2018), tác giả đã đưa ra một bức tranh khái quát về Fintech, bao gồm các ứng dụng và dịch vụ của Fintech đang được triển khai trong xã hội hiện đại như thanh toán điện tử, thanh toán di động, tài chính cá nhân và doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng liệt kê một số phân khúc tiêu biểu của Fintech như cho vay ngang hàng (P2P lending), gọi vốn theo nhóm (crowdfunding), xếp hạng tín dụng (credit scoring), tư vấn (advisory), huy động vốn (capital raising), và tiền kỹ thuật số (cryptocurrency). Ngoài ra, tác giả còn phân chia Fintech thành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất bao gồm các doanh nghiệp cung cấp các công cụ số hóa để tạo ra những sản phẩm tài chính đổi mới cho người sử dụng, tương ứng với các lĩnh vực hoạt động truyền thống của ngành tài chính như thanh toán, huy động vốn, cho vay, đầu tư và quản trị tài sản, bảo hiểm. Nhóm thứ hai là các công ty cung ứng các giải pháp công nghệ và công cụ hỗ trợ tiên tiến, còn được gọi là nhóm hỗ trợ. Ví dụ về nhóm này có thể kể đến các công cụ an ninh mạng, định danh KHCN, quản trị và phân tích dữ liệu, quản trị rủi ro, quản trị quan hệ KHCN, và các phần mềm quản lý tài chính cá nhân và doanh nghiệp.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực thanh toán cá nhân đã xác định một loạt các nhân tố tác động tới quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech của người tiêu dùng. Những yếu tố này bao gồm sự thuận tiện, tính an toàn, khả năng tự chủ, tính dễ vận hành và lợi ích cảm nhận. Tuy nhiên, một số đặc điểm như tuổi tác, hiểu biết và kinh nghiệm về Internet, cũng như trình độ học vấn có thể trở thành rào cản đối với việc chấp nhận Fintech. Để khám phá vấn đề này, ba mô hình lý thuyết nổi bật thường được áp dụng là “Thuyết Hành động Hợp lý” (Theory of Reasoned Action – TRA), “Lý thuyết Hành vi Dự định” (Theory of Planned Behavior – TPB), và “Mô hình Chấp nhận Công nghệ” (Technology Acceptance Model – TAM). Mỗi mô hình này góp phần lý giải các yếu tố chi phối hành vi sử dụng công nghệ và tạo nền tảng lý luận cho các nghiên cứu về Fintech.

Các mô hình được ứng dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu hành vi quyết dịnh sử dụng. Khưu Thị Phương Linh (2023) khi nghiên cứu về các nhân tố quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của đối tượng KHCN, đã lựa chọn các nhân tố như Cảm nhận rủi ro, Tính đổi mới, Hình ảnh ngân hàng, Tính dễ sử dụng và Cảm nhận chi phí vào bài nghiên cứu. Kết quả với 250 phiếu cũng đã có những kết quả khả quan khi tìm được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới quyết định sử dụng của KHCN với Cảm nhận rủi ro cho kết quả ảnh hưởng cao nhất. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Nghiên cứu của Đào Mỹ Hằng và các cộng sự của tác giả (2018) dựa trên nền tảng Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) của Davis (1989) để khám phá các yếu tố tác động tới quyết định chấp nhận sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán. Dữ liệu thu thập từ 264 bảng khảo sát với các cá nhân tại khu vực Hà Nội đã chỉ ra 6 nhân tố ảnh hưởng, được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ tác động, bao gồm: (1) Tính an toàn và bảo mật; (2) Tính hữu dụng; (3) Thái độ của người dùng; (4) Khả năng tự chủ; (5) Tính dễ sử dụng; và (6) Sự thuận tiện. Kết quả này cung cấp những thông tin quan trọng về các yếu tố then chốt chi phối hành vi chấp nhận dịch vụ Fintech trong thanh toán của người tiêu dùng tại thị trường Hà Nội.

Le, V. P., Nguyen, H. N. L., & Dang, Q. T. (2019) xác định và bóc tách các yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ Fintech tại Việt Nam với mô hình nghiên cứu là sự kết hợp giữa TAM (Mô hình chấp nhận công nghệ) đã sửa đổi và các yếu tố bổ sung: Rủi ro nhận thức (Perceived Risk), Hình ảnh thương hiệu (Brand Image) và Tính đổi mới của người dung (User Innovativeness). Dựa trên việc thu thập hợp lệ từ 324 người dùng dịch vụ Fintech với kết quả cho thấy Nhận thức hữu ích (Perceived Usefulness), Nhận thức dễ sử dụng (Perceived Ease of Use), Hình ảnh thương hiệu (Brand Image), Tính đổi mới của người dung (User Innovativeness) có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Việt Nam, trong khi Rủi ro nhận thức có ảnh hưởng tiêu cực (Perceived Risk).

Lien, N. T. K., Doan, T. T. T., và Bui, T. N (2020) đã tiến hành một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế hàng đầu của Việt Nam, bằng cách khảo sát 620 KHCN của các ngân hàng trên địa bàn thành phố. Để phân tích dữ liệu, nhóm tác giả đã ứng dụng phương pháp hồi quy đa biến nhằm ước tính các tham số trong mô hình nghiên cứu. Kết quả cho thấy dịch vụ Fintech đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với ngành ngân hàng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng đã thành công trong việc xác định các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN. Cụ thể, Ý định Sử dụng Dịch vụ Fintech (Intention To Use) chịu ảnh hưởng tích cực từ các yếu tố Cảm nhận về Tính Hữu dụng (Perception Of Usefulness), Ảnh hưởng Xã hội (Social Impact), Lòng Tin của KHCN (Customer Trust) và Cảm nhận về Tính Dễ Sử dụng (Perceived Ease Of Use).

Bảng 2.1: Tổng Hợp Các Nghiên Cứu Có Liên Quan Đến Đề Tài

STT Nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
1 Lê Huyền Ngọc (2018) nghiên cứu về tác động của Fintech với các hoạt động của ngân hàng Khái quát về lĩnh vực công nghệ tài chính Fintech và các ứng dụng, dịch vụ của Fintech đang được triển khai trong đời sống xã hội hiện đại.
2 Nghiên cứu của Đào Mỹ Hằng và cộng sự (2018) tập trung khám phá các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định ứng dụng dịch vụ fintech trong các giao dịch thanh toán của KHCN trên thị trường Việt Nam Sáu yếu tố cốt lõi ảnh hưởng tới quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech trong lĩnh vực thanh toán, được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ tác động, gồm có: tính an toàn và bảo mật, giá trị hữu dụng cảm nhận, thái độ của người sử dụng, khả năng tự chủ, tính dễ vận hành và sự thuận tiện. Mỗi yếu tố này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình hành vi chấp nhận và sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN
3 Trang, T.T.H (2020) nghiên cứu quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại tỉnh Thừa Thiên Huế Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech. Năm nhóm yếu tố chính bao gồm “Tính hữu dụng cảm nhận”, “Mức độ an toàn và bảo mật”, “Tính dễ vận hành”, “Sự thuận tiện” và “Các chuẩn mực chủ quan” đều có tác động tích cực lên quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của KHCN. Trong đó, “Tính hữu dụng cảm nhận” được xác định là nhóm nhân tố có ảnh hưởng đáng kể nhất. Kết quả này đóng góp quan trọng vào việc làm sáng tỏ các yếu tố then chốt chi phối hành vi chấp nhận và sử dụng dịch vụ Fintech trong thanh toán của phân khúc KHCN.
4 Le, V. P., Nguyen, H. N. L., & Dang, Q. T. (2019) nghiên cứu về quyết định sử dụng dịch vụ Fintech tại Việt Nam Nhận thức hữu ích (Perceived Usefulness), Nhận thức dễ sử dụng (Perceived Ease of Use), Hình ảnh thương hiệu (Brand Image), Tính đổi mới của người dung (User Innovativeness) có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Việt Nam, trong khi Rủi ro nhận thức có ảnh hưởng tiêu cực (Perceived Risk)
5 Lien, N. T. K., Doan, T. T. T., Bui, T. N (2020) tìm hiểu về các minh chứng tại Việt Nam cho quyết định sử dụng dịch vụ Fintech ngành Tài Chính Ngân Hàng Ý định sử dụng dịch vụ Fintech (Intention to Use) bị ảnh hưởng tích cực bởi nhận thức về tính hữu ích (Perception of Usefulness), tác động xã hội (Social Impact), niềm tin của KHCN (Customer Trust) và nhận thức dễ sử dụng (Perceived Ease of Use)
6 Chua, C. J., Lim, C. S., & Khin, A. A. (2018) nghiên cứu mức độ chấp nhận sử dụng dịch vụ Fintech tại Malaysia Xác định các thành tố sẽ chi phối đến quyết định sử dụng dịch vụ như Tính Hữu Dụng (Usefulness), Tính Dễ Sử Dụng (Ease Of Use), Các Lợi Thế Liên Quan (Relative Advantage), Rủi Ro Đến Từ Trải Nghiệm Chất Lượng (Perceived Risk), Chi Phí Cho Việc Tạo Trải Nghiệm (Perceived Cost) Và Tác Động Trung Gian Của Nhận Thức Của KHCN (Mediating Effect Of Awareness Of Consumers)
7 Hu, Z., Ding, S., Li, S., Chen, L., & Yang, S.(2019),  kiểm tra thực nghiệm với mô hình chấp nhận công nghệ mở rộng Tính đổi mới của người dùng (User Innovativeness), sự hỗ trợ của chính phủ (Government Support), hình ảnh thương hiệu (Brand Image) và rủi ro được nhận thức (Perceived Risk) là những yếu tố quyết định niềm tin để điều tra cách người dùng áp dụng các dịch vụ Fintech vào mô hình TAM. Kết quả nghiên cứu cho thấy niềm tin của người dùng (Users’ Trust) vào các dịch vụ Fintech có ảnh hưởng rất đáng kể đến thái độ chấp nhận của người dùng. Ngoài ra, nhận thức về tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use) và nhận thức về rủi ro (Perceived Risk) không ảnh hưởng đến thái độ của người dùng đối với việc áp dụng các dịch vụ Fintech
8 Daragmeh, A., Lentner, C., & Sági, J. (2021) tìm hiểu về Thanh toán FinTech trong kỷ nguyên COVID- 19 tại Hungary Sự hữu ích (Perceived usefulness), Rủi ro với Covid 19 (Perceived COVID -19 risk), Tính dễ sử dụng (Perceived ease of use), Chuẩn chủ quan (Subjective Norms)
9 Hassan, S., Islam, A., Sobhani, F. A., Nasir, H., Mahmud, I., & Zahra, F. T. (2022) tìm hiểu về yếu tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng dịch vụ Fintech di động tại Banglashesh Sự tin tưởng (Perceived Trust), nhận thức rủi ro (Perceived Risk), nhận thức về lợi ích (Perceived Benefit), ảnh hưởng từ xã hội (Social Influence), điều kiện thuận lợi (Facilitating Conditions), và kỳ vọng nỗ lực (Effort Expectancy) là những thành tố quan trọng chi phối đến việc chấp nhận và sử dụng các dịch vụ Fintech.
10 Alkhwaldi, A. F., Alharasis, E. E.(2022) cùng các cộng sự tìm hiểu về việc áp dụng của người dùng FinTech hậu COVID-19 từ góc độ của một quốc gia đang phát triển Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech. 04 yếu tố ban đầu của lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), đó là Kỳ Vọng Về Hiệu Suất (Performance Expectancy), Kỳ Vọng Về Nỗ Lực (Effort Expectancy), Ảnh Hưởng Xã Hội (Social Influence) và Điều Kiện Thuận Lợi (Facilitating Conditions). , với ba yếu tố bổ sung: Tính Đổi Mới Cá Nhân (Personal Innovativeness), Hiểu Biết Về Tài Chính (Financial Literacy) và Khả Năng Tránh Sự Không Chắc Chắn (Uncertainty Avoidance). Ngoài ra, mô hình đề xuất coi Lòng trung thành (Loyalty) của người dùng FinTech là kết quả của việc có trải nghiệm FinTech tốt
11 Alsmadi, A. A., Alfityani, A., và các cộng sự (2022) nghiên cứu ý định sử dụng fintech trong ngành ngân hàng tại Jordan Nghiên cứu cho thấy có quan hệ cùng chiều giữa ý định sử dụng công nghệ tài chính và Đơn vị xử lý (Processing Unit), tác động xã hội (Social Impact), niềm tin của KHCN ( Customer’s trust) và cảm nhận dễ sử dụng (Perceived Ease of Use)
12 Bureshaid, N. K (2021) nghiên cứu về các yếu tố thúc đẩy ý định phổ biến và áp dụng dịch vụ Fintech cho người tiêu dùng ngân hàng. Kết quả nghiên cứu chính cho thấy ba yếu tố là lợi thế tương đối (Relative Advantage), Khả Năng Tương Thích (Compatibility) và Rủi Ro Nhận Thức (Perceived Risk) là yếu tố dự báo có ảnh hưởng nhất của biến phụ thuộc (ý định áp dụng dịch vụ fintech), tiếp theo là tính tương thích và nhận thức rủi ro khi sử dụng dịch vụ fintech, với nhận thức rủi ro có ảnh hưởng tiêu cực.
13 Putritama, A. (2019) tìm hiểu về Ý định tiếp tục sử dụng Fintech thanh toán di động ở Indonesia Lợi ích nhận thức (Perceived Benefit) và rủi ro nhận thức (Perceived Risk) đều ảnh hưởng đáng kể đến ý định tiếp tục sử dụng thanh toán di động FinTech ở Indonesia, tuy nhiên, Lợi ích nhận thức (Perceived Benefit) có tác động mạnh hơn rủi ro nhận thức (Perceived Risk). Sự thuận tiện (Convenience) có tác động tích cực đáng kể nhất đến Lợi ích nhận thức (Perceived Benefit). Rủi ro tài chính (Financial risk) có ảnh hưởng mạnh nhất đến rủi ro nhận thức, điều này sau đó làm giảm ý định tiếp tục sử dụng FinTech thanh toán di động.
14 Kholoud, B., Nazimah, H., Suzilawat, K. (2023) nghiên cứu ý định hành vi áp dụng các dịch vụ FinTech với sự mở rộng của lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ Kỳ vọng về hiệu suất (Performance Expectancy), kỳ vọng nỗ lực (Effort Expectancy), điều kiện thuận lợi (Facilitating Condition) và các yếu tố hỗ trợ quyền riêng tư (Privacy Enablers) tác động đáng kể và đẩy mạnh ý định hành vi quyết định của người dùng đối với các dịch vụ FinTech.

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

2.6. Khoảng trống nghiên cứu và Mô hình nghiên cứu đề xuất Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể khẳng định rằng công nghệ tài chính Fintech đang trở thành một lĩnh vực nghiên cứu sôi động, thu hút sự chú ý của giới học giả và các nhà ứng dụng bởi tính thời sự và phù hợp với bối cảnh hiện đại. Những nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng tri thức của xã hội, cung cấp các thông tin tham khảo hữu ích cho việc hoạch định chiến lược và cải tiến mô hình quản trị, vận hành các dịch vụ tài chính. Nhờ đó, chất lượng của các dịch vụ tài chính ngày càng được cải thiện, đáp ứng ngày một tốt hơn các nhu cầu và mong đợi của phân khúc KHCN.

Mặc dù Fintech đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu được giới học thuật và các nhà kinh tế quan tâm, lĩnh vực thanh toán vẫn chưa được khám phá một cách toàn diện và chuyên sâu. Điều này đặc biệt đúng khi xét đến vấn đề nghiên cứu về các nhân tố tác động tới quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech trong hoạt động thanh toán. Bên cạnh đó, số lượng các công trình nghiên cứu tập trung vào đối tượng KHCN của ngân hàng Techcombank tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh còn khá hạn chế. Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN Techcombank vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và có hệ thống, tạo ra những khoảng trống kiến thức cần được lấp đầy trong tương lai.

Một điểm đáng lưu ý nữa là khoảng thời gian thu thập dữ liệu từ KHCN, kéo dài từ tháng 12/2023 đến tháng 3/2024, sẽ không trùng khớp với bất kỳ nghiên cứu nào trước đây. Điều này đảm bảo tính độc đáo và tính thời sự của dữ liệu thu thập được. Việc sở hữu một bộ dữ liệu phong phú và mới mẻ sẽ tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu có được góc nhìn toàn diện và chuyên sâu hơn về xu hướng và hành vi ứng dụng dịch vụ Fintech của phân khúc KHCN tại ngân hàng Techcombank. Những kết quả và thông tin thu được từ nghiên cứu này sẽ trở thành nền tảng quan trọng, giúp Techcombank cũng như các định chế tài chính khác hoàn thiện và nâng cấp các dịch vụ Fintech, qua đó đáp ứng ngày một tốt hơn những mong đợi của KHCN và thúc đẩy sự hài lòng của họ. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Như vậy, tác giả nhận thấy còn tồn tại những khoảng trống kiến thức cần được lấp đầy liên quan đến vấn đề quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech của KHCN Techcombank. Bên cạnh đó, việc thu thập dữ liệu từ phân khúc KHCN này trong giai đoạn từ tháng 12/2023 đến tháng 3/2024 cũng được xác định là một hướng nghiên cứu mới mẻ và cần thiết. Những khoảng trống nghiên cứu này đã định hướng và thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài về hành vi sử dụng dịch vụ Fintech tại Techcombank làm trọng tâm cho công trình nghiên cứu của mình.

Mô hình nghiên cứu đề xuất: Với nền tảng kiến thức về dịch vụ Fintech, hành vi chấp nhận các dịch vụ ngân hàng số, cùng với việc tham khảo các mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả đã tiến hành tổng quan tài liệu để phát triển mô hình nghiên cứu và hình thành các giả thuyết dựa trên cơ sở lý luận của mô hình chấp nhận công nghệ TAM. Tác giả đề xuất đưa vào mô hình các nhân tố Cảm nhận về Tính hữu dụng (Perceived Usefulness) và Cảm nhận về Tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use). Bên cạnh đó, qua việc nghiên cứu tình hình áp dụng thực tế các dịch vụ Fintech trong hoạt động thanh toán của ngân hàng, tác giả đã xây dựng một mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech của phân khúc KHCN tại Techcombank. Mô hình này bao gồm các yếu tố: Tính sáng tạo của người dùng (User Innovativeness), Rủi ro cảm nhận (Perceived Risk), Niềm tin vào tính an toàn và bảo mật (Perceived Trust), Sự hỗ trợ từ phía Chính phủ (Government Support), Hình ảnh thương hiệu ngân hàng (Brand Image), Sự thuận tiện (Convenience), và Các chuẩn mực chủ quan (Subjective Norms).

Bảng 2.2: Tổng hợp các nhân tố trong các nghiên cứu trước

Với đề tài “Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Sử Dụng Dịch Vụ Fintech Trong Thanh Toán Của Khách Hàng Cá Nhân Tại Techcombank Khu Vực Thành Phố Hồ Chí Minh” tác giả áp dụng phương pháp ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố độc lập đến biến phụ thuộc là quyết định sử dụng dịch vụ (Intention to Use – IU). Dưới đây là mô hình nghiên cứu mà tác giả xây dựng và đề xuất áp dụng trong khuôn khổ đề tài này:

IU = α + β1PU + β2PE + β3PR + β4UI + β5PT + β6GS + β7BI + β8CC + β9SN + ε

Trong đó:

  • Biến phụ thuộcIU: Quyết định/ Dự định sử dụng dịch vụ (Intention to Use)
  • Biến độc lập bao gồm:

Bảng 2.3: Các Biến Độc Lập Của Mô Hình Nghiên Cứu

Tiếng Anh Tiếng Việt Ký hiệu
1 Sự hữu ích Perceived Usefulness PU
2 Tính Dễ Sử Dụng Perceived Ease of Use PE
3 Rủi ro nhận thức Perceived Risk PR
4 Tính Đổi Mới Của Người Dùng User Innovativeness UI
5 Tính an toàn và bảo mật Perceived Trust PT
6 Hỗ Trợ Của Chính Phủ Government Support GS
7 Hình Ảnh Thương Hiệu Brand Image BI
8 Sự thuận tiện Convenience CC
9 Chuẩn chủ quan Subjective Norms SN

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

  • α: Biến ngẫu nhiên thể hiện tác động cơ bản lên Quyết định sử dụng dịch vụ (IU) không phụ thuộc vào các biến độc lập.
  • β1, β2, β3, β4, β5, β6, β7, β8, β9: Hệ số hồi quy thể hiện mức độ ảnh hưởng của từng biến độc lập (PU, PE, PR, UI, PT, GS, BI, CC, SN) lên Quyết định sử dụng dịch vụ (IU).
  • ε: Sai số ngẫu nhiên

Mô hình nghiên cứu này bao gồm một biến phụ thuộc và chín biến độc lập. Biến phụ thuộc IU thể hiện ý định hoặc quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech của KHCN. Chín biến độc lập được đưa vào mô hình gồm có: (1) Sự hữu ích cảm nhận (Perceived Usefulness – PU), (2) Tính Dễ Sử Dụng (Perceived Ease of Use – PE), (3) Rủi ro nhận thức (Perceived Risk – PR), (4) Tính Đổi Mới Của Người Dùng (User Innovativeness – UI), (5) Tính an toàn và bảo mật (Perceived Trust – PT), (6) Hỗ Trợ Của Chính Phủ (Government Support – GS), (7) Hình Ảnh Thương Hiệu (Brand Image – BI), (8) Sự thuận tiện (Convenience – CC), và (9) Chuẩn chủ quan (Subjective Norms – SN).

2.7. Phân tích sự tác động của các biến đến dịch vụ thanh toán bằng Fintech

2.7.1. Sự hữu ích cảm nhận (Perceived Usefulness – PU)

Theo TAM được giới thiệu bởi Davis, Bagozzi, & Warshaw, 1989), tính hữu ích được xem là một cơ sở then chốt quyết định việc chấp nhận và sử dụng công nghệ. Thực tiễn hữu ích đề cập đến mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng một hệ thống hoặc dịch vụ cụ thể sẽ cải thiện hiệu suất công việc hoặc hoàn thành nhiệm vụ của họ.

Trong bối cảnh áp dụng dịch vụ fintech, tính hữu ích có thể được định nghĩa là niềm tin của KHCN rằng việc sử dụng dịch vụ fintech sẽ mang lại các lợi ích như sự tiện lợi, tốc độ và hiệu quả trong việc thực hiện các giao dịch tài chính. Niềm tin này có thể chi phối đáng kể đến thái độ của KHCN đối với dịch vụ fintech và quyết định áp dụng các dịch vụ này (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003). Do đó, giả thuyết H1 có thể được đề xuất như sau:

Giả thuyết 1 (H1): Cảm nhận tính hữu ích có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

2.7.2. Tính Dễ Sử Dụng (Perceived Ease of Use – PE)

Cảm nhận về tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use) thể hiện niềm tin của một cá nhân rằng việc vận hành một hệ thống hoặc dịch vụ cụ thể sẽ không đòi hỏi quá nhiều nỗ lực (Davis, Bagozzi, & Warshaw, 1989). Trong phạm vi của các dịch vụ fintech, khái niệm này ám chỉ mức độ mà KHCN tin tưởng rằng các dịch vụ Fintech có giao diện thân thiện, cấu trúc đơn giản, dễ nắm bắt và dễ thao tác, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng dịch vụ. Nhận thức này có thể tạo ra tác động đáng kể lên thái độ của KHCN đối với các dịch vụ fintech cũng như quyết định chấp nhận và ứng dụng chúng. (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003).

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, khái niệm tính dễ sử dụng được định nghĩa là nhận thức của KHCN về mức độ thuận tiện và đơn giản khi thực hiện các thao tác trên ứng dụng. Xuất phát từ định nghĩa trên, tác giả đề xuất giả thuyết H2 như sau:

Giả thuyết 2 (H2): Tính dễ sử dụng có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh.

2.7.3. Rủi ro nhận thức (Perceived Risk – PR)

Rủi ro cũng là một nhân tố then chốt tác động tới quyết định ứng dụng dịch vụ fintech của phân khúc KHCN. Khái niệm rủi ro trong bối cảnh này ám chỉ những mối đe dọa tiềm tàng liên quan đến khía cạnh tài chính, quyền riêng tư và bảo mật mà KHCN gắn liền với hành vi sử dụng các dịch vụ fintech. Trong lĩnh vực tài chính, yếu tố rủi ro có thể gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định lựa chọn một dịch vụ cụ thể của người tiêu dùng, xuất phát từ tính chất nhạy cảm vốn có của các thông tin và giao dịch tài chính. (Featherman & Pavlou, 2003).

Trên một phạm vi rộng hơn, khái niệm rủi ro có thể hàm chứa những quan ngại xoay quanh vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân, tổn thất tài chính và các lỗ hổng trong hệ thống bảo mật. Nếu KHCN nhận thấy rằng việc ứng dụng các dịch vụ Fintech có thể tiềm ẩn nguy cơ mất mát về tài chính hoặc vi phạm quyền riêng tư cá nhân, họ có thể do dự trong việc chấp nhận sử dụng các dịch vụ này. Chính vì vậy, các ngân hàng cần triển khai các biện pháp giảm thiểu những rủi ro nói trên và xây dựng mối quan hệ tin cậy với KHCN nhằm thúc đẩy quá trình ứng dụng dịch vụ fintech (Bauer, Hammerschmidt, & Falk, 2005). Xuất phát từ những lập luận trên, tác giả đề xuất giả thuyết H3 như sau: Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Giả thuyết 3 (H3): Yếu tố Rủi ro Cảm nhận có tác động nghịch biến (-) tới Quyết định Ứng dụng Dịch vụ Fintech của KHCN Cá nhân tại Ngân hàng Techcombank trên Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh..

2.7.4. Tính Đổi Mới Của Người Dùng (User Innovativeness – UI)

Tính đổi mới của người dùng là một khía cạnh thường bị bỏ qua nhưng lại có tầm ảnh hưởng đáng kể trong việc định hình quyết định ứng dụng dịch vụ fintech của phân khúc KHCN. Khái niệm này đề cập đến khuynh hướng của một cá nhân trong việc tiếp nhận và áp dụng các công nghệ tiên tiến trước phần lớn những người khác trong mạng lưới xã hội của họ, qua đó mở đường cho quá trình chấp nhận và sử dụng trên diện rộng (Rogers, 2003). Tính sáng tạo thể hiện thái độ cởi mở đối với sự thay đổi, phản ánh nhu cầu tìm kiếm sự mới mẻ và niềm đam mê khám phá (Schwartz, 1992).

Trong lĩnh vực dịch vụ Fintech, tính đổi mới biểu hiện như sự sẵn sàng thử nghiệm và áp dụng các dịch vụ Fintech của KHCN, ngay cả trước khi chúng trở nên phổ biến. Những người áp dụng sớm (early adopter) hoặc những “nhà sáng tạo (innovator)” này thường tạo ra làn sóng cho việc áp dụng công nghệ, bao gồm cả dịch vụ Fintech. Họ thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn và có mức độ tương tác xã hội cao hơn so với những người áp dụng muộn (late adopter). Hành vi ứng dụng các công nghệ tiên tiến của nhóm KHCN tiên phong này có thể tạo ra tác động lan tỏa đáng kể, thúc đẩy quá trình chấp nhận và sử dụng các công nghệ đó trong toàn bộ nền KHCN của tổ chức. (Agarwal & Prasad, 1998).

Tác giả nhận định rằng những cá nhân có khuynh hướng ưa thích sự đổi mới trong lĩnh vực công nghệ và phương thức thanh toán sẽ có xu hướng ứng dụng dịch vụ một cách hiệu quả hơn, từ đó thu được nhiều lợi ích thiết thực hơn. Xuất phát từ nhận định trên, giả thuyết H4 được hình thành như sau:

Giả thuyết 4 (H4): Tính đổi mới ảnh hưởng tác động thuận chiều đến việc quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh.

2.7.5. Tính an toàn và bảo mật (Perceived Trust – PT) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Các ứng dụng và dịch vụ Fintech giúp KHCN thanh toán nhanh chóng dễ dàng, mọi lúc mọi nơi. Với càng nhiều các tính năng thì đi kèm với nó khả năng rủi ro về tính bảo mật thông tin cũng ngày càng cao. Do đó, “Tính an toàn và bảo mật” thông tin KHCN là nhân tố tác động trực tiếp lợi ích cảm nhận của KHCN và từ đó tác động gián tiếp đến quyết định tiếp nhận dịch vụ của KHCN. Đây là một yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến việc áp dụng dịch vụ Fintech của KHCN ngân hàng cá nhân. Trong bối cảnh dịch vụ fintech, lòng tin đề cập đến sự tín nhiệm vào sự tin cậy, tính chính trực và năng lực của nhà cung cấp dịch vụ. Khái niệm này thể hiện niềm tin của KHCN vào năng lực của nhà cung ứng dịch vụ trong việc cung cấp các dịch vụ một cách an toàn và đáng tin cậy, đồng thời bảo vệ các thông tin cá nhân và tài chính của KHCN trước những rủi ro tiềm tàng. Sự tin tưởng này đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng mối quan hệ bền vững giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng, đặc biệt trong bối cảnh các dịch vụ tài chính số. (Mayer, Davis, & Schoorman, 1995).

Trong lĩnh vực dịch vụ Fintech, khái niệm lòng tin có thể được hiểu là mức độ tín nhiệm và cảm giác an toàn mà phân khúc KHCN dành cho tính đáng tin cậy và khả năng bảo mật thông tin của các dịch vụ fintech do ngân hàng của họ cung cấp. Yếu tố lòng tin có thể tạo ra tác động đáng kể lên quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech của người tiêu dùng, xuất phát từ thực tế rằng việc sử dụng các dịch vụ này thường đi kèm với hành vi chia sẻ các thông tin tài chính mang tính nhạy cảm và thực hiện một lượng lớn các giao dịch tài chính trên môi trường trực tuyến. (Lee & Turban, 2001).

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, khái niệm “Niềm tin vào Tính an toàn và Bảo mật” được định nghĩa như sau: mức độ tín nhiệm của người dùng vào khả năng của các dịch vụ công nghệ tài chính trong việc đảm bảo tính bảo mật của thông tin cá nhân và tính an toàn của các giao dịch tài chính khi thực hiện các hoạt động thanh toán. Khái niệm này phản ánh cảm nhận của KHCN về mức độ tin cậy và an tâm khi sử dụng các dịch vụ fintech trong các giao dịch thanh toán trực tuyến.

Giả thuyết 5 (H5): Sự an toàn và bảo ảnh hưởng tích cực đến việc quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh.

2.7.6. Hỗ Trợ Của Chính Phủ (Government Support – GS)

Hỗ trợ của Chính phủ đề cập đến những nỗ lực của Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển và trải nghiệm dịch vụ Fintech thông qua các chính sách, quy định, sáng kiến và hành lang pháp lý cụ thể. Sự hỗ trợ này có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và chấp nhận của các dịch vụ Fintech (Zavolokina, Dolata, & Schwabe, 2016).

Trên một phạm vi rộng hơn, sự hỗ trợ từ phía Chính phủ có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, bao gồm việc tạo lập một khuôn khổ pháp lý thuận lợi, cung cấp các chính sách ưu đãi về tài chính, xây dựng các trung tâm thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực Fintech, và triển khai các sáng kiến nhằm nâng cao năng lực tiếp cận và ứng dụng kiến thức số của người dân. Những nỗ lực này có thể tạo ra tác động đáng kể lên khả năng ứng dụng dịch vụ fintech của phân khúc KHCN. Chẳng hạn, việc thiết lập một khuôn khổ pháp lý phù hợp sẽ góp phần giảm thiểu những rủi ro gắn liền với việc sử dụng dịch vụ fintech, trong khi các sáng kiến nâng cao kiến thức số có thể giúp cải thiện tính dễ sử dụng của dịch vụ đối với người dùng cuối (Arner, Barberis, & Buckley, 2016). Xuất phát từ những lập luận trên, giả thuyết H6 được hình thành như sau:

Giả thuyết 6 (H6): Sự hỗ trợ của Chính phủ có ảnh hưởng tích cực (+) đến việc quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

2.7.7. Hình Ảnh Thương Hiệu (Brand Image – BI)

Keller (1993) khẳng định rằng một hình ảnh thương hiệu tích cực và mạnh mẽ có khả năng gia tăng sự tin tưởng của KHCN, hạn chế những rủi ro tiềm ẩn và khuyến khích họ trải nghiệm các dịch vụ mới mà thương hiệu đó cung cấp. Nói cách khác, hình ảnh thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng, được tạo dựng thông qua những trải nghiệm, cảm nhận và sự liên tưởng của họ với thương hiệu, có thể đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi và thái độ của KHCN đối với các sản phẩm và dịch vụ mang thương hiệu đó.

Trong lĩnh vực dịch vụ fintech, khái niệm hình ảnh thương hiệu có thể được định nghĩa là cảm nhận của KHCN về mức độ uy tín, sự tin cậy và đáng tin của Ngân hàng Techcombank trong vai trò là nhà cung cấp dịch vụ Fintech. Một hình ảnh thương hiệu tích cực có khả năng gia tăng sự tín nhiệm của KHCN đối với các dịch vụ Fintech do ngân hàng cung cấp, từ đó tác động tới quyết định ứng dụng các dịch vụ này. Trong trường hợp KHCN nhìn nhận Techcombank như một đơn vị cung ứng dịch vụ Fintech đáng tin cậy, họ sẽ có xu hướng trải nghiệm và sử dụng các dịch vụ này với tần suất cao hơn (Lau, Chang, Moon, & Liu, 2006). Xuất phát từ những lập luận trên, giả thuyết H7 được đề xuất như sau:

Giả thuyết 7 (H7): Hình ảnh ngân hàng ảnh hưởng tích cực đến việc quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh. 

2.7.8. Sự thuận tiện (Convenience – CC)

Khái niệm sự thuận tiện thể hiện mức độ dễ tiếp cận và tốc độ thao tác mà KHCN có thể trải nghiệm khi sử dụng các dịch vụ tài chính, từ đó góp phần cải thiện trải nghiệm tổng thể và thúc đẩy sự hài lòng của họ. Trong phạm vi của các dịch vụ fintech, sự thuận tiện có thể được cải thiện thông qua một loạt các yếu tố như tính sẵn có 24/7, khả năng truy cập dễ dàng, giao diện người dùng thân thiện và quy trình được tối giản hóa. Những yếu tố này đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng trải nghiệm của KHCN và thúc đẩy hành vi sử dụng dịch vụ fintech (Yousafzai, Foxall, & Pallister, 2010).

Trong lĩnh vực dịch vụ fintech, khái niệm sự thuận tiện có thể được định nghĩa là mức độ mà KHCN nhận thấy việc ứng dụng các dịch vụ fintech mang lại sự đơn giản, tiết kiệm thời gian và phù hợp với phong cách sống của họ. Do các dịch vụ này thường được phát triển với mục tiêu sử dụng mọi lúc mọi nơi, chúng có khả năng mang đến một mức độ tiện ích vượt trội so với các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Yếu tố thuận tiện này có thể tạo ra tác động đáng kể lên quyết định chấp nhận sử dụng dịch vụ fintech của người tiêu dùng (Laukkanen, 2016). Xuất phát từ những lập luận trên, giả thuyết H8 được hình thành như sau:

Giả thuyết 8 (H8): Sự thuận tiện ảnh hưởng tích cực (+) đến việc quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh.

2.7.9. Chuẩn chủ quan (Subjective Norms – SN). Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

Chuẩn Chủ quan, một khái niệm được đề cập trong Thuyết Hành động Hợp lý (TRA) và Thuyết Hành vi Hoạch định (TPB), có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình quyết định ứng dụng dịch vụ Fintech của phân khúc KHCN. Khái niệm này ám chỉ mức độ mà một cá nhân cảm nhận áp lực xã hội trong việc thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi cụ thể, chịu sự chi phối bởi quan điểm và ý kiến của những người có ảnh hưởng quan trọng trong cuộc sống của họ như gia đình, bạn bè thân thiết hay đồng nghiệp (Ajzen & Fishbein, 1980).

Trong lĩnh vực dịch vụ Fintech, khái niệm các chuẩn mực chủ quan có thể được định nghĩa là sự tác động của quan điểm và hành vi của những cá nhân khác lên quyết định chấp nhận sử dụng dịch vụ Fintech của phân khúc KHCN. Trong trường hợp người tiêu dùng nhận thấy rằng những cá nhân có ảnh hưởng quan trọng đối với họ (như gia đình, bạn bè thân thiết hoặc những người có tầm ảnh hưởng) ủng hộ và ứng dụng dịch vụ Fintech, bản thân họ cũng sẽ có xu hướng cao hơn trong việc sử dụng các dịch vụ này. Nhận thức này có thể tạo ra tác động đáng kể lên thái độ và hành vi ứng dụng dịch vụ fintech của người dùng (Venkatesh & Davis, 2000). Trong khuôn khổ nghiên cứu này, khái niệm “Các Chuẩn mực Chủ quan” thể hiện sự ảnh hưởng của môi trường xã hội xung quanh và các yếu tố bên ngoài lên cảm nhận và hành vi sử dụng dịch vụ Fintech trong lĩnh vực thanh toán của KHCN.

Giả thuyết 9 (H9): “Chuẩn chủ quan” có ảnh hưởng tích cực (+) đến việc quyết định sử dụng dịch vụ Fintech của KHCN tại Techcombank ở Thành phố Hồ Chí Minh.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương này tập trung vào việc khảo cứu và tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực Fintech cũng như những lý thuyết nền tảng phù hợp với đề tài luận văn đã lựa chọn. Thông qua quá trình tìm hiểu và phân tích tài liệu, tác giả đã xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và phát triển một mô hình lý thuyết làm cơ sở vững chắc cho việc triển khai các bước nghiên cứu tiếp theo và hoàn thiện luận văn. Những nội dung được trình bày trong chương này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho các công đoạn nghiên cứu sâu hơn trong các chương sau của luận văn. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Fintech

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537