Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN GIANG 

2.1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

An Giang là tỉnh đồng bằng có núi thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, chạy dọc theo hữu ngạn sông Hậu thuộc hệ thống sông Mekong, một phần nằm trong vùng Tứ Giác Long Xuyên.

An Giang có tọa độ từ 1000 vĩ Bắc và từ 104046’ đến 105035’ kinh độ Đông. Phía  Bắc giáp Campuchia (97 km), phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107.6 km), phía Nam giáp Thành Phố Cần Thơ (44,7 km), phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang (70 km). Đặc biệt, An Giang có chung 104 km đường biên giới với Campuchia về phía Bắc và Tây Bắc.

Tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên là 3406.2 km2 chiếm 1,03% diện tích cả nước và đứng thứ 4 ở Đồng Bằng Sông Cửu Long  (sau Kiên Giang, Cà Mau và Long An), số dân năm 2025 là 2.194.218 người, bằng 2.64 % dân số cả nước, đứng đầu các tỉnh ĐBSCL và đứng thứ 6 trên tổng 64 tỉnh, thành phố. Tỉnh gồm có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện; trong đó thành phố Long Xuyên là trung tâm kinh tế- văn hóa – xã hội của tỉnh .

An Giang có vị trí đặc biệt cả về tự nhiên lẫn kinh tế xã hội. Về tự nhiên là vùng vừa có đồng bằng, sông, rạch, rừng và hệ thống núi non hùng vĩ… nổi tiếng là dãy Thất Sơn ở hai huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và núi Sam (Châu Đốc) với khu di tích lịch sử văn hóa lâu đời, núi Sập với khu di chỉ văn hóa Óc Eo. Về kinh tế – xã hội: ở vị trí đầu nguồn biên giới Tây Nam của Tổ Quốc, với 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu liền kề với Thành Phố Cần Thơ và cách Thành Phố Hồ Chí Minh 190 km theo đường chim bay, hệ thống thủy bộ khá thuận tiện: Quốc lộ 91 nối với Quốc lộ 2 của Campuchia; sông Tiền, sông Hậu và mạng lưới kênh rạch là những tuyến giao lưu quốc tế quan trọng, nối tỉnh An Giang với các tỉnh ĐBSCL và Biển Đông, nối với  Campuchia, Lào, Thái Lan  thông qua Cửa Khẩu Vĩnh Xương (huyện Tân Châu) và Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên) – đây là điều kiện thuận lợi cho phép phát triển và hội nhập nền kinh tế  An Giang với các tỉnh Nam Bộ và các tỉnh khác trong cả nước và với nước ngoài, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Những thuận lợi đó của vị trí địa lí tự nhiên là một trong những điều kiện thuận lợi để giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế và du lịch của tỉnh. Tuy nhiên, An Giang gặp không ít khó khăn về việc thiếu nước mùa khô, lũ vào mùa mưa. Hiện nay, An Giang đang tận dụng các nguồn lợi lớn từ lũ như bồi đắp phù sa, nguồn thủy sản mà vẫn chung sống được với lũ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. VỊ TRÍ DU LỊCH AN GIANG TRONG HỆ THỐNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH VIỆT NAM VÀ ĐÔNG DƯƠNG

Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030”, lãnh thổ Việt Nam được phân ra thành 3 vùng du lịch:

  • Vùng du lịch Bắc Bộ, bao gồm 29 tỉnh, thành phố phía Bắc từ Hà Giang đến Hà Tĩnh.
  • Vùng du lịch Bắc Trung Bộ, bao gồm 6 tỉnh, thành phố từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi.
  • Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ, bao gồm 29 tỉnh, thành phố từ Komtum đến Cà Mau với 2 vùng du lịch Nam Trung Bộ (Bình Định) và Nam Bộ [18]

Phát triển du lịch ở mỗi vùng xuất phát từ điều kiện, đặc điểm phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương và lợi thế về du lịch của từng vùng nhằm khai thác tốt tiềm năng của cả nước để phát triển du lịch.

Như vậy, An Giang nằm trong hệ thống vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Đây là điều kiện thuận lợi để tiếp khách du lịch từ mọi nơi, đặc biệt là trung tâm Thành Phố Hồ Chí Minh. Do vị trí nằm gần biên giới Tây Nam Tổ Quốc nên An Giang không chỉ có được nguồn khách từ các địa bàn trọng điểm của Trung Nam Bộ và Nam Bộ mà còn cả khách du lịch ngoài nước. Cụ thể là Campuchia, Lào (du lịch tiểu vùng sông Mekong: Việt Nam – Campu chia – Lào).

Ngoài ra, An Giang có 2 cửa khẩu Quốc Tế Vĩnh Xương (huyện Tân Châu) và Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên) là cửa ngõ quan trọng để tỉnh mở rộng thị trường du lịch, khuyến khích phát triển du lịch đường thủy và đường bộ, chính phủ cho phép áp dụng chính sách kinh tế cửa khẩu, phát triển kinh tế biên giới là tỉnh cầu nối và là trung tâm để quan hệ với tiểu vùng sông Mêkong để bước đầu cho mọi điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và gia nhập nền kinh tế thương mại thế giới WTO.

2.1.3. VỊ TRÍ DU LỊCH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA TỈNH AN GIANG.

An Giang có vị trí thuận lợi về điều kiện tự nhiên lẫn kinh tế xã hội, là tỉnh nằm ở biên giới tây nam, có đường biên giới dài, thuận lợi cho việc giao lưu với các nước khu vực và quốc tế. Từ năm 2020 đến nay, nền kinh tế của tỉnh  liên tục tăng trưởng, GDP bình quân đầu người tăng từ 320 USD/năm 2021 lên 568 USD/năm 2025.

Cơ cấu GDP của tỉnh phân theo khu vực kinh tế cũng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn chậm. Năm 2020 tỷ trọng Khu Vực I ( nông – lâm- thủy sản) chiếm 42 %, Khu Vực II (công nghiệp – xây dựng) chiếm 11% và Khu vực III (dịch vụ) chiếm 47 % . Đến năm 2025, Khu vực I giảm còn 38 %, khu vực II tăng lên 12 % và Khu vực III đạt 50 % – trong Khu vực III này thì ngành du lịch ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Biểu đồ 2.1: Cơ Cấu Tổng Sản Phẩm trên địa bàn  Tỉnh An Giang 

Năm 2021 tổng doanh thu du lịch là 446.483 triệu đồng và đến năm 2025 là 1.053.513 triệu đồng (tăng 2,3 lần trong 5 năm). Sự tăng nhanh tỷ trọng GDP du lịch có ý nghĩa lớn trong cơ cấu GDP của tỉnh:

  • Thúc đẩy nhanh khu vực dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu của Tỉnh.
  • Nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua phát triển các ngành, nghề truyền thống, sản phẩm đặc sản…
  • Giải quyết việc làm cho nhân dân. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.
  • Cơ sở hạ tầng được đầu tư tốt.

Trong Quy hoạch phát triển ngành du lịch tỉnh An Giang đến năm 2030 đã xác định vị trí quan trọng của du lịch trong thời kỳ đổi mới và trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Chính phủ ban hành Nghị Quyết 45/CP về “đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch” đã nhấn mạnh: “ Tập trung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch với những sản phẩm đặc sắc, hấp dẫn, thu hút vốn trong và ngoài nước…” và Nghị Quyết Hội Nghị lần thứ VII của BCHTW Đảng khóa VII ngày 30/07/2014 chỉ rõ :” Phát triển du lịch hình thành ngành công nghiệp du lịch có qui mô ngày càng cao tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của nước ta”. Qua đó, xác định rõ vai trò của du lịch để trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.[15],[21]

2.2. TÀI NGUYÊN DU LỊCH

2.2.1. TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN

2.2.1.1. ĐỊA HÌNH

Địa hình của An Giang có 2 dạng chính là đồng bằng và đồi núi.

2.2.1.1.1. Địa hình đồng bằng

Chiếm 87% diện tích tự nhiên, là nơi sinh sống của 89% cư dân trong toàn tỉnh. Theo nguồn gốc địa hình đồng bằng có 2 loại chính là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi.

  • Đồng bằng phù sa

Là một bộ phận của ĐBSCL, gồm 2 khu vực:

Khu vực 1: nằm giữa 2 sông Tiền và sông Hậu thuộc các huyện Tân Châu, An Phú, Phú Tân và Chợ Mới có dạng cù lao giữa sông Hậu và lòng chảo cao ở 2 gờ sông, thấp dần ở giữa. Đất ở đây chủ yếu là đất cát pha đến thịt nhẹ. Khu vực này thuận lợi ngành nông nghiệp và cho phát triển du lịch sông nước, tham quan các vườn cây ăn quả.

Khu vực 2: đồng bằng hữu ngạn sông Hậu gồm các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, thị xã Châu Đốc và thành phố Long Xuyên, có một phần nằm trong vùng Tứ Giác Long Xuyên. Địa hình hơi nghiêng, cao từ sông Hậu, thấp dần vào nội đồng đến tận ranh giới Kiên Giang. Đất chuyển từ thịt nhẹ đến đất sét; Khu vực này ngoài việc có giá trị về du lịch, còn gắn với khu di chỉ Óc Eo của Vương Quốc Phù Nam – một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đông Nam Á cách đây hơn 2020 năm.

  • Đồng bằng ven núi

Đồng bằng ven núi với 2 kiểu sườn tích và phù sa cổ: được hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá.

2.2.1.1.2. Địa hình đồi núi thấp Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Chiếm 13% diện tích tự nhiên và 11% dân cư toàn tỉnh, tập trung ở 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn.

Đồi núi An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km từ huyện An Phú qua thị xã Châu Đốc, rồi bao trùm hết diện tích 2 huyện  Tri Tôn Và Tịnh Biên, sau đó kéo dài tới huyện Thoại Sơn, gồm các núi: núi dài Năm Giếng, núi Két, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng, núi Nước và núi Cô Tô đã nối dài dãy Đăng-Rếch (Campuchia) với vùng núi Ba Thê. Núi Sam (thị xã Châu Đốc), núi Sập (Thoại Sơn) nổi lên giữa cánh đồng lúa xanh tạo nên vẽ đẹp sinh động [5].

Đất đai của vùng núi chủ yếu là đất xám, nghèo dinh dưỡng, thoát nước mạnh, dễ bị khô hạn và xoáy mòn. Sản xuất nông nghiệp chỉ một vụ vào mùa mưa, chủ yếu trồng cây ăn quả và trồng rừng.

Tóm lại, địa hình xen kẽ giữa đồng bằng và đồi núi tạo nên một bức tranh sinh động, nó sẽ có giá trị du lịch khi được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên quý giá và có cách khai thác hợp lý. Địa hình này có ý nghĩa khi hình thành những tuyến du lịch sinh thái kết hợp leo núi, góp phần làm phong phú hoạt động du lịch, làm tăng sự hứng thú và sức khỏe cho du khách.

2.2.1.2. ĐẤT ĐAI

Đất An Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi nên rất đa dạng. Mỗi một vùng trầm tích trong môi trường khác nhau sẽ tạo nên một nhóm đất khác nhau, với những thay đổi về chất đất, địa hình, hệ sinh thái và tập quán canh tác.

Có thể phân đất đai An Giang ra thành 3 nhóm chính: nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn, nhóm đất đồi núi.

  • Nhóm đất phù sa

Đất phù sa ở An Giang có nguồn gốc và môi trường trầm tích đa dạng, do nhiều yếu tố tác động đến môi trường trầm tích, qui mô trầm tích, chế độ trầm tích cũng như vật liệu trầm tích đã tạo nên những lọai đất khác nhau.

Đặc tính đất phù sa là chứa nhiều chất hữu cơ, PH thấp, ít bị bào mòn, xâm thực mà chủ yếu luôn được bồi đắp hàng năm với mức độ khác nhau trong điều kiện trầm tích khác nhau tạo nên cảnh quan xanh tốt.

Diện tích khoảng 1.354 ha, chiếm 66% diện tích tự nhiên. Phân bố ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Tân Châu, Thoại Sơn, Chợ Mới và một phần của thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc.

  • Nhóm đất phèn Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Đất phèn là đất có chứa nguồn gốc sunphat (SO42-) và có độ PH thấp, chỉ khoảng 2-3. Phân bố nhiều ở vùng tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang, thuộc địa phận Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần Châu Phú, với tổng diện tích khoảng 30.136 ha (chiếm 23% diện tích tự nhiên), trong đó huyện Tri Tôn chiếm 67% trên tổng diện tích đất.

Nhóm đất này được hình thành do quá trình Biển tiến cách đây 6000 năm để lại, đặc biệt trong môi trường vũng vịnh biển nông, trên đó rừng ngập mặn phát triển mạnh mẽ như đước, sú, mắm…Các loại thực vật này thường tích lũy chất lưu huỳnh trong than và rễ dưới dạng hợp chất hữu cơ. Khi những khu rừng này bị vùi lấp, xác của chúng bị những sinh vật yếm khí phân hủy và thải lưu huỳnh ra môi trường dưới dạng sunfit, chúng kết hợp với sắt, nhôm có trong dòng nước tạo thành những lớp đất chứa nhiều pyrite. Pyrite chứa trong trầm tích đầm lầy gọi là tầng phèn tiềm tàng.

  • Nhóm đất đồi núi

Là nhóm đất được hình thành từ quá trình phân hóa, xâm thực của đồi núi đá. Sau đó bị các dòng lũ mang xuống tích tụ thành những vành đai thổ nhưỡng xung quanh núi dưới dạng: yếm phù sa, viên chùy, rảnh xói và đất phong hóa. Thích hợp cho việc trồng rừng tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái như rừng Trà Sư (Tịnh Biên)

Đất đồi núi phân bố tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê). Tổng diện tích đồi núi ở An Giang khoảng 29.320 ha, chiếm 23% diện tích tự nhiên.

2.2.1.3. KHÍ HẬU

Vĩ độ địa lý của An Giang nằm trong khoảng 10 -11o vĩ bắc, tức là nằm gần xích đạo nên các quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo.

  • a. Mây 

Lượng mây của An Giang tương đối ít, trong mùa khô có khi trời có mây nhưng vẫn nắng. Trong mùa mưa, lượng mây thường nhiều hơn. Lượng mây trung bình tháng của mùa khô là 3,1/10 và của tháng mùa mưa là 6,9/10.

  • Nhiệt

Nhiệt độ trung bình của An Giang không những cao mà còn rất ổn định. Nhiệt độ trung bình năm của năm 2025 là 27,7oC; Về mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) nhiệt độ trung bình là 27,20C, chênh lệch giữa các tháng trong mùa chỉ kém nhau khoảng 1,5oC đến 30 C; Còn trong các tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng11 năm sau) nhiệt độ trung bình là 28,10C, chênh lệch giữa các tháng chỉ dưới 10C.

Lượng bức xạ tương đối lớn, An Giang có mùa nắng chói chang và trở thành địa phương có số giờ nắng trong năm lớn kỉ lục cả nước. Bình quân mùa khô có tới 10giờ nắng/ngày, mùa mưa ít hơn nhưng cũng gần tới 7giờ nắng/ngày. Tổng nhiệt độ trung bình năm là 10.000oC, với số giờ nắng trung bình năm 2025 là 2241 giờ, số giờ nắng tháng cao nhất là 238,5 giờ (tháng 1 năm 2025) và tháng thấp nhất là 141,3 giờ (tháng 7 năm 2025). Như vậy, An Giang là nơi có nhiệt độ dồi dào, ánh nắng phong phú, điều đó giúp cho hoạt động du lịch được thuận lợi.

  • Gió Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

An giang mùa khô thịnh hành là gió Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây Nam – gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất.

Tốc độ gió ở đây tương đối mạnh, trung bình đạt tới trên 3 m/s. Trong năm, tốc độ gió mùa hè lớn hơn mùa đông.

An Giang là tỉnh nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng gió bão.

  • Mưa

Với tính chất có hai mùa rõ rệt: mùa khô có gió Đông Bắc thịnh hành kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 – thời tiết trong sáng, ít mưa (chiếm 10% lượng mưa hàng năm), gây thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 có gió mùa Tây Nam mang khối khí biển nhiệt đới và xích đạo –  mưa nhiều (chiếm 90% tổng lượng mưa hàng năm), tập trung cao nhất là tháng 8, 9 và 10 với lượng mưa trung bình là 1200 – 1300mm, lượng mưa mùa mưa lại trùng với mùa nước lũ của sông Mêkong dồn về hạ lưu nên đã gây ra tình trạng ngập úng, chi phối nhiều hoạt động sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, nguồn nước dồi dào tạo điều kiện cho hoạt động du lịch sông nước phát triển.

Chế độ bốc hơi và độ ẩm

  • Bốc hơi

Trong mùa khô do nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn, bình quân 110 mm/tháng (vào tháng 3 có tới 160mm). Trong mùa mưa, lượng bốc hơi thấp hơn, bình quân 85mm/ tháng, nhỏ nhất khoảng 52 mm/tháng xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10, là thời kì mưa nhiều, độ ẩm cao.

  • Độ ẩm

Ở An Giang có độ ẩm thấp (nhỏ hơn 80%) thường bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau – nghĩa là, mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa khô, mùa khô có độ ẩm ở thời kì đầu là 77% và cuối còn 73%. Mùa mưa là mùa ẩm ướt, độ ẩm trung bình trong những tháng này là 83%.

Bảng 2.1: Chỉ số khí hậu của An Giang

Nhiệt độ trung bình năm (00c) Lượng mưa bình quân năm (mm) Độ ẩm tương đối (%)
27,7 1200 -1300 78

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê

Nhìn chung, khí hậu của Tỉnh tương đối ôn hòa, nắng nhiều, mưa trung bình, ít thiên tai. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế: nông, lâm, ngư nghiệp, du lịch, giao thông vận tải…Đặc biệt đối với du lịch thuận lợi phát triển nhiều loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, tham quan thắng cảnh, lễ hội hoặc du lịch leo núi, hành hương.

Tuy nhiên, An Giang cũng có các hiện tượng thời tiết đáng lưu ý như lốc xoáy, vòi rồng, mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của Elnino và Lanina

2.2.1.4. THỦY VĂN Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

An Giang  là một trong hai tỉnh đầu nguồn sông Mêkong (phần Việt Nam) theo hai nhánh sông Tiền và sông Hậu song song suốt từ bắc tới nam trên 99km, lưu lượng trung bình năm của hệ thống sông này là 13.500 m3/s, lưu lượng mùa lũ 24.000 m3/s và mùa cạn 5.020 m3. Hệ thống sông lớn chảy qua, nhiều rạch tự nhiên và kênh đào tạo thành một mạng lưới giao thông, thủy lợi khá chằng chịt có 280 tuyến với mật độ chung là 1,72 km/km2 là thuộc mức cao nhất so với các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long.

2.2.1.4.1. Các con sông chính

Sông Tiền và sông Hậu là hai nhánh sông lớn của hạ lưu sông Mêkong trước khi đổ ra biển Đông.

  • Sông Tiền chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đoạn chảy qua An Giang dài 82 km, lòng sông chổ rộng nhất tới hơn 2020 m ở phía trên sông Vàm Nao.
  • Sông Hậu chảy song song với sông Tiền. Đoạn chảy qua An Giang dài 101km, lòng sông chổ rộng nhất từ 800- 2020m. Sông Hậu là tuyến giao thông thủy quan trọng, là nguồn cung cấp nước và phù sa cho Tứ Giác Long Xuyên.
  • Lưu lượng trung bình năm của hai sông là gồm 14 nghìn m3/s; Trong đó mùa lũ là 24 nghìn m3/s và mùa cạn là 5 nghìn m3/s.
  • Sông Vàm Nao nằm gọn trong địa bàn tỉnh An Giang, chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, chiều dài 7 km, nối liền với sông Tiền và sông Hậu, chiều rộng sông trung bình 700 m
  • Sông Bình Di, dài 10km, chảy từ Khánh Bình (An Phú) đến xã Vĩnh Hội Đông (An Phú ) rồi hội tụ với sông Tà Keo (Campuchia) và sông Châu Đốc.

Các con sông này đều chảy qua các vùng có danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, các làng nghề…tạo điều kiện hình thành loại hình du lịch trên sông.

Chế độ thủy văn của An Giang phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước sông Mêkong. Hằng năm có khoảng 70% diện tích tự nhiên bị ngập lụt với mức nước phổ biến từ 1-2,5 m, thời gian ngập từ 2,5- 4 tháng. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Lũ vào Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng theo hai con sông chính là sông Tiền và sông Hậu, thời gian đầu (tháng 6, tháng 7) nước từ hai sông chính theo các kênh trụ chảy vào đồng ruộng và lần lượt làm ngập từ thấp đến cao; Khi mực nước vượt quá +3 m, đồng thời lượng nước tràn qua biên giới Campuchia vào Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên là yếu tố chính tạo nên sự ngập lụt và hình thành “ mùa nước nổi” ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và ở An Giang nói riêng. Hàng năm có khoảng 70 % diện tích bị ngập lụt. Vào mùa lũ đem phù sa bồi đắp hàng năm, thời tiết và khí hậu mát mẽ, rất phù hợp phát triển sản xuất nông nghiệp và du lịch cũng phát triển được loại hình du lịch trên sông nước. Tuy nhiên, thiệt hại do lũ gây ra cho nhân dân cũng không nhỏ, năm 2025 có 30 người chết (trong đó có 27 trẻ em), toàn tỉnh số nhà sập và cuốn trôi 46 nhà, nhà siêu vẹo phải di dời 361 nhà, nhà tốc mái 92 nhà, số nhà ngập nước nền, sàn 876 nhà, các huyện có 1.046 ha diện tích lúa bị ngập úng gặt ép, số ao hầm nuôi trồng bị ngập 252 cái với diện tích bị ngập là 24,4 ha. Tổng chiều dài lộ giao thông nông thôn bị ngập là 106km, tổng chiều dài đường tỉnh lộ bị ngập 18 km, tổng chiều dài các đoạn đê bao bị sạt lở 18.290 m. Tổng diện tích sạt lở 60.803 m2, trong đó diện tích đất nông nghiệp bị sạt lở 20.320 m2. Số hộ tiếp tục di dời là 278 hộ.[ 21]

Do vậy để hạn chế sự thiệt hại do lũ lụt ở mức thấp nhất, người dân An Giang phải chấp nhận sống chung với lũ và khai thác nguồn lợi từ lũ mang đến.

2.2.1.4.2.Các kênh

Cả tỉnh có chừng 21 kênh đào như:

Kênh thoại Hà do ông Nguyễn Văn Thoại đào năm 1818. Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, tiếp nối với sông Kiên Giang, đổ nước ra biển Tây tại cửa Rạch Giá. Kênh dài 12.410 tầm, rộng 20 tầm, ghe xuồng qua lại thuận lợi.

Kênh Vinh Tế đào vào năm 1819 cũng do Nguyễn Văn Thoại chỉ huy. Kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam – Campuchia, bắt đầu từ bờ tây sông Châu Đốc nối giáp với sông Giang Thành (Hà Tiên – Kiên Giang). Tổng chiều dài là 205 dặm rưỡi (91km), rộng 7 trượng 5 thước (25m) và sâu 6 thước (3m)

Nói về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, Đại Nam Nhất Thống Chí viết: “Từ đấy đường sông thông việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Triều đình cho đúc Cửu Đỉnh để làm quốc bảo và tượng trưng cho sự cho sự miên viễn của Hoàng Gia, hình kênh Vĩnh Tế đã được chạm vào Cao Đỉnh.

Kênh Vĩnh An: nhà Nguyễn cho đào kênh này vào năm 1843 để lấy nước lấy nước sông Tiền bổ sung cho sông Hậu và tạo ra trục giao thông thủy nối liền giữa Tân Châu và Châu Đốc, thông nối các vị trí quân sự, kinh tế chiến lược quan trọng của biên cương. Kênh dài 17 km, rộng 30 m và sâu 6 m.

Kênh Trà Sư: đào vào những năm 1830-1850, để ngăn lũ núi, tháo chua rửa phèn và dẫn nước lũ phù sa phục vụ cho khai thác các cánh đồng còn hoang hóa thời bấy giờ thuộc khu vực Thới Sơn – Văn Giáo. Kênh có chiều dài 23km, rộng 10m và sâu trên 2m. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Kênh Thần Nông đào vào năm 1882 ở huyện Phú Tân, bắt nguồn từ xã Vĩnh phú ,nối liền Kênh Vĩnh An đến rạch Cái Đầm. Kênh dài 25km, rộng 6m và sâu 3m. Dùng để tưới tiêu cho đồng ruộng.

Kênh Vàm Xáng: do thực dân Pháp cho đào từ năm 1914 – 1918. Kênh Vàm Xáng cách kênh Vĩnh An 4km về phía thượng lưu để lấy nước sông Tiền bổ sung cho sông Hậu đồng thời tạo ra trục giao thông mới thay cho kênh Vĩnh An. Kênh này dài 9 km, rộng 100 m và sâu trên 20 m.

Ngòai ra, còn có một hệ thống kênh trục: Vàm Răng, Luỳnh Huỳnh, Vàm Rầy, Kiên Lương, Tám Ngàn, Tri Tôn , Ba Thê, Cái Sắn, Mặc Cần Dưng do Pháp xây dựng. Hệ thống kênh trục mới này có tầm quan trọng về thủy lợi khai thác vùng đất hoang hóa Tứ Giác Long Xuyên, vận tải hàng hóa, phân bố dân cư…

Năm 1975, An Giang đã đào thêm kênh 15 (nối kênh Cần Thảo với kênh Mặc Cần Dưng tại cầu sắt 15 kéo dài đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang), kênh 10 Châu Phú và kênh núi Chóc Năng Gù (trong Tứ Giác Long Xuyên), kênh 7 xã, Cà Mau, Trà Thôn, Ká Tam Bong, Ngã Cạy- kênh Tròn, kênh Mới, H7…

2.2.1.4.3. Các loại rạch

Ngoài các con sông lớn, các kênh thì An Giang còn có một hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp địa bàn của tỉnh với độ dài từ vài km đến 30 km, độ rộng từ vài mét đến 100m và độ uốn khúc quanh co khá lớn.

Những rạch lớn gồm: Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc (Phú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (Chợ Mới), Long Xuyên (Thành Phố Long Xuyên), Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng (Châu Thành), rạch Cần Thảo (Châu Phú). Trong đó, quan trọng là hai rạch: Ông Chưởng và Long Xuyên khá dài, sâu và rộng hơn các rạch còn lại.

  • Rạch Ông Chưởng có hình dạng uốn khúc như mình rồng, chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, dài 20 km, rộng gần 100 m và sâu 8 m. Khả năng tải nước mùa lũ ở mức 800 m3/s với tốc độ 1m/s, rạch này lấy nước sông Tiền đổ vào sông Hậu tại đỉnh Cua Cong của cù lao Mỹ Hòa Hưng.
  • Rạch Long Xuyên bắt đầu từ Thành Phố Long Xuyên chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam có chiều dài gần 18 km chảy ra Biển Tây, nối với sông Kiên của Rạch Giá tỉnh Kiên Giang. Rạch Long Xuyên người dân còn gọi là kênh Rạch Giá – Long Xuyên, có độ rộng bình quân 100m và sâu 8m, có lưu lượng mùa lũ trên 300 m3/s.

2.2.1.4.4. Các  khe suối và hồ

  • Khe suối

Trong cụm núi Cấm, ở độ cao 700m, nước mưa và nước ngầm đã dồn chảy vào các suối An Hảo, hồ Ô Tuk Xa và Suối Tiên.

Cụm núi Dài với độ cao 500m có Suối Vàng, Ô Tà Sóc và khe Đá.

Cụm núi Cô Tô cao trên 600m có suối Ô Thum và Ô Soài So.

  • Hồ Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Hồ tự nhiên: có Búng Bình Thiên Lớn và Búng Bình Thiên nhỏ nằm giữa hai sông Bình Di và sông Hậu tại Khánh Bình (An Phú).

Hồ Nguyễn Du tại phường Mỹ Bình (Thành Phố Long Xuyên) là một nhánh xép của sông Hậu được phù sa bồi đắp tách dần ra.

Hồ nhân tạo, ở vùng núi Tri Tôn – Tịnh Biên vào những năm 1986-2014 có hồ Soài So, Ô Tuk Xa, Cây Đuốc, nhằm cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và cải tạo môi trường sinh thái

Núi Cấm còn có hồ An Hảo ngăn dòng suối nhỏ An Hảo làm hồ.[31]

Nhìn chung, nguồn nước An Giang rất dồi dào, các sông – kênh – hồ- khe suối tạo nên cảnh quan đẹp, mát mẽ, bên cạnh việc đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất của dân cư thì còn thuận lợi cho việc phát triển khu vui chơi giải trí và các điểm du lịch.

2.2.1.5. SINH VẬT

Do khí hậu thuận lợi và đất đai màu mỡ nên động thực vật phát triển phong phú và có nhiều loài.

2.2.1.5.1. Thực Vật

Trong các nguồn tài nguyên thực vật ở An Giang, cây lúa chiếm ưu thế hơn cả, đặc biệt những giống lúa cao sản ngắn ngày có chất lượng cao phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu. Hàng năm sản lượng lúa đạt trên 2 triệu tấn, xuất khẩu trên 500.000 tấn.

Gần đây còn phát huy thế mạnh của các cây trồng nhác như khoai mì để chế biến tinh bột, bắp dùng trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, bắp nhí và đậu nành dùng cho xuất khẩu; cùng nhiều loại rau màu, cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả phục vụ cho nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân dân.

An Giang có nguồn thực vật phong phú dùng làm vật liệu xây dựng, chiếm ưu thế là cây tràm, cây bạch đàn; cũng có nhiều lọai cây gỗ có giá trị làm các sản phẩm mộc dân dụng như gỗ mật, căm xe, giáng hương, vên vên, sao, dầu, xà cừ, cà chất..

Đặc biệt khi kể đến các cây thực vật thì phải nói đến rừng An Giang. Với tổng diện tích năm 2025 là 14.114ha, trong đó có 583ha rừng tự nhiên và 13.531ha rừng trồng. Rừng tập trung nhiều ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Rừng An Giang có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, quan trọng nhất là rừng tràm. Điển hình như:

  • Rừng tràm Trà Sư Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Thuộc Văn Giáo (huyện Tịnh Biên), rừng đã hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng và trở thành “Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Ngập Nước” vào năm 2023. Sau đó, được đưa vào điểm du lịch sinh thái. Diện tích 874ha, cây rừng nhiều lứa tuổi, trong rừng trên cây có khoảng 600 loài Chim, có cả Sếu Đầu Đỏ – một loài chim quý hiếm trong sách đỏ của Việt Nam cũng xuất hiện ở đây, dưới nước có nhiều loài cá sinh sống như cá Rô, cá Sặc, cá Trê…và các loài thủy sinh khác.

Hình 2.1: rừng tràm Trà Sư

  • Rừng tràm Vĩnh Mỹ Thuộc xã Vĩnh Mỹ (Châu Đốc), diện tích 105ha, rừng cây thuần thục.
  • Rừng tràm Bình Minh Thuộc xã Tà Đảnh (huyện Tri Tôn), diện tích 870ha, đang phát triển đại trà giống tràm Oxtralia.
  • Rừng tràm Tân Tuyến: thuộc huyện Tri Tôn, diện tích 1752.3 ha / 1928.4 ha tổng diện tích của huyện.

Bên cạnh đó An Giang còn có một số rừng khai thác du lịch như rừng Keo Thiên Tuế, vồ Bà tại núi Cấm, rừng keo Ô Tuk Xa tại Chi Lăng, rừng xoài hồ Soài So (huyện Tri Tôn), rừng Thiên Tuế cổ thụ tại núi Tô (Tri Tôn)…

An Giang có nhiều cây dùng làm nguyên liệu phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp như: cây Dâu, Mặc Nưa, Thốt Nốt, Lát Nước… có nhiều cây, cỏ là nguồn dược liệu để phòng bệnh

Các loài cỏ Mật, cỏ Voi, cỏ Chỉ, Đuôi Phụng, cỏ Bắp, cỏ Trứng, cỏ Mồm, cỏ Lông Tây, cỏ Bắc Đuôi Chuột… ở vùng Tri Tôn, Tịnh Biên có chất lượng chăn nuôi bò rất tốt.

Ngành Tảo chiếm ưu thế với 137 loài khác nhau, gồm: tảo lục, tảo Silic, tảo Lam, tảo Mắt, tảo vàng, tảo Vàng Anh và tảo Giáp. Cũng có nhiều lòai tảo là thức ăn tốt cho Cá.

2.2.1.5.2. Động Vật

Trước đây, vùng Bảy núi có nhiều loại chim và thú rừng như Hổ, Báo, Nai, Hưu,Cáo, Khỉ, Vượn, Phượng Hòang, Quạ…Ngày nay, các loài đó gần như không còn nữa. Bên cạnh đó, các loài: Rắn, Trăn, Chuột, Dơi… hay các lòai chim như: chim Sẻ, Chào Mào, Chích Chòe, chim Sâu, Sáo, Le le, cò Trắng, cò Lửa, Diệc, Cuốc…

Các loài động vật thủy sinh như các loài cá, tôm (có ít nhất 80 loài), chủ yếu là cá Tra, cá Ba Sa, cá Bông Lao, cá Cơm, cá Thác Lác, cá Chạch, cá Lóc, cá Rô, Cóc, ếch, Cua Đồng, Ốc, Chẩu Chàng, Chàng Hiu…

Ngoài ra An Giang còn có thể nuôi: Bò, Heo, Vịt, Gà, Cá, Tôm…gần đây còn nuôi thêm Ếch, Lươn, Cá Sấu, Rắn, Ba Ba…Đàn Bò tập trung nhiều hai huyện Tri Tôn ,Tịnh Biên .

Thủy sản được xác định là thế mạnh ở An Giang, cho nên nghề nuôi cá bè, nuôi cá hầm và nuôi cá trong chân ruộng lúa, trong ao vườn đã và đang phát triển với các giống cá nước ngọt như cá Tra, các Ba Sa, cá Trôi Ấn Độ, cá Chép, cá Bông Lao, cá Lóc, cá Mè Trắng, tôm Càng Xanh, Lươn, Ếch …

Ngày nay do cuộc sống nên con người khai thác bừa bãi làm ảnh hưởng đến số lượng động thực vật tự nhiên. Do vậy, nhiệm vụ hàng đầu của tỉnh đối với động thực vật là khôi phục rừng và bảo vệ rừng nhằm cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, cải tạo đất, hạn chế lũ lụt… để phục vụ cho khoa học nghiên cứu, giáo dục và đặc biệt phát triển du lịch sinh thái.

2.2.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

2.2.2.1. Di tích lịch sử văn hóa

Theo Đông Nam Nhất Thống Chí, An Giang xưa là vùng đất tầm Phong Long, đến năm Đinh Sửu thứ XIX (1757) đời Thế Tông, Quốc Vương Chân Lạp đã dâng đất này, trải qua quá trình khai phá và phát triển gần 300 năm với nhiều biến cố lịch sử thăng trầm của các thời kỳ dựng nước và giữ nước. Với vị trí quan trọng giáp với biên giới Tây Nam tổ quốc và là một vùng trù phú có núi, có đồng bằng màu mỡ, nguồn nước dồi dào…nên tập trung nhiều người dân đến đây định cư.[5]

Sự tập trung làm ăn sinh sống của người dân và qua quá trình đấu tranh giữ làng, giữ nước lâu dài đã tạo nên những nền văn hóa, những di tích mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Những di tích thể hiện truyền thống văn hóa lâu đời của người dân nơi đây và có giá trị giáo dục đối với thế hệ con cháu. Hiện nay, các di tích này được khai thác phục vụ cho mục đích du lịch, nhằm tăng thêm sự hiểu biết của bạn bè bốn phương về mảnh đất này.

Toàn tỉnh có 64 di tích được xếp hạng, trong đó di tích được xếp hạng cấp quốc gia là 26 di tích. Tuy vậy, có những di tích tuy chưa được xếp hạng nhưng lại có những đặc điểm mà không phải nơi nào cũng có được.[ 21]

Bảng 2.2: Số lượng di tích được xếp hạng phân theo các huyện An Giang

Đơn vị hành chính Diện tích (km2) Số di tích Mật độ (di tích/10km2)
Thành Phố Long Xuyên 115,31 3 0.26
Thị xã Châu Đốc 104,64 6 0.57
Huyện An Phú 217,65 1 0.05
Huyện Tân Châu 170,33 0 0.0
Huyện Phú Tân 327,89 2 0.06
Huyện Châu Phú 450,90 1 0.02
Huyện Tịnh Biên 355,43 1 0.03
Huyện Tri Tôn 600,30 6 0.1
Huyện Chợ Mới 369,29 2 0.05
Huyện Thoại Sơn 468,71 4 0.09
Huyện Châu Thành 355,06 0 0.0

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê  Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử trong tiến trình phát triển của dân tộc, An Giang đã lưu giữ hàng trăm di tích lịch sử văn hóa, trong đó có những công trình có giá trị về du lịch.

Một số di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu:

Khu di chỉ Óc Eo (Thành cổ Óc Eo là thương cảng thời Trung Cổ Đại bị chìm dưới đất)

Tọa lạc tại vùng núi Sập – Ba Thê, huyện Thoại Sơn, An Giang. Đây là địa danh được nhiều người trong nước và nước ngoài biết đến, là khu di tích cở rộng lớn gắn liền với vết tích vật chất của Vương quốc Phù Nam – một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đông Nam Á cách đây 2020 năm, được phát hiện khi nhân dân đào kênh xáng.

Ngoài khu vực được xem là “ thành phố Óc Eo” có diện tích 4.500 ha, còn có một vài vùng ở miền Tây Nam Bộ như : Đồng Tháp Mười, Châu Đốc, Kiên Giang…Cho đến nay, di chỉ Óc Eo vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu,  khảo cổ.

Hiện nay, khu di chỉ Óc Eo không những đón được rất nhiều nhà sưu tầm, khảo cổ đến nghiên cứu, tìm hiểu mà còn hấp dẫn được nhiều du khách trong và ngoài nước đến đây để xem di vật, vết tích được phát hiện để được biết thêm một thời kỳ phát triển rực rỡ của vùng đất An Giang ngày xưa nói riêng và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung.

  • Di tích lịch sử đồi Tức Dụp

Tức Dụp – theo tiếng Khmer có nghĩa là nước đêm. Là một ngọn đồi của dãy núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn) thuộc huyện Tri Tôn, An Giang là ngọn núi nhỏ với chiều cao 300m, chu vi khoảng 2.200m và có địa hình hiểm trở với nhiều tảng đá dựng leo cheo tạo nên những  lò ảng (hang trên núi), ăn thông với nhau. Năm 1940, Tức Dụp là nơi ẩn náu của các chiến sĩ cộng sản và đến năm 1960 trở thành căn cứ của huyện ủy Tri Tôn và tỉnh ủy Hà Giang. Nhờ đặt điểm hiểm trở, nhiều hang liên thông và với tinh thần kháng chiến dũng cảm mưu trí của quân dân An Giang. Tức Dụp trở thành căn cứ kháng chiến nổi tiếng trong thời kỳ chống Mỹ.

Hình 2.3: Khu du lịch Tức Dụp

Ngày nay, đồi Tức Dụp là đã trở thành di tích lịch sử được Bộ Văn Hóa xếp hạng, là một sản phẩm du lịch văn hóa lịch sử và ngày 30/04/2016 đã khánh thành khu di tích này, gồm khu hang động: hang Ban Chỉ Huy Quân Sự, hang của ban Tuyên Huấn, hội Phụ Nữ, Dân Y, rồi hang cơm nguội và cả hội trường có sức chứa trên 150 người, ngoài ra có khu vui chơi giải trí và hạ tầng cơ sở khá tốt phục vụ du khách.

  • Khu lưu niệm chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.

Là ngôi nhà lưu niệm thời thiếu niên của chủ tịch Tôn Đức Thắng và các di vật ngày xưa của bác thuộc cù lao ông Hổ (Mỹ Hòa Hưng – Thành Phố Long Xuyên). Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Ngôi nhà được xây dựng năm 1887, do thân sinh của bác Tôn là cụ Tôn Văn Đề xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Quốc, nền sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12m, dài 13m, rộng hơn 150m2.

Năm 1984, Bộ Văn Hóa ra quyết định công nhận đây là di tích lịch sử tầm cở quốc gia với nhiều công trình được xây dựng để tưởng nhớ Bác như đền thờ Bác Tôn được xây dựng trong khuôn viên 1.600 m2 với kiến trúc cổ lầu tam cấp đặc sắc, nhà trưng bày cuộc đời và sự nghiệp của Bác, nơi đây còn lưu giữ các hình ảnh, hiện vật, các tư liệu và phim hình sống động giúp ta hiểu thêm về Bác, một tấm gương sáng của dân tộc Việt Nam.

Ngoài ra, đến cù lao ông Hổ, du khách thưởng thức các lọai trái cây, món ăn đặc sản và nghe đàn ca tài tử, làm quen với cuộc sống của người dân Nam Bộ, thăm làng cá bè ven bờ cù lao…. Nơi đây, quý khách sẽ tận hưởng được hương vị cuộc sống của vùng sông nước Nam Bộ.

  • Bia Thoại Sơn

Là một di tích lịch sử đã in đậm dấu ấn từ hai thế kỷ qua, do Thoại Ngọc Hầu xây dựng từ năm 1822.

Năm 1817 Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ Vĩnh Thanh và chủ trương đào kênh dẫn tới Rạch Giá, kênh dài hơn 30km, có vị trí quan trọng trong việc giao thông vận tải và phát triển nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân trong vùng. Ông được triều đình khen ngợi và cho lấy tên Ông đặt tên cho con kênh là Thoại Hà.

Đánh dấu công trình trọng đại này, Thoại Ngọc Hầu đã soạn bài văn và cho khắc vào bia đá. Năm 1922, Ông làm lễ dựng bia và khánh thành miếu thờ Sơn Thần tại triền núi Sập. Bia có chiều cao, ngang 1.2m, dày 2 tấc, mặt bia chạm đúng 629 chữ. Đến nay bia vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu, nét chữ hán trên mặt vẫn còn sắc nét. Đây là một trong ba công trình di tích loại bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay.

  • Chùa Hòa Thạnh

Là ngôi chùa cổ, còn gọi là cây Mít, tọa lạc tại ấp Tây Hưng, Xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên.

Ngôi chùa có lịch sử lâu đời và là cơ sở quan trọng của cách mạng trong suốt thời kỳ chống giặc giữ nước, được xây dựng vào cuối thế kỉ 19.

Trong cuộc đời bôn ba để truyền bá tinh thần yêu nước, cụ phó bảng nguyễn Sinh Sắc (thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh), đã dừng chân nơi đây từ 1921-1923 trước khi về chùa Giồng Thành ở Tân Châu .

Hiện nay, ở hậu liêu chùa có bàn thờ và chân dung cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Theo nhân dân trong vùng, trước đây trong khuôn viên phía sau chùa có hầm chứa vũ khí, súng đạn và làm nơi trú ẩn cho binh sĩ, lâu dần không sử dụng hầm đã hoang phế và bị bồi lấp. Tuy nhiên vẫn còn vết tích lò đúc đạn của nhà sư Hoàng Lễ – một nhà sư yêu nước – vẫn còn trên nền chùa.

Ngày 17/05/2023 chùa được nhà nước công nhận là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật.

  • Chùa Giồng Thành ( Long Hưng Tự) Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Vừa là ngôi chùa cổ xây dựng vào năm 1875, nhiều cảnh đẹp, vừa là nơi cụ phó bảng

Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của chủ tịch Hồ chí Minh) đã sinh sống một thời trước khi về Cao Lãnh. Ngoài ra nó từng là cơ sở của cách mạng và huyện ủy Tân Châu qua hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Chùa nằm cách thị trấn Tân Châu 3km trên đường đi Phú Tân, thuộc xã Long Sơn, huyện Phú Tân, An Giang.

Nền chùa trước đây là hào thành bảo vệ biên giới được xây từ thời Chúa Nguyễn cách đây hơn 200 năm nên đặt tên là Giồng Thành. Hiện chùa còn giữ một hiện vật là giường ngủ của cụ Nguyễn Sinh Sắc và đã xây dựng nhà trưng bày những di tích lịch sử trong đó có những hình ảnh liên quan đến họat động cách mạng của Cụ và Bác Hồ.

Ngày 12/12/1986 chùa được Bộ Văn Hóa Và Thông Tin công nhận là di tích lịch sử.

  • Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Là người có công trong việc khai hoang lập ấp ở Miền Nam nên đã có rất nhiều nơi lập bàn thờ của ông. Nhưng Đình Châu Phú tọa lạc tại trung tâm thị xã Châu Đốc được xem là thờ chính.

Đình Châu Phú là một ngôi đình lớn và đẹp với khuôn viên rộng cả ngàn mét vuông, mái đình lợp ngói âm dương màu đỏ, trên nóc gắn tượng Bát Tiên và Lưỡng Long Tranh Châu. Bên trong đình có đỉnh đồng, hoành phi, liễn đối chạm trổ công phu, sắc sảo, thếp vàng óng ả, nhiều dù lộng, chấn đỏ thêu rồng phụng sặc sỡ, đính kim tuyến lấp lánh. Tôn thêm vẽ tôn nghiêm và nét đẹp cổ truyền. Đây là di tích kiến trúc nghệ thuật được Bộ Văn Hóa công nhận.

  • Lăng Thoại Ngọc Hầu

Nằm trong cụm di tích của núi Sam, nhưng Lăng Thoại Ngọc Hầu lại là một công trình kiến trúc nghệ thuật đẹp cổ kính. Lăng được xây dựng năm 1822, niên hiệu Minh Mạng thứ ba. Toàn khu sơn Lăng là một kiến trúc hài hòa, duyên dáng: Phía trước có hai cửa lớn theo kiểu kiến trúc của các lăng tẩm xưa, hai bên có hai hàng liễn đối; Khu chính giữa là lăng mộ và đền thờ; Trong đền thờ có bài vị của Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân có áo mão cân đai của ông đã được phục chế và nhiều nghi thờ với các bộ lư đồng và đặc biệt có bức tượng bán thân của Ông cao khoảng 2m; Mặt tiền sân rộng nổi bật với các long đỉnh, trong đó có bản sao của bia Thọai Sơn, trước long đỉnh có khẩu súng Thần Công và bảng di tích xếp hạng. Bao bọc khu mộ là bức tường dày cả mét và có 14 ngôi mộ chính thêm  Khoảng 50 ngôi mộ khác của những dân binh.

Ông Thoại Ngọc Hầu là một công thần nhà Nguyễn, ông tên thật là Nguyễn Văn Thoại (1761- 1829) được tước phong Ngọc Hầu – Ông là người huyện Diên Phước (tỉnh Quảng Nam) và là một danh nhân có công khai khẩn đất hoang, lập làng, mở giao thông, bảo vệ biên cương tổ quốc nói chung và vùng đất An Giang nói riêng.

Lăng Thoại Ngọc Hầu là một di tích có nhiều ý nghĩa lịch sử và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của An Giang dưới thời Phong kiến còn lưu lại, được Nhà Nước công nhận. Nhân dân và chính quyền địa phương đã trùng tu, tôn tạo và bảo quản phát huy tốt trong công tác giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Tọa lạc ở khu danh thắng núi Sam, tại chân núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc. Miếu được lập vào đầu thế kỉ XIV (khoảng 1820 – 1825 thời Minh Mạng). Khi ấy còn làm tre lá đơn sơ, năm 1972 Miếu được xây lại, đến năm 1976 công trình mới hoàn thành quy mô và tráng lệ theo kiểu hình khối tháp, có 4 tầng mái cong lợp ngói ống, tráng men xanh. Trong miếu thờ tượng Bà Chúa được tạc bằng đá xanh có giá trị nghệ thuật rất cao. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Toàn khu Miếu Bà là một công trình nghệ thuật tiêu biểu cho sự hài hòa của nền kiến trúc truyền thống, dân tộc và hiện đại. Nghệ thuật chạm trổ rất tinh vi. Năm 1989 Miếu được Bộ Văn Hóa công nhận và xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.

Sau Tết Nguyên Đán, du khách khắp nơi cả nước về đây dự lễ rất đông. Những năm gần đây, chùa Bà thu hút hàng triệu du khách đến chiêm bái và tham quan khu danh thắng.

  • Chùa Tây An

Chùa thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Chùa Tây An cổ tự do một vị quan triều Nguyễn đời Minh Mạng (1820) là Tổng đốc Nguyễn Nhật An xây dựng theo lời nguyện của ông khi được triều đình phái đi Cao Miên. Đầu tiên, chùa được cất bằng tre, thỉnh ông Hòa thượng là Nguyễn Văn Giác, pháp hiệu Hải Tịnh đến trụ trì. Năm Thiệu trị thứ 7 (1847), chùa lại thỉnh thêm một vị Hòa Thượng nữa tên là Đoàn Minh Huyền, pháp hiệu Pháp Tang đến trụ trì, vị hòa thượng này có tài làm thuốc trị bệnh cho nhân dân nên được nhân dân suy tôn với danh hiệu là Phật Thầy Tây An.

Chùa được sửa chữa nhiều lần theo thời gian trụ trì của các vị hòa thượng, ngày nay ngôi chùa đã trở thành bức tranh nghệ thuật tuyệt hảo và để lại cho dân tộc Việt Nam một di tích có giá trị với kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

Chùa theo kiến trúc kiểu Ấn Độ với các vật liệu bền chắc như gạch, ngói, xi măng. Chính diện là ngôi chùa chính giữa cao 18m, thờ Phật Thích Ca, còn hai bên là lầu chiêng và lầu trống. Trước chùa có 3 vọng cửa: cửa giữa tam quan thờ Phật Quan Âm, hai bên cửa có hai bảng đề “ Tây An Cổ Tự”, bên trong cửa tam quan là sân chùa có cột phướn cao 16m. Dưới bậc thang chùa có đúc bạch tượng và hắc tượng, vai có đắp nổi hai vị thần tiên bên trên mặt trăng lưỡi liềm, hai bên là hai hành lang, phân biệt cho tín đồ nam nữ. Ở khía cạnh nghệ thuật chùa lại được nổi bật với nghệ thuật phù điêu chạm khắc gỗ, trong chùa có hàng trăm tượng Phật, mỗi tượng là một tác phẩm nghệ thuật cao có ý nghĩa thực tế trong cuộc sống và triết lý phật giáo. Chùa theo phái Đại thừa, có tới 11.270 tượng lớn nhỏ bằng gỗ. Ngày rằm tháng Giêng, tháng 7 và tháng 10 âm lịch là ngày nhân dân đến cúng giỗ rất đông.

  • Chùa Xray Tôn (Xã Tón) Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Chùa là một trong những ngôi chùa Khmer thờ Phật nổi tiếng (theo phái tiểu thừa), chùa nằm tại thị trấn Huyện Tri Tôn.

Chùa được xây dựng cách đây hơn 200 năm, bằng gạch ngói, cột bằng gỗ căm-xe, nền chùa đắp cao 1.8m. Giống như các chùa Khmer khác ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, chùa Xray Tôn cũng theo cùng một quy cách bố cục và kiến trúc thống nhất. Chính điện nằm ở trung tâm khu đất của chùa, với nóc nhọn, hai mái cong gộp lại. Trên nóc chùa là thần rắn Naga nằm dài tượng trưng cho sự bất diệt và dũng mãnh. Mái chùa hình tam cấp, ngói đỏ, xanh vàng trông đẹp mắt. Chung quanh chính điện chùa là các tháp nhỏ đựng tro của những người hỏa táng. Trên đỉnh các tháp được chạm thần Bayon bốn mặt (Thần Sáng Tạo).

Ngôi chùa này còn là một trung tâm văn hóa, trường đọc kinh, học chữ, học đạo lý làm người, là nơi tổ chức các lễ hội lớn hàng năm như: lễ Chol Chhnam Thmay là lễ năm mới vào tháng tư, lễ Pisat Bôchia là lễ nhớ ơn Phật vào rắm tháng tư, lễ Chol Neasa là lễ cấm ba tháng sư không ra khỏi chùa (từ rằm tháng sáu đến tháng chín, âm lịch), lễ Dolta là lễ thanh minh cúng ông bà (từ 1-10/5 âm lịch), lễ Kà Thận là lễ sắm đồ cho sư sãi. Vào những ngày đó, bà con Khmer đến chùa lễ Phật rất đông.

Chùa Xray Tôn đã được Bộ Văn Hóa- Thông Tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.

  • Chùa Mubarak

An Giang là tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long có đa dân tộc bao gồm: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm. An Giang có một vạn người Chăm sinh sống ở các Huyện Châu Phú, Huyện Phú Tân, Huyện Tân Châu, Huyện An Phú. Người Chăm An Giang theo đạo Hồi, thờ thánh Allah, nên hầu như khắp nơi đều có thánh đường. Và một trong những thánh đường nguy nga, đẹp mắt với nghệ thuật kiến trúc mang nét đặc thù của đạo Hồi, được Bộ Văn Hóa xếp hạng đó là thánh đường Mubarak, xã Phú Hiệp,  Huyện Phú Tân .

Thánh đường được xây dựng do sự đóng góp của tín đồ. Thánh đường được thiết kế bởi kiến trúc sư người Ấn Độ, Mohamet Amin. Thánh đường như đền thờ cổ Ba Tư, Ấn Độ vì thánh đường có cổng chính hình vòng cung, uy nghi trước khoảng sân rộng.

Hàng năm, thánh đường tổ chức các ngày lễ lớn: lễ sinh nhật Giáo Chủ Mohamet vào ngày 12/3 Hồi lịch, lễ Roja hay còn gọi là lễ hành hương đến thánh địa La Mecque vào ngày 10/12 Hồi lịch…nối liền theo lễ Ramadan từ 1-30/9. trong những ngày lễ lớn này, người Chăm tề tựu về thánh đường rất đông và hành lễ theo đúng nghi thức của đạo.

2.2.2.2. Lễ hội

An Giang có nhiều lễ hội mang đậm bản sắc đặc trưng của địa phương và là nơi gắn kết tinh hoa của bốn dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa với phong cách đặc trưng của vùng sông nước đã tạo nên sự đa dạng nhưng rất độc đáo và rất riêng về văn hóa. Các lễ hội văn hóa dân gian của các dân tộc: lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc) của dân tộc Kinh; lễ hội Haji, Ramadan, lễ Cưới người Chăm; lễ hội Dolta, lễ hội đua bò vùng Bảy Núi, tết Chol Chnam thmay của dân tộc Khmer; Ngoài ra còn có lễ giổ các danh nhân như: lễ kỉ niệm ngày sinh Cố Chủ Tịch Tôn Đức Thắng, Thoại ngọc Hầu, Nguyễn Hữu Cảnh, cố quản cơ Trần Văn Thành… thu hút sự chú ý của rất đông khách du lịch.

Các lễ hội thường diễn ra quanh năm và có sức thu hút lớn đối với người dân địa phương cũng như khách du lịch. Đến với các lễ hội du khách có dịp tìm hiểu về cội nguồn văn hóa lịch sử của địa phương, thưởng thức các lọai hình nghệ thuật, các trò chơi dân gian đặc sắc. Đây chính là di sản văn hóa quý giá của Tỉnh, tạo cho hoạt động du lịch phát triển, phong phú về lọai hình và mang đậm sắc thái địa phương. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Một số lễ hội tiêu biểu:

  • Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc )

Bà Chúa Xứ núi Sam là một pho tượng cao gần 2m, khuôn mặt tô vẽ, đội mão, choàng áo bào đỏ thêu rồng phượng che kín người. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đó là tượng đá cổ tạc một người đàn ông ở trần, đống khố, theo phong cách Khmer thế kỷ thứ VI hay thứ VII theo mô típ tượng thần Vitnu thường có ở nước Lào, Campuchia ,Ấn Độ.

Lễ hội tổ chức hàng năm trước ngày 15/4 âm lịch là bắt đầu mùa lễ vía Bà, cao điểm là các ngày 24-27/4 âm lịch. Ngày 24 lúc 0h là lễ tắm Bà – buổi lễ huyên náo cả đêm vì hàng chục ngàn du khách chờ tắm Bà xong để tràn vào xin lộc bình an và làm ăn phát tài phát lộc hoặc cầu phúc an lành, phong tục này tồn tại hàng trăm năm nay. Ngày 25 là lễ rước bài vị từ Lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà.

Hình 2.8: lễ vía Bà Chúa Xứ với đoàn rước nghi trượng long trọng. Ngày 26

hát bội và múa lân cả ngày. Ngày 27 rước bài vị trả về Lăng Thoại Ngọc Hầu và chấm dứt mùa Vía.

Lễ hội thu hút lựơng khách du lịch hàng năm trên 2 triệu khách nên năm 2021 Tỉnh đã nâng cấp thành lễ hội “ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” và được Tổng Cục Du Lịch công nhân là lễ hội cấp quốc gia – lễ hội trở thành 1 trong 15 lễ hội tiêu biểu cả nước.

  • Lễ hội Chol Chnam Thmay của Người Khmer

Lễ Chol Chnam Thmay tức là lễ “Vào Năm Mới” còn gọi là lễ Chịu tuổi của người Khmer. Lễ vào đầu tháng ”Chét” theo phật lịch ngành Tiểu Thừa, thường tổ chức vào ngày 1215/4 âm lịch. Đây là thời gian khô ráo, mùa màng vừa gặt xong, rảnh rang nên mọi người được giải trí.

Vào dịp này, người Khmer mua sắm thức ăn, bánh trái, quần áo, trang hoàng nhà cửa, làm nhiều bánh đem cúng Chùa, làm quà biếu cho bà con và bạn bè. Nếu du khách đi vào dịp này ở vùng Bảy Núi, Tri Tôn, Tịnh Biên với hơn 60.000 người khmer sinh sống sẽ thấy được không khí rộn ràng, vui tươi của lễ hội trong ấm no, hạnh phúc, người dân khmer mặc những trang phục truyền thống đầy màu sắc cũng như các loại hình sinh hoạt sôi nổi: thi đập nồi, thi múa Lâm Thôn, thả diều, buổi tối có đốt pháo thăng thiên, đánh quay lửa, hát Dù Kê…suốt ngày đêm.

  • Lễ hội Dolta của người Khmer Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Lễ Dolta còn gọi là lễ cúng Ông Bà được người Khmer xem là lễ trọng thứ 2 trong năm (sau lễ Chol Chnam thmay) nên họ tổ chức hết sức long trọng, thường diễn ra vào ngày 29/8-1/9 âm lịch hàng năm.

Lễ này đồng bào Khmer từ các phum, sóc trong trang phục truyền thống lũ lượt đến Chùa cúng Phật; cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Vào dịp này, hội đua bò được tổ chức thu hút trên chục ngàn người từ nơi khác đến xem – đây là môn thể thao đậm đà bản sắc dân gian của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi, An Giang. Tục đua bò đã có từ lâu đời, cuộc đua thường tổ chức trên ruộng lúa xâm xấp, gọi là “đua bò bừa”. Ngày xưa, ngày lễ Dolta trùng vào dịp xuống giống vụ lúa Thu Đông nên bà con phum, sóc có bò mang đến bừa cho thửa ruộng của ngôi chùa trong phum, sóc mình gọi là “bừa công quả”.

Để tạo không khí vui chơi, các chủ bò ngầm thi đua với nhau xem đôi bò nào khỏe, bừa nhanh. Để động viên cổ vũ thêm, Sải Cả khen thưởng cho đôi bò thắng cuộc bằng phần thưởng tinh thần như sợi dây “cà tha” có lục lạc đeo ở cổ bò.

Năm 2012 chính quyền hai huyện Tri Tôn,

Tịnh Biên thống nhất và tổ chức “ Lễ Hội Đua Bò” hàng năm luân phiên tại hai điểm trường đua thuộc

Hình 2.9: Hội đua bò xã Lương Phi, huyện Tri Tôn và xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên.

Đây là dịp các đồng bào Kinh, Chăm, Hoa trong tỉnh và du khách tìm đến thưởng thức và giao lưu văn hóa với người Khmer.

  • Lễ hội Ramadan của người Chăm

Lễ Ramadan là cái tết lớn nhất trong năm của người Chăm An Giang, thường diễn ra từ 1/9 đến 30/9 theo Hồi lịch (Hồi lịch tính theo Mặt Trăng) được tổ chức hàng năm tại các Thánh Đường của địa phương. Người Chăm gọi lễ này là “Pănơh” có nghĩa là “tháng nhịn” hay “tháng ăn chay”, họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn hút thuốc lá suốt cả ngày nhưng vẫn làm những việc thường ngày như dệt vải, chài cá…nhằm cho mọi người hiểu rõ ý nghĩa của sự ấm no và thiếu thốn, đến khi Mặt Trời khuất núi thì mọi người được phép dùng những món ăn giàu tính ẩm thực.

Vào dịp lễ, sáng sớm ngày đầu tết người Chăm vận đồ mới đi viếng mộ người thân và sau đó đến từng nhà chúc tết nhau những đều tốt lành giống như tục xông đất của người kinh trong dịp tết Nguyên Đán.

Vào đêm 27 của tháng Ramadan, các thánh đường sẽ tổ chức đọc kinh Coran. Đêm 30, kết thúc bằng đại lễ Raya Phiktrok (hay còn gọi là Hari Raja Puasa – nghĩa là chấm dứt mùa chay tịnh) mọi người kéo nhau đến Thánh đường Đại lễ.

Đây là dịp mọi người kiểm điểm hành động và sám hối sửa chửa.

  • Hội đền Nguyễn Trung Trực

Đền thờ Nguyễn Trung Trực ở xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, An Giang. Ông là thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở Nam Bộ, người đã có chiến thắng vang dội là đã đánh chìm một tàu của giặc Pháp trên sông Nhật Tảo (thế kỷ XIX).

Lễ hội mở ra vào ngày 18-19/10 âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công lao của ông. Sau lễ cúng và lễ tưởng niệm là đến mục diễn lại trận đánh con tàu trên. Lễ hội thường tổ chức chơi cờ tướng, bơi thuyền và nhiều trò vui khác.

  • Lễ giổ Cố Quản Cơ Trần Văn Thành Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Hàng năm vào ngày 21,22,23/2 âm lịch là ngày Ông Trần Văn Thành hy sinh, nhân dân trong tỉnh và ngoài tỉnh hội tụ về rất đông để tưởng nhớ ông tại Láng Linh – Bảy Thưa thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, An Giang . Tại nơi đây, Ông đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Láng Linh- Bảy Thưa (1867-1873) và là nơi tập hợp nhân dân và các tính đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương để chờ cơ hội đánh Pháp.

Vào dịp này, các họat động văn nghệ, vui chơi, giải trí văn hóa nghệ thuật, thể thao và các lọai hình dịch vụ diễn ra sôi nổi.

  • Lễ Hatji

Là lễ hội của cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi, ở các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, thờ thượng đế Allah. Lễ được tổ chức từ ngày 7-10/12 (Hồi lịch) tại các Thánh đường Hồi giáo.

Hàng năm ở An Giang lễ Hatji diễn ra tại thánh đường Chăm lớn Châu Giang xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân. Vào ngày lễ, toàn thể tín đồ phải lắng nghe ông Khojip nói lại sự tích ngày thánh Ibrohim. Buổi tối, tổ chức cuộc thi đọc kinh Coran và chấm giải nhất cho ai đọc hay và thông suốt.

Sau phần hành lễ, người Chăm thường tổ chức các cuộc vui chơi, sinh họat văn hóa thể thao như ca hát, đua ghe… giống như người Kinh, đây là dịp để mọi người thăm viếng, vui chơi và chúc mừng, cầu nguyện điều lành cho nhau.

2.2.2.3. Các đối tượng du lịch gắn liền với dân tộc học

2.2.2.3.1.Dân cư và phân bố dân cư          

Theo số liệu thống kê, An Giang là tỉnh đông dân, số dân trung bình năm 2025 là 2.194.218 người, tăng so với năm 2024 trên tổng diện tích 3406,2 km2, mật độ dân số không đồng đều – ở Thành Phố Long Xuyên, huyện Chợ Mới, Phú Tân có dân số đông hơn các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn .

Bảng 2.3: Phân bố dân cư ở An Giang

Đơn vị hành chính Diện tích (km2) Dân số (người) mật độ (người/km2)
Tổng số 3.535,51 2.194.218 621
Thành Phố Long Xuyên 115.31 270.059 2.342
Thị xã Châu Đốc 104.64 115.030 1.099
Huyện An Phú 217.65 184.155 846
Huyện Tân Châu 170.33 162.198 952
Huyện Phú Tân 327.89 240.711 734
Huyện Châu Phú 450.90 248.164 550
Huyện Tịnh Biên 355.43 120.850 340
Huyện Tri Tôn 600.30 122.090 203
Huyện Châu Thành 355.06 175.613 495
Huyện Chợ Mới 369.29 365.296 989
Huyện Thoại Sơn 468.71 190.052 405

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê

Dân cư An Giang cư trú dọc theo trục lộ giao thông, dọc hai bờ sông, kênh, rạch, tập trung ở các trung tâm kinh tế, hành chính, văn hóa lớn, một số còn lại không sống trên bờ mà họ sống dưới các ghe, nhà bè họp thành làng nổi trên sông – một loại hình độc đáo ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long.

2.2.2.3.2. Dân tộc và các yếu tố khác

An Giang là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của 4 dân tộc kinh, Khmer, Hoa, Chăm. Đồng bào các dân tộc sống hòa bình với nhau, đều có truyền thống lao động cần cù sáng tạo. Tuy nhiên mỗi dân tộc lại có những phong tục tạp quán sinh hoạt truyền thống riêng, phong phú và đặc sắc. Đây chính là yếu tố hổ trợ nhưng không kém phần quan trọng, tạo nên bản sắc văn hóa riêng, hấp dẫn đối với du lịch của tỉnh. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

An Giang là tỉnh phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp với nghề trồng lúa nước, dệt lụa, dệt chiếu, đan lát, thêu, mộc, chạm khắc, nuôi tôm, cá bè…Hàng năm An Giang tổ chức nhiều lễ hội với nhiều hoạt động phong phú hấp dẫn gắn với làng nghề, với đàn ca tài tử, các điệu múa Lâm Thôn, nhảy Sạp…những câu từ mượt mà thấm đượm tình người của cải lương Nam Bộ, những điệu nhảy và điệu múa đặc trưng đã làm cho kho tàng văn hóa dân gian độc đáo hơn.

2.2.2.4. Các nguồn lực nhân văn khác

2.2.2.4.1.  Làng Nghề truyền thống

  • Lãnh lụa và Lãnh “Tân Châu”

Từ đầu thế kỷ XX, tỉnh Châu Đốc xưa có những làng nghề nuôi tơ tằm và dệt lụa, lãnh nổi tiếng. Lọai tơ tằm tốt cho lụa lãnh có chất lượng cao. Kỹ thuật dệt tinh khéo giúp cho mặt hàng sản xuất được bền bỉ, đẹp khiến người tiêu thụ thích chọn.

Tơ lụa An Giang nói khác đi, lụa Tân Châu nổi tiếng do sự kết hợp tuần tự nhiều nghề liên quan, họat động cận kề nhau: Tân Châu, Chợ Mới, Nhà Bàng…cuối thế kỷ XIX đã thể hiện được mô hình kết hợp này: trồng dâuÆ nuôi tằmÆ nhuộmÆ tiêu thụ.

Trong các loại hàng vải lụa Tân Châu, loại lãnh đen là nổi tiếng hơn cả. Lãnh có nghĩa là lạnh, được mọi người thích dùng làm quần áo mặc đủ cả bốn mùa trong năm. Lãnh lụa An Giang được xuất khẩu bằng hai đường chính ngạch và tiểu ngạch sang các nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Philippines và Pháp. Thị trường nội địa chính là khắp vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long với Sài Gòn – Chợ Lớn, hàng theo mạng lưới thương nghiệp tỏa đi khắp nơi, ra cả miền Đông Nam Bộ và Cao Nguyên. Đội ngũ bán hàng là phụ nữ và hành nghề với hình thức nghiệp dư.

Lúc bấy giờ, người có tiền thích chưng diện rất chuộng lọai hàng Mỹ A. Sự khác biệt giữa hàng lụa lãnh Mỹ A với hàng lụa khác là lọai này nhẹ, trơn, dịu mềm và mát khi trời nóng, ấm khi trời lạnh. Do vậy mà số người đi bán hàng loại này rất đông, giúp cho các lò sản xuất làm ra không kịp sức tiêu thụ.

Vùng tơ lụa Tân Châu nổi tiếng là:

  • Trai nào tài bằng trai Cao Lãnh, 
  • Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu …”

Những năm sau này, làng nghề tơ lụa Tân Châu đứng trước nguy cơ tàn lụn, An Giang chỉ còn vài lò họat động, sản phẩm tơ lụa, lãnh nhuộm Tân Châu  vẫn còn nổi tiếng, được khách nước ngoài tìm đến mua để tiêu dùng.

Loại hàng này vẫn tiếp tục khẳng định chất lượng và được cấp huy chương “ bàn tay vàng” và huy chương vàng tại những cuộc triễn lãm hàng thủ công mỹ nghệ quốc tế Giảng Võ, Hà Nội.[12]

  • Làng Gạch Ngói

Đi trên tuyến đường Quốc Lộ 1, từ Long Xuyên đi Châu Đốc qua địa bàn xã Bình Mỹ, Châu Phú , An Giang mọi người sẽ dễ dàng nhận thấy ven đường chất đủ loại gạch thẻ, gạch ống, ngói lợp nhà và những nóc gạch nhô lên khỏi nhà dân – đó là làng nghề gạch ngói. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Hiện nay, ở Bình Mỹ có hơn 64 lò gạch. Tùy khả năng từng gia đình mà người ta bỏ vốn khoảng 20 – 40 triệu đồng ra để xây dựng lò gạch với công suất khoảng 40.000 viên/mẻ. Bên cạnh đó, lò gạch phải có vốn lưu động cao vì phòng khi khó tiêu thụ hàng. Thông thường từ tháng 2, tháng 4, tháng 10 âm lịch người dân miền Tây Nam Bộ hay cất nhà thì vào lúc này gạch hút hàng.

Thông thường vào mùa nước nổi nhiều khu vực đất gò cao, chủ đất cho lấy xuống một lớp 40 – 50 cm, chủ lò mua lớp đất này làm nguyên liệu, cho vào máy cắt nén thành viên, chất vào lò nung khoảng 15 – 17 ngày là xong một mẻ gạch. Hiện nay gạch bán ra tùy theo loại có giá từ 150 – 210 đồng / viên, gạch thẻ có giá 180 đồng/ viên, lợi nhuận sẽ cao hơn khi giá gạch lên.

Là một nghề thủ công đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động địa phương. Tuy nhiên cần có kế hoạch qui hoạch lại vùng khai thác nguyên liệu cũng như khu vực sản xuất lò nung để đảm bảo vệ sinh môi trường và có cơ chế quản lý thích hợp, tránh sự cạnh tranh không lành mạnh làm giảm chất lượng gạch, mất uy tín với khách hàng dẫn đến thiệt hại cho làng nghề đã có truyền thống từ lâu.[ 33]

  • Lưỡi Câu Phú Hòa

Tọa lạc tại Phú Hòa, Thành Phố Long Xuyên. Đây là “làng nghề ăn theo con nước”, vào mùa nước nổi làng nghề này làm việc rất khẩn trương vì lưỡi câu bán rất chạy. Hiện nay, làng nghề với vài chục hộ và hàng trăm lao động này mỗi năm cung ứng cho thị trường hàng trăm triệu lưỡi câu các loại như: lưỡi câu cá lòng tong, cá rô, cá lăng, tôm; thậm chí cả lưỡi câu cá mập.

Làng nghề nơi đây hoạt động quanh năm, riêng tháng 6,7,8 là những tháng cao điểm sản xuất lưỡi câu cá đồng , còn cá biển thì quanh năm. Lưỡi câu ở đây sản xuất theo nhiều kích cỡ và loại khác nhau, mỗi loại mang một địa danh nào đó như: lưỡi câu Hòa Long lơi, Hòa Long nhặt, câu ngang, lưỡi câu Vịnh Chèo, Chợ Lách, Hóc Môn.

Lưỡi câu làng Mỹ Hòa được hình thành cách đây khoảng nửa thế kỷ. Ban đầu các Cụ trong làng dùng căm xe, dây thép để mài thành những lưỡi câu, mỗi ngày chỉ làm được 15-20 lưỡi. Lúc đó, các Cụ làm lưỡi câu rê nhấp cá lóc vào mùa nước nổi, sản xuất mang hình thức tự cung tự cấp. Về sau nhiều người cần đến nên các Cụ sản xuất ra để bán. Đến năm 2013, làng nghề lưỡi câu Mỹ Hòa được hình thành và phát triển mạnh. Thời điểm này, làng nghề được nhà nước chăm lo hỗ trợ vốn để sản xuất.

Sản xuất lưỡi câu thật công phu. Để tạo ra sản phẩm, quy trình sản xuất phải trải qua 10 công đoạn được chuyên môn hóa. Đầu tiên là vuốt dây cho thẳng, kế tiếp là chặt dây, cắt ngạnh, mài mũi, gò mũi, uốn lưỡi, đập đít…do mang tính chuyên môn hóa mà lao động nghề nghiệp ở đây chia làm 2 loại: lao động giản đơn và lao động kỹ thuật. Hiện nay số lao động giản đơn thu nhập từ 10.000 – 15.000 đồng/ngày, trẻ em và các cụ già đều có thể tham gia được; Lao động kỹ thuật thì thu nhập cao hơn, bình quân 35.000đ – 40.000 đồng/ngày.[12]

2.2.2.4.2. Văn hóa ẩm thực

Mắm Thái Châu Đốc 

  • Mắm Châu Đốc 
  • Dốc Nam Vang” (Tục ngữ) Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Hàng năm vào mùa nước nổi của Đồng Bằng Sông Cửu Long những đàn cá lóc, cá linh, cá trèn, cá chốt, cá sặc, cá rô…rất nhiều cung cấp nguồn thực phẩm thiên nhiên cho con người, mỗi mùa một đặc trưng, mỗi loại cá có món ăn độc đáo riêng như nấu, nướng, chiên, kho…thường ăn cá tươi, nhưng nhiều quá nên người dân sáng chế ra các món để ăn được lâu như món mắm.

Mắm thì ở đâu cũng có nhưng mắm Châu Đốc, mang nhiều nét đặc trưng độc đáo, nhất là mắm thái.

Cá làm mắm, thường là cá lóc hoặc cá bông, chọn con to, đập đầu đánh vảy, rửa sạch đem ngâm với muối trong khạp độ 15 ngày, dùng gạo lứt rang cho thật vàng, xây nhuyễn làm thính. Thắng đường thốt lốt cho có chỉ, chao vô mắm. Độ mười lăm ngày cho thấm, mắm vừa ăn, vớt cá ra đem chặt đầu, lóc xương và thái nhỏ cở chiến đũa, ướp đường, bột ngọt, nước mắm biển xăm xắp. Trộn đu đủ mỏ vịt, xắt từng sợi nhuyễn, phơi một ngày cho dẻo, xong cho mắm vào khạp, rải thính đều, ém thật khít, không cho gió lọt vào.

Ăn mắm thái cần có rau sống, khế chua, chuối chát, gừng, ớt, thịt ba rọi luộc chín xắt miếng. Bánh tráng cuốn mắm, bún và các thứ rau chấm với nước mắm Phú Quốc làm chua ngọt, màu mùi hòa nguyện, mắm trở thành món ăn đặc biệt dành cho những người bạn cũ gặp nhau, những người xa quê hương hay đãi khách thân tình, thật ý nghĩa và hấp dẫn.

  • Đường Thốt Nốt

Đường Thốt Nốt là đặc sản của An Giang. Mùa đường thường bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc và tháng 5 năm sau, một cây thốt nốt cho nước 7-8 tháng, sản lượng bình quân khoảng 2.000 tấn/năm.

Hiện Bảy Núi có khoảng 1.500 lò đường. Nhờ cải tiến quy trình kỹ thuật trong khai thác, chế biến nên sản lượng đường, nước thốt lốt ngày càng tăng. Mặc dù vậy thị trường vẫn mở rộng nên các chủ lò ngày càng chăm chút cho việc cải tiến chất lượng, đường ngày càng thơm, trắng và bao bì càng bắt mắt hơn.

Ven các tuyến đường tỏa đi phum, sóc cũng có những quán giải khát với món nước thốt nốt lên men, vừa ngọt vừa chua, thơm lựng. Đường thốt nốt theo khách hành hương tỏa đi khắp cả nước và còn xuất theo hợp đồng riêng lẽ sang Đài Loan. Tuy nhiên, để khai thác tốt tài nguyên từ cây thốt lốt thì cần có nhà máy chế biến, đóng hộp thạch thốt nốt, nước thốt lốt cũng như đa dạng hóa sản phẩm từ cây thốt lốt để bảo quản lâu và vận chuyển xa…[29]

  • Khô Bò

Khô bò là đặc sản của vùng Châu Đốc, nơi thịt bò trở thành thực phẩm thông dụng với các món nổi tiếng: bò 7 món, phở bò, bò viên…mà đặc biệt nhất là món khô bò. Khô bò có 3 loại: khô bò màu vàng cứng giòn, khô bò màu nâu sẩm cứng mà không giòn, khô bò màu nâu xốp giòn dẻo. Du khách đến Châu Đốc không thể bỏ qua món đặc sản tiện dùng và rất ngon này.

  • Khô cá tra phồng Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Cá tra là loài cá được nuôi nhiều ở vùng Châu Đốc. Những năm gần đây khô cá tra phồng xuất hiện trên thị trường và thu hút nhiều người tiêu dùng nhờ hương vị lạ miệng nên nhanh chóng phát triển.

Cách làm do người Việt từ Biển Hồ Campuchia mang về. Nướng hoặc chiên con khô phồng lên, thơm ngon đặc biệt. Phải chọn cá nuôi hầm – không lấy cá nuôi bè – để thịt được vàng tươi. Bí quyết là trước khi phơi khô có giai đoạn ngâm thịt cá dưới nước vài giờ. Có thể phồng lên 60 – 80%  thể tích.

  • Bún nước kèn

Việt Nam là xứ của bún. Ngoài Bắc có món bún Thang, bún Mọc, bún Riêu, bún Ốc, bún Ngan, bún Đậu, bún Sườn, Canh bún. Miền Trung nổi tiếng với bún Bò Huế, bún Song Thần An Thái (Bình Định). Còn Nam Bộ thì có bún Bì, bún Chả giò, bún Thịt nướng, bún Cà ri, bún Nước Lèo Khmer. Đi bất cứ đâu đều có thể ăn được bún nhưng muốn thưởng thức món bún nước kèn thì phải đến Châu Đốc, An Giang.

Để có bát nước kèn ngon, cần phải có cá lóc đồng săn chắc, làm sạch, cho vào nồi nước đang sôi. Cá chín, vớt ra, để nguội, rỉa sạch thịt, bỏ xương. Một phần thịt cá làm chà bông, tán thành bột.

Phi hành, tỏi hơi vàng (không sử dụng mỡ, dầu) rồi cho bột cà ri, đinh hương, bông tai vị, quế, bột cá vào xào chung với thịt cá. Cho tất cả hỗn hợp này vào nồi nước luộc cá, nêm gia vị (nếu có Kroeng, một lọai gia vị của người Khmer, bún sẽ ngon hơn). Tiếp đó cho nước dừa vào, để lửa liu riu.

Cuối cùng, sắp xà lách, bắp chuối, giá, quế vào bát, gắp bún trải lên trên, rồi chan nước lèo vào xăm xắp, hương vị thơm lạ, khó có thể nào chê.

Tuy mang tiếng đặc sản Châu Đốc, nhưng bún nước kèn không phổ biến ở nhiều nhà hàng, quán ăn của vùng mà chủ yếu người dân bán trên các quang gánh theo các con đường.

2.3. CƠ SỞ HẠ TẦNG Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

2.3.1. Giao thông vận tải

Toàn Tỉnh có khoảng 6063 km đường giao thông

2.3.1.1.Giao thông vận tải đường bộ

An Giang có hệ thống giao thông bộ khá thuận tiện, toàn Tỉnh có khoảng 3560km đường giao thông, mật độ đường bộ là 1,05 km/km2. Giao thông An Giang là một phần của hệ thống giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế. Đây là điều kiện cho phép đẩy mạnh chính sách mở cửa phát triển và hội nhập nền kinh tế An Giang với các tỉnh khác trong nước và nước ngoài, nhất là khu vực Đông Nam Á.

  • Các tuyến giao thông chính :

Quốc lộ 91: là quốc lộ duy nhất chạy qua tỉnh, có chiều dài 91,3 km, nối Cần Thơ với Long Xuyên, Châu Đốc nối với quốc lộ 2 của Campuchia thông qua cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên. Quốc lộ có 42 cầu với tổng chiều dài 1854 km.

An Giang có 14 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài 404 km được tráng nhựa 100% trong năm 2022, có 114 cây cầu, nối liền liên thông huyện, thị thành. Trong đó có các tuyến quan trọng:

  • Tỉnh lộ 942: bắt đầu từ phà Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp) phía An Giang đi dọc sông Tiền xuyên suốt hết huyện Chợ Mới.
  • Tỉnh lộ 943: nối với quốc lộ 91 tại Thành Phố Long Xuyên đi qua huyện Thọai Sơn đến khu du lịch núi Cô Tô (huyện Tri Tôn)
  • Tỉnh lộ 955A: từ cửa khẩu Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên) đi qua thị trấn Kiên Lương – Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang)
  • Tỉnh lộ 956: nối liền Châu Đốc – An Phú – Khánh Bình (đi cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương)
  • Ngoài ra An Giang có đường giao thông nông thôn có 722 tuyến với tổng chiều dài 3.065 km đã được nâng cấp thành các đường liên xã và năm 2025 đã hoàn thành cơ bản “ nhựa hóa” đường giao thông nông thôn.
  • Bên cạnh đó Tỉnh còn có hơn 2015 công trình cầu cống các loại.

Nhìn chung hệ thống đường bộ của Tỉnh đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, tuy nhiên chất lượng đường ở đây còn kém: mặt đường có chổ chưa trơn láng, lòng đường hẹp, chất lượng Cầu chưa tốt…Nguyên nhân: do lũ hàng năm đã ảnh hưởng và do chưa được đầu tư đúng mức về hệ thống giao thông. Do vậy, để phát triển kinh tế của Tỉnh nói chung và ngành du lịch nói riêng thì Tỉnh cần đầu tư nâng cấp thêm, để việc đi lại trong tỉnh, liên tỉnh và các nước láng giềng được thuận lợi dễ dàng hơn. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

2.3.1.2. Giao thông vận tải đường thủy

Mạng lưới sông ngòi dày đặc, toàn Tỉnh có 541 tuyến đường sông với tổng chiều dài 2504 km, mật độ đường là 0,73 km/km2, trong đó có nhiều con sông và kênh có thể phục vụ cho du lịch như sông Tiền, sông Hậu, Kênh Vĩnh Tế…

Trung ương quản lý 15 tuyến có tổng chiều dài 380 km hầu hết là các sông lớn, trong đó có 2 sông lớn là sông Tiền và sông Hậu, và các kênh trục có độ sâu đảm bảo các phương tiện 100 – 5.000 tấn lưu thông.

Tỉnh quản lý 37 tuyến với chiều dài 656 km, chủ yếu là kênh cấp 2 và cấp 3 đảm bảo các phương tiện từ 50 – 100 tấn lưu thông.

Huyện, thị xã, phường quản lý 489 tuyến với tổng chiều dài 1468km, gồm các kênh cấp 3 và cấp 4 và kênh nội đồng với mục đích chính là phục vụ tưới tiêu; còn khai thác vận tải chỉ là kết hợp vào mùa nước nổi với các lọai phương tiện có trọng tải 10 tấn.

An Giang chỉ có một cảng sông – biển Mỹ Thới tiếp nhận hàng hóa trên 0,5 triệu tấn/năm. Hiện Cảng chưa hoạt động hết công suất, chưa phát huy khai thác tốt tiềm năng về giao thông và hoạt động du lịch là do thiếu vốn đầu tư.

Ngoài ra, trên địa bàn Tỉnh còn có 8 bến phà (trong đó có 2 bến liên tỉnh), 8 bến tàu (2 bến liên tỉnh), 139 bến đò ngang .

2.3.1.3. Giao thông vận tải đường hàng không

Đường hàng không trước năm 1975 có hai sân bay ở Vàm Cống (Thành Phố Long Xuyên) và thị xã Châu Đốc phục vụ cho quân sự lẫn dân sự.

Hiện nay vẫn chưa được phục hồi lại – đây là một hạn chế cho sự phát triển du lịch của Tỉnh.

2.3.2. Hệ thống cung cấp nước

Hiện nay An Giang đã có 53 hệ thống cung cấp nước sạch ở thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư tập trung với tổng công suất 60.000 m3/ngày và tổng sản lượng 20 triệu m3/năm.

Hiện An Giang còn có nhà máy nước Thành Phố Long Xuyên công suất 34.000 m3/ngày, chất lượng nước tiêu chuẩn quốc gia, nhà máy nước này có được từ nguồn vốn ADB cho vay ưu đãi, khoảng 14 triệu USD.

Ngòai ra còn xây dựng được nhà máy nước khoáng dựa vào mỏ nước khoáng ở huyện Tri Tôn: nhà máy với năng lực 10 triệu lít/năm, sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, sử dụng cho người dưới dạng đóng chai có gaz và không có gaz.

2.3.3. Hệ thống cung cấp Điện

Hệ thống cung cấp điện trên địa bàn tỉnh khá phát triển. Lưới điện quốc gia đã đến địa bàn 100% số xã của tỉnh với tổng chiều dài: 1.200 km đường dây trung thế, 1.300 km đường dây hạ thế và 1.410 trạm biến áp các lọai tổng dung lượng 96.242 KVA.

Phục vụ thiết thực cho quá trình sản xuất và các ngành kinh tế và 88 % hộ dân cư ở nông thôn.

2.3.4. Hệ thống thông tin liên lạc Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Hệ thống bưu chính năm 2025 với 12 bưu điện huyện, thị, thành; 38 bưu điện nông thôn và 91 điểm bưu điện – văn hóa xã, bán kính phục vụ bình quân 2.83 km2/điểm, đủ khả năng chuyển thư, điện tín, báo chí, bưu phẩm, bưu kiện thông suốt trong và ngoài nước.

Các tổng đài điện tử đáp ứng liên lạc trực tiếp nội tỉnh, trong và ngoài nước nhanh chóng. Năm 2025 có 114 tổng đài điện thoại. Tổng số máy điện thoại đã phát triển trong năm 2025 là 149.205 máy (trong đó máy cố định 107.677 máy, máy di động là 41.528 máy). Mật độ điện thoại trung bình là 4,9 máy/100 dân (chỉ tính máy cố định). Số thuê bao Internet đến cuối tháng 11/2025 là 6.428 máy. Hiện nay tất cả 154 xã phường trong tỉnh có điện thoại.

Để phát triển kinh tế- xã hội nói chung và du lịch nói riêng thì thông tin liên lạc phải đi trước và phải bắt kịp thời đại. Chính vì vậy mà ngành thông tin liên lạc luôn luôn được đầu tư lớn với những công nghệ mới của Thế Giới và nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng. Từ năm 2023, Tổng cục Bưu Điện đã đồng loạt giảm giá cước các loại hình dịch vụ viễn thông trong nước và quốc tế. Hiện nay đã xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng viễn thông hiện đại như Internet, truyền hình Cáp…Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch đến Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng mà trong đó có An Giang.

2.4. CHÍNH SÁCH VÀ HỢP TÁC ĐẦU TƯ

2.4.1. Các chính sách

Nhận thấy tầm quan trọng của ngành du lịch. Đảng và Nhà Nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển du lịch nhắm tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển thông qua lượng khách du lịch trong nước và quốc tế tăng, thu ngoại tệ, giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy các ngành liên quan phát triển, tăng thu nhập cho nhân dân cũng như đóng góp vào thu nhập quốc dân…và đến năm 2025, du lịch Việt Nam đã trở thành ngành mũi nhọn.

Một số văn bản được ban hành:

  • Chỉ thị 46/BCH TW ngày 14/10/2014 của Ban bí thư TW về lãnh đạo đổi mới phát triển du lịch trong tình hình mới.
  • Pháp lệnh xuất, nhập cảnh, cư trú, đi lại cho người tại Việt Nam ngày 21/12/2012.
  • Pháp lệnh du lịch số 11/2019/DL – UBTHQH 10.
  • Nghị quyết số 45 – CP của Chính phủ ngày 22/06/2013 về đổi mới quản lý và phát triển du lịch.
  • Nghị quyết hội nghị lần thứ VII của BCHTW Đảng khóa VII ngày 30/07/2014 về phát triển du lịch.
  • Công văn số 1820 – KHTH của Chính phủ ngày 06/04/2015 về quy họach khu du lịch.
  • Quyết định số 307 – TT ngày 25/05/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2015 – 2030. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.
  • Quyết định số 177/TCDL của Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch về quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2015 – 2030.
  • Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2022 – 2025 có chủ đề “Việt Nam – điểm đến thân thiện và an toàn” của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, còn rất nhiều văn bản liên ngành, các bộ luật có liên quan như luật đầu tư, luật bảo vệ môi trường…đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho du lịch phát triển.

2.4.2. Hợp tác và đầu tư

  • Hợp tác quốc tế

Hiện nay ngành du lịch Việt Nam đã ký 24 hiệp định hợp tác du lịch song phương cấp Chính Phủ với các nước trong và ngoài khu vực, thiết lập quan hệ với trên 1000 hãng du lịch của 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Du lịch Việt Nam tham gia hiệu quả vào các diễn đàn hợp tác quốc tế và khu vực như Tổ Chức Du Lịch Thế Giới (WTO), Hiệp Hội Du Lịch Đông Nam Á (ASEANTA), Hiệp Hội Du Lịch Châu Á – Thái Bình Dương (PATA), Liên Minh Châu Âu (EU) và chương trình phát triển Du Lịch Tiểu Vùng sông Mekong mở rộng.

Gần đây, Việt Nam phối hợp với tổ chức WTO tổ chức thành công hội nghị Bộ Trưởng du lịch khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và được bạn bè đánh giá cao.

  • Đầu tư

Việt Nam đang là “điểm nóng” thu hút đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp lẫn đầu tư gián tiếp. Các nhà đầu tư đang tranh thủ cơ hội kinh doanh khi mà Việt Nam đang đứng trước cánh cửa rộng mở của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO). Đến nay đã thu hút 5,15 tỷ USD vốn cam kết đầu tư vào Việt Nam, trong đó có tới 2,2 tỷ USD – chiếm gần 43 % tổng số vốn là đầu tư vào lãnh vực du lịch. Theo Tổng Cục Thống Kê, năm 2022 ngành du lịch có 20 dự án với tổng vốn đầu tư gần 150 triệu USD; năm 2024 có 18 dự án FDI đầu tư vào lãnh vực du lịch với tổng số vốn đăng ký đạt trên 110 triệu USD. Các nguồn đầu tư này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như khách sạn và dịch vụ du lịch, xây dựng khu vui chơi giải trí, khu du lịch… với các nguồn đầu tư này đã tạo cho du lịch Việt Nam có những sắc thái mới.

Đối với đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, năm 2021 Chính phủ đã cấp 266tỷ đồng cho ngành du lịch; năm 2022 cấp 380 tỷ đồng; năm 2023, cấp 450 tỷ đồng và năm 2025 tiếp tục cấp 500 tỷ đồng cho đầu tư hạ tầng du lịch (Tổng số vốn cấp 4 năm 2021 – 2024 là 1.596 tỷ đồng) trong đó 70 % vốn đầu tư vào các địa phương có khu du lịch Quốc Gia.

2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH AN GIANG

2.5.1. Những lợi thế Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Tài nguyên du lịch An Giang rất phong phú, đậm nét lịch sử, văn hóa, nghệ thuật trãi đều trên toàn tỉnh và hoạt động rãi đều trong năm.

An Giang là tỉnh đồng bằng có núi với phong cảnh tự nhiên hấp dẫn và nhiều di tích lịch sử được Bộ Văn Hóa công nhận và xếp hạng.

Tài nguyên sinh vật phong phú với nhiều loại tạo nên sự đa dạng sinh học hấp dẫn, cũng đã tạo được “Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Ngập Nước” tại Tịnh Biên.

Khí hậu ảnh hưởng của 2 mùa gió: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió Tây Nam mát và ẩm gây mưa, còn gió Đông Bắc có độ ẩm lớn nhưng không tạo ra rét mà chỉ hanh khô có phần nóng – tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan hành hương.

Tài nguyên nước tương đối dồi dào, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trong đó có ngành du lịch.

Là tỉnh có đường biên giới giáp với Campuchia thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, phát triển du lịch, giao lưu, trao đổi và thông thương giữa hai nước, tiềm năng trong khai thác tuyến du lịch đường sông từ An Giang đến Phnômpênh và ngược lại.

An Giang có hai cửa khẩu kinh tế Vĩnh Xương và Tịnh Biên là cửa ngõ quan trọng để tỉnh mở rộng thị trường du lịch, khuyến khích phát triển du lịch đường thủy và đường bộ. Chính phủ cũng cho áp dụng chính sách khu kinh tế cửa khẩu, phát triển kinh tế biên giới, tạo điều kiện hội nhập kinh tế khu vực.

Hệ thống giao thông đường bộ lẫn đường thủy trên phạm vi toàn tỉnh, liên huyện đều đi qua các khu, điểm du lịch tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho du lịch phát triển.

Các dịp lễ, tết đều kết hợp với họat động văn hóa thể dục thể thao thu hút du khách tham gia như Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam – Châu Đốc đã trở thành sản phẩm du lịch, là một trong 15 lễ hội cấp Quốc Gia, lễ Dolta của dân tộc Khmer cùng hội đua bò đã trở thành sinh hoạt văn hóa của khu vực.

Các dịch vụ khác như bưu chính viễn thông, cấp điện, cấp nước tương đối tốt, có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.

2.5.2. Những tồn tại Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Điều kiện địa lý tỉnh An Giang có mùa nước nổi hằng năm, cơ sở hạ tầng chủ yếu, cao trình thấp cần vốn đầu tư lớn nên việc quy hoạch và đầu tư các khu du lịch lớn một cách hoàn chỉnh còn khó khăn.

Thắng cảnh còn ít, kỹ năng quản lý, hội nhập du lịch Đông Nam Á không nhiều, thiếu khách sạn ở mức trung, trình độ hướng dẫn viên trong điều hành tour còn hạn chế, nhận thức về phát triển du lịch không đồng đều, hoạt động du lịch chưa chuyên nghiệp.

Các khu di tích, văn hóa thu hút đông khách hình thành nhiều tụ điểm dịch vụ tự phát, việc quản lý theo quy hoạch còn hạn chế, cần có định hướng và chấn chỉnh từng bước. Các thành phần kinh tế tham gia hoạt động du lịch nhiều nhưng phần đông tập trung ở lĩnh vực dịch vụ ăn uống, lưu trú, karaoke thiếu đầu tư công trình theo quy hoạch.

Mạng lưới giao thông thuận tiện nhưng chất lượng chưa cao. Giao thông vận tải đường bộ phát triển chưa đồng bộ và chưa hiện đại hóa; Hệ thống cảng sông – biển hoạt động chưa hết công suất và cũng hạn chế phát triển du lịch; Giao thông vận tải đường hàng không chưa phục hồi lại đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển du lịch của hành khách, đặc biệt là khách quốc tế.

2.6. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH AN GIANG Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

2.6.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

2.6.1.1. Khách du lịch

  • Khách du lịch quốc tế

Thị trường khách quốc tế đến An Giang theo thời gian đã có sự thay đổi cơ bản. Thời kỳ bao cấp, các nguồn khách du lịch đến Việt Nam chủ yếu từ các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, nhưng hiện nay vào thời kỳ kinh tế thị trường thì các nguồn khách từ Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, Úc…là chiếm đa số.

Theo số liệu năm 2021 khách quốc tế đến An Giang là 14.597 lượt người và đến năm 2025 đã đạt 54.922 lượt người. Tốc độ tăng trưởng thời kỳ trung bình là 30.3 %. Thời gian lưu trú trung bình của khách ngày càng tăng, năm 2021 là 1,1 ngày/khách và đến năm 2025 tăng 1,3 ngày/khách. Nguyên nhân do Tỉnh đã thực hiện các chính sách đầu tư có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch của mình, đặc biệt là khi phát triển kinh tế cửa khẩu tạo điều kiện mở rộng giao lưu thương mại, du lịch với các nước trong khu vực và quốc tế. Bên cạnh đó, đến An Giang du khách còn có thể tìm hiểu thêm về thân thế, sự nghiệp của Chủ Tịch Tôn Đức Thắng- Vị lãnh tụ thứ hai đã góp phần mang lại hòa bình cho dân tộc.

BIỂU ĐỒ KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ NGƯỜI NĂM

Tóm lại, khách du lịch quốc tế là nguồn cung cấp doanh thu lớn nhưng lượng khách đến An Giang chưa nhiều, mặc dù có gia tăng. Nơi đây có tiềm năng phát triển nhiều loại hình du lịch để thu hút khách như hành hương, tham quan di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử văn hóa…. Bên cạnh đó cũng cần khắc phục những hạn chế về mạng lưới cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, điều kiện dịch vụ để đáp ứng nhu cầu du khách.

  • Khách du lịch nội địa

Khách nội địa đến An Giang từ khắp mọi miền đất nước nhưng chủ yếu là khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ với số lượng tăng dần theo từng năm. Năm 2021 số khách đến tham quan là 2.285 lượt và tăng lên 3.757 lượt vào năm 2025. Tốc độ tăng trưởng trung bình là 10,5 % Khách du lịch nội địa đến An Giang năm sau cao hơn năm trước nhưng doanh thu thì không tăng còn có xu hướng giảm, cụ thể năm 2025 hơn 3 triệu lượt du khách nội địa nhưng hai phần ba lượng du khách này đến vì nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng chi đến tập trung vào mùa lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam hàng năm chứ không phải nhu cầu tham quan thật sự. Do vậy số ngày lưu trú ngày càng ít đi, chỉ khoảng 1,25ngày/du khách – điều này đồng nghĩa với việc du khách sử dụng các dịch vụ mua sắm tại An Giang ngày càng giảm kéo theo doanh thu giảm. Nguyên nhân do ảnh hưởng của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại các khu điểm du lịch, các loại hình vui chơi giải trí để giữ chân du khách chưa có gì đặc sắc nên chưa tạo sức hút du khách ở lâu hơn.

2.6.1.2. Doanh thu từ khách du lịch

Hiện nay, công tác thống kê doanh thu du lịch của các thành phần kinh tế các cấp từ trung ương đến địa phương của tỉnh đều có thể tham gia vào các hoạt động du lịch từ các doanh nghiệp Nhà Nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các tổ chức phi chính phủ…đều chưa phản ánh đúng thực trạng đóng góp của ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế của địa phương.

Bảng 2.4: Doanh thu từ du lịch của An Giang Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Chỉ tiêu Đơn vị 2021 2022 2023 2024 2025
Tổng doanh thu du lịch Triệu đồng 446.483 590.876 711.050 911.300 1.053.513
Ước thu du lịch xã hội (do doanh nghiệp du lịch phục vụ) Triệu đồng 29.244 44.229 52.958 70.285 87.865

Nguồn: Sở Du Lịch An Giang 

Theo thống kê, doanh thu du lịch An Giang giai đoạn 2021 – 2025 có tăng, từ 446.483 triệu đồng năm 2021, lên 711.050 triệu đồng năm 2023 và đạt 1.053.513 triệu đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ đạt 18.7 %.

Mức doanh thu tăng do các địa phương Long Xuyên, Châu Đốc và huyện Tri Tôn đã có những bước phát triển vượt bậc, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng cho du lịch, tuy nhiên cũng chưa thật đúng với tiềm năng của địa phương nên thời gian lưu trú của du khách còn ngắn, chỉ khoảng 1 -2 ngày và mức chi tiêu trung bình thấp, năm 2024 trung bình chi tiêu của khách quốc tế là 34.3 USD và khách nội địa là 307 ngàn đồng.

Doanh thu du lịch trong toàn tỉnh chủ yếu là các hoạt động dịch vụ như thuê phòng, ăn uống, lữ hành, còn doanh thu bán hàng và các dịch vụ khác chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Nguyên nhân do sản phẩm du lịch chưa đa dạng phong phú, các mặt hàng lưu niệm đặt trưng còn nghèo nàn, chưa tạo được các tuyến du lịch hấp dẫn cho khách tham quan. Tại các điểm du lịch chưa có nhiều dịch vụ để đáp ứng nhu cầu du khách…chính những điều đó hạn chế chi tiêu của du khách.

2.6.1.3.1. Hệ thống các cơ sở lưu trú và ăn uống

Hiện nay, hệ thống cơ sở lưu trú và ăn uống của tỉnh phát triển với tốc độ khá nhanh và thu hút đuợc với mọi thành phần kinh tế tham gia.

Năm 2021, tỉnh có 32 cơ sở lưu trú với 741 phòng, trong đó có 1 khách sạn 3 sao, 1 khách sạn 2 sao, 10 khách sạn 1 sao và các nhà nghỉ. Năm 2025 tăng lên 26 cơ sở lưu trú với 1.339 phòng và 2.334 giường. Trong đó, có 1 khách sạn 4 sao: Vitoria Hàng Châu Châu Đốc, 1 khách sạn 3 sao: Đông Xuyên – Thành Phố Long Xuyên, 9 khách sạn 2 sao: Xuân Hương, Kim Anh, Bảo Giang I, Kim Phát, Hòa Bình (Thành Phố Long Xuyên), Song Sao, Núi Sam, Bến Đá, Lâm Hưng Ký (Thị Xã Châu Đốc).

Bảng 2.5: Số lượng khách sạn của tỉnh (Đơn vị: Khách Sạn)

Năm Tổng số 5 sao 4 sao 3 sao 2 sao 1 sao Đủ tiêu chuẩn Nhà nghỉ du lịch Chưa phân loại
2021 32 1 1 10 2 2 18
2023 49 1 1 7 21 4 2 13
2025 56 1 1 9 24 7 1 13

Nguồn: Sở Du Lịch An Giang  Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Phần lớn khách sạn điều có nhà hàng riêng, có những nhà hàng lớn đã quen thuộc: nhà hàng Long Xuyên, nhà hàng Đông Xuyên, nhà hàng Thắng Lợi, nhà hàng Hòa Bình, nhà hàng Victoria (Châu Đốc), nhà hàng Núi Sam, nhà hàng Lâm Viên núi Cấm, nhà hàng Bến Đá Núi Sam…

Nhìn chung mạng lưới khách sạn – nhà hàng của các doanh nghiệp phân phối chưa đều trong tỉnh, tập trung chủ ỵếu ở Long Xuyên và Châu Đốc. Tuy nhiên, đã có một số khách sạn xuống cấp nhưng vẫn chưa được đầu tư nâng cấp.

Bên cạnh còn có sự hổ trợ của các nhà trọ: toàn tỉnh có 900 nhà trọ đăng ký hoạt động nhưng có 1 số nhà trọ hoạt động mang tính thời vụ tự phát, đặc biệt nhất là vào những dịp tết, lễ, lễ hội, hội chợ… nhiều nhất ở khu vực Núi Sam (thị xã Châu Đốc) và Núi Cấm huyện Tịnh Biên. Số lượng nhà trọ ở Thành Phố Long Xuyên chiếm 57%, Châu Đốc 42%  trên tổng số nhà trọ đăng ký kinh doanh.

Phần lớn các cơ sở lưu trú được thống kê đều có thể đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi theo đoàn, hội nghị, hội thảo… có phòng ốc khép kín, đầy đủ tiện nghi trong phòng. Điều đó cho thấy chất lượng của các cơ sở đã nâng lên nhiều và ngày càng hiện đại.

Tuy nhiên khả năng cung ứng số lượng cơ sở lưu trú tăng nhanh nhưng công suất khai thác phòng và giá cả chưa hợp lý. Vào dịp các ngày lễ du khách hành hương (tháng I – tháng IV) công suất phòng sử dụng đạt 100 %, giá phòng rất cao, trung bình 250.000 – 300.000 đồng/ phòng /ngày. Còn những tháng khác thì công suất phòng chỉ đạt 35 – 40 % nên giá phòng cũng giảm theo, trừ các cơ sở lưu trú của các doanh nghiệp Nhà Nước thì các cơ sở lưu trú còn lại đều giảm giá xuống hơn phân nửa (trung bình từ 80 – 180.000 đồng/phòng /ngày) hoặc một số cơ sở lưu trú hầu như không hoạt động.

2.6.1.3.2. Các cơ sở vui chơi – giải trí – thể thao

Hiện nay, khách du lịch đến An Giang chủ yếu do sức hấp dẫn của tài nguyên thiên nhiên, văn hóa lịch sử, di tích đền chùa…tuy nhiên, bên cạnh việc thưởng ngọan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, du khách còn muốn sử dụng thời gian rổi của mình vào những trò chơi giải trí khác.

Hoạt động du lịch An Giang hiện nay bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của du khách đến với tỉnh. Đây là bước chuyển biến tích cực trong hoạt động của ngành, du lịch An Giang đã và đang phát triển đúng hướng như: hoạt động gánh hàng rong ở khách sạn Đông Xuyên, ẩm thực mùa nước nổi, các tour du lịch mùa nước, các lễ hội văn hóa- thể thao mùa nước nổi, du lịch sông nước, phát triển du lịch cộng đồng và du lịch Homestay… Còn tại các điểm du lịch trọng điểm có một vài công viên nhỏ với các hoạt động giải trí đơn giản như: đu quay, đạp vịt, lái xe điện, karaoke, chụp ảnh, các hàng lưu niệm, một số dịch vụ giải khát kết hợp hát với nhau… Tuy nhiên các cơ sở này có quy mô nhỏ, các hình thức giải trí đơn điệu và rời rạc chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch cũng như dân địa phương.

Đây là nguyên nhân giảm tính hấp dẫn của du lịch An Giang, không giữ chân được du khách trong nhiều ngày làm giảm hiệu quả kinh doanh du lịch. Việc đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí tổng hợp là một yêu cầu cấp bách của vấn đề phát triển du lịch của tỉnh. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

2.6.1.3.3. Các phương tiện vận chuyển

Phương tiện vận chuyển khách du lịch rất đa dạng với nhiều loại hình như vận tải đường bộ và vận tải đường thủy (đường sông) đã ngày càng cải thiện, tăng dần cả về số lượng lẫn chất lượng.

Trong đó, phương tiện phổ biến nhất là giao thông vận tải đường bộ, với loại phương tiện này du khách có thể chủ động về đường đi, thời gian, giá thành lại rẻ và phương tiện ngày càng hiện đại. Bên cạnh đấy việc xây dựng các bến xe tại các điểm du lịch, tạo cho du khách thấy thuận tiện, an toàn hơn trong đi lại. Điều đó đã giúp doanh thu của các loại hình tăng khá cao.

Năm 2025, cả tỉnh có 9 doanh nghiệp du lịch đã được cấp phép hoạt động lữ hành nội địa chủ yếu là cho thuê xe và vận chuyển khách du lịch (trong đó có 2 văn phòng đại diện và có 1 đơn vị kinh doanh họat động lữ hành quốc tế).  Nhìn chung, các công ty đã và đang có nhiều cố gắng để mở rộng khai thác thêm nhiều tour, tuyến du lịch mới trong và ngoài tỉnh cũng như nước ngoài. Bên cạnh đó, các công ty đã chú trọng trong việc xúc tiến quảng bá và nâng cao chất lượng phục vụ (chuyên môn, năng lực phục vụ và trình độ ngọai ngữ) để thu hút ngày càng nhiều du khách đến tham gia.

Bên cạnh những cố gắng, nổ lực của từng doanh nghiệp thì về mặt quản lý nhà nước, Sở Du Lịch cũng có những quan tâm, hổ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn, cụ thể như trong năm 2006 tiến hành ký hợp tác phát triển du lịch giữa 3 tỉnh Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang để thực hiện mô hình “ Tam Giác Du Lịch” nhằm từng bước tạo mối liên kết phát triển du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long . liên kết tổ chức tour, tuyến du lịch để tạo sức mạnh tổng hợp trong phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội và đưa hoạt động du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của địa phương.

2.6.1.4. Lao động trong ngành du lịch

Số lao động và trình độ tay nghề của đội ngũ lao động trong ngành lao động trong ngành du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ. Lao động trong ngành du lịch bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là số lao động làm việc tại các doanh nghiệp phục vụ du lịch như các khách sạn, nhà hàng, các công ty du lịch, lữ hành, các cơ sở dịch vụ du lịch…

Bảng 2.6: Lao động trực tiếp của ngành du lịch An Giang

(Đơn vị: Người)

Năm 2021 2022 2023 2024 2025
Tổng số 35.698 38.754 41.050 43.604 48.031

Nguồn : Tổng Cục Thống Kê 

Trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động trong ngành du lịch: năm 2020 trình độ Đại học – Cao đẳng chiếm 11 %, Trung cấp 12 %, Sơ cấp 15.2 %, chưa qua trường lớp 61.8 %; năm 2025 trình độ Đại học – Cao đẳng chiếm 15 %, Trung cấp 17.5%, Sơ cấp 19%, còn lại là chưa qua trường lớp (trong năm toàn tỉnh An Giang cấp được 16 thẻ hướng dẫn viên du lịch).

Ngoài ra, khi ngành du lịch phát triển đều khắp ở các tuyến điểm du lịch được quy hoạch, khả năng  thu hút nhiều lao động từ ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, bưu chính viễn thông…tham gia phục vụ du lịch trên địa bàn. Theo Tổng Cục Thống Kê số lao động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ du lịch là 117.105 năm

2021 và tăng lên 136.744 lao động năm 2025. Nhìn chung, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chính trị, ngoại ngữ và tin học được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được cả về mặt số lượng và chất lượng theo tiêu chuẩn đặt ra nên cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế du lịch. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Do vậy, hiện tại Sở Du Lịch đã phối hợp với các trường Nghiệp vụ thuộc Tổng cục Du Lịch tổ chức các lớp đào tạo nhằm nâng cao tay nghề cho đội ngũ nhân viên đang làm việc tại các nhà hàng – khách sạn. Riêng bộ phận quản lý, Sở Du Lịch cũng phối hợp với các ngành chuyên môn để mở các khóa huấn luyện cao cấp, nhằm giúp cho các chủ doanh nghiệp, nhà hàng – khách sạn thay đổi tư duy, nhận thức cũ, mở rộng tầm nhìn và sớm có những chiến lược phát triển tương thích để đón nhận và hòa nhập vận hội mới.

2.6.1.5. Vấn đề đầu tư

Trong giai đoạn 2020 -2025, du lịch An Giang nhận được nhiều sự quan tâm của Nhà Nước và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, một phần do cơ chế quản lý thiếu năng động (ngành du lịch của tỉnh do sự quản lý của các UBND tỉnh), nên các dự án đầu tư cho du lịch còn rất hạn chế, hầu như chỉ dựa vào ngân sách ít ỏi của địa phương và số vốn hỗ trợ không nhiều của nhà nước, chưa có những dự án đấu thầu mang tính đột phá của các doanh nghiệp. Do vậy, thời gian gần đây nhiều địa phương đã bất đầu ý thức được tầm quan trọng của du lịch đã mạnh dạn mời gọi đầu tư, thu hút các thành phần kinh tế với chính sách ưu đãi, hấp dẫn như Thị Xã Châu Đốc là một trong những địa phương điển hình đã thu hút được hơn 30 nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh. Qua đó, hình thành và phát triển thêm các loại hình dịch vụ phụ trợ du lịch phong phú, đa dạng đặc sắc và mới lạ về chất lượng lẫn hình thức phục vụ.

An Giang đang huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu vật chất kinh doanh du lịch với 2 dự án đầu tư du lịch và thêm 3 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch mới. Với tổng vốn được cấp phép: ước 80 tỷ 200 triệu đồng, trong đó chủ yếu là vốn trong nước.

Hiện tại, có 10 chương trình dự án phát triển du lịch từ 2020 – 2030 tại An Giang đang mời gọi đầu tư trong và ngoài nước.

Khu du lịch núi Cấm – Huyện Tịnh Biên: thực hiện điều chỉnh quy hoạch toàn khu du lịch núi Cấm; các dự án như: Cổng chào khu du lịch núi Cấm, hồ chứa nước Thanh Long, tiến hành thực hiện đầu tư khu tái định cư, hồ chứa nước Thủy Liêm, khu biệt thự, nghỉ dưỡng, cải tạo và mở rộng khu chùa Phật Lớn.

Khu du lịch núi Sam – Châu Đốc: có nguồn vốn vay ADB đã được hỗ trợ các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng như: cầu tàu Du Lịch Châu Đốc, cải tạo môi trường núi Sam, xây dựng cửa khẩu liên hợp quốc tế đường sông Vĩnh Xương.

Khu du lịch thị trấn núi Sập, Ba Thê – Huyện Thoại Sơn: tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng khu vực lòng hồ số 1,2; đầu tư mở rộng các khu dịch vụ vui chơi giải trí quanh hồ số 1, trồng cây xanh, hoa kiểng; thi công thông đường hầm lòng hồ số 2 và số 3, đang thi công cửa hầm số 3. Đầu tư khu vực trò chơi khu Óc Eo, Ba Thê…

Các khu, điểm du lịch khác cũng như tập trung cao cho việc qui họach và thiết kế các dự án nhỏ như: Qui hoạch khu du lịch núi Tượng, lập thiết kế hệ thống đường, cầu và thoát nước cho khu Soài So; Hoàn chỉnh khu vui chơi giải trí Mỹ Khánh (Thành Phố Long Xuyên), giải quyết bồi hoàn đất, lập thiết kế và dự toán cho các công trình.

Phối hợp với tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) để xây dựng dự án du lịch cộng đồng người Chăm ở Phủm Soài, xã Châu Phong,  Huyện Tân Châu và xã Mỹ Hòa Hưng, Thành Phố Long Xuyên. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Bảng 2.7: Danh mục dự án đầu tư  ( Đơn vị tính: Tỷ đồng )

STT Danh mục dự án đầu tư Địa điểm xây dựng Quy mô dự án ha) Tổng mức vốn đầu tư Chủ đầu tư
1 Khu vui chơi, giải trí Mỹ Khánh Long Xuyên 329 50 BQL các khu DL tỉnh
2 Khu DL sinh thái Mỹ Hòa Hưng, Cồn Phó Quế Long Xuyên 40 23 UBND Tp Long Xuyên
3 Điều chỉnh quy hoạch khu du lịch Núi Sam Châu Đốc 900 Q/ hoạch BQL các khu DL tỉnh
4 Khu vui chơi, giải trí thị xã Châu Đốc Châu Đốc 100 25 BQLP/triển DL Châu Đốc
5 Khu du lịch sinh thái núi Cấm  Huyện Tịnh Biên 3.000 Q/ hoạch BQL các khu DL tỉnh
6 Khu du lịch văn hóa Kỳ Lân Sư  Huyện Tịnh Biên 02 4 BQLDL Tịnh Biên
7 QH chi tiết khu DL sinh thái rừng tràm Trà Sư  Huyện Tịnh Biên 875 Q/ hoạch Kiểm lâm + QL  DL tỉnh
8 Khu du lịch Búng Bình Thiên  Huyện An Phú 706 1.400 Phòng kinh tế Huyện An Phú
9 Khu du lịch Soài So  Huyện Tri Tôn 30 Q/ hoạch BQL VH- DL Soài So- T/Tôn
10 Khu du lịch núi Sập và Óc Eo  Huyện Thoại Sơn 38 10 BQL DL- VH Thoại Sơn

Nguồn: Sở Du Lịch An Giang

Bên cạnh đó, trong năm 2025, một số khách sạn – nhà hàng đã được xây dựng mới đồng thời, được đầu tư nâng cấp, mở rộng quy mô tập trung nhiều nhất ở địa bàn Long Xuyên, Châu Đốc với trang thiết bị mới, hiện đại, đồng bộ, chất lượng cao và đạt tiêu chuẩn. Hiện nay, tổng số vốn đầu tư khách sạn – nhà hàng ước khoảng 400 tỷ đồng.

2.6.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH AN GIANG

2.6.2.1. Điểm du lịch Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

An Giang có thiên nhiên ưu đãi, cảnh quan đặc thù với núi rừng, sông nước và có nhiều di tích văn hóa – lịch sử lâu đời, lễ hội văn hóa dân tộc truyền thống, có các cửa khẩu quốc tế, quốc gia, có dường sông và đường bộ thuận tiện …tạo ra nhiều điểm du lịch trên địa bàn có quy mô nhỏ và chiếm diện tích nhất định trong không gian, mỗi điểm có nét độc đáo, đặc sắc riêng hấp dẫn du khách.

Các điểm du lịch đặc trưng

  • Thành Phố Long Xuyên: Cù lao ông Hổ và nhà lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Chợ nổi Long Xuyên, Chùa Ông Bắc.
  • Thị Xã Châu Đốc: Chùa Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thọai Ngọc Hầu, chùa Hang, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, kênh Vĩnh Tế, vườn Tao Ngộ, đình Châu Phú .
  • Huyện Thoại Sơn: Khu di chỉ văn hóa Óc Eo, 2 bia đá Thọai Sơn và tượng Phật 4 tay, Lòng Hồ núi Sập.
  • Huyện Tịnh Biên: Lâm viên núi Cấm, Động Thủy Liêm, Điện Bọ Hong, suối Thanh Long, Đồi Thiên Tuế, chùa Phật lớn, hồ Ô Tuk Sa, rừng sinh thái Trà Sư, chùa Hòa Thạnh.
  • Huyện Tri Tôn: đồi Tức Dụp, hồ Soài So, suối Vàng, rừng tràm Bình Minh – Tân Tiến, nhà mồ Ba Chúc, chùa Tam Bửu – Phi Lai, chùa Xrayton.

2.6.2.2. Cụm du lịch

An Giang có 3 cụm du lịch như:

Cụm 1: gồm Thành Phố Long Xuyên, Huyện Chợ Mới, Huyện Châu Thành và Huyện Thoại Sơn. Trung tâm là Thành Phố Long Xuyên. Đây là trung tâm văn hóa, chính trị kinh tế xã hội của tỉnh, vùng này tập trung các loại hình du lịch trên sông, rạch, du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu di tích lịch sử, văn hóa, họat động lễ hội, khu vui chơi giải trí, trung tâm mua sắm…

Cụm 2: gồm thị xã Châu Đốc, Huyện Châu Phú, Huyện Phú Tân, Huyện An Phú và Huyện Tân Châu. Trung tâm là thị xã Châu Đốc. Vùng này có khu du lịch núi Sam, hiện trạng họat động du lịch khá phát triển thu hút được nhiều khách trong và ngoài nước, cần được tiếp tục phát triển toàn diện. Vùng tập trung cho những loại hình du lịch lễ hội, văn hóa dân tộc, tham quan nghiên cứu công nghiệp cá bè, du lịch sông nước, làng nghề truyền thống, vui chơi giải trí… Đặc biệt với vị trí giáp biên giới Campuchia nên đây cũng là trung tâm phát triển thương mại dịch vụ. Trong thời gian tới thị xã Châu Đốc dự kiến sẽ đầu tư sân bay để phục vụ cho du khách trong và ngoài nước.

Cụm 3: gồm Huyện Tri Tôn và Huyện Tịnh Biên, là các huyện miền núi và dân tộc, ở đây có khu du lịch Lâm viên núi Cấm, di tích đồi Tức Dụp… vùng này tập trung cho những lọai hình du lịch thắng cảnh thiên nhiên miền núi, hang động, thể thao leo núi, du lịch an sinh, du lịch sinh thái, du lịch cỡi ngựa, thả diều, du lịch đường bộ sang Campuchia và các nước ASEAN.

2.6.2.3. Các khu du lịch  Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Các khu du lịch của An Giang nói riêng và cả nước nói chung đều gắn liền với truyền thống văn hóa, lịch sử, tập tục, lễ hội cổ truyền dân tộc và các lợi ích cộng đồng để phục vụ cho khách du lịch :

Khu lưu niệm quê hương Bác Tôn tại Cù lao Ông Hổ giữa lòng sông Hậu thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, Thành Phố Long Xuyên khí hậu mát mẽ với nhiều vườn cây ăn trái quanh năm. Nơi đây còn giữ nguyên dạng ngôi nhà cũ của Chủ Tịch Tôn Đức thắng sinh ra và sống thời niên thiếu, bên cạnh là nhà lưu niệm Bác Tôn đã xây dựng trong vài năm trước, giúp du khách hiểu thêm về cuộc đời sự nghiệp họat động cách mạng của Bác.

Nhà Bảo tàng An Giang xây dựng mới nằm ở ngã ba đường Lê Triệu Khiết, Tôn Đức Thắng và Lý Thường Kiệt thuộc phường Mỹ Bình, Thành Phố Long Xuyên, gồm 3 khu trưng bày: Vùng đất An Giang và con người An Giang, cuộc đời và sự nghiệp Bác Tôn, nền văn hóa Óc Eo và cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, thành tựu xây dựng và bảo vệ quê hương.

Khu du lịch núi Sam thuộc thị xã Châu Đốc, với những di tích lịch sử văn hóa gồm: lăng Thọai Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tây An, chùa Hang… các tiện nghi phục vụ cùng với sự trù phú của thị xã Châu Đốc, cảnh quan tươi mát, thoáng đặt tại vùng ngã ba sông… sẽ tạo cho du khách cảm giác vui, lạ và tươi khỏe.

Khu du lịch Lâm Viên núi Cấm thuộc huyện Tịnh Biên, cảnh quan thiên nhiên được ví như Đà Lạt tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. Khí hậu mát mẽ quanh năm, nhiệt độ bình quân từ 18 – 240C. Du khách sẽ thăm quan suốt tuyến Thất Sơn với 7 ngọn núi trong đó có núi Cấm (còn gọi Thiên Cấm Sơn) cao 710 m với các thắng cảnh núi non, có hồ chưa nước Ô Tuk Sa, thảm thảo mộc xanh tươi, cùng với hệ thống di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia như: Tức Dụp, Ô Tà Sóc, chùa Xà Tón, nhà mồ Ba Chúc… ở huyện Tri Tôn .

Khu di tích khảo cổ nền văn hóa Óc Eo của dân tộc Phù Nam tại Huyện Thoại Sơn, cách Long Xuyên 40 km.

2.6.2.4. Các tuyến du lịch

  • Các tuyến du lịch nội vùng
  • Long xuyên – Tức dụp – Châu Đốc – núi Sam

Đối tượng tham quan: Hang động đồi Tức Dụp, viếng miếu Bà Chúa Xứ, núi Sam, Lăng Thoại Ngọc Hầu, Tây An cổ tự, đi chợ Châu Đốc .

Thời gian: 1 ngày

  • Long Xuyên – Tức dụp – Ba chúc – núi Sam – Châu Đốc

Đối tượng tham quan: đồi Tức Dụp, nhà mồ Ba Chúc, chùa Tam Bửu, chùa Phi Lai, chùa Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, kênh Vĩnh Tế, làng chăm Châu Giang, thánh đường Hồi Giáo, Bè cá Châu Đốc, chợ Châu Đốc . Thời gian: 2 ngày 1 đêm.

  • Long Xuyên – Châu Đốc – núi Sam – Cửa khẩu Tịnh Biên – Tức dụp – Rừng tràm Trà Sư.

Đối tượng tham quan: miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thọai Ngọc Hầu, kênh Vĩnh Tế, thánh đường Hồi Giáo, làng cá bè Châu Đốc, chợ Châu Đốc , cửa khẩu  Tịnh Biên, Chợ Biên Giới, đồi Tức Dụp, rừng tràm Trà Sư. Thời gian: 3 ngày 2 đêm.

  • Homestay

Đối tượng tham quan: Chợ nổi Long Xuyên, Thành Phố Long Xuyên và Cù lao Ông Hổ bằng xe đạp, gồm: khu lưu niệm Bác Tôn, Trại cưa, Lò Rèn, Xóm Nhang …    + Thời gian: 2 ngày 1 đêm.

  • Long xuyên – Mỹ Hòa Hưng – Ba Thê Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Đối tượng tham quan: Cù lao Ông Hổ, khu lưu niệm Bác Tôn, trại cá sấu Long Xuyên, khu di chỉ văn hóa Óc Eo. Thời gian: 2 ngày 1 đêm.

Tuyến du lịch quốc gia

  • Hồ Chí Minh – Long Xuyên – Châu Đốc

Đối tượng tham quan: Cầu treo Mỹ Thuận, cù lao Ông Hổ, khu lưu niệm Bác Tôn, Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chợ Châu Đốc, làng nuôi cá bè bằng thuyền (không áp dụng trong mùa lũ), làng dệt chăm + Thời gian: 3 ngày 2 đêm.

  • Long Xuyên – Châu Đốc – Hà Tiên

Đối tượng tham quan: Cù lao Ông Hổ, khu lưu niệm Bác Tôn, tượng đài cá Ba Sa, bè Cá, làng Chăm, thánh đường Hồi Giáo, chùa Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Hang – Kiên Giang, hòn Phụ Tử, tắm biển Hàng Dương, khu thương mại Rạch Giá, đền Nguyễn Trung Trực, cầu tàu Rạch Giá – Phú Quốc. Thời gian: 3 ngày 2 đêm.

  • Tuyến du lịch quốc tế: Long Xuyên – Campuchia

Đối tượng tham quan: đi Siêm Riệp, biểu diễn vũ điệu truyền thống Apsara, Angkor thom, tượng thần và ngẫu tượng Yoni, khu phế tích Baphuon, Tah Prom, Takeo Banteay Kdep, đền Angkor Wat, leo núi Bakheng, Hoàng cung, chùa Vàng và chùa Bạc, bờ sông Bốn Mặt, Quảng Trường, Đài Độc Lập, chùa Wat Phnôm, chùa Russia, Oversay, Long Xuyên. Thời gian: 4 ngày 3 đêm.

2.6.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH AN GIANG

Hoạt động du lịch của An Giang đang phát triển với tốc độ khá nhanh, lượng khách đến ngày càng tăng và doanh thu cũng như chất lượng phục vụ du lịch ngày càng tốt hơn. Bên cạnh đó, ngành du lịch còn được sự hổ trợ của Nhà Nước trong việc thực hiện quy hoạch các khu, điểm du lịch trên địa bàn đã tạo điều kiện cho việc quản lý và khai thác du lịch tốt hơn.

Tuy nhiên, Nhà Nước chưa đầu tư cơ sở vật hạ tầng thuận lợi, chưa quy hoạch đúng các khu điểm du lịch và xây dựng các loại hình du lịch hấp dẫn, tốc độ phát triển du lịch chưa thật tương xứng với tiềm năng tài nguyên du lịch sẳn có của địa phương. Lượng khách đến và thời gian lưu trú của khách còn ít nên hiệu quả kinh doanh du lịch vẫn chưa cao. Hoạt động lữ hành còn yếu, chủ yếu chỉ phục vụ cho việc ở và đi lại, thiếu các tour tuyến du lịch thật sự hấp dẫn để thu hút du khách, chưa gắn kết hiệu quả các hoạt động du lịch với các lễ hội truyền thống, làng nghề mà chủ yếu còn mang tính mùa vụ. Do vậy, tỷ lệ phòng buồng ở các điểm du lịch này chỉ đạt khoảng 35 – 40 % cả năm nên giá cả cao và chất lượng phục vụ chưa tốt lắm. Sản phẩm du lịch chủ yếu dựa vào tài nguyên tự nhiên nên chưa tạo ra nhiều sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh cao. Doanh thu ăn uống và lưu trú chiếm tỉ lệ lớn. Thiếu các khu du lịch tổng hợp với nhiều dịch vụ du lịch hấp dẫn để thu hút du khách. Hoạt động du lịch còn nhỏ lẻ, manh mún, kinh doanh dịch vụ du lịch lộn xộn, tình trạng chèo kéo và đeo bám du khách tại các điểm và cụm du lịch gây không ít sự phiền hà cho du khách. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

Ngoài ra, hoạt động du lịch chưa chuyên nghiệp, bên cạnh đó thì chương trình quảng bá chủ yếu là trong nước, không có quảng cáo ở nước ngoài. Phí thị thực còn cao, thủ tục xin visa phức tạp. Hành lang pháp lý của ngành du lịch chưa toàn diện.

Trình độ năng lực và nghiệp vụ của đội ngũ hướng dẫn viên và nhân viên phục vụ du khách còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được các tour tuyến du lịch quan trọng (hướng dẫn du khách quốc tế). Kỹ năng quản lý, hội nhập du lịch Đông Nam Á không nhiều.

Tình trạng phát triển không đều tại các điểm và cụm du lịch tạo cho sự đầu tư vào du lịch không đều, chủ yếu du lịch An Giang phát triển dưa vào tâm linh nên cụm du lịch Châu Đốc và cụm du lịch núi Cấm –  Huyện Tịnh Biên phát triển mạnh.

Mặt khác, trang thiết bị, cơ sở vật chất của ngành phần lớn xuống cấp, lạc hậu chưa đáp ứng đủ yếu cầu ngày càng cao của du khách (đặc biệt là khách nước ngoài), mặc dù hiện tại đã có sự đầu tư của Nhà Nước.

Nhìn chung, toàn tỉnh thì cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch như khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí…có quy mô nhỏ, trang thiết bị chưa được đầu tư thích đáng cho tương xứng với tiềm năng của vùng. Có nhiều điểm du lịch nhưng chưa được đầu tư tôn tạo, nâng cấp nên sức hấp dẫn khách du lịch còn hạn chế. Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch An Giang.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch An Giang hiệu quả

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537