Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản tại tỉnh Quảng Ninh
2.1.1. Các yếu tố tự nhiên
Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc của tổ quốc, cách Hà Nội khoảng 150km, có toạ độ địa lý khoảng 106o26′ đến 108o31′ kinh độ đông và từ 20o40′ đến 21o40′ vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Điểm cực bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thị xã Móng Cái. Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Trên đất liền, phía bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thị xã Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với 132,8 km đường biên giới; phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng. Bờ biển dài 250 km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là tính đến ngày 1-10-1998 là 611.081,3 ha. Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513 ha, đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha.[7]
Quảng Ninh là tỉnh địa đầu của Tổ quốc, nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền đông bắc nói riêng và của cả nước nói chung. Quảng Ninh với vị trí địa lý – kinh tế – xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ với Việt Nam mà còn đối với cả vùng Đông Nam Á. Với một tỉnh như Quảng Ninh hội tụ đầy đủ yếu tố thiên thời địa lợi sẽ giúp cho tỉnh phát triển nhanh, mạnh trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Hoạt động khai thác khoáng sản của tỉnh khá mạnh mẽ; các sở Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Công thương đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên khoáng sản. Việc khai thác với sản lượng mỗi ngày một tăng dần các loại khoáng sản đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho tỉnh; song cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Có nhiều dạng tai biến địa chất tiềm ẩn, có khả năng gây ảnh hưởng đến đời sống dân sinh và môi trường sinh thái. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Yếu tố kinh tế xã hội, dân cư
Tỉnh Quảng Ninh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 4 thành phố, 2 thị xã và 7 huyện với 177 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 72 phường, 7 thị trấn và 98 xã. Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố trực thuộc nhất Việt Nam. Tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh đến nay đạt trên 64%. [7]
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt 1.320.324 người, mật độ dân số đạt 198 người/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 845.805 người, chiếm 64,1% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 474.519 người, chiếm 35,9% dân số. Dân số nam đạt 671.522 người, trong khi đó nữ đạt 648.802 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 1,42 ‰. Dân cư Quảng Ninh tập trung chủ yếu ở bốn thành phố và hai thị xã, là các trung tâm của ngành công nghiệp khai thác than, du lịch và cửa khẩu của Việt Nam, phần 8 huyện còn lại dân cư tương đối thưa thớt, sống chủ yếu bằng nghề nông. Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống. Trong đó, người Kinh đông nhất với 1.157.193 người, tiếp sau đó là các dân tộc ít người như người Dao, người Tày, Sán Dìu, người Sán Chay, người Hoa, người Nùng, người Mường, người Thái… với 162.531 người. [7]
Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quảng Ninh có nhiều khu kinh tế. Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc và các nước trong khu vực. Năm 2017 và 2018, Quảng Ninh là tỉnh liên tục 2 lần có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 1 ở Việt Nam. Năm 2018, tốc độ tăng trưởng của tỉnh đạt 11,1%; thu nhập bình quân đầu người đạt 5110 USD (gấp hơn gần 2 lần bình quân chung cả nước); tiếp tục đứng trong nhóm 7 địa phương dẫn đầu cả nước về thu ngân sách với tổng thu ước đạt trên 40.500 tỷ đồng trong đó thu nội địa đạt 30.500 tỷ đồng đứng thứ 4 toàn quốc; thực hiện tiết kiệm triệt để nguồn chi thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển với tỷ trọng trên 64% tổng chi ngân sách; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 67.600 tỷ đồng. Lương bình quân của lao động trong tỉnh ở các ngành chủ lực như than, điện, cảng biển, cửa khẩu và du lịch đều ở mức cao. [7]
2.1.3. Yếu tố tài nguyên khoáng sản Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Nhắc đến Quảng Ninh chắc chắn chúng ta nghĩ ngay đến “vựa” khai thác than lớn của đất nước. Mà nhắc đến than có lẽ chúng ta cũng nghĩ ngay đến tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh có đặc điểm là có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, nhiều loại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao như: than, cát thủy tinh, đá vôi, cao lanh tấn mài, đất sét,… Với trữ lượng lưu trữ là 3,6 tỷ tấn than, tập trung tại các khu vực: Hạ Long, Cẩm Phả và Uông Bí – Đông Triều được cổng thông tin điện tử của tỉnh công bố, đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh có trữ lượng than lớn nhất cả nước, cùng với đó là công suất khai thác than lớn nhất cả nước với sản lượng khoảng 30-40 triệu tấn mỗi năm. Không chỉ có than, những khoáng sản chất lượng cao khác khác như các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh… ở đây cũng có trữ lượng tương đối lớn, phân bố rộng khắp trong tỉnh. Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản, về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 95%, đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh. Quảng Ninh còn là trung tâm nhiệt điện của cả nước với sản lượng nhiệt điện chiếm 15% và xi măng chiếm 14% của cả nước. Hoành Bồ, Cẩm Phả là những địa danh nổi tiếng với mỏ đá vôi; mỏ cao lanh ở các huyện miền núi Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, mỏ đất sét ở Đông Triều, Hoành Bồ và thành phố Hạ Long… Những địa phương này góp phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất vật liệu xây dựng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Quảng Ninh không chỉ nổi tiếng với khoáng sản mà còn có tiềm năng du dịch lớn cùng vị trí chiến lược đã giúp Quảng Ninh trở thành vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam.[7]
2.1.4. Chủ thể thực hiện pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chủ thể thực hiện pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh bao gồm:
- Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
- Ban hành theo thẩm quyền văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ khoáng sản và quản lý hoạt động khoáng sản tại địa phương;
- Khoanh định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản; quyết định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền;
- Lập, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản của địa phương theo quy định của Chính phủ;
- Công nhận chỉ tiêu tính trữ lượng khoáng sản; phê duyệt trữ lượng khoáng sản; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép; Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
- Cấp, gia hạn, thu hồi Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản, Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản; chấp thuận trả lại Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản, Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản, trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác khoáng sản; tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền;
- Giải quyết theo thẩm quyền việc cho thuê đất hoạt động khoáng sản, sử dụng hạ tầng kỹ thuật và các vấn đề khác có liên quan cho tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản tại địa phương theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, khoáng sản chưa khai thác, tài nguyên thiên nhiên khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội tại khu vực có khoáng sản;
- Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản ở trung ương về tình hình hoạt động khoáng sản trên địa bàn;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản;
- Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền.
Cơ quan chịu sự chỉ đạo, quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về công tác thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh là Sở Tài nguyên và Môi trường
- Sở Tài nguyên và Môi trường:
Khoanh định các khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản; xác định các khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh các biện pháp bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; lập kế hoạch và tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi được phê duyệt;
Lập quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản của địa phương theo quy định; kịp thời phát hiện và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường khi phát hiện khoáng sản mới; thẩm định hồ sơ công nhận chỉ tiêu tính trữ lượng khoáng sản; hồ sơ phê duyệt trữ lượng khoáng sản; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Tổ chức thẩm định hồ sơ cấp, gia hạn, thu hồi, trả lại giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản; hồ sơ chuyển nhượng quyền thăm dò, quyền khai thác khoáng sản; hồ sơ trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác khoáng sản; đề án đóng cửa mỏ; hồ sơ đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; tổ chức thẩm định tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền;
Tổ chức thẩm định báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn thuộc thẩm quyền phê duyệt của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
Quản lý, lưu trữ và cung cấp thông tin, tư liệu về thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản đã được phê duyệt và định kỳ báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định;
Xây dựng giá tính thuế tài nguyên đối với loại khoáng sản chưa có giá tính thuế tài nguyên hoặc phải điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên do không còn phù hợp theo quy định.
Phối hợp với Công an các Thành phố, huyện, thị xã trong việc thành lập các trạm kiểm soát liên ngành trên quốc lộ 18A, bố trí lực lượng cần thiết nhằm đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, toàn diện hoạt động khai thác, vận chuyển than trên địa bàn tỉnh; kiên quyết xử lý nghiêm khắc các hoạt động vi phạm theo quy định của pháp luật
Chịu trách nhiệm về công tác an ninh trật tự, kiểm soát các phương tiện vận chuyển than trên đường bộ, đường thủy; Đồng thời làm tốt công tác nắm tình hình, lập chuyên án điều tra, xử lý các vụ tiêu cực, vi phạm pháp luật trong quản lý, khai thác, vận chuyển, kinh doanh khoáng sản trái phép Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Chỉ đạo các đội nghiệp vụ đối với các đội Cảnh sát đô thị cấp huyện về kinh tế và chức vụ, đội Cảnh sát giao thông cấp huyện (kể cả đường bộ và đường thủy)… và Công an các phường, xã, thị trấn trên địa bàn Tỉnh; theo chức năng nhiệm vụ chủ động thực hiện công tác điều tra cơ bản phục vụ nắm bắt và dự báo tình hình để tham mưu phục vụ cấp ủy, chính quyền chỉ đạo, huy động lực lượng chức năng tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn và xử lý triệt để tình trạng khai thác khoáng sản trái phép (đặc biệt là khai thác than) và gây ô nhiễm môi trường ở địa bàn quản lý.
- Chủ động phối hợp với các lực lượng tổ chức kiểm tra, kiểm soát các bến bãi, các dự án xây dựng đường giao thông, các dự án có san gạt đất đá, các điểm tập kết, chế biến tiêu thụ khoáng sản trái phép, bắt quả tang đối với các hành vi khai thác khoáng sản trái phép, thu thập tài liệu, mở rộng điều tra làm rõ danh tính các chủ cơ sở, tình trạng móc nối, câu kết lấy than từ các đơn vị ngành than đưa ra ngòa tiêu thụ để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- Tiến hành công tác kiểm tra, rà soát, điều tra cơ bản lập danh sách với các điểm tụ tập khai thác, tập kết, chế biến khoáng sản trái phép. Tăng cường công tác kiểm tra tạm trú trên các địa bàn có than, buộc về nơi cư trú đối với các lao động thành phố ngoài đến cư trú bất hợp pháp.
Rà soát, kiểm tra, kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm trong hoạt động khoáng sản và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- Chủ động và phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức kiểm tra, xử lý kịp thời khi nhận được thông tin từ đường dây nóng. Đối với các trường hợp vi phạm, yêu cầu lập và tập hợp hồ sơ, chuyển cơ quan điều tra xem xét khởi tố hình sự theo hướng dẫn của liên ngành Công an – Viện Kiểm sát – Tòa án tỉnh Quảng Ninh tại thông báo số 02/TB-LN ngày 01/10/2011.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
- Giải quyết theo thẩm quyền cho thuê đất hoạt động khoáng sản, sử dụng hạ tầng kỹ thuật và các vấn đề khác có liên quan cho tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản tại địa phương theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, khoáng sản chưa khai thác, tài nguyên thiên nhiên khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội tại khu vực có khoáng sản;
- Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp tình hình hoạt động khoáng sản trên địa bàn;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản;
- Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền.
Hiện nay, nhiệm vụ chủ trì giúp UBND tỉnh thực hiện pháp luật về khoáng sản nói chung, khai thác khoáng sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường. Nhiệm vụ giúp UBND cấp huyện được giao cho phòng tài nguyên và môi trường. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
- Các phòng Tài nguyên và Môi trường:
Chủ trì tham mưu cho UBND cùng cấp trong công tác thực hiện pháp luật về khoáng sản, quản lý các nguồn tài nguyên và môi trường trên địa bàn; làm đầu mối đôn đốc thực hiện kế hoạch, tiếp nhận thông tin, tổng hợp báo cáo UBND cấp huyện hàng tháng, quý, năm theo quy định.
Chủ trì, phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp, UBND cấp xã và các lực lượng chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, nắm diễn biến tình hình mọi hoạt động, đồng thời chủ động tham mưu, đề xuất cho UBND cùng cấp có những biện pháp chỉ đạo kịp thời trong việc ngăn chặn các hoạt động khai thác, chế biến, tiêu thụ trái phép khoáng sản trên địa bàn quản lý.
Chủ trì phối hợp với các phòng, ban, đơn vị chức năng, UBND cấp xã trên địa bàn tăng cường công tác kiểm tra các hoạt động khai thác than, đá, đất, sét trên địa bàn. Giám sát việc thực hiện nội dung các giấy phép khai thác đã được cấp, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
Phối hợp với các sở, ban ngành trong việc kiểm tra, rà soát các bến cảng, điểm tiêu thụ than hoạt động không đảm bảo quy định và không phù hợp với Quy hoạch sắp xếp bến cảng, bến thủy nội địa tiêu thụ than và tuyến đường vận chuyển than trên địa bàn
Tăng cường phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh trong công tác thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển, kinh doanh khoáng sản.
UBND các xã, phường, thị trấn:
Tại các xã, phường, thị trấn có khoáng sản và hoạt động khoáng sản phân công một công chức xã kiêm nhiệm giúp xã, phường, thị trấn thực hiện chức năng quản lý khoáng sản trên địa bàn.
Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 26/8/2015 của Thủ tướng chính phủ về tằng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than; gửi các phòng Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, theo dõi.
Chủ trì và phối hợp các ngành đoàn thể, tổ chức giáo dục, tuyên truyền rộng khắp trong nhân dân các xã, phường, thị trấn. Tổ chức lực lượng giải tỏa tất cả các điểm thu gom, tiêu thụ khoáng sản bất hợp pháp trong khu dân cư.
Cung cấp đường dây nóng theo số điện thoại của Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn để nhân dân biết, giám sát, cung cấp thông tin, tố giác, cùng với chính quyền và ngành than hành động phòng, chống các hoạt động khai thác, chế biến, tiêu thụ than trái phép trong địa bàn trong cư Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Duy trì tổ công tác và tổ chức đợt ra quân cao điểm, phát hiện, xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để các hoạt động khai thác, chế biến, tiêu thụ than trái phép trên địa bàn. Đối với các trường hợp vi phạm, lập, hoàn thiện hồ sơ chuyển cơ quan điều tra xem xét xử lý. Lưu ý các khu vực giáp ranh giới mỏ của các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Đông Bắc và tại các khu vực vườn đồi của các hộ mà bên dưới đất có than, các dự án trên đất có than.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tăng cường kiểm tra, rà soát, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp thăm dò, khai thác, vận chuyển, tập kết và kinh doanh trái phép khoáng sản trên địa bàn.
Chịu trách nhiệm trước cơ quan cấp trên và trước pháp luật nếu để xảy ra các hoạt động khoáng sản trái phép trên địa bàn mà không kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật
- Các tổ chức, cá nhân
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay có gần 70 tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản được hợp pháp, trong đó nổi bật là ngành than với Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc. Bên cạnh đó là các doanh nghiệp hoạt động khai thác các loại khoáng sản khác như đá vôi, sét, nước khoáng, cát… Các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh cần chấp hành các quy định của pháp luật nói chung cũng như thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về khai thác khoáng sản, cụ thể:
Các đơn vị tổ chức, cá nhân trong khai thác khoáng sản phần lớn phải chủ động tổ chức các biện pháp bảo vệ ngăn chặn tình trạng thăm dò, khai thác và trộm cắp than trái phép trong ranh giới quản lý, khai trường, kho than, bến cảng và trên đường vận chuyền, tiêu thụ.
Chú trọng việc tuyên truyền pháp luật cho cán bộ công nhân viên nội bộ doanh nghiệp về pháp luật nói chung cũng như pháp.
Thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường, phục hồi môi trường sau khai thác theo quy định của pháp luật.
Chấp hành theo yêu cầu của cơ quan chức năng có thẩm quyền khi được yêu cầu.
Đảm bảo an toàn cho người lao động.
Phối hợp với cơ quan chức năng để kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành khai thác khoáng sản trái phép cũng như các vi phạm pháp luật khác, đảm bảo trật tự trị an trên địa bàn.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
2.2.1. Thực tiễn xây dựng, ban hành văn bản nhằm triển khai thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản tại Quảng Ninh
Những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đã nhận thức rõ ràng về yêu cầu thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội trong thời đại mới. Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã nghiêm túc xây dựng và banh hành nhiều văn bản nhằm triển khai thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 12/01/2014 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh than trên địa bàn tỉnh.
Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 12, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tiếp tục ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 09/5/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý tài nguyên than, khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
Để cụ thể hóa Nghị quyết 12, nghị quyết 16 của BCH Đảng bộ Tỉnh thành những nội dung, hành động thiết thực, Ban Cán sự đảng, UBND và tỉnh đã chủ động, tích cực triển khai Nghị quyết và các thông báo, kết luận về than, khoáng sản; chỉ đạo UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản chỉ đạo kịp thời, quản lý chặt chẽ về hoạt động khoáng sản than. Theo đó, UBND Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai việc thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản, quản lý tài nguyên; hàng năm có Công điện chỉ đạo tăng cường công tác kiêm tra, xử lý khai thác than trái phép trong dịp Tết nguyên đán và các khoáng sản thông thường, đât san lấp… Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Các sở ban ngành, UBND các địa phương và các đơn vị hoạt động khoáng sản đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện nghiêm Nghị quyết làm tốt công tác quản lý, kiểm tra các hoạt động khai thác, vận chuyển, tiêu thụ tài nguyên than, khoáng sản, kiện toàn tổ chức các lực lượng chức năng để xử lý các vi phạm. Cấp ủy các địa phương đã vào cuộc tích cực, 100% các cấp ủy địa phương đã quản triệt, triển khai Nghị quyết và các văn bản chỉ đạo liên quan đên lĩnh vực quản lý tài nguyên, khoáng sản.
Những văn bản được ban hành có thể kể tới như:
Công văn số 424/UBND-CN ngày 24/01/2014 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 12/01/2014 của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh;
Kế hoạch số 5965/KH-UBND ngày 07/10/2015 về “Thực hiện chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 26/08/2015 của Thủ tướng chính phủ về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than trên địa bàn và tiếp tục thực hiện nghị quyết số 12-NQ/TU của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong các hoạt động khai thác, vận chuyên, chế biến và tiêu thụ than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”;
Văn bản số 358/UBND-CN về triển khai thực hiện Kết luận của Thường trực Tỉnh ủy tại Thông báo số 37-KL/TU;
Thông báo kết luận số 278/TB-UBND ngày 03/10/2016 “Kết luận của đồng chí Nguyễn Đức Long – Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh tại buổi làm việc nghe báo cáo tổng thể công tác rà soát cấp giấy chứng nhận đầu tư; cấp giấy phép khai thác khoáng sản (cát, đá, sét); quản lý các hoạt động nạo vét kết hợp với tận thu sản phẩm trên địa bàn Tỉnh ngày 21/9/2016” để chỉ đạo các ngành trong quản lý tài nguyên, khoáng sản trên địa bản tỉnh;
Văn bản số 6000/UBND-CN ngày 26/9/2016 V/v Tiếp tục thực hiện Thông báo số 288-TB/TU ngày 26/7/2016 của Tỉnh ủy Quảng Ninh;
Văn bản số 4684/UBND-CN ngày 04/8/2016 về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bản tỉnh;
Quyết định 3865/QĐ-UBND của UBND Tỉnh v/v Ban hành phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Thông báo số 16/TB-UBND ngày 19/01/2018 Kết luận của Đồng chí Đặng Huy Hậu – Phó Chủ tịch thường trực UBND tại buổi làm việc nghe báo cáo tổng thể về tình hình thực hiện, công tác quản lý đối với hoạt động khai thác khoáng sản sét và các cơ sở sản xuất có sử dụng nguồn sét trên địa bàn thị xã Đông Triều và công văn số 1607/UBND ngày 20/3/2018 V/v tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động khai thác sét, sản xuất gạch ngói trên địa bàn thị xã Đông Triều;
Công văn số 3196/UBND-CN ngày 28/5/2018 V/v triển khai thực hiện văn bản số 3991/VPCP-CN ngày 02/5/2018 của Văn phòng Chính phủ về việc Chỉ thị về nhiệm vụ và một giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động, kinh doanh tài nguyên cát, sỏi….
Công văn số 3898/UBND-CN ngày 07/6/2018 về việc quản lý sản lượng khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh;
Công văn số 4338/UBND-XD2 ngày 22/06/2018 về việc tăng cường công tác quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm về khai thác khoáng sản tại các tuyến sông, kênh trên địa bàn tỉnh;
Quyết định số 18/2019/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của UBND Tỉnh về việc quy đổi từ khoáng sản thành phẩm ra số lượng khoáng sản nguyên khai;
Kế hoạch số 212/KH-UBND ngày 19/7/2019 của UBND Tỉnh về việc thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 09/5/2019 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý tài nguyên than, khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
2.2.2. Thực tiễn tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về khai thác khoáng sản tại Quảng Ninh
Ngay sau khi Nghị quyết 12 được ban hành, UBND Tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp cùng các doanh nghiệp khai thác khoáng sản nói chung và ngành than nói riêng, đẩy mạnh đấu tranh xử lý phạm, tăng cường quản lý tài nguyên, tuyến vận tải, tiêu thụ; thường xuyên nắm bắt tình hình, đảm bảo chế độ thông tin, báo cáo; phân định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong công tác bảo vệ tài nguyên, ranh giới mỏ, sản phẩm than; quán triệt đến cấp xã, phường, tổ dân, khu phố và nhân dân nội dung của Nghị quyết, chỉ đạo của UBND tỉnh. Đã tích cực kiến nghị, đề xuất đề Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 26/8/2015 “về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than trên địa bàn”; Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 điều chỉnh Quy hoạch phát triển Ngành than. Nét nổi bật là tính kiên quyết, sâu sát, kịp thời, xử lý tốt các vấn đề nổi lên trong quản lý theo đúng chủ trương chỉ đạo chung của tỉnh, điển hình tại Thông báo kết luận số 278/TB-UBND ngày 03/12/2016, Công văn số 3196/UBND-CN ngày 28/5/2018… Thực hiện và duy trì chế độ giao ban thường kỳ của Tỉnh với ngành than để chủ động nắm bắt tình hình và kịp thời xử lý, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc. Chỉ đạo thanh tra, rà soát các sắp xếp các cảng bến thủy nội địa liên quan tới than, khoáng sản và tuyến đường vận chuyên than trên địa bản tỉnh; các chỉ đạo liên quan đến xử lý các sai phạm trong hoạt động tại một số dự án phát triển kinh tế xã hội liên quan đến khoáng sản (tại Hoành Bồ, Đông Triều, Hạ Long), các tồn tại khu vực Cụm cảng Km6, Cụm cảng Khe Dây… Thực hiện quy chế phối hợp giữa 05 tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Hải Dương, Lạng Sơn và ngành than trong công tác quản lý, trao đổi thông tin để kiểm tra, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm.
Đối với Ủy ban nhân dân các địa phương, các sở ban ngành và các các đơn vị hoạt động khoáng sản đã chủ động tổ chức quán triệt, triển khai các nội dung bằng các hình thức phù hợp như thông qua hội nghị, các buổi sinh hoạt chi bộ, các tin, bài, phóng sự tuyên truyền, tổ chức quán triệt sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân các nội dung của Nghị quyết tạo sự đồng thuận cao và chuyển biến về nhận thức đối với công tác quản lý, khai thác, vận chuyển, chế biến và kinh doanh than trên địa bàn; coi trọng hơn nữa việc tiếp nhận quản lý, xử lý, bảo mật thông tin; có cơ chế động viên, bảo vệ người tham gia tố giác vi phạm. Hàng năm xây dựng kế hoạch và phát động phong trào quần chúng tham gia công tác quản lý tài nguyên chưa khai thác và bảo vệ môi trường thông qua các ngày lễ, tuần lễ về môi trường trong năm. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Trên cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, lực lượng Công an Tỉnh cùng công an các địa phương đã thường xuyên tổ chức kiểm tra, rà soát các bến bãi tập kết và tiêu thụ than, bã sàng, đá xít có than trên địa bàn. Lực lượng cảnh sát giao thông, cũng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát các phương tiện vận chuyển than trên tuyến đường bộ (nhất là quốc lộ 10, 18, 279, các tuyến đường nối với cao tốc); tổ chức xác minh điều tra, làm rõ sai phạm của các doanh nghiệp trong hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh khoáng sản. Đặc biệt, Công an tỉnh cũng đã thành lập các tổ công tác tiến hành kiểm tra thực tế kết quả xóa bỏ các bến bãi tập kết, kinh doanh trái phép tại các địa phương để tham mưu UBND tỉnh có biện pháp giải quyết dứt điểm tình trạng này; Công an Uông Bí tham mưu thành phố thành lập Trạm kiểm soát liên ngành tại phường Vàng Danh và di chuyển Trạm kiểm soát liên ngành Bắc Sơn để đảm bảo kiểm soát, không cho các phương tiện vận chuyển than trái phép trên tuyến đường từ cầu vượt trong Vàng Danh đến cầu Hải Thanh (phường Bắc Sơn); Công an thành phố Cẩm Phả duy trì, kiện toàn lực lượng Trạm kiểm soát liên ngành tại các tuyến đường tỉnh lộ 326, tuyến tránh Quang Hanh – Hoành Bồ đi qua quốc lộ 18A xuống cụm cảng Km6- Quang Hanh…
2.2.3. Thực tiễn tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khai thác khoáng sản tại Quảng Ninh
Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về khai thác khoáng sản được các cấp Đảng ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hết sức coi trọng. Bên cạnh các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khai thác khoáng sản thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo in, đài tuyền hình, đài phát thanh…, tỉnh Quảng Ninh đã phát huy sức mạnh các tổ chức chính trị xã hội và cả của nhân dân toàn tỉnh. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quân chúng các cấp đã thường xuyên phối hợp với các cấp chính quyền chỉ đạo vận động đoàn viên, hội viên cùng với nhân dân trên địa bản triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của tỉnh uỷ, UBND tỉnh; tuyên truyền giải thích người dân không tham gia hoạt động vận chuyển, khai thác than, khoáng sản trái phép; tích cực tham gia phát hiện nhiều vụ việc về thu gom than trái phép, vận chuyển than, khoáng sản trái phép trên địa bàn góp phần tích cực ngăn chặn các đối tượng vi phạm. Vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia phát hiện, ngăn chặn các hoạt động liên quan đến khai thác, vận chuyến, kinh doanh than trái phép; không tiếp tay cho các đối tượng vi phạm pháp luật; tố giác hành vi khai thác khoáng sản trái pháp luật; tuyên truyền bằng nhiều hình thức như loa đài, tại các cuộc họp thôn khu… mang lại hiệu quả thiết thực. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Khai thác khoáng sản là hoạt động kinh tế có nhiều đặc thù, vì vậy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở trên địa bàn tỉnh cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc sát sao ngay cả ở những địa bàn khai thác, khai trường có vị trí hẻo lánh. Thực tế trong những năm qua, các cấp chính quyền địa phương, mặt trận tổ quốc, TKV đã hướng dẫn các đơn vị hoạt động khoáng sản thực hiện báo cáo định kỳ với hoạt động khoáng sản (theo thông tư số 45/2016/ TT-BTNMT ngày 26/12/2016 của Bộ Tài nguyên và môi trường), hướng dẫn lập bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng, báo cáo, thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản để khai thác để khai thác (theo thông tư số 02/2013/TT-BTNMT ngày 01/03/2013); sử dụng quy trình, phương pháp xác định và các biểu mẫu thống kê sản lượng khoáng sản khai thác thực tế (theo thông tư số 61/2017/TT-BTMMT ngày 22/12/2017); quyết định số 18/2019/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của UBND Tỉnh về việc quy đổi từ khoáng sản thành phẩm ra số lượng khoáng sản nguyên khai; nghị định số 67/2019/NĐ-CP ngày 31/7/2019 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.
Công bố công khai thủ tục hành chính, các văn bản hướng dẫn thi hành luật Khoáng sản trên cổng thông tin điện tử Sở Tài nguyên và môi trường.
Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nhận thức của người dân và doanh nghiệp về chính sách pháp luật, về chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đã từng bước biến chuyển rõ rệt. Việc hiểu biết và tuân thủ, chấp hành các quy định về hoạt động khoáng sản ngày càng được nâng cao. Công tác bảo vệ tài nguyên than đã được các cấp các ngành đặc biệt là UBND các địa phương quan tâm, tổ chức thực hiện nghiêm túc có hiệu quả.
2.2.4. Thực tiễn thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Để tăng cường triển khai thực hiện công tác thực hiện pháp luật về khoáng sản nói chung và thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, UBND tỉnh Quảng Ninh yêu cầu các sở Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Xây dựng, Giao thông vận tải khẩn trương rà soát các quy hoạch ngành liên quan đến việc thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản thuộc lĩnh vực quản lý, quy hoạch cấp phép các cảng, bến bãi; xin ý kiến các Bộ, ngành Trung ương về việc tích hợp các quy hoạch vào quy hoạch tỉnh; báo cáo kết quả thực hiện về Sở Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 30/9/2019, để Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, tham mưu, báo cáo. Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương tăng cường công tác thanh, kiểm tra đối với các tổ chức có hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh; đồng thời trao đổi thông tin về sản lượng tài nguyên thực tế khai thác trong năm của các tổ chức với cơ quan thuế để phối hợp quản lý thuế theo quy định. Cục thuế tỉnh rà soát, kiểm tra thuế đối với các tổ chức có hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh; trong đó tập trung kiểm tra việc kê khai thông tin về sản lượng khoáng sản khai thác của các đơn vị để nộp thuế; tiến hành xử lý theo quy định đối với các đơn vị có hành vi khai báo sai sản lượng khoáng sản khai thác thực tế; báo cáo, đề xuất UBND tỉnh xử lý đối với các trường hợp vượt quá thẩm quyền theo quy định. Công an tỉnh tăng cường mở các chuyên án đấu tranh, tố giác, xử lý nghiêm đối với các đối tượng có hành vi khai thác, vận chuyển, chế biến và kinh doanh khoáng sản trái phép, các vi phạm tiêu cực trong quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản; thường xuyên tổ chức kiểm tra, rà soát các bến, bãi tập kết và tiêu thụ than, bã sàng đá xít có than, khoáng sản khác trên địa bàn, kịp thời phát hiện, triệt xóa các bến bãi trái phép, ngoài quy hoạch và tham mưu cho UBND tỉnh xem xét, có ý kiến với UBND các địa phương giáp ranh trong công tác quản lý hoạt động khoáng sản; đảm bảo đồng bộ, thống nhất và thực hiện nghiêm các quy định pháp luật.
Thực hiện pháp luật đối với khai thác khoáng sản, các địa phương, sở ban ngành đã chủ động nắm tình hình, tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý các vi phạm, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nhìn chung các đơn vị Ngành than cơ bản đã chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động khoáng sản, đất đai và công tác bảo vệ môi trường… Vì vậy, trong những năm gần đây, tình hình hoạt động than trái phép trên địa bàn Tỉnh cơ bản không còn diễn biến phức tạp, không phát sinh các vụ việc mới hoặc tái diễn tỉnh trạng đào bới, thu gom, vận chuyển kinh doanh than trái phép, cụ thể: Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Về kết quả công tác đấu tranh, xử lý những vi phạm liên quan đến than trong 05 năm từ 2014-2018: có 2.610 trường hợp vi phạm, xử phạt vi phạm hành chính việc khai thác, vận chuyển, chế biến kinh doanh than trái phép; cụ thể:
Về khai thác than: Có 395 vụ khai thác than trái phép; triệt phá 177 cửa lò trái phép, 191 lượt đào bới thăm dò than trái phép do người dân địa phương đào bới, 01 khu vực tái đào bới; tịch thu 2.416,56 tấn than, cùng nhiều lán trại, công cụ khai thác than trái phép; xử phạt tổng số 11.580,5 triệu đồng, trong đó: Năm 2014: Có 61 vụ vi phạm, xử phạt vi phạm hành chính 24 triệu đồng: Năm 2015: Có 119 vụ vi phạm, xử phạt 8.156,5 triệu đồng, Năm 2016: Có 17 vụ vi phạm, xử phạt 3.439 triệu đồng; Năm 2017: Có 06 vụ vi phạm và năm 2018 có 118 vi phạm. [1]
Riêng lực lượng Công an Tỉnh trong 05 năm từ 2014 đến 2018 đã tổ chức triệt phá 386 lượt điểm lò, khu vực đào bới, khai thác than trái phép; phá dỡ 1763 lán trại; cắt 40 tuyến đường mở trái phép, san lắp 23 điểm đường cùng nhiều công cụ, phương tiện phục vụ khai thác than trái phép; buộc về nơi cư trú trên 1.000 đối tượng. Công an các đơn vị, địa phương trong 05 năm đã phát hiện, bắt giữ 39 vụ, trong đó đã khởi tố 4 vụ 46 bị can về tội vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên, xử phạt vi phạm hành chính 30 vụ, với tổng số tiền 8.114.000.000 đồng. [1]
Về kết quả công tác đấu tranh, xử lý những vi phạm liên quan đến khoáng sản ngoài than trong 05 năm: có 831 vi phạm; tịch thu 174.135.1 m3 cát; 557 m3 đá, 69 m3 sét xử phạt vi phạm hành chính 15.557,59 triệu đồng: Trong đó: Năm 2014 có 72 vi phạm, tịch thu và bán phát mại các tang vật gồm: 2.490,27 m3 cát, 07 máy bơm, 60 m dây ống bơm; thu 983,45 triệu đồng; Năm 2015 có 143 vi phạm, tịch thu hoặc bán phát mại các tang vật gồm: 94.891,9 m3 cát, 01 máy nổ, 64m ống bơm và máy bơm; thu 2.662,35 triệu đồng: Năm 2016 có 215 vị phạm, tịch thu hoặc bán phát mại các tang vật gồm: 10.054,02 m3 cát, 9m3 đá, thu 1 đầu máy; thu 2.363,45 triệu đồng; Năm 2017 có 293 vi phạm, tịch thu hoặc bán phát mại các tang vật gồm: 51.979,926 m3 cát, 9m3 đá, thu 25 phương tiện; thu 2.824,44 triệu đồng: Năm 2018 có 192 vi phạm, tịch thu hoặc bán phát mại các tang vật gồm: 14.719 m3 cát, 557 m3 đá, 69 m3 sét, thu 3.993,4triệu đồng. [1] Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Đặc biệt, trong năm 2019, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nghị quyết số 16-NQ/TU về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý tài nguyên than, khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Sau khi ban hành và tổ chức triển khai thực hiện, đã đạt được những kết quả bước đầu khả quan khi các vi phạm pháp luật về khai thác khoáng sản trong năm 2019 đã giảm hẳn so với các năm trước. Nhờ những giải pháp quyết liệt trên, tính đến hết tháng 12/2019, Công an các đơn vị, địa phương đã tiến hành kiểm tra hành chính 869 lượt phương tiện thủy, hơn 1.000 lượt phương tiện đường bộ. Qua đó đã phát hiện, xử lý 247 vụ, 261 đối tượng khai thác, tập kết, vận chuyển than trái phép; thu giữ trên 26.500 tấn than các loại và khoáng sản ngoài than; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 259 đối tượng, phạt trên 4,5 tỷ đồng; bán phát mại thu nộp nhà nước khoảng 4,2 tỷ đồng. Trong công tác đấu tranh, xử lý vi phạm liên quan tới cát, đá, sỏi, Công an tỉnh cũng đã phát hiện, bắt giữ 101 vụ và 131 đối tượng khai thác, tập kết, vận chuyển kinh doanh cát, đá, sỏi trái phép; thu giữ gần 22.000m3 cát; khởi tố 1 vụ, 1 bị can. Trong công tác đấu tranh, xử lý vi phạm liên quan tới san lấp, các lực lượng cũng đã phát hiện, xử lý 28 vụ, 38 đối tượng, 1 tổ chức khai thác vận chuyển đất trái phép, xử phạt vi phạm hành chính 38 đối tượng với trên 209 triệu đồng.
2.3. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
2.3.1. Kết quả đạt được
Trong 6 năm từ 2014-2019, Đảng bộ, chính quyền các cấp tại tỉnh Quảng Ninh đã nghiêm túc thực hiện, nghiêm túc triển khai các quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản. Các văn bản được xây dựng, ban hành kịp thời, cụ thể được quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, đáp ứng cơ bản hoạt động quản lý nhà nước đối với khai thác khoáng sản, kịp thời xử lý những vấn đề liên quan. Công tác tuyên truyền, giáo dục được chú trọng, thể hiện ở nhiều hình thức, đi vào đời sống hàng ngày. Đặc biệt, tỉnh đã kiên quyết xử lý những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, xử phạt theo đúng quy định của pháp luật.
Việc thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản được chính quyền các cấp quán triệt và thực hiện một cách nghiêm túc. Các quy định của pháp luật được thực hiện minh bạch, kịp thời. Bằng nỗ lực của các cấp chính quyền trên địa bàn Tỉnh, pháp luật về khai thác khoáng sản được thực hiện một cách nghiêm minh, khách quan. Các hành vi vi phạm pháp luật về khai thác khoáng sản đã bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo ngày càng sâu sát, quyết liệt, thống nhất, xuyên suốt; công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể được coi trọng, rõ trách nhiệm. Nhờ đó, công tác thực hiện pháp luật và hoạt động sản xuất kinh doanh khoáng sản trên địa bàn thời gian qua cơ bản được giữ vững; trật tự kỷ cương được duy trì. Đặc biệt các phạm liên quan đến than trái phép có xu hướng giảm dần trong năm 2019 so với bình quân chung giai đoạn từ 2014-2018. Tình hình vận chuyển, kinh doanh than đã được kiểm soát. Hệ thống cảng, bến được cơ cấu lại, không để xảy ra vi phạm phổ biến về luồng vận tải than. Hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh than được xử lý kịp thời, không có vi phạm đáng kể; không phát sinh các dự án kinh tế xã hội trá hình để khai thác than, khoáng sản…
Tình trạng cấp phép tràn lan đã cơ bản được khắc phục; Ngành công nghiệp khai thác, khoáng sản đã chuyển dần từ phát triển theo bề rộng sang phát triển theo chiều sâu; Các quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản đã dần đi vào thực tế đời sống xã hội. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Quá trình thanh tra, kiểm tra đã lồng ghép việc tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về đất đai, môi trường, khoáng sản, tài nguyên nước đến các đơn vị được thanh tra, kiểm tra; qua đó góp phần nâng cao ý thức chấp hành của tổ chức, phát hiện xử lý các hành vi vi phạm, đảm bảo tính răn đe, tăng cường công tác quản lý các hoạt động khoáng sản trên địa bàn.
Từ đó, ngành khai thác khoáng sản đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương, môi trường tiếp tục được giữ gìn, bảo vệ.
Ý thức người dân ngày càng được nâng cao, hoạt động khai thác khoáng sản trái pháp luật ngày càng hạn chế. Công tác tuyên truyền đã đạt được hiệu quả, khi mà người dân ngày càng tích cực trong việc chung tay cùng với cơ quan nhà nước trong việc phát hiện, tố giác, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khai thác khoáng sản.
2.3.2. Tồn tại, hạn chế
Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khoáng sản trên địa bàn luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh và các cấp, ngành, địa phương trong Tỉnh. Tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản từng bước được kiện toàn; thường xuyên được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; công tác tham mưu và thực thi công vụ đã được nâng lên rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý.
Tuy nhiên, ngoài kết quả đã đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là:
Kết quả trong công tác phòng chống khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép còn tiềm ẩn nguy cơ diễn biến phức tạp. Vi phạm về than có xu hướng diễn biến mới, cơ bản không còn đào bới khai thác trái phép mà chuyển sang lợi dụng pháp nhân của một số doanh nghiệp, đơn vị có chức năng để hợp pháp hóa nguồn than trái phép, việc đấu tranh phát hiện, xử lý còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Công tác kiểm soát, quản lý than đầu nguồn trong ngành than còn có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, tạo nguồn than trôi nổi, gây phức tạp tình hình. Một số nguồn than chất lượng thấp, xít than, đất đá lẫn than từ các dự án khai thác chưa được ngành than chú trọng, quan tâm, lập phương án xử lý theo hướng chế biến thành các sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường để giải quyết vấn đề môi trường và tiết kiệm tài nguyên; đề xuất cơ chế, chính sách với các cơ quan có thẩm quyền đề giữ chân và thu hút người lao động làm việc cho ngành than (theo chỉ đạo của Bộ Công Thương tại Kết luận số 376/TB-BCT ngày 30/11/2017). Đối với nguồn đất đá lẫn than phát sinh từ các dự án đầu tư xây dựng công trình (Như dự án đường vận chuyển vật liệu xây dựng lên chùa Hồ Thiên, dự án Nhà máy rác thải xã Tràng Lương ở Đông Triều) còn chậm được giải tỏa, gây khó khăn trong công tác quản lý, ảnh hưởng đến môi trường, an ninh trật tự trên địa bàn. Việc quản lý, chống thất thoát trong ngành than còn sơ hở chưa được khắc phục triệt đề; một số vi phạm liên quan đến Công ty Vietmindo mặc dù được UBND tỉnh chỉ đạo nhiều lần nhưng chưa khắc phục dứt điểm.
Công tác quản lý tài nguyên trong ranh giới khai trường khai thác, ranh giới tài nguyên của các đơn vị ngành than đã được chú trọng, kiểm soát; tuy nhiên việc phối hợp, trao đổi thông tin, tình hình giữa cấp ủy, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng và các đơn vị thành viên TKV, Tổng Công ty Đông Bắc với Công an các huyện còn chưa sát sao. Hiện nay chỉ còn một số tuyến vận chuyển than tiêu thụ cho các đơn vị trong vùng Cảm Phả ra cảng Hóa chất Mông Dương, cảng Khe Dây qua điểm giao cắt Quốc lộ 18, Kmó6 (Đông Bắc), Cảng Hồng Thái Tây… Một số đơn vị khai thác, kinh doanh than có chở than tiêu thụ cho khách hàng nhỏ lẻ (vị trí không thể cung cấp được bằng phương tiện vận tải thủy) đi qua một số đoạn đường quốc lộ. Việc vận chuyển bằng ô tô trên các tuyến đường Quốc lộ, Tỉnh lộ (thuộc địa bàn Quảng Ninh) đã được TKV chấm dứt từ ngày 01/01/2017 theo đúng chỉ đạo của tỉnh đơn vị, địa phương trong quản lý tài nguyên, quản lý hoạt động khai thác, vận chuyển tập kết, tiêu thụ than còn chưa chặt chẽ; việc xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân người đứng đầu có liên quan chưa quyết liệt nên ở một số nơi vẫn còn xảy ra tình trạng tái khôi phục lại một số điểm khai thác cũ để hoạt động khai thác than trái phép;
Công tác phối hợp chưa phát huy được hiệu quả rõ nét, một số quy chế phối hợp kết hợp theo Chỉ thị số 21/2015/CT-TTg thực hiện còn hình thức; việc phối hợp với các tỉnh bạn chưa có nhiều kết quả cụ thể, có biểu hiện hình thức, các tỉnh giáp ranh tuy có sự quan tâm nhưng chưa có sự chuyển biến rõ rệt; việc tổ chức sơ kết, đánh giá định kỳ các quy chế phối hợp chưa được thường xuyên. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
- Công tác quản lý, vận hành cảng/ bến tiêu thụ than, khoáng sản còn phát sinh những vướng mắc, bất cập.
Hoạt động tập kết, kinh doanh than trái phép đến nay đã được ngăn chặn, tuy nhiên tổng hợp trong những năm qua cho thấy vẫn còn một số doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân thực hiện chưa nghiêm túc cam kết với UBND Tỉnh về việc vận chuyển than trên tuyến quốc lộ gây mất trật tự an toàn giao thông, ô nhiễm môi trường khiến cộng đồng dân cư có động thái phản ứng. Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng Quảng Ninh với các địa phương giáp ranh để ngăn chặn, xử lý các hành vị vi phạm liên quan đến than tuy đã được quan tâm nhưng chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Trên địa bàn thành phố Hải Dương, Hải Phòng tình trạng lập bến bãi để tập kết, chế biến, kinh doanh than trái phép vẫn diễn biến phức tạp. Vẫn còn hiện tượng các phương tiện vận chuyển than trái phép lưu thông trên đường bộ…
Đối với hoạt động khoáng sản làm vật liệu xây dựng: Công tác quản lý tài nguyên đất, đá, cát, sỏi, sét ở một số địa phương có thời điểm còn chưa chặt chẽ, còn để hiện tượng khai thác không theo nội dung giấy phép khai thác, chưa tuân thủ quy hoạch, thiết kế được duyệt. Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu. Việc xử lý tình trạng khai thác khoáng sản trái phép của UBND địa phương có lúc, có nơi chưa kịp thời và nghiêm túc; Chưa thực hiện hết chức năng quản lý nhà nước, việc kiểm tra, xử lý chưa thực hiện hết theo thẩm quyền. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, chấp hành pháp luật về đất đai, bảo vệ và phát triền rừng, luật khoáng sản, luật bảo vệ môi trường tới người dân địa phương còn hạn chế. Trong khai thác khoáng sản, còn hiện tượng gây lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng xấu đến môi trường. Do quy hoạch cảng/ bến tiêu thụ theo Quyết định 1268/QĐ-UBND được rà soát, xây dựng cho giai đoạn năm 2015-2020, phê duyệt từ năm 2015 nhưng đến năm 2016 điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam (Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/ 03/2016) mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; theo đó hiện nay một số cảng/ bến, luồng tuyến không còn phù hợp với tình hình, dẫn đến tình trạng mất cân đối trong phương tiện tiêu thụ than của Ngành than. (Ví dụ: Theo Quy hoạch 1268, Cảng Khe Dây đã được đầu tư cơ bản, công suất lớn, giai đoạn đến năm 2018 là 5 triệu tấn/năm; sau năm 2018 là 7 triệu tấn/năm nhưng thực tế trong 2 năm của Tổng công ty Đông Bắc chỉ tiêu thụ than qua cảng chưa đến 1 triệu tấn/năm); Trong khi đó, việc tiêu thụ than sản xuất tại khu vực Hoành Bồ, Hạ Long của Tổng công ty Đông Bắc lại thiếu cảng/ bến để giải quyết việc tiêu thụ than của đơn vị…). Một số điểm khai thác được điều chỉnh, bổ sung về sản lượng khai thác, mở rộng ranh giới, kéo dài thời gian khai thác, đóng cửa mỏ… (theo Quyết định 1265/QĐ-TTg 2017 điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam 2020 2030, điều chỉnh Quy hoạch 403) còn chưa được phù hợp về quy mô sản lượng trong quy hoạch cảng, bến (UBND Tỉnh đã chỉ đạo Sở Giao Thông – Vận tải phối hợp với các Sở, ngành, địa phương rà soát, tham mưu UBND Tỉnh điều chỉnh lại toàn bộ hệ thống các cảng, bến bãi chứa, xuất than trên địa bàn tỉnh; quản lý hệ thống cảng bến theo đúng quy hoạch). Như tuyến từ khai trường công ty Pt Vietmindo đi kho Khe Thân và đi cảng Điền Công (Uông Bí), tuyến từ khai trường dự án đường vận chuyển vật liệu xây dựng lên chùa Hồ Thiên đi cảng của Công ty Thắng Lợi tại Kim Sơn (Đông Triều).
Về trách nhiệm của các đơn vị quản lý: Việc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và xử lý trách nhiệm đối với những tồn tại của một số địa phương, đơn vị, vi phạm đã được quan tâm thực hiện, tuy nhiên hầu hết là chưa kiên quyết đúng người, đúng sự việc. Các địa phương có hoạt động sản xuất than, khoáng sản có lúc có nơi còn chưa làm hết trách nhiệm; không duy trì sự tập trung và tính quyết liệt cần thiết. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Còn có sự chồng chéo trong công tác quản lý cảng vụ tại một số khu vực như Uông Bí, Đông Triều (Cảng vụ TNĐ Khu vực I trực tiếp quản lý, cấp phép, cấp lệnh… các cảng, bến; Cảng vụ TNĐ Quảng Ninh duy trì đại diện cảng vụ nhưng không được quản lý) dẫn đến không tập trung, thống nhất trong công tác quản lý cũng như trong triển khai các nội dung chỉ đạo, điều hành của tỉnh về quản lý khoáng sản than; ảnh hưởng đến một bộ phận cán bộ nhân viên của Cảng vụ đường thủy nội địa Quảng Ninh làm việc tại khu vực Đông Triều, Uông Bí.
Đối với hoạt động vận chuyển than trên tuyến Quốc lộ 279, vẫn còn trường hợp các đơn vị ngành Than không tiến hành thu hồi phù hiệu sau khi kết thúc hợp đồng vận chuyển, tiềm ẩn nguy cơ các phương tiện lợi dụng danh nghĩa ngành Than để khai thác, vận chuyển than trái phép.
2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Địa bàn rộng, hiểm trở; việc chồng lấn ranh giới, xen kẽ khai trường với khu dân cư do lịch sử để lại; chi phí, phương tiện còn hạn chế cho các hoạt động kiểm soát, xử lý, triệt xóa các điểm vi phạm; nhiều khai trường khai thác ở vùng đồi núi, gây khó khăn cho công tác quản lý .
Về mặt pháp lý, chế tài xử lý vừa nhẹ vừa thiếu. Khung hình phạt cho các tội phạm về khoáng sản không cao, thiếu tính răn đe cần thiết, chi tiết chưa được hướng dẫn chính thức mà chủ yếu do vận dụng của cơ quan chức năng;
Công tác phối hợp, các địa phương giáp ranh với tỉnh Quảng Ninh (như Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn) trong việc phối hợp kiểm soát hoạt động chế biến, kinh doanh than, khoáng sản trái phép chưa đạt được chuyển biến đột phá;
Công tác quản lý, thu hồi tối đa than từ nguồn sản phẩm ngoài than, đá xít than, đất đá lần than còn chưa được ngành than chú trọng quan tâm, nghiên cứu phương án xử lý; chưa được Bộ Công Thương, Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn, chỉ đạo quản lý, sử dụng (UBND Tỉnh đã có văn bản báo cáo, xin ý kiến nhưng chưa có phúc đáp từ các Bộ) dẫn đến khó khăn trong công tác kiểm soát, quản lý; Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Công tác kiểm tra, phát hiện sai phạm tại một số dự án nạo vét luồng đường thuỷ nội địa, vùng nước cảng, bến cảng nội địa kết hợp tận thu sản phầm còn nhiều khó khăn; các đối tượng đã lợi dụng thực hiện dự án, địa bàn sông nước để hoạt động khoáng sản tái phép;
Đối với vật liệu xây dựng, do nhu cầu thực tế, các nhà thầu tìm cách mua vật liệu trôi nổi bên ngoài, nhằm giảm bớt thủ tục hành chính và giá rẻ, từ đó làm gia tăng các hoạt động khai thác đất san nền và cát trái phép trên địa bản tỉnh. Riêng đối với vật liệu san lấp, nhu cầu cho các dự án lớn trên địa bàn tăng đột biến trong khi quy hoạch, phương thức quản lý chưa được triển khai đồng bộ, cùng với yêu cầu hoàn thành các dự án quyết liệt dẫn đến việc khai thác, vận chuyển vật liệu xây dựng thời gian đầu khó kiểm soát.
Về chủ quan, một số cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ sở, các lực lượng chức năng và một số đơn vị ngành than chưa làm hết trách nhiệm; có nơi có lúc không duy trì sự tập trung và tính quyết liệt cần thiết.
Trước yêu cầu phát triển lực lượng làm công tác thực hiện pháp luật về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn cần tiếp tục được kiện toàn, bổ sung về số lượng và thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị. Với thực trạng đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoáng sản tại địa phương còn thiếu, chưa có bộ phận chuyên trách tại các địa phương cấp huyện, xã nên công tác thực hiện pháp luật về khoáng sản còn gặp một số khó khăn nhất định. Công tác nắm bắt địa bàn, kiểm soát hoạt động khoáng sản tại một vài địa phương còn chưa tốt. Việc xử lý tình trạng khai thác khoáng sản trái phép của UBND cấp địa phương có lúc, có nơi chưa kịp thời và nghiêm túc; Chưa thực hiện hết chức năng, việc kiểm tra, xử lý chưa thực hiện hết theo thẩm quyền.
Công tác tuyên truyền giáo dục tới người dân địa phương chấp hành pháp luật về đất đai, bảo vệ và phát triển rừng, luật khoáng sản, luật bảo vệ môi trường còn hạn chế. Trong khai thác khoáng sản, còn hiện tượng gây lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Việc chậm giải quyết các hồ sơ cấp phép, gia hạn, đóng cửa mỏ than của cơ quan chức năng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã dẫn đến tình trạng các đơn vị chưa có đủ thủ tục vẫn tiếp tục hoạt động gây khó khăn cho công tác quản lý;
Hiện nay trên địa bàn Tỉnh có các điểm lộ vỉa khoáng sản, nhất là than nằm xen kẽ trong vườn, rừng và nhà ở của nhân dân trong ranh giới các dự án phát triển kinh tế – xã hội thuận tiện cho việc khai thác trái phép; việc quản lý các điểm than này rất khó khăn, UBND Tỉnh đã kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố các điểm lộ vỉa nêu trên là khu vực có phân tán nhỏ lẻ đề Tỉnh có cơ chế cho khai thác dứt điểm. Tuy nhiên, đên nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có ý kiến về nội dung này.
Than là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, tuy nhiên quy định về điều kiện kinh doanh than theo Điều 4 – Thông tư 14/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương đã hết hiệu lực (bị bãi bỏ bởi Thông tư số 27/2016/TT-BCT ngày 05/12/2016) nhưng chưa có quy định mới nên chưa có công cụ để quản lý triệt để; Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là một công việc hết sức phức tạp, mang tính nhạy cảm cao, động chạm trực tiếp đến quyền lợi của người dân. Do đó, trong thời gian qua mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cũng như việc tổ chức cải tiến phương pháp làm việc song không tránh khỏi những tồn tại nhất định, chưa thực sự giải quyết kịp những vấn đề mới phát sinh. Nhiều dự án chậm triển khai do giải phóng mặt bằng và bố trí các khu tái định cư chậm, những vướng mắc mang tính hệ thống vẫn chưa được tháo gỡ cơ bản là do:
Cơ chế chính sách về đất đai, quy hoạch, bôi thường giải phóng mặt bằng không ổn định, thường xuyên thay đổi, nhiều nội dung quy định còn bất cập, khó áp dụng vào thực tế. Việc tuyên truyền phố biến pháp luật về đất đai, khoáng sản và chế độ chính sách giải phóng mặt bằng chưa được thường xuyên, nhận thức của một số hộ dân còn hạn chế.
Đa số các hộ dân đều có ý thức chấp hành pháp luật tốt, song bên cạnh đó một bộ phận ý thức chưa tốt, cố tình không bàn giao mặt bằng, tái lấn chiếm đất đai, dựng lều trại để cản trở quá trình thi công, gây áp lực với chính quyền địa phương và chủ đầu tư để đòi thêm tiền đền bù, ngoài ra còn có sự tiếp tay, kích động của một số phần tử xấu gây nhiều khó khăn cho việc bồi thường giải phóng mặt bằng.
Chế tài xử lý vừa nhẹ vừa thiếu. Khung hình phạt cho các tội phạm về than, khoáng sản không cao, thiếu tính răn đe cần thiết.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Với thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản đã mang lại nguồn lực to lớn đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Trong những năm qua, với sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, doanh nghiệp và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tích cực thực hiện theo các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về khai thác khoáng sản nói riêng chương 2, tác giả đã nêu tổng quát về các yếu tố tác động đến việc việc thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh bao gồm các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, yếu tố tài nguyên và cả chủ thể thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản của tỉnh Quảng Ninh. Từ thực tiễn thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tác giả đã tổng hợp khái quát những kết quả tích cực cần phát huy và những hạn chế cần phải khắc phục và nguyên nhân của những hạn chế ấy. Từ đó nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về khai thác khoáng sản

0888409789