Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu về Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa uỷ nhiệm của Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký Sắc lệnh số 27/SL ngày 10 tháng 9 năm 1945 thành lập Sở Thuế quan và thuế gián thu, khai sinh ra ngành Hải quan Việt Nam, với nhiệm vụ là: Thu các loại thuế nhập cảng và xuất cảng, thu thuế gián thu. Sau đó ngành thuế quan được giao thêm nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện và quyền được định đoạt, hoà giải với các vụ vi phạm về thuế quan và thuế gián thu. Hệ thống tổ chức của ngành thuế quan và thuế gián thu toàn quốc gồm có: Ở Trung ương có Sở thuế quan và thuế gián thu (sau đổi thành Nha quan thuế và thuế gián thu) thuộc Bộ Tài chính. Ở địa phương chia làm 3 miền: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ, mỗi miền có: Tổng thu Sở thuế quan; Khu vực thuế quan; Chính thu sở thuế quan; Phụ thu sở thuế quan.

Ngày 20 tháng 11 năm 1946, quân đội Pháp đã nổ súng vào thuế quan ta, chiếm Ty thuế quan Hải Phòng. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc, Hải quan Việt Nam cùng quân dân cả nước phối hợp cùng các lực lượng khác thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là bao vây và đấu tranh kinh tế với địch. Hiệp định Geneve về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Quân Pháp buộc phải rút quân khỏi trung du, đồng bằng Bắc Bộ về tập kết 300 ngày (khu vực Hải Phòng), chờ rút quân về nước. Chính phủ ban hành thể lệ, thủ tục mới về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu giữa vùng giải phóng và “khu tập kết 300 ngày”. Bộ Công thương ban hành Nghị định số 87/BTC-NĐ-KB ngày 14 tháng 4 năm 1955 của Bộ công thương về việc thành lập Sở Hải quan Hải Phòng.

Tháng 4/1958, Bộ Thương nghiệp chia tách thành 2 bộ là Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương, ngành Hải quan trực thuộc Bộ Ngoại thương. Hải quan Hải Phòng được đổi tên là Phân sở Hải quan Hải Phòng và trực thuộc Sở Hải quan Trung ương.

Ngày 17 tháng 6 năm 1962, Bộ Ngoại thương có Quyết định số 490/BNT-QĐ-TCCB đổi tên Sở Hải quan Trung ương thành Cục Hải quan Trung ương trực thuộc Bộ Ngoại thương và đổi tên Phân sở Hải quan Hải Phòng thành Phân cục Hải quan Hải Phòng.

Ngày 20/11/1984, sau khi được Hội đồng Nhà nước phê chuẩn thành lập Tổng cục Hải quan, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định 139/HĐBT quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn, tổ chức bộ máy Tổng cục Hải quan. Phân cục Hải quan Hải Phòng được đổi tên gọi thành Hải quan Thành phố Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Năm 1994, Hải quan thành phố Hải Phòng được đổi tên thành Cục Hải quan TP Hải Phòng và thủ trưởng cơ quan được gọi là Cục trưởng cục Hải quan tỉnh, thành phố (Quyết định số 91/TCHQ-TCCB ngày 01 tháng 06 năm 1994 của Tổng cục Hải quan).

Sau khi Luật Hải quan ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2002, bộ máy tổ chức của Tổng cục Hải quan và các cục Hải quan địa phương cũng được sắp xếp xây dựng theo quy định của Luật Hải quan và phù hợp với các quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và quy trình nghiệp vụ Hải quan. Đến nay Cục Hải quan Hải Phòng gồm 20 đơn vị trực thuộc bao gồm: 09 chi cục Hải quan cửa khẩu và ngoài cửa khẩu, 08 phòng ban tham mưu, 03 đơn vị tương đương (Trung tâm DL&CNTT là đơn vị tương đương cấp phòng; Đội KSHQ là đơn vị tương đương cấp Chi cục và Chi cục kiểm tra sau thông quan là Chi cục thực hiện chức năng riêng biệt) để phù hợp với tình hình mới.

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn

2.1.2.1. Chức năng

Cục Hải quan thành phố Hải Phòng là tổ chức trực thuộc Tổng cục Hải quan, có chức năng giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan, các quy định khác của pháp luật có liên quan trên 04 tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình.

Cục Hải quan thành phố Hải Phòng có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.

2.1.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn

Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện các quy định của nhà nước về hải quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng, gồm:

  • Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển cửa khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh tại các cửa khẩu, các địa điểm kiểm tra tập trung và các địa điểm kiểm tra khác theo quy định của pháp luật;
  • Thu thập, khai thác, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan theo quy định của pháp luật.
  • Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, phòng, chống ma tuý trong phạm vi địa bàn hoạt động.
  • Phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng chống buôn lậu; phòng chống vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, phòng, chống ma tuý ngoài phạm vi địa bàn hoạt động của Cục Hải quan.
  • Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
  • Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa XBK theo quy định của pháp luật;
  • Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
  • Thống kê nhà nước về hải quan đối với hàng hóa XNK, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật.

Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra các Chi cục Hải quan trong việc tổ chức triển khai nhiệm vụ được giao.

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về hải quan theo quy định của pháp luật.

Xử lý vi phạm hành chính hoặc khởi tố đối với các vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính của các đơn vị trực thuộc và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Kiến nghị những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; các quy định của Tổng cục Hải quan về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý nội bộ; báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan những vướng mắc phát sinh, các vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Cục Hải quan.

Tổ chức triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và phương pháp quản lý hải quan hiện đại vào hoạt động của Cục Hải quan.

Phối hợp với các đơn vị trên địa bàn, cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về hải quan trên địa bàn.

Hướng dẫn, giải thích các vấn đề thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật.

Hợp tác quốc tế về hải quan theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

Tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của Cục Hải quan; thực hiện chế độ báo cáo theo chế độ quy định.

Quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Tài chính.

Quản lý, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế; quản lý, sử dụng phương tiện, trang bị kỹ thuật và kinh phí hoạt động của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật.

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan giao và theo quy định của pháp luật.

2.1.3. Tình hình nhân sự và cơ cấu tổ chức

Bảng 2.1: Tình hình nhân sự tại Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng

Chỉ tiêu Số liệu
Tổng số cán bộ công chức 987 người
Kiểm tra viên 899 người
Kiểm tra viên chính 58 người
Hợp đồng lao động 30 người
Trình độ trên Đại học 269 người
Trình độ Đại học 690 người

(Nguồn: Cục Hải quan Hải Phòng)

Hình 2.1 Mô hình tổ chức Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng

2.1.4. Một số kết quả hoạt động của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

Cục Hải quan thành phố Hải Phòng là một một đơn vị điển hình của Hải quan Việt Nam với rất nhiều thành tích xuất sắc, vượt trội. Trong thời gian qua, Hải quan Hải Phòng đã phát huy nội lực, sáng tạo, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào quản lý nhà nước về hải quan; liên tục là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua toàn ngành Hải quan. Cục Hải quan TP.Hải Phòng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đạt được những danh hiệu cao quý như: Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (năm 2015); Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì; Huân chương Độc lập hạng Nhì; Cờ Thi đua của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan; UBND TP Hải Phòng và 3 tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương tặng nhiều cờ thi đua và bằng khen. Hàng trăm lượt cá nhân, tập thể được nhận Bằng khen của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, Thành phố Hải Phòng, các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên.

Bảng 2.2: Một số kết quả hoạt động của Cục Hải quan TP. Hải Phòng trong giai đoạn năm 2023 – 2025

2.2. Thực trạng thực hiện hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

2.2.1. Sơ lược quá trình hình thành thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam

Để hình thành thủ tục HQĐT áp dụng thí điểm tại Cục Hải quan TP Hải Phòng như hiện nay, ngành Hải quan đã có quá trình triển khai ứng dụng CNTT từ đầu thập niên 90. Có 3 sự kiện đáng ghi nhận về quá trình hình thành và phát triển thủ tục HQĐT tại Việt Nam. Đó là:

2.2.1.1. Dự án tự động hóa thủ tục Hải quan ASYCUDA

Dự án này đã được triển khai từ năm 1992 đến năm 1995 tại cảng Hải Phòng, sân bay Tân Sơn Nhất và các cảng biển tại thành phố Hồ Chí Minh, thông qua sự tài trợ của Chính phủ Pháp nhằm áp dụng CNTT vào hoạt động quản lý của Hải quan Việt Nam. Qua dự án, Hải quan Việt Nam được trang bị một hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan ASYCUDA hoàn chỉnh do UNCTAD phát triển cùng với hệ thống thiết bị phần cứng gồm các máy tính cá nhân hiệu Zenith và các máy chủ Server của hãng Bull. Tuy nhiên, việc triển khai thí điểm hệ thống này không đạt được các mục tiêu đề ra vì những nguyên nhân sau đây:

Không có sự hỗ trợ tại chỗ của các đơn vị tiếp nhận hệ thống (hầu hết các đơn vị trong ngành Hải quan đều không muốn triển khai áp dụng hệ thống này tại đơn vị mình quản lý vì ảnh hưởng đến lợi ích và trình độ chưa đáp ứng với công việc quản lý, điều hành, sử dụng hệ thống).

Hệ thống chỉ thực hiện riêng lẻ, tại những khu vực triển khai áp dụng, không có sự kết nối với trung tâm vì cơ sở hạ tầng mạng chưa phát triển.

Hệ điều hành được sử dụng là hệ điều hành Unix, tính tương thích giữa phần cứng, phần mềm ứng dụng kém. Hệ thống bắt buộc phải có Server Unix và đòi hỏi các kỹ năng đặc thù cho việc bảo dưỡng. Giao diện đơn điệu không hấp dẫn và rất khó khăn cho người sử dụng.

Hệ thống rất khó khăn trong việc thay đổi khi chính sách hải quan thay đổi. Mặc dù vậy, qua dự án này, Hải quan Việt Nam đã được trang bị thêm kiến thức, kinh nghiệm quí giá trong việc xây dựng các hệ thống, đồng thời xây dựng được một nguồn lực CNTT cho ngành sau này. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

2.2.1.2. Hệ thống khai hải quan điện tử thông qua Website

Với mục tiêu hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình khai báo hải quan, ngành hải quan đã xây dựng đề án và triển khai trang web hải quan, cho phép các doanh nghiệp có thể khai báo hải quan trước, dưới dạng điện tử sau đó chuyển hồ sơ đến cơ quan hải quan để kiểm tra, đối chiếu. Đây là bước khởi đầu, tạo cơ sở cho tin học hoá quy trình nghiệp vụ hải quan. Hệ thống này đã được triển khai thí điểm từ ngày 19/12/2002 tại Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai (Chi Cục Hải quan Biên Hòa), Cục Hải quan Hà Nội (Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội) và Cục Hải quan TP Hải Phòng (Chi cục hải quan quản lý Hàng đầu tư, Chi cục hải quan quản lý Hàng gia công và Chi cục hải quan Cảng Sài gòn KVI). Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực hiện, hệ thống này đã bị các doanh nghiệp từ chối vì các lý do sau:

  • Tốn kém thêm chi phí cho việc khai báo (trang bị máy móc, đường truyền; nhân sự thực hiện; thuê doanh nghiệp khai thuê khai báo giùm).
  • Tốn kém thêm thời gian khai báo (phải khai báo hai lần: trên máy và trên tờ khai giấy thay vì chỉ khai báo một lần trên tờ khai giấy).
  • Thường xuyên gặp rắc rối, phiền phức khi làm thủ tục (chờ đợi khi làm thủ tục vì công chức hải quan chỉ ưu tiên giải quyết hồ sơ giấy; nghẽn mạch, rớt mạng; chương trình khai báo chưa hoàn chỉnh…).

2.2.1.3. Hệ thống thủ tục hải quan điện tử VNACCS/VCIS

Hệ thống VNACCS/VCIS là Hệ thống thông quan tự động và Cơ chế một cửa quốc gia gồm 02 hệ thống nhỏ: (i) Hệ thống thông quan tự động (gọi tắt là Hệ thống VNACCS); (ii) Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (gọi tắt là Hệ thống VCIS). Hệ thống VNACCS/VCIS gồm các phần mềm chủ yếu: Khai báo điện tử (e-Declaration); Manifest điện tử (e-Manifest); Hóa đơn điện tử (e-Invoice); Thanh toán điện tử (e-Payment); C/O điện tử (e-C/O); Phân luồng (selectivity); Quản lý hồ sơ rủi ro/tiêu chí rủi ro; Quản lý doanh nghiệp XNK; Thông quan và giải phóng hàng; Giám sát và kiểm soát.

Hệ thống VNACCS là hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam (Tên tiếng Anh là Viet Nam Automated Cargo Clearance System). Hệ thống VNACCS sử dụng cho mục đích thông quan hàng hóa XNK.

So với hệ thống cũ, Hệ thống VNACCS có điểm mới là tập trung cả 03 khâu: Khâu trước, trong và sau thông quan. Hệ thống hiện tại chỉ tập trung khâu trong và sau thông quan. Toàn bộ khâu trước thông quan hiện nay mới chỉ được thực hiện thí điểm trong khuôn khổ Dự án E-manifest, theo đó, hãng tàu phải gửi trước toàn bộ thông tin manifest về hàng hóa trên tàu cho cơ quan Hải quan.

So với hệ thống cũ, Hệ thống VNACCS mở rộng thêm các chức năng, thủ tục mới, đó là thủ tục đăng ký danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập – tái xuất. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Chức năng khác của Hệ thống VNACCS là tăng cường kết nối với các Bộ, Ngành bằng cách áp dụng Cơ chế một cửa (Single Window). Theo thiết kế, Hệ thống VNACCS có sự kết nối với các Bộ, Ngành. Cơ quan Hải quan sẽ gửi thông tin liên quan đến việc xin cấp phép của các cơ quan chuyên ngành. Kết quả xử lý cấp phép sẽ được thực hiện thông qua Hệ thống.

Tiếp nhận và xử lý phân luồng tự động thông tin khai báo của doanh nghiệp. Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng chữ ký điện tử. Thời gian xử lý đối với hàng luồng xanh là 1 – 3 giây. Thời gian xử lý đối với luồng vàng và luồng đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa.

Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống CNTT của các bên liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng, dịch vụ, giao nhận, vận chuyển, ngân hàng, các Bộ, Ngành liên quan.

Về khai báo và xử lý thông tin khai báo trước thông quan: trước thông quan, hệ thống VNACCS hỗ trợ tập trung xử lý thông tin trước khi hàng đến/khai báo để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát hải quan tại các khâu khai báo.

Một trong những nội dung thay đổi tương đối lớn của Hệ thống VNACCS liên quan đến hàng gia công, sản xuất xuất khẩu và chế xuất. Khi áp dụng Hệ thống VNACCS sẽ thực hiện theo hướng thanh khoản theo từng tờ khai, thực hiện quản lý theo từng phương tiện vận tải. Doanh nghiệp sẽ thực hiện tự khai, tự chịu trách nhiệm và tự thanh khoản. Cơ quan Hải quan chỉ kiểm tra trên cơ sở thông tin QLRR đối với việc thanh khoản.

Về xác định trị giá. Hiện tại, Việt Nam áp dụng 06 mẫu Tờ khai trị giá tương ứng với 06 phương pháp xác định trị giá. Khi áp dụng Hệ thống VNACCS cho phép gộp một số chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp trị giá giao dịch vào tờ khai nhập khẩu. Do đó, về cơ bản, đối với phương pháp trị giá giao dịch không cần phải khai riêng tờ khai trị giá như hiện nay. Để đảm bảo việc thông quan hàng hóa nhanh chóng, những lô hàng có sự nghi vấn về giá sẽ chuyển sang khâu sau thông quan để xác định. Bộ phận nào xử lý việc này sẽ được cân nhắc cụ thể trước khi đưa hệ thống này đi vào vận hành.

Về giám sát, quản lý hải quan đối với một số loại hình: khi áp dụng Hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ được thực hiện theo hướng đơn giản hóa, gom các quy trình thủ tục theo hướng chuyển cửa khẩu, chuyển cảng, quá cảnh,…về loại hình là hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát của hải quan vì bản chất là việc chuyển hàng hóa từ địa điểm này sang địa điểm khác, chịu sự giám sát của hải quan. Hiện tại chưa có loại hình đối với chuyển cảng. Vì vậy, căn cứ theo Công ước Kyoto sửa đổi và thực tiễn của Hải quan các nước, trong dự thảo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung có đưa nội dung này theo hướng doanh nghiệp vận tải chịu trách nhiệm cập nhật thông tin và phản hồi thông tin trên hệ thống về hàng hóa vận chuyển đang chịu sự giám sát của Hải quan tại điểm đi và điểm đến để phục vụ cho việc theo dõi, giám sát của hải quan.

Về chế độ quản lý của hải quan: Theo quy định hiện tại, hiện có khoảng trên 200 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu. Để đảm bảo và tạo thuận lợi cho việc quản lý hải quan, thống kê và trên cơ sở khuyến nghị của Công ước Kyoto sửa đổi, Hệ thống VNACCS thực hiện chuẩn hóa các chế độ quản lý hải quan với khoảng 40 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu. Bên cạnh đó, khi thực hiện Hệ thống VNACCS/VCIS sẽ không phân biệt loại hình mậu dịch và phi mậu dịch, sự khác nhau chủ yếu là về mặt chứng từ. Ngoài ra, một số loại hình đặc thù như hàng hóa mang vào, mang ra của cư dân biên giới, hàng an ninh quốc phòng, hàng trị giá thấp sẽ được thực hiện thủ công

2.2.2. Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thủ tục HQĐT ở Việt Nam được căn cứ vào các văn bản sau đây:

  • Luật HQ năm 2001 (Điều 8 và khoản 3 Điều 20) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HQ ngày 14/06/2014 (điểm 4, điểm 9 và điểm 13 Điều 1, sửa đổi Điều 8, Điều 16, Điều 22).
  • Quyết định số 149/2014/QĐ-TTg ngày 20/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thủ tục HQĐT.
  • Quyết định số 50/2014/QĐ-BTC ngày 19/07/2014 của Bộ trưởng BTC về Quy trình thực hiện thí điểm thủ tục HQĐT đối với hàng hóa XK, NK. 43
  • Công văn số 3339/TCHQ-HĐH ngày 19/08/2014 của TCHQ về việc hướng dẫn quy trình thủ tục HQĐT.
  • Luật giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2014.
  • Nghị định số 57/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của CP về TM điện tử.
  • Luật Hải quan Số 54/2023/QH13 ngày 23/6/2023
  • Nghị định 08/2024/NĐ-CP Quy định chi tiết về biện pháp thi hành Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

2.2.3. Quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

2.2.3.1. Về phía tổ chức hải quan

Để chuẩn bị cho việc áp dụng thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan TP Hải Phòng và Cục Hải quan TP Hải Phòng, Bộ tài chính, Tổng cục Hải Quan đã có một quá trình chuẩn bị từ năm 2013. Cụ thể:

  • Xây dựng Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành hải quan theo quyết định số 810/QĐ-BTC ngày 16/03/2023 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.
  • Thành lập Văn phòng Hiện đại hóa Tổng cục Hải quan bao gồm các chuyên viên từ các Vụ, Cục do một Phó Tổng cục trưởng chỉ đạo trực tiếp để làm đầu mối triển khai các công việc.
  • Xây dựng bộ máy tổ chức bộ phận hiện đại hóa tại các đơn vị hải quan tỉnh, thành phố và các đơn vị trực thuộc (Chi cục).
  • Tiến hành khảo sát mô hình tại Malaysia và Hàn Quốc.
  • Điều tra, khảo sát thực trạng về tổ chức bộ máy, trang thiết bị làm việc, cơ sở hạ tầng mạng, quy trình thủ tục tại các đơn vị hải quan cửa khẩu thuộc Cục Hải quan TP Hải Phòng.
  • Xây dựng kế hoạch chi tiết để triển khai thực hiện (mục tiêu thí điểm, lựa chọn đơn vị thực hiện thí điểm, thời gian thực hiện thí điểm, cơ cấu tổ chức bộ máy, xây dựng văn bản cơ sở pháp lý, quy trình nghiệp vụ v.v…).
  • Xây dựng mô hình tổ chức áp dụng cho Hải quan Việt Nam. Trong giai đoạn thí điểm sẽ thành lập Chi cục HQĐT tại Cục Hải quan TP Hải Phòng để làm thủ tục HQĐT cho các doanh nghiệp. Bộ máy tổ chức của Chi cục HQĐT bao gồm 4 đội: Văn phòng, Thông quan, kiểm tra sau thông quan và Thu thập, xử lý thông tin,
  • Xây dựng trụ sở, trang bị máy móc, thiết bị làm việc cho hai Chi cục HQĐT Trang bị thiết bị phần cứng (hệ thống máy chủ) cho 2 trung tâm dữ liệu để tiếp nhận, xử lý thông tin khai báo của doanh nghiệp (mỗi Trung tâm 13 máy chủ). Trang bị máy trạm cho các địa điểm làm thủ tục HQĐT tại các Chi cục (kiểm tra, GS cổng cảng).
  • Thiết lập hệ thống mạng từ trung tâm dữ liệu đến Chi cục HQĐT và các Chi cục hải quan cửa khẩu.
  • Xây dựng hệ thống xử lý dữ liệu HQĐT trên cơ sở thỏa thuận giữa Tổng cục Hải quan và công ty FPT. Cung cấp cho tổ chức truyền nhận dữ liệu (VAN) chuẩn trao đổi dữ liệu giữa hải quan và doanh nghiệp để tổ chức VAN xây dựng hệ thống khai báo điện tử cho doanh nghiệp.
  • Tổ chức kiểm tra và lựa chọn tổ chức VAN. Có 2 tổ chức tham gia là công ty GOL và công ty FPT, nhưng để thuận lợi trong giai đoạn thí điểm Tổng cục Hải quan đã chọn công ty FPT làm tổ chức VAN.
  • Xây dựng quy trình thủ tục HQĐT và tổ chức lấy ý kiến doanh nghiệp, các đơn vị hải quan về quy trình thủ tục HQĐT.
  • Triển khai đào đạo hướng dẫn cho cán bộ công chức thuộc Chi cục HQĐT và các chi cục HQCK về quy trình và hệ thống xử lý dữ liệu HQĐT.
  • Mở lớp tuyên truyền cho lãnh đạo doanh nghiệp về thủ tục HQĐT. Tổ chức cài đặt chương trình, đào tạo sử dụng hệ thống và quy trình thủ tục HQĐT cho toàn bộ các doanh nghiệp được chọn làm thí điểm.
  • Phối hợp với các cơ quan báo, đài trong việc tuyên truyền về thủ tục HQĐT.
  • Làm việc với UBND Thành phố Hải Phòng để thông báo việc thực hiện thủ tục HQĐT và đề nghị các cơ quan hữu quan phối hợp tốt với cơ quan hải quan trong việc thực hiện thủ tục HQĐT (kho bạc, thuế, công an, quản lý thị trường, đại lý vận tải, giao nhận…).
  • Tổ chức vận hành thử hệ thống xử lý dữ liệu HQĐT tại 2 Chi cục HQĐT, các Chi cục Hải quan cửa khẩu và các doanh nghiệp nhằm kiểm tra hoạt động của hệ thống trước khi đưa vào vận hành chính thức.

2.2.3.2. Về phía Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

Ngoài những công việc thực hiện theo sự chỉ đạo chung từ Tổng cục Hải quan như đã nêu trên, Cục Hải quan TP Hải Phòng đã thực hiện một số công việc cụ thể sau: Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Cục Hải quan TP Hải Phòng ban hành quyết định về việc thực hiện nội dung cải cách tại Cục Hải quan TP Hải Phòng. Trong đó, bao gồm 45 việc xây dựng, triển khai đề án khai báo tập trung và nối mạng WAN tại trung tâm dữ liệu và CNTT, xây dựng quy trình thủ tục hải quan hiện đại đối với hành lý của khách xuất nhập cảnh, lắp đặt Hệ thống xếp hàng tự động tại Chi cục, xây dựng quy trình thông quan tự động đối với hàng hóa XNK tại Chi cục, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nối mạng để truyền manifest từ Đại lý tàu biển đến các Đội tại Chi cục, xây dựng quy trình thông quan tự động đối với hàng hóa XNK tại tất cả các Chi cục.

  • Ngày 03/12/2022, Cục trưởng Cục Hải quan TP Hải Phòng đã ban hành Quyết định số 1776/HQTP/QĐ-TCCB về việc thành lập bộ phận chuyên trách giúp lãnh đạo Cục Hải quan TP Hải Phòng về công tác hiện đại hóa hải quan.
  • Ngày 31/01/2023, Cục Hải quan TP Hải Phòng tổ chức hội nghị để quán triệt việc triển khai thực hiện Kế hoạch HQĐT tại Cục Hải quan TP Hải Phòng theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Tài chính.
  • Ngày 22/02/2023, Cục Hải quan TP Hải Phòng tiếp tục tổ chức hội nghị để triển khai thực hiện Kế hoạch HQĐT tại Cục Hải quan TP Hải Phòng.
  • Ngày 03/03/2023, Đảng ủy Cục Hải quan TP Hải Phòng đã có Nghị quyết số 07/NQ-ĐU về thực hiện chương trình hiện đại hóa hải quan và HQĐT.
  • Từ ngày 14/03/2023 đến ngày 17/03/2023, Bộ phận Hiện đại hóa và các Chi cục Hải quan cửa khẩu đã tổ chức khảo sát, bố trí các địa điểm tiếp nhận làm thủ tục
  • Từ 01/03/2023 đến 05/04/2023, tổ chức lựa chọn 77 doanh nghiệp trong tổng số 500 doanh nghiệp dự kiến tham gia thủ tục HQĐT và phối hợp với Cục thuế TP Hải Phòng xác nhận tình trạng tài chính và chấp hành pháp luật về thuế của doanh nghiệp.
  • Ngày 14/04/2023, chính thức triển khai thủ tục HQĐT tại Chi cục HQĐT cho những doanh nghiệp đầu tiên.

2.2.4. Kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Theo thống kê, Việt Nam có 22 cửa khẩu đường bộ quốc tế, 16 cảng biển quốc tế và 7 cửa khẩu hàng không quốc tế. TP. Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh là những nơi có cửa khẩu cảng biển quốc tế lớn, khoảng 80% lượng hàng hóa đi qua cửa khẩu cảng biển tại hai thành phố này. Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và Hiệp định Thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc có hiệu lực từ năm 2019 thì số doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tăng mạnh, lên đến hàng nghìn doanh nghiệp. Với tình hình đó, việc thực hiện thủ tục Hải quan đối với hàng hóa tại địa bàn quản lý của Cục Hải quan TP. Hải Phòng gặp khá nhiều khó khăn. Tuy nhiên, việc thực hiện thủ tục Hải quan vẫn đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thông quan hàng hóa nhanh chóng.

Theo quy định pháp luật, thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan như sau: công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan; thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá là 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan; trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa không quá 2 ngày. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Theo số liệu khảo sát hàng năm, thì chất lượng thực hiện thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại địa bàn quản lý của Cục Hải quan TP. Hải Phòng, được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.3: Tình hình thực hiện thủ tục Hải quan trong năm 2021 – 2025

Trong thời gian gần đây, việc thực hiện thủ tục Hải quan đối với hàng hóa XNK đã có những chuyển biến tích cực. Đặc biệt là kể từ khi thực hiện thủ tục HQĐT. Thời gian để cán bộ, công chức Hải quan hoàn thành việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ Hải quan và thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa có xu hướng giảm. Kết quả tích cực này là do việc giảm thiểu, đơn giản hóa các bước tiến hành; thực hiện thủ tục Hải quan điện tử; giúp cho thông quan hàng hóa diễn ra nhanh chóng hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh. Tuy giảm thời gian thực hiện thủ tục Hải quan nhưng cơ quan Hải quan vẫn đảm bảo chất lượng công việc. Trong quá trình thực hiện thủ tục Hải quan, đã phát hiện ra rất nhiều lô hàng vi phạm pháp luật.

Mặc dù còn gặp không ít khó khăn và tồn tại, nhưng công tác thực hiện thủ tục HQĐT, thông quan hàng hóa đã có những tiến bộ khá rõ rệt. Việc thực hiện thủ tục HQĐT thông thoáng, nhanh chóng, thuận tiện đã góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về Hải quan. Điều này được thể hiện qua các chỉ tiêu như: số lượng doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu; số lượng tờ khai xuất nhập khẩu, kim ngạch hàng hóa kinh doanh xuất nhập khẩu.

Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng trong năm 2021-2025

Qua bảng trên, thấy rằng số lượng doanh nghiệp tham gia kinh XNK, số lượng tờ khai XNK, kim ngạch XNK tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng có xu hướng gia tăng qua các năm. Đặc biệt là từ năm 2023, tỷ lệ gia tăng tương đối nhanh. Do từ năm 2023, Cục Hải quan TP. Hải Phòng triển khai hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS, khuyến khích các doanh nghiệp mở tờ khai tại Hải Phòng. Việc thực hiện thủ tục HQĐT, thông quan hàng hóa nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đã thu hút doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp kinh doanh XNK, số lượng tờ khai gia tăng nhanh chóng khiến cho việc thực hiện thủ tục Hải quan nói riêng và công tác quản lý nhà nước về Hải quan nói chung cũng gặp nhiều khó khăn.

2.3. Đánh giá kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Hải Phòng

2.3.1. Những ưu điểm

Thứ nhất, thủ tục hải quan điện tử cho phép thực hiện thủ tục hải quan 24 giờ trong tất cả các ngày trong tuần (24/7). Đây là điểm mới so với trước đây khi thực hiện thủ tục hải quan thủ công. Doanh nghiệp có thể khai báo lên hệ thống của cơ quan Hải quan bất cứ thời điểm nào trong ngày và trong tuần. Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể chủ động về mặt thời gian khai báo, không cần lên cơ quan Hải quan để làm thủ tục khai báo, giảm thiểu chi phí đi lại cho doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Thứ hai, đơn giản hóa yêu cầu nộp, xuất trình bộ hồ sơ hải quan trên cơ sở cho phép áp dụng chứng từ điện tử, chữ ký số.

Trong từng giai đoạn trong triển khai HQĐT, Tổng cục Hải quan đã kịp thời ban hành nhiều quy trình nghiệp vụ để chuyển đổi từ quy trình thủ tục hải quan truyền thống sang điện tử hóa. Doanh nghiệp khai báo thông tin tờ khai HQĐT để cơ quan hải quan tiếp nhận cấp số tờ khai, các chứng từ liên quan khác được khai báo lên hệ thống dưới dạng điển tử. Do đó, đã giảm chi phí cho doanh nghiệp và xã hội do không phải thực hiện hồ sơ giấy.

Theo báo cáo đánh giá rà soát của ngành hải quan quá trình chuyển đổi sang HQĐT bằng việc đơn giản hóa 42 thủ tục, bãi bỏ 3 thủ tục đã cắt giảm được chi phí tuân thủ tới 32,11%, tương đương 187 tỷ đồng.

Thứ ba, thời gian xử lý bộ hồ sơ hải quan của hệ thống thủ tục hải quan điện tử nhanh, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa giúp doanh nghiệp giảm chi phí lưu kho, lưu bãi.

Bảng 2.5: Thống kê thời gian trung bình thực hiện thủ tục hải quan để thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu năm 2024

Như vậy, trong năm 2024 thời gian trung bình để doanh nghiệp và hải quan thực hiện thủ tục hải quan truyền thống (thủ công) ít nhất là: 680.700.120 phút, tương đương 1.418.125 ngày làm việc (tám giờ/ngày) = {[60 phút (luồng xanh) X 3.016.155 tờ khai = 180.969.300 phút] + [180 phút (luồng vàng) X 1.435.485 tờ khai = 258.387.300 phút] + [480 phút (luồng đỏ) X 502.799 tờ khai = 241.343.520 phút]} .

Trong khi đó thời gian trung bình năm 2022 để thực hiện thủ tục HQĐT là: 285.133.995 phút, tương đương 594.029 ngày làm việc (tám giờ/ngày) = {[05 phút (luồng xanh) X 3.016.155 tờ khai = 15.080.775 phút] + [20 phút (luồng vàng) X 1.435.485 tờ khai = 28.709.700 phút] + [480 phút (luồng đỏ) X 502.799 tờ khai = 241.343.520 phút]}.

Như vậy, chênh lệch thời gian thực hiện thông quan hàng hóa giữa HQĐT với thủ tục hải quan thủ công là: 395.566.125 phút, tương đương 824.096 ngày làm việc (tám giờ/ngày). Khối lượng thời gian tiêu tốn này, cơ quan hải quan và doanh nghiệp đã mất rất nhiều chi phí tài chính, con người, trụ sở làm việc để đáp ứng nhu cầu công việc. Do đó, khi áp dụng HQĐT đã tiết kiệm thời gian, nhân lực, tiền lương, chỗ làm việc và đầu tư trụ sở cơ quan.

Việc thực hiện thủ tục HQĐT thể hiện rõ quyết tâm đổi mới, cải cách thủ tục hành chính, thay đổi phương thức quản lý của Cục Hải quan TP. Hải Phòng nói riêng và ngành hải quan nói chung. Áp dụng phương pháp QLRR dựa trên nền tảng trang thiết bị hiện đại thay thế cho phương pháp quản lý thủ công truyền thống. Chuyển từ kiểm tra trước, kiểm tra trong thông quan (tiền kiểm) sang kiểm tra sau thông quan (hậu kiểm), tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc giải phóng nhanh hàng hóa.

Việc thực hiện thủ tục HQĐT đã làm giảm một phần áp lực công việc cho các Chi cục Hải quan cửa khẩu. Toàn bộ công việc được xử lý thông qua hệ thống máy tính giúp cho việc quản lý được hiệu quả, khoa học; hạn chế sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan và hạn chế tình trạng tiêu cực xảy ra. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Xây dựng được hình ảnh đẹp của cơ quan hải quan về cơ sở vật chất, trang bị hiện đại, tác phong làm việc văn minh lịch sự, thái độ, tinh thần phục vụ doanh nghiệp trong hoạt động XNK.

Những thành công bước đầu của việc thực hiện thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan TP Hải Phòng là tiền đề cho việc phát triển thủ tục HQĐT trong tương lai.

Qua đó, Tổng cục Hải quan rút ra được nhiều kinh nghiệm trong việc chỉ đạo thực hiện HQĐT thời gian qua, định hướng cho công tác HQĐT thời gian tới, thực hiện thành công Quyết định 149/2014/QĐ-TTg ngày 20/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ và tạo ra động lực cho 64 việc cải cách, hiện đại hóa thủ tục hải quan. Đây cũng là tiền đề, bài học kinh nghiệm cho việc triển khai dự án hiện đại hóa hải quan theo vốn vay của Ngân hàng thế giới (World Bank) sau này.

2.3.2. Những nhược điểm, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân

2.3.2.1. Những nhược điểm, hạn chế

Quá trình áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại trong triển khai thủ tục HQĐT những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, song vẫn còn rất nhiều hạn chế còn tồn tại trong đó nổi lên:

Thứ nhất, hệ thống thể chế, chính sách cho áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại trong thủ tục HQĐT của các Bộ ngành với cơ quan hải quan còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ.

Hệ thống thể chế quy định quản lý nhà nước trong hoạt động XNK của các Bộ, ngành (về giấy phép, hạn ngạch, hợp chuẩn, kiểm dịch…) trong những năm qua hầu như chưa nội luật hóa các chuẩn mực hải quan hiện đại để kết nối với cơ quan hải quan thực hiện HQĐT. Cơ sở pháp lý của HQĐT đang được vận dụng trên cơ sở hệ thống văn bản do Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) xây dựng và ban hành.

Trong khi đó, hệ thống thể chế chính sách do ngành hải quan ban hành phần lớn là mới dừng lại tin học hóa cho quy trình thủ tục hải quan và bắt đầu ứng dụng một số chuẩn mực hải quan hiện đại với mức độ đáp ứng còn hạn chế. So với hệ thống số lượng chuẩn mực tại các công ước, hiệp định về hải quan hiện đại mà Việt Nam đã tham gia thì còn rất nhiều chuẩn mực chưa được nội luật hóa vào hệ thống thể chế chính sách để thực hiện .

Thứ hai, hệ thống CNTT của ngành hải quan với các Bộ ngành chưa được kết nối giao dịch và trao đổi thông tin quản lý chính sách hàng hóa (cấp phép, hạn ngạch) và bản thân hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan còn yếu kém chưa đạt mức độ tự động hóa theo chuẩn mực hải quan hiện đại. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Mặc dù HQĐT đã triển khai được 15 năm, nhưng hệ thống phần mềm để phục vụ cho HQĐT đều do Việt Nam tự xây dựng, dựa trên nền tảng tin học hóa đưa công nghệ thông tin vào từng bước của quy trình hải quan truyền thống. Do đó, hệ thống này không đáp ứng yêu cầu tự động hóa theo chuẩn mực; mặt khác đây là hệ thống phần mềm đóng xây dựng phân tán nên không có chức năng để các Bộ, ngành kết nối trao đổi thông tin.

Thứ ba, tổ chức bộ máy của ngành hải quan cồng kềnh, phân tán, chậm đổi mới để bắt kịp yêu cầu mô hình quản lý tập trung hải quan điện tử, không giới hạn không gian địa lý.

Tồn tại về bộ máy tổ chức đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực hiệu quả trong triển khai cải cách hiện đại hóa hải quan, cản trở quá trình thực thi quản lý theo nguyên tắc tập trung thống nhất của ngành hải quan.

Thứ tư, đội ngũ nguồn nhân lực còn hạn chế đặc biệt là thiếu hẳn đội ngũ chuyên gia trong nhiều lĩnh vực nghiệp vụ hải quan hiện đại (giá, mã, kiểm soát, tình báo, phân tích phân loại, QLRR, CNTT).

Quá trình ứng dụng triển khai HQĐT cần chuyên môn hóa trong từng khâu nghiệp vụ, điều này đòi hỏi mỗi cán bộ công chức trong dây chuyền phải là chuyên gia thực sự trong lĩnh vực đó. Vì mỗi quyết định của cán bộ công chức đều được cập nhật vào hệ thống và xử lý hàng loạt cho các lô hàng tiếp theo, không phải đơn lẻ như thủ tục hải quan truyền thống (thủ công).

Đặc biệt, khi ứng dụng chuẩn mực hải quan hiện đại trong dây chuyền thủ tục HQĐT thì đội ngũ cán bộ công chức phải có năng lực chuyên môn sâu và cập nhật tốt kiến thức hải quan hiện đại. Tuy nhiên, cho đến nay lực lượng chuyên gia của ngành hải quan đang rất mỏng và thiếu trầm trọng.

2.3.2.2. Nguyên nhân

Do trải qua một thời kì dài thực hiện thủ tục hải quan theo phương thức thủ công truyền thống, doanh nghiệp đã quen sử dụng phương thức này nên khi chuyển sang ứng dụng HQĐT nhiều doanh nghiệp còn ngại, không muốn thay đổi thói quen thực hiện thủ tục thủ công. Hơn nữa, thủ tục HQĐT là một lĩnh vực mới nên khi triển khai sẽ gặp khó khăn.

Các thủ tục đầu tư, xây dựng phần mềm, mua sắm trang thiết bị máy móc kéo dài do chờ vốn từ Ngân sách nhà nước. Điều này làm ảnh hưởng tới tiến độ triển khai ứng dụng Hải quan điện tử. Khi hạ tầng chưa đầy đủ thì việc triển khai là rất khó.

Thực tế hệ thống mạng của Việt Nam hiện nay chưa ổn định, đường truyền dung lượng thấp, do đó khi thủ tục HQĐT được thực hiện đồng bộ trong toàn ngành hải quan sẽ dẫn đến việc bị nghẽn mạng, sập mạng. Đồng thời, hệ thống mạng giữa Hải quan và doanh nghiệp chưa đồng bộ sẽ ảnh hưởng đến việc truyền nhận dữ liệu giữa doanh nghiệp và hải quan.

Hiện nay, vẫn còn tồn tại cả HQĐT và hải quan thực hiện theo phương thức thủ công. Vì thế xuất hiện sự chồng chéo lên nhau trong việc đưa ra các hướng dẫn và tổ chức triển khai. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

Để thực hiện ứng dụng thủ tục HQĐT, doanh nghiệp cần phải đầu tư cơ sở hạ tầng mạng, thiết bị máy tính , con người để khai báo hải quan phục vụ việc thực hiện thủ tục HQĐT. Vì thế một số doanh nghiệp không ủng hộ giải pháp của ngành hải quan do sợ tốn kém chi phí. Hơn nữa, trình độ tin học và sử dụng phần mềm khai báo HQĐT của các doanh nghiệp còn hạn chế nên thao tác thực hiện khai báo chưa đúng theo quy định như truyền quá nhiều lần cho một bộ từ khai, tự ý xóa tờ khai trên phần mềm doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng đến niềm tin của doanh nghiệp về sự hiệu quả của việc thực hiện HQĐT.

Mặc dù công tác hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện HQĐT đã được ngành Hải quan chú ý nhưng vẫn chưa thật sự hiệu quả, chưa sâu sát do lực lượng công chức chuyên trách về HQĐT còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu cần hỗ trợ của các doanh nghiệp tham gia HQĐT.

Kết luận Chương 2

Hải quan Việt Nam bắt đầu triển khai thủ tục HQĐT từ năm 2014, quá trình này đã trải qua các giai đoạn khác nhau với quy mô từ thí điểm phạm vi hẹp rồi thí điểm mở rộng và chính thức triển khai trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/01/2022. Từ những bước đi đầu tiên là điện tử hóa một số bước trong quy trình thủ tục hải quan đến áp dụng thủ tục HQĐT, Hải quan Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định.

Trong chương này, học viên đã tập trung đi sâu phân tích thực trạng của quá trình triển khai thực hiện thủ tục HQĐT của Cục Hải quan TP Hải Phòng. Nội dung phân tích thực trạng được học viên thực hiện phân tích dưới các góc độ:

  • Chức năng nhiệm vụ của Cục Hải quan TP Hải Phòng;
  • Thực trạng thực hiện hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Hải Phòng;
  • Đánh giá kết quả thực hiện thủ tục HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Hải Phòng.

Từ phân tích thực trạng, học viên nêu ra những hạn chế và nguyên nhân, làm tiền đề căn cứ để đưa ra những giải pháp khả thi và hiệu quả trong chương 3. Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp thủ tục hải quan điện tử trong thông quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *