Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường tiểu học quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Vài nét đặc điểm địa lý tự nhiên – văn hóa – xã hội – giáo dục quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

Hoàng Mai là khu vực nội thành của Hà Nội, là một quận của thành phố Hà Nội. Quận được thành lập theo Nghị định số 132/2013/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Việt Nam, dựa trên diện tích và dân số của toàn bộ 8 xã: Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú, Yên Sở và 55 ha diện tích của xã Tứ Hiệp thuộc huyện Thanh Trì cộng với diện tích và dân số của 5 phường Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thuộc quận Hai Bà Trưng. người. Quận Hoàng Mai có diện tích 4.104,10 ha (41,04 km²), dân số 329000 người (cuối năm 2019). Quận Hoàng Mai có 14 phường gồm: Đại Kim, Định Công, Giáp Bát, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Lĩnh Nam, Mai Động, Tân Mai, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Tương Mai, Vĩnh Hưng, Yên Sở.

2.1.2 Tình hình giáo dục giáo dục tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Nội

2.1.2.1 Khái quát về giáo dục quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

Năm học 2025 – 2026 là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Hoàng Mai lần thứ III, tiếp tục triển khai chiến lược phát triển Giáo dục – Đào tạo giai đoạn 2021 – 2030, thực hiện Nghị quyết số 29/NQ/TW ngày 04/11/2023 của BCH Trung ương khóa XI, Chương trình hành động số 27- CT/TU của Thành ủy Hà Nội, Kế hoạch số 104-KH/QU của Quận ủy Hoàng Mai về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc Tế”, năm học chào mừng thành công Đại hội Đảng các cấp với chủ đề “Tiếp tục đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy học và cải cách hành chính toàn ngành”.

Được sự quan tâm của Bộ GD&ĐT, sự chỉ đạo sát sao của Sở GD&ĐT, Công đoàn ngành GD Hà Nội, Quận ủy, HĐND, Ủy ban nhân dân quận và sự ủng hộ giúp đỡ của các ban ngành đoàn thể từ Quận đến cơ sở, ngành Giáo dục và Đào tạo Quận đã nỗ lực phát huy những thành tích đạt được, khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, tạo những bước chuyển biến rõ nét về chất lượng. Tại buổi gặp mặt hôm nay, thay mặt lãnh đạo Ngành, tôi xin trân trọng báo cáo những kết quả nổi bật, toàn diện của thầy và trò ngành GD&ĐT đã đạt được trong năm học vừa qua:

Về Qui mô giáo dục, mạng lưới trường lớp tiếp tục ổn định và phát triển mạnh. Năm học 2025 – 2026 ngành Giáo dục quận có 53 trường công lập, 12 trường tư thục, dân lập, 259 nhóm trẻ tư thục; toàn Ngành có 68.790 học sinh (tăng 6.107 học sinh so với năm học trước). Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Về cơ sở vật chất: Các trường học luôn được Quận quan tâm đầu tư, hàng năm Quận đã dành trên 50% tổng chi ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản của Quận cho các dự án xây dựng, cải tạo trường học. Năm học vừa qua, Quận đã xây thêm mới 03 trường học (THCS Mai Động, TH Hoàng Liệt, MN Hoàng Liệt); cải tạo và mở rộng phòng học cho 07 trường, vì vậy đã giảm bớt khó khăn về sự quá tải học sinh cho một số nhà trường, khuôn viên, cảnh quan các trường học xanh, sạch, đẹp hơn. Tính đến nay quận có 28/53 trường công lập đạt trường Chuẩn quốc gia (chiếm 52,8%), có 3/12 trường ngoài công lập đạt chuẩn Quốc gia (chiếm 0,25%), trường Tiểu học QT Thăng Long là 1 trong 7 trường của Thành phố được công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2.

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý của Ngành tiếp tục được tăng cường, có bước phát triển cả số lượng và chất lượng. Toàn ngành Giáo dục quận có 5.621 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; có 919 đảng viên (đạt 36,2%). 100% giáo viên các cấp học có trình độ đào tạo chuẩn. Trình độ trên chuẩn ở cấp học Mầm non đạt 57,6% (tăng 0,6%); Tiểu học đạt 86,2 % (tăng 1%); THCS đạt 84,2% (tăng 7,9% so với năm học trước). Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên, cán bộ quản lý các nhà trường được chú trọng. Toàn ngành đã tổ chức được 1.087 chuyên đề cấp cơ sở, 41 chuyên đề cấp quận. Đặc biệt, điểm mới trong công tác bồi dưỡng đội ngũ năm nay, ngoài việc bố trí bồi dưỡng cho tất cả CBGV của Ngành tham dự chương trình bồi dưỡng cuả Sở GD&ĐT Hà Nội, phòng GD&ĐT đã tham mưu với Quận ủy, Ủy ban nhân dân quận tổ chức học tập, bồi dưỡng Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, chuyên môn nghiệp vụ, định hướng đổi mới giáo dục tới 100% cán bộ, GV của Ngành (tổng số 11 lớp trong đó có 02 lớp dành riêng cho Cán bộ quản lý của Ngành). Toàn Ngành không có cán bộ, giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo. Nhiều cán bộ giáo viên đã đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi, Chiến sỹ thi đua. Công tác sáng kiến kinh nghiệm tiếp tục được chú trọng, toàn quận có 607/641 Sáng kiến kinh nghiệm được Ngành GD quận xếp loại (222 loại A, 304 loại B, 81 loại C). Đặc biệt trong 222 Sáng kiến kinh nghiệm loại A gửi về Sở GD&ĐT Hà Nội chấm, kết quả có 186 Sáng kiến kinh nghiệm đạt giải (35 loại B, 151 loại C). Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” được các trường hưởng ứng tích cực. Tham gia Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp Thành phố, ngành GD&ĐT quận đạt 07 giải Nhất, 09 giải Nhì, 05 giải Ba, 04 giải Khuyến khích. Cả 3 cấp học ngành GD&ĐT quận đều được Sở GD&ĐT Hà Nội xếp loại Xuất sắc về công tác chỉ đạo hội thi GVDG cấp Thành phố; Cuộc thi hồ sơ dạy học tích hợp cho giáo viên THCS cấp Thành phố đạt 06 giải (01 giải Nhì, 03 giải Ba, 02 giải khuyến khích); Hội thi Nhân viên Thư viện giỏi đạt giải Ba cấp Thành phố; Hội thi Đồ dùng dạy học cấp Thành phố đạt 09 giải (01 giải Nhì, 05 giải Ba và 03 giải khuyến khích); Tham gia Hội khỏe CB, GV, NV Ngành GD&ĐT Hà Nội đạt giải Nhì toàn đoàn và 06 Huy chương; Tham gia “Liên hoan Tiếng hát Giáo viên Toàn quốc lần thứ IV” đạt Huy chương Vàng và giải Nhất toàn đoàn; Tham gia Hội thi “Cô giáo tài năng duyên dáng lần thứ V” cấp Thành phố đạt giải Nhì Hội thi và giải Nhất phần thi Hiểu biết xã hội và ứng xử nghề nghiệp.

Công tác quy hoạch, bố trí sắp xếp, bổ nhiệm đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý các nhà trường được thực hiện theo quy định và phù hợp với tình hình thực tế của các trường, cơ bản đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu và chất lượng theo hướng chuẩn hóa. Trong năm học vừa qua, quận đã bổ nhiệm được 09 Hiệu trưởng, 03 Phó Hiệu trưởng. Các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý được đảm bảo đúng quy định.

Việc đổi mới hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đó, việc dạy học được đổi mới theo hướng mở, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất học sinh. Đa dạng hóa hình thức, phương pháp dạy học, tăng cường hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, tự học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Việc triển khai đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh bước đầu có kết quả tốt.

Công tác quản lý có nhiều đổi mới, các điều kiện đảm bảo chất lượng được tăng cường. Công tác quản lý điều hành từng bước đẩy mạnh ứng dụng CNTT: việc sử dụng địa chỉ email để phục vụ điều hành và quản lý giáo dục được duy trì nề nếp, cập nhật thường xuyên trong ngày theo quy định, góp phần thực hiện tiết kiệm và tăng cường công tác cải cách hành chính. Tiếp tục thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường, nêu cao vai trò của Hiệu trưởng trong việc tổ chức điều hành các hoạt động của nhà trường. Thực hiện tốt kỷ cương, ý thức trách nhiệm trong quản lý, tập trung quản lý chất lượng và hiệu quả giáo dục. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Công tác giáo dục đạo đức, lối sống được chú trọng. Các trường đã thực hiện tích hợp giáo dục đạo đức gắn với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục kỹ năng sống; giáo dục pháp luật; chú trọng tuyên truyền, giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục ATGT, truyền thống lịch sử Thủ đô, phong cách người Hà Nội. Triển khai tích hợp nội dung giáo dục đạo đức học sinh vào bài học một cách tự nhiên, phù hợp, làm cho bài học sống động, hấp dẫn, gắn với thực tiễn hơn nhưng không gây quá tải. Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật. Tổ chức công tác giáo dục đạo đức lồng ghép với công tác Đội như: Đọc và làm theo báo Đội, kế hoạch nhỏ, tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện; đặc biệt thông qua các hoạt động ngoại khóa, các cuộc thi tìm hiểu về truyền thống lịch sử dân tộc và qua việc học tài liệu giáo dục nếp sống văn minh thanh lịch. Tổ chức diễn đàn “Tiếng chào theo em”, “Nói không với bạo lực học đường”; hội thảo, tọa đàm về “Vai trò của GVCN trong phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực”.

Công tác tuyển sinh có nhiều điểm mới, ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyển sinh được đẩy mạnh, đặc biệt các trường đã khắc phục khó khăn về thời gian, cơ sở vật chất, máy tính, đường truyền…, nghiêm túc triển khai ứng dụng phần mềm tuyển sinh trực tuyến vào các trường Mầm non, lớp 1, lớp 6, từ đó đã tăng cường tính minh bạch, công khai, công bằng trong tuyển sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong quận.

Chất lượng dạy học được giữ vững, ổn định và ngày càng được nâng cao. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non được nâng lên rõ rệt, chú trọng giáo dục cho trẻ kỹ năng tự phục vụ bản thân. 99,63% học sinh lớp 9 được công nhận tốt nghiệp THCS (tăng 0,43% so với năm học trước). Đặc biệt kết quả thi vào lớp 10 THPT quận Hoàng Mai vinh dự đứng thứ 3/30 quận huyện toàn Thành phố. Có 73 học sinh thi đỗ vào lớp 10 khối THPT các trường chuyên của Hà Nội.

Học sinh Hoàng Mai tiếp tục giành nhiều thành tích ấn tượng trong các cuộc thi Quốc gia, Thành phố và các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao. Kết quả thi học sinh giỏi các môn văn hóa: Cấp Tiểu học và THCS giành 03 giải cấp Quốc tế (02 giải Nhất, 01 giải Ba) – tăng 03 giải; giành được 52 giải cấp Quốc gia (11 giải Nhất, 11 giải Nhì, 17 giải Ba, 13 giải KK) – tăng 17 giải; và 239 giải cấp Thành phố (15 giải Nhất, 52 giải Nhì, 80 giải Ba, 92 giải KK) – tăng 14 giải. Tham dự thi TDTT, học sinh Hoàng Mai đạt 28 Huy chương cấp Quốc gia (tăng 19 huy chương); 80 Huy chương cấp Thành phố (tăng 18 Huy chương); đạt 04 giải (03 giải Nhì, 01 giải KK) cuộc thi “Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng” cấp Thành phố; đạt 03 giải thi vẽ tranh“Sải cánh vươn cao” do Tổng công ty hàng không Việt Nam và Sở GD&ĐT phối hợp tổ chức,…

Năm học vừa qua, tất cả các cấp học trong toàn ngành đã phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đạt được nhiều thành tích nổi bật, rất đáng trân trọng. Kết quả đó là sự nỗ lực, không ngừng học hỏi, đầy nhiệt huyết, yêu nghề, vượt lên khó khăn của các đồng chí cán bộ quản lý, các thầy cô giáo, các đồng chí nhân viên; sự đoàn kết, trách nhiệm, sáng tạo đi lên của tập thể các nhà trường. Tổng kết năm học 2025 – 2026, ngành GD&ĐT Hoàng Mai đã vinh dự được nhận các danh hiệu và hình thức thi đua: có 03 tập thể được tặng Bằng khen của Bộ GD&ĐT (THCS Hoàng Liệt, TH Định Công, MN Tuổi thơ); 02 tập thể được tặng Cờ thi đua Xuất sắc của Thành phố (THCS Tân Định, TH Tân Mai); 03 tập thể được tặng Bằng khen của Ủy ban nhân dân Thành phố (Phòng GD&ĐT, TH Tân Định, MN 10-10); 08 đơn vị được Ủy ban nhân dân Thành phố công nhận Tập thể Lao động Xuất sắc; Phòng GD&ĐT được Sở GD&ĐT Hà Nội khen thưởng 15/15 chỉ tiêu thi đua xếp loại Tốt – tăng 02 chỉ tiêu, trong đó có 4 chỉ tiêu xếp loại xuất sắc. Công đoàn Giáo dục quận được tặng Bằng khen của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; 45 trường học được công nhận Tập thể LĐTT và 313 cán bộ, giáo viên, nhân viên được đề nghị Ủy ban nhân dân quận công nhận và khen thưởng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở”; 16 đồng chí được Bộ GD&ĐT tặng Kỉ niệm chương Vì Sự nghiệp giáo dục.

2.1.2.2 Thực trạng giáo dục tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Tiểu học là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Vì vậy cấp học này được sự quan tâm lớn nhất của đại bộ phận trong xã hội. Ở quận Hoàng mai cũng vậy mọi sự ưu ái đều được hướng cho cấp học này. Trong những năm học vừa qua, cấp tiểu học luôn vững quy mô trường lớp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong toàn huyện, duy trì tốt sĩ số học sinh, không có học sinh bỏ học. Năm học 2025 – 2026 toàn Quận có 19 trường (17 đơn vị công lập, 02 đơn vị ngoài công lập). Số lượng học sinh: 28768 học sinh/574 lớp. Cán bộ quản lý: Tổng số 49 đồng chí. Trong đó có: 03 thạc sỹ; 45 Đại học. Giáo viên: Tổng số 789 đ/c (BC, HĐQ, HĐT); trong đó: 18 thạc sỹ; 459 Đại học; 187 Cao đẳng, 125 trung cấp.

Các trường tiểu học trong toàn quận đều được bố trí giáo viên đầy đủ. Các em được học đều 9 môn với các giáo viên đặc thù như Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục. Các trường đều dạy học 2 buổi/ngày và đã đưa các môn tự chọn là Ngoại ngữ và Tin học vào dạy từ lớp 3.

Cùng với sự phát triển chung của quận, giáo dục tiểu học đã đóng góp những thành tích đáng kể đặc biệt là chất lượng giáo dục toàn diện.

  • Năm 2016 quận đã hoàn thành phổ cập giáo dục và xóa mù chữ bậc tiểu học; năm 2017 hoàn thành phổ cập giáo dục đúng độ tuổi; năm 2021 hoàn thành phổ cập giáo dục đúng độ tuổi mức độ 2.
  • Tỷ lệ học sinh ra lớp 1 đạt 100%; trong năm học, cấp học không có học sinh bỏ học giữa chừng; học sinh ở lại lớp hàng năm dưới 0,2%. Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác phổ cập giáo dục.
  • Có 7/19 trường tiểu học được công nhận chuẩn Quốc gia mức độ 2.

2.1.2.3 Thực trạng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn các trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội năm học 2025 – 2026

Tổ trưởng chuyên môn chính là những giáo viên có uy tín trong tập thể hội đồng nhà trường được hiệu trưởng bổ nhiệm thông qua sự tiến cử của các viên khác. Thực chất tổ trưởng chuyên môn trong trường tiểu học vẫn là một giáo viên và vẫn giảng dạy bình thường ở một lớp cụ thể. Vì vậy khi nghiên cứu về thực trạng tổ chuyên môn và tổ trưởng chuyên môn chính là nghiên cứu thực trạng hoạt động của đội ngũ giáo viên theo số liệu bảng sau:

  • Bảng 2.1. Thực trạng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn các trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội năm học 2025 – 2026 Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Bảng 2.1 cho thấy: tổng số 95 tổ trưởng chuyên môn trong 19 trường tiểu học thuộc quận Hoàng Mai đa số có trình độ Đại học, Cao đẳng (95,8%) trong đó trình độ Đại học đạt (78,9%). Về thâm niên làm quản lý rất trẻ (dưới 10 năm: 72,2%; trên 10 năm: 27,8%). Chủ yếu các tổ trưởng đều là nữ và 100% các đồng chí đều là đảng viên. Điều đó chứng tỏ các đồng chí có trình độ cao, nhiệt tình, có tâm huyết với công việc. Tỷ lệ các tổ trưởng đạt chiến sĩ thi đua các cấp còn ít (41,1%) trong đó cấp Thành phố còn rất hạn chế (8,4%). Điều này cũng phù hợp bởi các đồng chí còn trẻ, thâm niên tổ trưởng chưa được nhiều nên các nhà quản lý cần có kế hoạch nhiều hơn về công tác bồi dưỡng cho đội ngũ này.

Trên thực tế tổ trưởng chuyên môn được phụ cấp chức vụ 0,2 (theo quy định của Bộ Nội vụ) và được tham gia đóng bảo hiểm chức vụ. Vì vậy khi bổ nhiệm chức vụ này cần xem xét kỹ lưỡng. Nếu như bổ nhiệm không tốt sẽ dẫn đến tình trạng không chú ý đến chuyên môn, phẩm năng lực thực sự, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn và chất lượng chung của nhà trường.

2.1.2.4 Thực trạng đội ngũ giáo viên các trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

Để nắm được thực trạng đội ngũ giáo viên của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội chúng ta đi phân tích bảng tổng hợp 2.2 và 2.3 sau:

  • Bảng 2.2. Thực trạng trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên các trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội năm học 2025 – 2026
  • Bảng 2.3. Thực trạng độ tuổi và thành tích đã đạt được của đội ngũ giáo viên các trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

Qua bảng tổng hợp trên ta thấy đội ngũ giáo viên trong quận tỷ lệ nữ chiếm phần lớn. Trình độ đào tạo trên chuẩn cao (81,8%). Tuổi đời vừa phải. Mặc dù vậy tỷ lệ giáo viên đạt chiến sĩ thi đua các cấp còn hạn chế nhất là các danh hiệu thi đua cấp Thành phố. Giáo viên tham gia Nghiên cứu khoa học còn hạn chế. Tuy nhiên với trình độ đào tạo trên chuẩn cao như vậy cộng với tuổi đời còn rất trẻ chúng ta tin rằng đội ngũ này đảm bảo để thực hiện có hiệu quả việc giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội.

2.2 Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn các trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Nội Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Để hiểu sâu thêm về thực trạng hoạt động tổ chuyên môn, chúng tôi đã tiến hành đánh giá bằng cách lấy ý kiến thông qua các phiếu hỏi, những người được hỏi ý kiến đã đánh giá cho điểm theo 4 mức độ như sau: Tốt: 3 điểm; Khá: 2 điểm; Trung bình: 1 điểm; Yếu: 0 điểm. Cách tính điểm trung bình cho mỗi nội dung đánh giá = Lấy số người cho điểm ở mỗi mức độ nhân với số điểm tương ứng, cộng điểm của 4 mức độ và chia cho tổng số người tham gia đánh giá:

  • Điểm trung bình cộng đạt giá trị lớn nhất: Max X  = 3.
  • Điểm trung bình cộng đạt giá trị nhỏ nhất: Min = 0.
  • Phân loại: Tốt: 2,25≤ X ≤ 3; Khá: 1,5≤ X ≤ 2,24; TB: 0,75≤ X ≤1,4; Yếu: 0 ≤ X ≤ 0,74.

Khảo sát hai nhóm đối tượng:

  • 135 Cán bộ quản lý (gồm 19 hiệu trưởng, 21 phó hiệu trưởng, 95 tổ trưởng chuyên môn) thuộc 19 trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội.
  • 84 giáo viên thuộc 19 trường tiểu quận Hoàng Mai học thành phố Hà Nội. Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả như sau:

2.2.1. Thực hiện quy chế chuyên môn Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Tổ chuyên môn trong trường tiểu học cần phải hoạt động theo quy chế chuyên môn. Đó là thực hiện các hoạt động như: Kế hoạch hoá hoạt động chung của tổ thực hiện theo tuần, tháng, năm học; Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; Điều chỉnh nội dung dạy học và đánh giá xếp loại các môn học ở tiểu học; Kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục; Đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học; Theo dõi, giám sát việc mượn, sử dụng đồ dùng và thiết bị dạy học; Kiểm tra chéo hồ sơ chuyên môn của giáo viên.

  • Bảng 2.4. Đánh giá mức độ thực hiện quy chế chuyên môn

Từ bảng 2.4 nêu trên, có thể thấy mức độ thực hiện quy chế chuyên môn của các tổ chuyên môn là tương đối tốt ( = 2,62); Tuy nhiên mức độ thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được đánh giá thấp nhất ( X  = 2,35; xếp thứ bậc 7/7). Tiếp theo là Theo dõi giám sát việc mượn, sử dụng đồ dùng và thiết bị dạy học ( = 2,46; xếp thứ bậc 6/7) và Kiểm tra chéo hồ sơ chuyên môn của giáo viên (= 2,53; xếp thứ bậc 5/7).

Nguyên nhân của thực trạng này có thể là do các tổ chuyên môn chưa chú trọng vấn đề bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên. Nội dung khảo sát về các hình thức Sinh hoạt chuyên môn ở bảng 2.4 trên đây cũng nói lên điều đó. Việc mượn, sử dụng đồ dùng và thiết bị chưa hiệu quả có thể là do việc đầu tư thiết bị, Đồ dùng dạy học ở các trường chưa được quan tâm đúng mức. Một số giáo viên còn dạy “chay”, chưa chú trọng đến việc sử dụng đồ dùng và thiết bị dạy học. Việc kiểm tra chéo hồ sơ chuyên môn của giáo viên trong tổ chưa cũng được thường xuyên có thể do một số tổ trưởng chuyên môn còn chưa thấy rõ trách nhiệm của mình mà coi đó là công việc của phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn. Vì vậy cần phải có biện pháp để khắc phục thực trạng này. Tổ trưởng chuyên môn cần phát huy hơn nữa vai trò của mình với tổ chuyên môn.

2.2.2. Hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn

Như kết quả nghiên cứu lý luận ở Chương 1 cho thấy, ở trường tiểu học theo định kỳ 2 tuần một lần tổ chuyên môn họp, có đôi khi việc sinh hoạt tổ chuyên môn cũng được tổ chức linh hoạt theo yêu cầu công việc. Hình thức sinh hoạt kết hợp dưới dạng sinh hoạt hành chính và sinh hoạt khoa học.

Theo yêu cầu đổi mới giáo dục đã có những đổi mới nhất định trong hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn. Hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn dưới dạng dự giờ, phân tích bài học; dưới dạng sinh hoạt khoa học và theo trường hoặc cụm trường được đẩy mạnh. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

  • Bảng 2.5. Đánh giá về hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn

Bảng 2.5 đánh giá kết quả khảo sát cho thấy rõ thực trạng về hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn hiện nay ở các trường tiểu học quận Hoàng Mai đều được đánh giá tốt (= 2,64).

Tuy nhiên so sánh 7 hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn thì hình thức 6: Sinh hoạt chuyên môn theo từng Tổ (khối lớp) vẫn được duy trì tốt nhất trong các nhà trường ( = 2,90 xếp thứ nhất). Đây là hình thức Sinh hoạt chuyên môn truyền thống; tiếp sau là hình thức 1“định kỳ theo quy định” và 2 “linh hoạt theo yêu cầu quy định” ( X = 2,84 xếp thứ 2; X = 2,73 xếp thứ 3). Ngược lại hình thức Sinh hoạt chuyên môn dưới dạng sinh hoạt khoa học ( X = 2,30 xếp bậc 7/7) được đánh giá thấp nhất.

Hình thức Sinh hoạt chuyên môn theo từng trường hoặc cụm trường và dưới dạng dự giờ và phân tích bài học cũng được đánh giá thấp hơn các hình thức khác.

Sinh hoạt chuyên môn theo trường hoặc cụm trường và dưới dạng sinh hoạt khoa học đó là:

  • Tổ chức xem băng/dự giờ/nêu tình huống sư phạm, mọi người phân tích, rút ra bài học kinh nghiệm tìm giải pháp dạy học hiệu quả nhất.
  • Tạo cơ hội để giáo viên tham gia các lớp tập huấn, tổ chức để họ báo cáo hoặc tập huấn lại cho các đồng nghiệp ở trường hoặc cụm trường).

Như vậy, hình thức sinh hoạt khoa học là vô cùng quan trọng đối với việc phát triển chuyên môn cho giáo viên trong tổ chuyên môn. Việc tổ chức Sinh hoạt chuyên môn theo trường hoặc cụm trường cũng là cơ hội để các thành viên trong các tổ chuyên môn được nâng cao năng lực, cùng hỗ trợ, giúp đỡ nhau phát triển. Tuy nhiên kết quả khảo sát cho thấy việc đổi mới hình thức Sinh hoạt chuyên môn dưới dạng sinh hoạt khoa học hoặc theo trường và cụm trường vẫn chưa phát huy tác dụng mạnh mẽ trên thực tế. Đây là vấn đề mà các nhà quản lý cấp trường cần phải đặc biệt quan tâm.

2.2.3. Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn

Nội dung Sinh hoạt chuyên môn là những vấn đề được đưa ra bàn bạc trong các buổi họp tổ chuyên môn hướng tới việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Bên cạnh việc khảo sát về các hoạt động mà tổ chuyên môn đã thực hiện theo quy chế chuyên môn, để tìm hiểu kỹ hơn thực trạng đổi mới nội dung các buổi Sinh hoạt chuyên môn của tổ, chúng tôi khảo sát các nội dung ở Bảng 2.6. Trong đó những nội dung từ 1 đến 5 là những nội dung Sinh hoạt chuyên môn có tính truyền thống hoặc hành chính, quen thuộc. Còn những nội dung từ 6 đến 10 là những nội dung có tính chất đổi mới theo quan điểm lấy người học làm trung tâm, hướng tới phát huy tính cực, chủ động của người học trong học tập.

  • Bảng 2.6. Đánh giá về nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn

Bảng 2.6 đánh giá kết quả khảo sát cho thấy rõ mức độ thực hiện các nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn. Nhìn chung các nội dung đưa ra trong buổi Sinh hoạt chuyên môn đều thu được kết quả, rất phù hợp với công tác quản lý chuyên môn trong các nhà trường tiểu học hiện nay. Mặc dù vậy nội dung Sinh hoạt chuyên môn chưa thực sự đa dạng, còn thiên nhiều về sự vụ, mang nặng tính hành chính (chỉ tập trung vào những nội dung từ 1 đến 4).

So sánh 10 nội dung thì nội dung 8: Tăng cường tự học, học tập hợp tác và và sự tương tác giữa các học sinh trong học tập ( = 2,42; xếp thứ 8); nội dung 9: Đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh ( X = 2,37; xếp thứ 9) và nội dung 10: Tự làm và sử dụng Đồ dùng dạy học có hiệu quả ( X = 2,16; xếp thứ 10) được đánh giá thấp nhất. Qua đây cho thấy để nâng cao chất lượng trong các nhà trường tiểu học hiện nay thì nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn cần đổi mới và thiết thực hơn nữa.

2.2.4. Vai trò của tổ trưởng chuyên môn

Thành công hay hạn chế của các hoạt động tổ chuyên môn chịu ảnh hưởng rất lớn từ năng lực, phẩm chất của người tổ trưởng chuyên môn. Có thể hiểu rằng, một người tổ trưởng chuyên môn có năng lực chuyên môn tốt, năng lực lãnh đạo hiệu quả, mạnh dạn đổi mới, chủ động trong công việc… thì sẽ phát triển được chuyên môn cho các thành viên trong tổ và dẫn dắt các GV trong tổ cùng hợp lực thực hiện đổi mới dạy học, giáo dục một cách hiệu quả.

Bảng 2.7 thể hiện kết quả khảo sát đánh giá về vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong việc lãnh đạo sự đổi mới và xây dựng văn hoá chất lượng lành mạnh trong nhà trường.

  • Bảng 2.7. Đánh giá về vai trò của tổ trưởng chuyên môn

Từ bảng 2.7 có thể kết luận: Đội ngũ tổ trưởng chuyên môn luôn biết quan tâm xây dựng tốt các mối quan hệ chú trọng đến các mối quan hệ của các thành viên trong tổ và với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường. Tổ trưởng chuyên môn luôn biết quan tâm, động viên chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy đối với những giáo viên trẻ mới vào nghề, gần gũi hướng dẫn giáo viên có năng lực chuyên môn yếu.

Tuy nhiên nhìn chung các tổ trưởng chuyên môn lại chưa chủ động, mạnh dạn đề xuất những nội dung mới trong Sinh hoạt chuyên môn (= 2,43; xếp thứ 7/8); chưa phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo của giáo viên trong tổ ( X = 2,35; xếp thứ 8/8). Từ đó cho thấy họ chưa thật xứng đáng là “giáo viên cốt cán, đầu đàn lãnh đạo sự đổi mới, sáng tạo” ( X = 2,47; xếp thứ 6/8). Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

2.2.5 Mức độ tự chủ chuyên môn của giáo viên

Đổi mới trong sinh hoạt tổ chuyên môn còn được thể hiện và chịu ảnh hưởng bởi mức độ tự chủ chuyên môn của giáo viên trong tổ.

Từ bảng 2.8 dưới đây, với điểm trung bình chung ( X = 2,31) cho thấy mức độ tự chủ chuyên môn của các giáo viên chỉ được đánh giá ở mức độ khá tốt. Các giáo viên đã làm tốt việc nhận xét, rút kinh nghiệm giờ dạy cho nhau một cách nghiêm túc, tích cực. Trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, các giáo viên cũng đã đôi khi chủ động đưa ra thảo luận những vấn đề mới, khó trong chương trình.

  • Bảng 2.8. Đánh giá về mức độ tự chủ chuyên môn của giáo viên

Từ bảng trên cho thấy phần lớn các giáo viên thường không chủ động nghiên cứu trước nội dung Sinh hoạt chuyên môn và không chủ động xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng chuyên môn cho mình với thứ bậc 5/5. Nguyên nhân có thể là do giáo viên chưa thấy được tầm quan trọng của việc tự bồi dưỡng chuyên môn và còn ỷ lại nhiều vào tổ trưởng chuyên môn.

2.3 Thực trạng quản hoạt động tổ chuyên môn các trường tiểu học quận Hoàng Mai, thành phố Nội

Để tìm hiểu thực trạng việc quản lý hoạt động chuyên môn một cách sâu sắc kỹ lưỡng hơn, chúng tôi đã tiến hành hỏi ý kiến 3 nhóm đối tượng gồm hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng; tổ trưởng chuyên môn và giáo viên của 19 trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội qua mẫu phiếu số 1 ở phần phụ lục. Sau đây là kết quả điều tra thực trạng:

2.3.1 Thực trạng sử dụng các phương pháp tâm lý – giáo dục trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn

Bảng 2.9. Mức độ sử dụng của các biện pháp tâm lý – giáo dục trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn.

Từ bảng trên cho thấy: Bầu không khí tâm lý có ý nghĩa vô cùng to lớn đến trạng thái sức khỏe, tinh thần, và năng suất lao động của từng cá nhân trong Tổ chuyên môn. Vì vậy quan tâm chăm lo xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh ở mỗi Tổ chuyên môn là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của tổ trưởng chuyên môn.

Nhìn chung tổ trưởng chuyên môn các trường đã xây dựng được bầu không khí dân chủ, tích cực, các thành viên Tổ chuyên môn có ý thức trách nhiệm, đoàn kết theo tinh thần hợp tác, chia sẻ và học hỏi. Tuy nhiên tỉ lệ ý kiến đánh giá các mức độ tốt, khá còn thấp và còn nhiều ý kiến đánh giá chưa đạt, đã phần nào cho thấy việc xây dựng bầu không khí làm việc ở các Tổ chuyên môn còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Qua tìm hiểu, một số Tổ chuyên môn chưa xây dựng cho các thành viên không khí làm việc tích cực, hợp tác, chia sẻ và học hỏi lẫn nhau, từ đó việc thực hiện các hoạt động Tổ chuyên môn chưa đạt hiệu quả cao, nhất là việc đổi mới Phương pháp dạy học bộ môn chưa triệt để, tay nghề không đồng đều, kết quả hoạt động dạy học giữa các thành viên trong Tổ chuyên môn có độ chênh lệch rõ nét về điểm trung bình.

Do đó giải quyết nhu cầu chính đáng của GV là mục tiêu liên kết các thành viên trong Tổ chuyên môn, là động lực phát triển hoạt động Tổ chuyên môn. Một trong những nhu cầu chính đáng của những nhân tố tích cực, GV có năng lực là được tạo điều kiện để thể hiện năng lực, được tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp. Những nhân tố tích cực thường có ảnh hưởng nhất định trong tập thể. Tổ trưởng chuyên môn biết cách vận dụng đặc điểm này trong việc phát triển lực lượng thế cận, tạo cơ hội thăng tiến cho nhà giáo trong từng Tổ chuyên môn thì sẽ xây dựng được bầu không khí làm việc tích cực trong mỗi Tổ chuyên môn.

Tâm trạng tập thể có tác động rất lớn đối với cá nhân và tập thể. Tâm trạng tích cực hay tiêu cực chẳng những có ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân mang tâm trạng mà còn ảnh hưởng đến hoạt động chung của tập thể. Làm việc trong tổ chức mà mọi người đều được quan tâm giúp đỡ khi gặp những khó khăn trở ngại về tinh thần và vật chất sẽ giúp cho người lao động có tâm trạng tích cực. Kịp thời giúp đỡ & hỗ trợ GV khi GV gặp khó khăn,trở ngại là một trong những biện pháp tâm lý cần thiết của tổ trưởng chuyên trong việc quản lý hoạt động Tổ chuyên môn. Nhìn chung tổ trưởng chuyên môn các trường đã vận dụng tốt biện pháp tâm lý này.

Biết kích thích GV trong Tổ chuyên môn nhận xét đánh giá, góp ý các vấn đề liên quan đến hoạt động Tổ chuyên môn, hoạt động giáo dục của trường qua đó phát huy khả năng làm việc, khả năng sáng tạo của GV, là một trong những biện pháp quyết định sự thành công trong công tác quản lý hoạt động Tổ chuyên môn. Sự thành công của biện pháp này phụ thuộc vào năng lực thuyết phục của tổ trưởng chuyên môn.

Khi khảo sát khả năng kích thích, thuyết phục GV đóng góp ý kiến, xây dựng hoạt động Tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn còn nhiều ý kiến đánh giá chưa đạt, cho thấy việc vận dụng năng lực giao tiếp để thu thập thông tin phục vụ cho công tác quản lý của tổ trưởng chuyên môn còn yếu. Điều này là hạn chế lớn trong công tác quản lý Tổ chuyên môn. Vì thông tin là đối tượng, là sản phẩm lao động của người tổ trưởng chuyên môn. Thông tin không đầy đủ thì khó phát hiện tình huống có vấn đề từ đó ra quyết định kịp thời đúng đắn, đồng thời sẽ không phát huy hết năng lực của từng cá nhân để tổng hợp sức mạnh của tập thể nâng cao chất lượng hoạt động Tổ chuyên môn. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Kiểm tra, đánh giá là khâu cơ bản của công tác quản lý, là một trong những yêu cầu khách quan tất yếu của tổ trưởng chuyên môn, nhờ đó mà loại bỏ những yếu tố tiêu cực, phát huy các nhân tố tích cực nhằm tạo ra sự cộng hưởng sức lao động.

Do đó mong muốn của mỗi giáo viên là được lãnh đạo biết, được lãnh đạo đánh giá đúng mức. Vì thế trong quản lý Tổ chuyên môn tổ trưởng chuyên môn cần phải kiểm tra, đánh giá hoạt động Tổ chuyên môn nói chung, hoạt động sư phạm của GV nói riêng một cách khách quan, công bằng. Khen thưởng chính là sự đánh giá tốt, là phương tiện giúp mỗi GV tự khẳng định mình trong tập thể. Nếu sự khen ngợi đúng đắn sẽ kích thích mỗi GV phấn khởi hoạt động và kích thích sự phấn đấu của những cá nhân khác theo cơ chế lây lan, đồng thời việc phê bình, kỷ luật tiến hành đúng, dân chủ, công khai cũng sẽ có tác dụng giáo dục mạnh mẽ. Vì thế trong quản lý Tổ chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn cần quan tâm phát động thi đua, khen thưởng và thi hành kỷ luật kịp thời, đúng lúc, dân chủ, công khai. Thực trạng các biện pháp trên đã được tổ trưởng chuyên môn vận dụng khá tốt, có nhiều ý kiến đánh giá từ mức độ khá trở lên.

2.3.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động và hồ sơ chuyên môn của tổ chuyên môn

Việc xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn và tạo lập hồ sơ chuyên môn là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của tổ trưởng chuyên môn. Nhiệm vụ này có thể được chia nhỏ thành nhiều nhiệm vụ con như: Xây dựng nội dung chỉ tiêu kế hoạch hoạt động của tổ từng tuần, từng tháng, cả năm; Phê duyệt kế hoạch của từng tổ viên; Kiểm tra biên bản sinh hoạt chuyên môn của tổ; Đánh giá nhận xét việc kiểm tra chéo của giáo viên theo kế hoạch; Tổng kết đánh giá việc thực hiện các tiết dạy chuyên đề; Đánh giá việc thực hiện kế hoạch học kì và cả năm học của giáo viên…

Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động và hồ sơ chuyên môn thể hiện ở Bảng 2.10.

  • Bảng 2.10. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động và hồ sơ chuyên môn của tổ chuyên môn

Kết quả khảo sát ở bảng 2.10 cho thấy: Công tác xây dựng kế hoạch hoạt động và hồ sơ chuyên môn của tổ chuyên môn được thực hiện tốt ( X có mức độ dao động từ 2,59 đến 2,84). Trong đó các tổ trưởng chuyên môn đã chú trọng biện pháp hướng dẫn xây dựng nội dung chỉ tiêu kế hoạch hoạt động của tổ từng tuần, từng tháng, cả năm đến các thành viên trong tổ ( X = 2,84).

Tuy nhiên kế hoạch hoạt động của tổ chưa được các thành viên trong tổ chuyên môn thảo luận và thống nhất trước khi trở thành văn bản chính thức. Đánh giá nhận xét việc kiểm tra chéo của giáo viên theo kế hoạch cũng chưa thật sự được chú trọng và quan tâm bằng với những hoạt động còn lại ( X = 2,60 và X = 2,59). Việc hướng dẫn kĩ năng về các bước xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn và rút kinh nghiệm, điều chỉnh, tổng kết thực hiện kế hoạch cũng cần được quan tâm hơn nữa. Điều này cũng phù hợp với thực tế vì tuy có hướng dẫn và phổ biến kỹ năng lập kế hoạch nhưng chất lượng kế hoạch lại phụ thuộc vào năng lực của tổ trưởng chuyên môn.

2.3.3 Thực trạng quản lý thực hiện chương trình dạy học của giáo viên trong tổ chuyên môn Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

  • Bảng 2.11. Thực trạng quản lý thực hiện chương trình dạy học của giáo viên trong tổ chuyên môn

Từ bảng 2.11 nêu trên, có thể thấy các biện pháp quản lý thực hiện chương trình dạy học của giáo viên ở tổ chuyên môn trong các nhà trường thu được kết quả khá tốt, phù hợp với công tác quản lý chuyên môn trong các trường tiểu học hiện nay.

Có 5 tiêu chí được đưa ra khảo sát, trong đó có 3 tiêu chí đạt điểm trung bình = 2,7 trở lên chứng minh việc chỉ đạo sát sao, có hiệu quả của tổ trưởng chuyên môn. Tuy nhiên sự chênh lệch quá lớn giữa tiêu chí xếp thứ bậc 1 có X = 2,87 “Thống nhất quy định ghi lịch báo giảng” với tiêu chí xếp thứ bậc 5 có X  = 2,42 “Kiểm tra việc thực hiện các tiết dạy môn học tự chọn của giáo viên” so với điểm trung bình chung phản ánh sự không đều tay trong thực hiện quản lý, tổ trưởng chuyên môn không quán xuyến hết được các tiết dạy môn học tự chọn của tổ năng khiếu.

Về thực trạng chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.12.

  • Bảng 2.12. Thực trạng chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong tổ chuyên môn

Bảng 2.12 thể hiện công tác chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh có khả quan hơn, kết quả khảo sát cho thấy các nhà trường quan tâm đến công tác này. Điều này thể hiện qua kết quả khảo sát có điểm bình quân = 2,73 trở lên. Các tổ chuyên môn đã quán triệt và chỉ đạo giáo viên trong tổ thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá, xếp loại học sinh mới do Bộ ban hành (TT30/2024), tiêu chí này xếp ở bậc 1/8, có điểm bình quân khá cao = 2,86; quan tâm chỉ đạo thường xuyên, định kì nghiêm túc, công tác kiểm tra đánh giá đã đạt hiệu quả, bước đầu có sự chuyển biến. Tuy nhiên, việc kiểm tra chéo sổ điểm cá nhân chưa được chú trọng (tiêu chí này xếp ở bậc 7/8, có điểm bình quân X = 2,56). Đặc biệt việc chỉ đạo giáo viên lập ngân hàng đề thi ngay từ đầu năm học còn chưa thật tốt (tiêu chí này có điểm bình quân = 2,48; xếp thứ bậc 8/8).

2.3.4. Thực trạng phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên

Phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên cũng là một nhiệm vụ quan trọng của tổ chuyên môn, vì thế là một nội dung quản lý hoạt động tổ chuyên môn đáng được quan tâm. Hoạt động phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên của tổ chuyên môn được chia ra thành 9 hoạt động nhỏ, thể hiện trong bảng 2.13.

  • Bảng 2.13. Thực trạng phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên

Từ bảng 2.13 nêu trên, căn cứ vào kết quả khảo sát thực trạng phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên, ta thấy các tổ chuyên môn chưa thực sự quan tâm tới công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Đây là vấn đề đang được các cấp Quản lý giáo dục quan tâm nhưng lại chưa được các tổ trưởng chuyên môn chủ động điều hành, quán xuyến trong tổ chuyên môn của mình. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Trong 7 tiêu chí đưa ra để khảo sát thì tiêu chí 9 “Động viên các giáo viên trong tổ tham gia các cuộc thi, trao đổi giao lưu học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy – chuyên môn thông qua các hội nghị và diễn đàn” được đánh giá cao nhất với điểm bình quân X = 2,85 xếp ở thứ bậc 1/7 và tiêu chí 8 “Chỉ đạo các thành viên trong tổ tăng cường công tác thao giảng, dự giờ để nâng cao năng lực nghề nghiệp” với điểm bình quân X = 2,83 xếp ở thứ bậc 2/7. Điều này cho thấy tổ trưởng chuyên môn mới chỉ quan tâm tới việc phát triển năng lực nghề nghiệp trong tổ qua các tiết dạy thao giảng, chuyên đề và các cuộc thi giáo viên giỏi tổ chức hàng năm. Các tiêu chí được xếp hạng thứ 9 là tiêu chí 7 “Theo dõi, kiểm tra đánh giá và rút kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ hàng năm”; xếp hạng thứ 8 là tiêu chí 5 “Phân công giáo viên các khâu của đợt học bồi dưỡng”; và xếp hạng thứ 7 là tiêu chí 1 “Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên trong tổ”. Thứ tự xếp hạng 9, 8, 7 cho 3 tiêu chí trên chưa cao X từ 2,43 đến 2,49. Đây là 3 tiêu chí giữ vị trí khá quan trọng trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên nhưng trên thực tế các tổ trưởng chuyên môn chưa đảm đương được tốt công việc này, công tác bồi dưỡng chuyên môn được tiến hành còn qua loa, chiếu lệ. Trên thực tế, việc khảo sát nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên trong tổ; phân công giáo viên các khâu của đợt học bồi dưỡng đều do BGH chỉ đạo. Kỹ năng tự học, tự bồi dưỡng, kỹ năng Nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế. Trong những năm qua, trên địa bàn huyện mới chỉ chú trọng vào công tác viết Sáng kiến kinh nghiệm còn các công trình, đề tài Nghiên cứu khoa học hầu như không có. Do đó, các cấp Quản lý giáo dục cần quan tâm và đầu tư thích đáng để công tác phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên đạt hiệu quả cao hơn.

2.3.5 Thực trạng tổ chức nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và viết sáng kiến kinh nghiệm ở tổ chuyên môn

  • Bảng 2.14. Thực trạng tổ chức nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và viết sáng kiến kinh nghiệm ở tổ chuyên môn

Kết quả điều tra bảng 2.14 cho thấy: Mức độ thực hiện các biện pháp chỉ đạo tổ chức Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và viết Sáng kiến kinh nghiệm ở tổ chuyên môn có độ dao động 2,3 < X < 2,7 điểm. Như vậy, nhìn chung hiệu quả của các biện pháp chỉ đạo tổ chức Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và viết Sáng kiến kinh nghiệm ở tổ chuyên môn ở mức khá. Điểm bình quân các biện pháp X = 2,5. Trong đó nội dung biện pháp 5 với X = 2,36 xếp bậc cuối cùng. Qua thực tế chúng tôi thấy việc lưu giữ và phổ biến các đề tài Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và Sáng kiến kinh nghiệm trong tổ chưa được quan tâm thực hiện. Điều này phản ánh việc nhân rộng, phổ biến các đề tài Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và Sáng kiến kinh nghiệm cần phải được chú trọng hơn nữa. Thực tế hầu hết các công trình này sau khi được hoàn thành vẫn chỉ đóng khung trong phạm vi của cá nhân mà chưa thực sự được phổ biến rộng rãi để rút kinh nghiệm và học hỏi.

2.4 Đánh giá công tác quản hoạt động tổ chuyên môn các trường tiểu học quận Hoàng Mai, thành phố Nội Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

  • Bảng 2.15. Đánh giá công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường tiểu học quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Bảng 2.15 cho thấy nhìn chung các tổ trưởng chuyên môn đã làm tốt công việc của mình. Trong đó, nội dung Xây dựng kế hoạch hoạt động và hồ sơ chuyên môn của tổ chuyên môn được thực hiện tốt nhất. Nội dung Tổ chức Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và viết Sáng kiến kinh nghiệm ở tổ chuyên môn được thực hiện kém nhất trong 4 nội dung. Điều này cũng phản ánh phần nào thực tế việc thực hiện tổ chức Nghiên cứu khoa học ở các nhà trường phổ thông hiện nay nhiều khi vẫn còn mang nặng tính hình thức và kém hiệu quả.

2.4.1. Ưu điểm

Qua điều tra thực trạng 19 trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội cho thấy việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn có những mặt tích cực sau:

Những năm qua giáo dục quận Hoàng Mai có lực lượng đội ngũ khá ổn định, trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn cao (100% giáo viên có trình độ chuẩn trở lên; tỉ lệ giáo viên đạt trình độ trên chuẩn chiếm 81,8%). Bên cạnh những cây đại thụ về chuyên môn thì số lượng giáo viên trẻ khá đông đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay. Cơ sở vật chất, trang thiết bị DH được mua sắm cấp phát, thay mới thường xuyên, đó cũng là những yếu tố tích cực tác động đến công tác quản lý của tổ trưởng chuyên môn.

Hoạt động chuyên môn trong các nhà trường luôn bám sát nội dung, chương trình của tất cả các môn học theo Sách giáo khoa và hướng dẫn của Bộ GD&ĐT.

Trong quá trình quản lý và chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn các tổ trưởng chuyên môn luôn bám sát mục tiêu của Đảng, nhà nước, của ngành và của địa phương. Nhận thức đúng đắn đường lối của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý nên các tổ trưởng chuyên môn đã có được một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn phù hợp mang lại hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Tổ trưởng chuyên môn đã xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn cụ thể, có chất lượng đi vào nề nếp hàng năm trước thềm năm học mới.

Vấn đề đổi mới Phương pháp dạy học được quan tâm chú trọng và chỉ đạo kịp thời nhất là việc dạy học lồng ghép giáo dục đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh và giáo dục kĩ năng sống, vấn đề dạy học bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng cũng được chỉ đạo kịp thời và có chất lượng.

Tổ trưởng chuyên môn đã chú trọng điều khiển các buổi Sinh hoạt chuyên môn có chất lượng thúc đẩy việc nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, tạo tư thế thoải mái, không mang nặng tính hình thức cũng không quá tạo sức ép và gò bó đối với giáo viên trong công tác dạy học.

Cơ bản các tổ chuyên môn đã phát huy tính tự giác trách nhiệm của các thành viên trong tổ thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn, hồ sơ giáo án đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, việc kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh cơ bản chính xác và đảm bảo tính công bằng. Nề nếp sinh hoạt tổ chuyên môn trong các nhà trường được cải thiện rõ rệt. Nội dung Sinh hoạt chuyên môn đã thực hiện rõ nét đặc thù của từng khối lớp với từng môn học cụ thể.

Các nhà trường đã có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức đoàn thể trong trường để chỉ đạo hoạt động chuyên môn.

2.4.2. Hạn chế

Để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn phải thấy được hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế. Qua thực tế nghiên cứu và điều tra chúng tôi nhận thấy những tồn tại cơ bản sau:

Vẫn còn những trường tổ chuyên môn chưa coi trọng thiết kế hình thức, nội dung sinh hoạt tổ một cách thiết thực và bổ ích cho công tác dạy và học, nên hình thức, nội dung sinh hoạt tổ còn nghèo nàn, nặng thủ tục hành chính. Nhất là cần tăng cường các nội dung mới trong sinh hoạt tổ chuyên môn như: Nội dung tăng cường tự học, học tập hợp tác và và sự tương tác giữa các học sinh trong học tập;

Đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh; Tự làm và sử dụng Đồ dùng dạy học có hiệu quả.

Việc lập kế hoạch sinh hoạt tổ chuyên môn chưa phát huy được hết vai trò, trí tuệ của mọi thành viên trong tổ. Bên cạnh đó còn một bộ phận giáo viên chưa thực sự tích cực chủ động đưa vấn đề trao đổi trong sinh hoạt tổ chuyên môn, nêu sáng kiến áp dụng Phương pháp dạy học mới, lồng ghép các chương trình hành động vào môn học chưa thường xuyên.

Việc theo dõi, kiểm tra đánh giá và rút kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ hàng năm, phân công giáo viên các khâu của đợt học bồi dưỡng và khảo sát nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên trong tổ chưa được các tổ trưởng quan tâm. Đây là các nội dung giữ vị trí khá quan trọng trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên nhưng trên thực tế các tổ trưởng chuyên môn còn ỷ lại nhiều vào BGH.

Việc thực hiện các giờ dạy theo chuyên đề và tổ chức cho giáo viên viết Sáng kiến kinh nghiệm được tiến hành thường xuyên trong các năm học song còn mang nặng tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu. Đặc biệt việc lưu giữ, phổ biến các đề tài Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và Sáng kiến kinh nghiệm trong tổ còn chưa được chú trọng và rất ít khi được thực hiện.

2.4.3. Nguyên nhân của những thành công và hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

Qua nghiên cứu thực tế với những kết quả điều tra, trao đổi phỏng vấn các tổ trưởng chuyên môn chúng tôi có thể nêu ra một số những nguyên nhân quyết định những thành công sau:

Sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT quận Hoàng Mai có những quy định cụ thể về hồ sơ quản lý tổ chuyên môn hàng năm. Trong năm học thanh tra, kiểm tra trực tiếp các tổ chuyên môn để nắm bắt thực tế.

Tổ trưởng chuyên môn hoàn thành nhiệm vụ là do họ được BGH nhà trường quan tâm, chỉ đạo, tạo điều kiện và tin tưởng. Đội ngũ tổ trưởng chuyên môn với tuổi đời còn khá trẻ, vững vàng về chuyên môn, tích cực chủ động sáng tạo trong công việc, nhạy bén với thời đại, biết tổ chức lực lượng, phát huy thế mạnh của các cá nhân.

Đội ngũ tổ trưởng chuyên môn luôn biết quan tâm xây dựng tốt các mối quan hệ chú trọng đến các mối quan hệ của các thành viên trong tổ và với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường bởi vậy tính sáng tạo trong tập thể được phát huy.

Đội ngũ tổ trưởng chuyên môn luôn biết quan tâm, động viên chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy đối với những giáo viên trẻ mới vào nghề, gần gũi hướng dẫn giáo viên có năng lực chuyên môn yếu.

Đội ngũ giáo viên đại đa số tự giác, có tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, yêu nghề, yêu người, yêu công việc, nắm chắc mục đích, ý nghĩa… của từng môn học. Bản thân người tổ trưởng chuyên môn luôn nỗ lực, vượt khó học hỏi để làm việc.

Để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn phải thấy được những nguyên nhân của những tồn tại nêu trên.

  • Qua thực tế nghiên cứu và điều tra chúng tôi nhận thấy những tồn tại cơ bản sau:

Tổ trưởng chuyên môn chưa được chú ý đúng mức về hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý tổ chuyên môn nên khả năng vận dụng khoa học quản lý trường học vào công tác quản lý tổ chuyên môn còn non yếu.

Một số tổ trưởng chuyên môn uy tín thấp, hiệu quả điều hành quản lý tổ chuyên môn chưa cao. Thời gian dành cho công việc quản lý tổ chuyên môn chưa nhiều, do tác động chủ quan và khách quan.

CSVC trang thiết bị dạy học một số trường còn thiếu thốn cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý tổ chuyên môn. Việc áp dụng CNTT trong quan và khách quan. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

CSVC trang thiết bị dạy học còn gặp khó khăn do một bộ phận giáo viên chậm thay đổi, không chịu khó học hỏi.

Trình độ giáo viên không đồng đều, một số giáo viên tính tự giác chưa cao. Còn một bộ phận giáo viên chưa thực sự nhiệt tình say mê với nghề nghiệp, việc áp dụng Phương pháp dạy học mới, lồng ghép các chương trình hành động vào môn học chưa thường xuyên.

Việc thực hiện các giờ dạy theo chuyên đề và tổ chức cho giáo viên viết Sáng kiến kinh nghiệm được tiến hành thường xuyên trong các năm học song còn mang nặng tính hình thức chưa đi vào chiều sâu.

Các nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý của tổ trưởng chuyên môn đã nêu trên là những vấn đề đặt ra cho việc tìm ra những biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường tiểu học quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo yêu cầu đổi mới giáo dục.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Qua việc nghiên cứu thực trạng Kinh tế-Xã hội và giáo dục quận Hoàng Mai, điều tra thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn các trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàng Mai chúng tôi có thể kết luận như sau:

Giáo dục quận Hoàng Mai đang phát triển mạnh mẽ dần dần đáp ứng được yêu cầu của địa phương và xu thế đổi mới giáo dục của đất nước. Tổ trưởng chuyên môn đã bước đầu phát huy vai trò trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn của mình.

Tuy nhiên trong quá trình quản lý tổ chuyên môn, người tổ trưởng còn bộc lộ những hạn chế như thiếu tính năng động, sáng tạo, tích cực đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn, chưa phát huy được tính tự chủ chuyên môn của giáo viên dẫn đến chưa tạo nên chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng. Mức độ thực hiện các nội dung quản lý còn cần phải được cải thiện.

Để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động chuyên môn trong giai đoạn hiện nay và cho tương lai, tổ trưởng chuyên môn các trường tiểu học quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội cần phải có những biện pháp tích cực, hiệu quả hơn khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Các kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn các trường tiểu học đã vừa làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận trình bày ở chương 1, lại vừa là căn cứ để xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tổ chuyên môn của tổ trưởng các trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàng Mai ở Chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537