Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường trung học cơ sở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, giáo dục Thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương
2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
- Điều kiện tự nhiên
Thị xã Bến Cát nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, trung tâm thị xã cách thành phố Thủ Dầu Một 20km, cách TP. Hồ Chí Minh khoảng 50km, có Đại lộ Bình Dương đi qua với bề rộng mặt đường 6 làn xe mới được nâng cấp. Trên địa bàn thị xã có trữ lượng lớn khoáng sản phi kim loại như cao lanh, đất sét, đất làm gạch ngói, sỏi đỏ; nguồn nước mặt và nước ngầm phong phú với 2 con sông Sài Gòn và sông Thị Tính chảy qua địa bàn thị; thời tiết quanh năm mưa thuận gió hòa. Hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ phát triển nối liền các tỉnh trong vùng và thành phố Hồ Chí Minh. Bến Cát còn có tiềm năng lớn về đất đai để phát triển trồng trọt các loại cây công nghiệp, cây ăn trái và quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, là tiền đề thuận lợi để phát triển sản xuất công nghiệp.
- Diện tích tự nhiên: 23.442,24 ha
- Dân số: 222.878 người (2024). Trong đó dân nhập cư 127.824 người (số liệu từ Phòng thống kê thị xã Bến Cát)
- Có 8 đơn vị hành chính, gồm:
- 3 xã: An Tây, An Điền, Phú An.
- 5 phường: Mỹ Phước,Thới Hòa, Hòa Lợi, Tân Định, Chánh Phú Hòa.
Phía bắc thị xã Bến Cát giáp với huyện Bàu Bàng. Phía tây thị xã Bến Cát là huyện Dầu Tiếng. Phía đông thị xã Bến Cát là huyện Tân Uyên và huyện Phú Giáo. Phía nam thị xã Bến Cát giáp thành phố Thủ Dầu Một và huyện Củ Chi (TP.HCM).
- Về điều kiện kinh tế Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Năm 2024, kinh tế xã hội của Bến Cát tiếp tục phát triển ổn định, hiệu quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao 25,8%. Kết quả này đã tạo tiền đề thuận lợi cho mục tiêu phấn đấu hòan thành và vượt mức chỉ tiêu phát triển KTXH năm 2025 và các năm tiếp theo trong giai đọan 2024-2028:
Năm 2024, tổng giá trị sản xuất đạt hơn 82.000 tỷ đồng, tăng 19,7% so với năm 2023, vượt chỉ tiêu kế họach đề ra; trong đó, công nghiệp tăng 17,5%, dịch vụ tăng 32,8%, nông nghiệp tăng 5,4%. Hoạt động hiệu quả của các lĩnh vực đã góp phần thu ngân sách địa phương tăng 10% so với năm 2023. Thu nhập bình quân đầu người ở địa phương đạt gần 74 triệu đồng.
Lĩnh vực văn hóa xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực. Bến Cát đã đầu tư xây mới một số trường học. Chủ trương xã hội hóa giáo dục y tế được mở rộng, góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng và nhu cầu khám chữa bệnh trong nhân dân. Công tác chính sách xã hội được thực hiện tốt, đời sống vật chất tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Hiện nay Phú An được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. 2 xã An Tây, An Điền đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới đạt 19/19 tiêu chí.
Sau những thành công mô hình kinh tế KCN ở phía Nam, từ năm 2001, tỉnh Bình Dương có chủ trương đưa công nghiệp về vùng nông thôn phía bắc, khởi đầu là hình thành KCN Mỹ Phước. Như vậy mặc dù phát triển công nghiệp sau, nhưng Bến Cát đã vượt lên và trở thành địa điểm rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, và cũng trở thành địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Đến nay, cơ cấu kinh tế của Bến Cát là: Công nghiệp chiếm 82,3%, thương mại dịch vụ 17,12%, nông nghiệp chỉ còn 0,57%. Trong năm 2024, thị xã Bến Cát đã thu hút được 572 dự án đầu tư trong và ngoài nước, nâng tổng số dự án đầu tư trên địa bàn lên hơn 2.400 dự án, trong đó, đầu tư nước ngoài có 517 dự án với tổng số vốn 5,7 tỷ USD. Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng doanh nghiệp chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động là các giải pháp được Bến Cát thực hiện trong thời gian tới, thúc đẩy sự phát triển KTXH ở địa phương.
Trên cơ sở những kết quả đạt được trong năm qua, Bến Cát quyết tâm hoàn thành và thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ đề ra trong năm 2025, tạo thuận lợi cho các năm tiếp theo, đóng góp vào sự phát triển toàn diện nền KTXH của tỉnh Bình Dương.
2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
- Khái quát chung Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Bến Cát có vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế ở miền Đông Nam bộ. Đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Thủ Dầu Một – Bình Dương với truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ đã làm nên những chiến công vang dội, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
Sau ngày giải phóng, phát huy truyền thống yêu nước với tinh thần lao động cần cù sáng tạo, đã đạt được những thành tựu vượt bậc về kinh tế – xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá địa phương và đất nước.
Trong suốt quá trình phát triển, nhiều thế hệ nhà giáo yêu nước cách mạng đã trực tiếp tham gia hai cuộc kháng chiến và xây dựng phát triển ngành giáo dục ở vùng căn cứ, vùng kháng chiến, vùng giải phóng hoặc tham gia phong trào yêu nước của giáo chức, sinh viên học sinh ở vùng tạm chiếm. Nhiều nhà giáo đã anh dũng hi sinh, một số trở thành Đảng viên Cộng sản ưu tú, giữ các chức vụ lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương.
Phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng của các thế hệ nhà giáo đi trước, từ sau ngày giải phóng đến nay và nhất là sau khi tỉnh Bình Dương được tái lập, ngành giáo dục và đào tạo Sông Bé – Bình Dương đã có bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu nhiều mặt, góp phần đào tạo thế hệ trẻ, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và đất nước.
Năm học 2024-2025 là năm học thứ hai triển khai,thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2023-2028, là năm thứ ba thực hiện chương trình hành động số 81-CTHĐ- TU ngày 03/04/2022 của Tỉnh ủy Bình Dương thực hiện nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2021 của Ban chấp hành Trung ương lần thứ VIII (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện gáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh kế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Toàn ngành phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học, xây dựng và triển khai kế hoạch hành động và giải pháp để chủ động thực hiện có hiệu quả chương trình hành động của Đảng bộ tỉnh về phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Nhiệm vụ năm học đã được ngành vạch ra và mỗi đơn vị trường học có biện pháp thực hiện tùy theo đặc điểm ở mỗi trường. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, sự phát triển kinh tế- xã hội của thị, ngành Giáo dục thị xã Bến Cát có những bước đột phá, phát triển toàn diện trên tất cả các mặt quy mô, chất lượng và hiệu quả.
Từ năm học 2021-2022 đến năm học 2024-2025. Ngành giáo dục thị xã Bến Cát đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từng năm học. Toàn ngành đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi đều khắp, phát huy nội lực của từng nhà trường, tập hợp được sức mạnh của tập thể, đảm bảo dân chủ trong trường học, từng bước xây dựng xã hội hoá giáo dục. Do đó, các chỉ tiêu đều triển khai thực hiện đạt kết quả tốt so với kế hoạch đề ra. Tỷ lệ học sinh huy động ngày càng cao, chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh không ngừng được nâng lên, chất lượng đội ngũ của giáo viên được bảo đảm về năng lực và phẩm chất.
Toàn ngành đã quán triệt nghiêm túc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước, các chủ trương lớn của ngành giáo dục, sự nghiệp giáo dục được phát triển theo hướng vững chắc. Mạng lưới trường lớp được huy hoạch phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, chất lượng giáo dục chuyển biến đáng kể phục vụ cho mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi tiến tới hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào cuối năm 2015.
Mặc dù gặp không ít khó khăn nhưng toàn ngành vẫn triển khai và thực hiện có hiệu quả chương trình đổi mới giáo dục phổ thông và chương trình sách giáo khoa mới. Chú trọng đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, xây dựng đội ngũ. Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục có hiệu quả giúp ngành thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong từng năm học.
- Bên cạnh một số thành công trên, ngành giáo dục thị xã Bến Cát còn một số tồn tại cần khắc phục đó là:
Tỷ lệ huy động hàng năm trẻ vào nhà trẻ, mẫu giáo chưa cao. Tỷ lệ học sinh lưu ban bình quân hàng năm 1,2% đến 1,5 %, tỷ lệ học sinh bậc THCS bỏ học hàng năm trong toàn thị còn cao, chiếm tỉ lệ 2,5%.
Tuy đội ngũ giáo viên đã được chuẩn hoá, nhưng một bộ phận giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế. Chất lượng giáo dục toàn diện được chú trọng, tình trạng học sinh bỏ học trong hè, trong năm có giảm nhưng vẫn còn cao. Phổ cập giáo dục THCS ngoài nhà trường đạt hiệu quả thấp, xã hội hoá giáo dục chuyển biến chưa đều.
Công tác quản lý từ phòng giáo dục đến trường được tăng cường nhưng năng lực quản lý của cán bộ, hiệu trưởng các trường còn bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục địa phương, hiệu quả đào tạo và chất lượng giáo dục ở các trường chưa đồng đều.
- Quy mô, cơ cấu các trường THCS thị xã Bến Cát, [30]
Bảng 2.1. Quy mô, cơ cấu các trường THCS thị xã Bến Cát
- Chất lượng đào tạo THCS
Về giáo dục trung học cơ sở ở thị xã Bến Cát nhìn chung trong 3 năm gần đây đều phát triển theo chiều hướng tích cực, số học sinh tốt nghiệp THCS bình quân đạt 98%, số HS đậu vào các trường THPT đạt từ 74 đến 79 % .[30]
2.2. Thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Để tiến hành nghiên cứu thực trạng hoạt động tổ chuyên môn các trường THCS thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương chúng tôi đã lựa chọn đối tượng nghiên cứu và cách thức xử lý số liệu như sau:
Bảng 2.2. Mẫu kháo sát
- Về cách thức xử lý số liệu
Với thang đo Likert 5 mức độ: 5 = rất tốt ; 4 = Tốt; 3 = Khá; 2 = trung bình; 1 = Yếu. chúng tôi tính điểm trung bình đối với các chỉ báo liên quan đến: hệ thống phẩm chất, hệ thống năng lực. Ngoài ra, ở nội dung kết quả thực hiện về: Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của tổ chuyên môn nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, quản lý hoạt động tổ chuyên môn; kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn và Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động của tổ chuyên môn. Theo đó, Ý nghĩa của giá trị trung bình mỗi chỉ báo được xác định nhờ vào bước nhảy (L) và quy ước của thang đo 5 điểm, cụ thể:
- Như vậy, nếu gọi 𝑦̅ là điểm trung bình thì:
1,00 ≤ 𝑦̅ ≤1,80: 𝑦̅ thuộc mức 1 (Yếu) 1,80< 𝑦̅ ≤2,60: 𝑦̅ thuộc mức 2 (trung bình) 2,60< 𝑦̅ ≤3,40: 𝑦̅ thuộc mức 3 (Khá) 3,40< 𝑦̅ ≤4,20: 𝑦̅ thuộc mức 4 (Tốt) 4,20< 𝑦̅ ≤5,00: 𝑦̅ thuộc mức 5 (rất tốt)
Tương tự ở lập luận trên, đối với thang đo 4 mức độ bao gồm: 1 = không thường xuyên; 2= thường xuyên; 3 = khá thường xuyên; 4 = rất thường xuyên. Chúng tôi cũng tính điểm trung bình đối với các chỉ báo liên quan đến thực hiện về: Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của tổ chuyên môn nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, quản lý hoạt động tổ chuyên môn; kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn và Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động của tổ chuyên môn.
Theo đó, Ý nghĩa của giá trị trung bình mỗi chỉ báo được xác định nhờ vào bước nhảy (L) và quy ước của thang đo 4 điểm, cụ thể:
Theo đó, nếu gọi 𝑦̅ là điểm trung bình thì: 1,00 ≤ 𝑦̅ ≤1,75: 𝑦̅ thuộc mức 1 (không thường xuyên) 1,75< 𝑦̅ ≤2,50: 𝑦̅ thuộc mức 2 (Thỉnh thoảng) 2,50< 𝑦̅ ≤3,25: 𝑦̅ thuộc mức 3 ( thường xuyên) 3,25< 𝑦̅ ≤4,0: 𝑦̅ thuộc mức 4 (Rất thường xuyên)
2.2.1. Thực trạng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn các trường THCS thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Để tìm hiểu phẩm chất cũng như năng lực TTCM chúng tôi đã khảo sát và kết quả có được thông qua bảng sau:
- Hệ thống phẩm chất
Bảng 2.3. Thực trạng chất lượng đội ngũ TTCM các trường THCS
- Hệ thống năng lực
Bảng 2.4.Thực trạng năng lực đội ngũ TTCM các trường THCS
Kết quả bảng 2.3. cho thấy phẩm chất của TTCM các trường THCS trong thị xã Bến Cát thể hiện rõ nhất là: “Yêu nước, chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tham gia các hoạt động chính trị- xã hội, thực hiện nghĩa vụ công dân” và “Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học, chấp hành luật giáo dục; điều lệ , quy chế, quy định của ngành” có cùng chỉ số TB = 4,81 đứng hàng thứ nhất, sau đó là “Có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự uy tín của nhà giáo, sống trung thực, lành mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh” và“Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinh khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt” có cùng chỉ số TB= 4,79 đứng thứ 2.
Tuy nhiên phẩm chất mà TTCM chưa được đánh giá cao như: “Luôn tìm tòi,học hỏi,sáng tạo để đem lại hiệu quả cao nhất trong công tác” TB = 4,58 đứng thứ 10 ,sau đó “Có khả năng động viên, khích lệ giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ, được tập thể giáo viên, cán bộ, nhân viên tín nhiệm” và “Có cách thức giao tiếp,ứng xử đúng mực và có hiệu quả” có cùng TB=4,68
Về năng lực TTCM thì được đánh giá cao như “Có trình độ hiểu biết, vững vàng về chuyên môn” TB=4,67 đứng vị trí đầu tiên, sau đó là năng lực “Kiểm tra,đánh giá kết quả học tập của học sinh bảo đảm yêu yêu cầu chính xác,toàn diện, công bằng khách quan, công khai, sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học” TB= 4,65. Tuy nhiên vẫn còn có điều hạn chế như “Có năng lực tổng kết kinh nghiệm,nghiên cứu khoa học” TB=4,4, và “phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục” TB=4,47.
Như vậy TTCM phải luôn là người có đủ uy tín và năng lực chuyên môn. biết tôn trọng, lắng nghe ý kiến tổ viên tuy nhiên nguyên nhân hạn chế một phần do nhiều TTCM chưa được bồi dưỡng qua các lớp đào tạo quản lý ngành một cách chính qui, bài bản. Mặt khác do một số TTCM chưa thật sự tập trung quản lý công tác chuyên môn dạy và học. Vì vậy ngoài thâm niên giảng dạy, TTCM phải thực sự có năng lực, hiểu và vận dụng linh hoạt được các yêu cầu đặt ra của chuyên ngành, cập nhật được các thông tin mới, hướng dẫn, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch có hiệu quả
Người tổ trưởng phải có năng lực quản lý, năng lực giao tiếp nhằm thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường để củng cố và phát huy thế mạnh của tổ. Qua khảo sát, chúng tôi nhận được sự đồng tình cao của cán bộ quản lý, TTCM, GV đối với các nội dung tiêu chuẩn về năng lực cá nhân.
2.2.2. Thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương
- Thời gian sinh hoạt của tổ chuyên môn các trường THCS
Sinh hoạt tổ chuyên môn là một biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giảng dạy. Để tìm hiểu điều này chúng tôi khảo sát và thu được kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
- Bảng 2.5. Thời gian sinh hoạt của tổ chuyên môn các trường THCS
Kết quả khảo sát cho thấy thời gian sinh hoạt TCM thường là 2 lần/tháng, chiếm 90.9 % được thực hiện theo định kì quy định trong Điều lệ trường THCS (2 tuần/lần), tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn có họp đột xuất. Sinh hoạt TCM là một hoạt động chuyên môn không thể thiếu trong hoạt động của nhà trường; là dịp để trao đổi chuyên môn góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Thông qua sinh hoạt TCM sẽ xuất hiện nhiều ý tưởng đồng thời nhằm giúp HT triển khai kế hoạch, kiểm tra tiến độ và kết quả thực hiện kế hoạch của các tổ chuyên môn. Trên cơ sở đó, kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, sắp xếp nhân lực hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ. Do vậy TTCM cần tạo điều kiện để giáo viên nói lên ý tưởng, kinh nghiệm của mình. Đồng thời thông qua sinh hoạt chuyên môn để thảo luận, đánh giá, thống nhất định hướng nội dung, phương pháp giảng dạy các bài học, có thể góp ý các tiết dạy dự giờ thao giảng đồng nghiệp để học hỏi lẫn nhau, rút kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề.
- Thực trạng nội dung hoạt động của tổ chuyên môn các trường THCS thị xã Bến Cát,tỉnh Bình Dương.
Để tìm hiểu nội dung hoạt động tổ chuyên môn chúng tôi đã điều tra và có kết quả như sau:
- Bảng 2.6. Thực trạng nội dung hoạt động của TCM các trường THCS
Kết quả khảo sát cho thấy nội dung sinh hoạt TCM các trường THCS rất phong phú thể hiện:
Những nội dung sinh hoạt TCM được thực hiện thường xuyên gồm:
- Ký duyệt giáo án của giáo viên, TB = 3,7
- Thảo luận,đánh giá tiết thao giảng của giáo viên trong tổ,TB = 3,6
- Phân công thao giảng, dự giờ giáo viên, TB = 3,59
- Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ, TB = 3,59
- Biện pháp nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp của giáo viến, TB = 3,58
Nhóm nội dung hoạt động TCM còn thấp so với trung bình chung như:
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ TB = 3,32
- Sinh hoạt chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học phù hợp đặc thù bộ môn TB = 3,37
- Thảo luận, giải quyết các vấn đề phát sinh ngoài chuyên môn, TB = 3,37.
- Thảo luận và thống nhất về các vấn đề liên quan đến bộ môn phát sinh trong quá trình dạy học phù hợp đặc thù bộ môn,TB = 3,43. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Tuy nhiên vẫn còn nội dung có kết quả thực hiện chưa cao như: “Đánh giá,xếp loại giáo viên,đề xuất khen thưởng,kỉ luật giáo viên” ,TB = 3,48.
Từ kết quả trên, chúng tôi nhận thấy các tổ chuyên môn ở các trường đã thực hiện 05 loại hoạt động chủ yếu, cơ bản như sau:
- Thực hiện kế hoạch giảng dạy đồng bộ theo phân phối chương trình; các hoạt động ngoại khóa nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Tổ chức các hoạt động sư phạm: dự giờ, thăm lớp, thao giảng, hội giảng; thảo luận thống nhất mục đích yêu cầu từng tiết dạy, từng chương; đổi mới phương pháp giảng dạy; sử dụng đồ dùng dạy học, hướng dẫn học sinh thực hành làm thí nghiệm…
- Tổ chức cho giáo viên học tập và thảo luận theo các chuyên đề: Những điểm mới, những điểm chưa hợp lý về nội dung sách giáo khoa mới; sử dụng và phát huy hết hiệu quả của việc sử dụng các trang thiết bị giảng dạy; đổi mới cách kiểm tra và đánh giá học sinh; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
- Bồi dưỡng giáo viên thông qua các hoạt động của tổ chuyên môn.
- Quản lý việc giảng dạy của các thành viên trong tổ, nhận xét đánh giá thực hiện nhiệm vụ và kết quả giảng dạy của giáo viên.
Qua phân tích ở trên có nhận xét rằng: các tổ trưởng tổ chuyên môn có nhiều cố gắng trong việc điều hành hoạt động chung của tổ chuyên môn ở trạng thái ổn định, có kế hoạch triển khai nhiệm vụ chuyên môn đến các giáo viên; năng nổ nhiệt tình và có nhiều đóng góp cho giáo viên trên lĩnh vực chuyên môn để thực hiện tốt kế hoạch của nhà trường đề ra, cụ thể các tổ trưởng đã thực hiện thường xuyên và có hiệu quả các nội dung công việc như: Bàn biện pháp nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp của giáo viên, triển khai các quy định liên quan đến thực hiện chuyên môn, thảo luận đánh giá tiết thao giảng của giáo viên trong tổ. Tuy nhiên cũng còn một số nội dung hoạt động của tổ chuyên môn mà tổ trưởng chưa chú trọng thực hiện thường xuyên, chẳng hạn: kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên, tổ chức thảo luận về đổi mới phương pháp dạy học hoặc các vấn đề phát sinh trong chuyên môn, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ. Từ đó, trong tổ chức thực hiện các hoạt động, đa số giáo viên trẻ ít có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu những điểm mới trong nội dung, chương trình sách giáo khoa mới, đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng trang thiết bị dạy học còn lúng túng….Vì vậy, các tổ chuyên môn thực hiện các kế hoạch của tổ và các kế hoạch của hiệu trưởng đã triển khai đạt chỉ tiêu còn hạn chế.
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
2.3.1. Công tác quy hoạch, bổ nhiệm TTCM ở các trường THCS
- Bảng 2.7. Thực trạng quy hoạch, bổ nhiệm TTCM ở các trường THCS
Kết quả khảo sát bảng cho thấy đa số các trường đều bổ nhiệm TTCM bằng hình thức “Hiệu trưởng chỉ định, ra quyết định”chiếm 51,0% đứng hàng thứ nhất, sau đó là hình thức “ BGH thống nhất,trưng cầu ý kiến của tổ chuyên môn, hiệu trưởng ra quyết định” chiếm 24,2%,đứng hàng thứ hai. Như vậy việc bổ nhiệm TTCM của các trường đa số do hiệu trưởng chỉ định,ra quyết định, TTCM được bổ nhiệm cũng có dựa trên sự tín nhiệm của giáo viên, tổ chuyên môn trong trường và cả sự tin tưởng của BGH nhà trường.
Ngoài ra, qua quan sát hồ sơ và phỏng vấn cán bộ quản lý, nghiên cứu thấy ở các trường được khảo sát có điểm chung về công tác quy hoạch, bổ nhiệm tổ trưởng chuyên môn theo quy trình như sau:
Trước khi kết thúc năm học, hiệu trưởng yêu cầu các tổ chuyên môn tổ chức đề cử và lấy phiếu tín nhiệm đội ngũ kế cận tổ trưởng, tổ phó với các tiêu chí về phẩm chất, năng lực, chuyên môn được đưa ra từ thông tư 30 về đánh giá chuẩn giáo viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Cuộc họp này do hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng điều hành.
Đầu năm học mới hiệu trưởng xem danh sách tổ trưởng, tổ phó từ nguồn giáo viên giữ chức vụ năm trước và đội ngũ kế cận, sau đó hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm.
2.3.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của tổ chuyên môn các trường THCS thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của tổ chuyên môn rất quan trọng trong trường THCS, việc thực hiện bồi dưỡng, đào tạo là yếu tố để nâng cao năng lực, chuyên môn cũng như trình độ của giáo viên là một điểm để nâng cao chất lượng dạy và học. Để tìm hiểu điều này chúng tôi đã khảo sát và thu được kết quả sau:
- Bảng 2.8. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của TCM các trường THCS
Kết quả khảo sát cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên của tổ chuyên môn có mức độ thực hiện thường xuyên ở các nội dung như “Tạo điều kiện để GV thực hiện tự bồi dưỡng; tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn” và “Hiệu trưởng là tấm gương về sự tự học, là người học dẫn đầu” có cùng chỉ số TB= 3,66 sau đó là “Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo hàng năm” TB= 3,6. Tuy nhiên còn hạn chế ở một số nội dung so với trung bình chung như “Tạo ra môi trường học tập để mọi người cùng nhau học tập một cách chủ động và sáng tạo” TB = 3,52, sau đó “Khuyến khích từng giáo viên lập kế hoạch học tập và tự bồi dưỡng” và “Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ kế cận quản lý tổ chuyên môn” có cùng TB= 3,55
Ở kết quả thực hiện thì những nội dung thực hiện tốt như “tạo điều kiện để giáo viên thực hiện tự bồi dưỡng; tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn”, “có các biện pháp động viên, khuyến khích và hỗ trợ khi cần thiết để kế hoạch được thực hiện chất lượng và hiệu quả”, “Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo hàng năm”. Những nội dung được đánh giá hiệu quả thực hiện thấp như “Tạo ra môi trường học tập để mọi người cùng nhau học tập một cách chủ động và sáng tạo” và “Khuyến khích từng giáo viên lập kế hoạch học tập và tự bồi dưỡng”, “Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ kế cận quản lý tổ chuyên môn”
Nguyên nhân của hạn chế trên có thể thấy một số TTCM chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng giáo viên, chưa thường xuyên tổ chức cho tập thể sư phạm quán triệt yêu cầu về công tác này. Đồng thời hiệu trưởng chưa chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên tại đơn vị thông qua các hoạt động của tổ chuyên môn. Các giáo viên chưa nhận thức về công tác tự bồi dưỡng và bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu mới của giai đoạn toàn ngành giáo dục thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới nội dung chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa mới hiện nay.
2.3.3. Công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn các trường THCS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Quản lý hoạt động tổ chuyên môn các trường THCS là việc hết sức quan trọng, thông qua đó Hiệu trưởng có thể nắm bắt được tình hình hoạt động của tổ chuyên môn đồng thời thông qua có những điều chỉnh thích hợp. Để tìm hiểu điều này chúng tôi khảo sát và đạt được kết quả sau:
Bảng 2.9. Quản lý của hiệu trưởng về hoạt động của tổ chuyên môn các trường THCS
Kết quả thống kê ở bảng 2.8 cho thấy:
- Về mức độ thực hiện:
Ở mức độ thực hiện thì nội dung thực hiện thường xuyên nhất là “Quản lý việc tổ chuyên môn xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học” TB = 3,71, “Quản lý việc tổ chuyên môn hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ” TB= 3,68, “Quản lý việc tổ chuyên môn thực hiện nề nếp sinh hoạt, họp theo quy định”TB = 3,65. Mức độ về kết quả thực hiện tốt là ở nội dung “Quản lý việc tổ chuyên môn xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học” và “Quản lý việc tổ chuyên môn hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ” cùng chỉ số TB= 4,64, sau đó là “Quản lý việc tổ chuyên môn thực hiện nề nếp sinh hoạt, họp theo quy định” TB = 4,62. Tuy nhiên vẫn còn có nội dung thực hiện còn thấp so với trung bình chung như “Quản lý việc tổ chuyên môn tổ chức công tác bồi dưỡng GV thông qua các hoạt động của tổ chuyên môn”, “Quản lý việc tổ chuyên môn tổ chức hoạt động các thành viên trong tổ, nhận xét đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và kết quả giảng dạy của giáo viên” và “Quản lý việc tổ chuyên môn tham gia đánh giá và xếp loại giáo viên trong tổ (theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên và các quy định hiện hành)”.
- Về hiệu quả thực hiện:
Hầu hết các nội dung quản lý hoạt động tổ chuyên môn đạt hiệu quả khá tốt, các nội dung qua khảo sát cho thấy ĐTB > 4,20
Như vậy các hoạt động quản lý nêu trên của hiệu trưởng đối với các tổ chuyên môn là phù hợp với yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy- giáo dục trong nhà trường hiện nay và kiểm soát chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo. Hiệu trưởng các trường đã xây dựng được các mục tiêu quản lý hoạt động của các tổ chuyên môn. Từ đó định hướng được những hoạt động quản lý thiết thực, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động theo kế hoạch của nhà trường đã đề ra, hiệu quả thực hiện khá tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Tuy các hiệu trưởng đề ra được những hoạt động quản lý tổ chuyên môn phù hợp nhưng việc tổ chức quản lý hoạt động ở một số nội dung chưa thường xuyên từ đó dẫn đến hoạt động của tổ chuyên môn còn nhiều bất cập. Nguyên nhân của hạn chế là do năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý tổ chuyên môn của hiệu trưởng còn nhiều hạn chế, hiệu quả quản lý hoạt động tổ chuyên môn chưa cao.
2.3.4. Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa tổ chuyên môn và các lực lượng giáo dục khác trong các trường THCS
- Bảng 2.10. Quản lý sự phối hợp giữa các TCM và các lực lượng giáo dục khác
Tổ chuyên môn là cầu nối giữa Hiệu trưởng và giáo viên trong tổ về thông tin 2 chiều nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục. Hiệu trưởng có thông tin để đánh giá chính xác giáo viên, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của họ từ đó phân công giáo viên hợp lý, đạt hiệu quả tốt; chuyển tải cho giáo viên trong tổ các chỉ đạo chuyên môn của Hiệu trưởng và cơ quan quản lý cấp trên.
Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy: mức độ thực hiện rất thường xuyên và có hiệu quả rất tốt về quản lý sự phối hợp là: “Hiệu trưởng chỉ đạo việc phối hợp giữa GVBM với GVCN”, “TTCM là cầu nối giữa Hiệu trưởng và giáo viên trong tổ về thông tin 2 chiều”,có cùng chỉ số TB = 3,69, “TTCM tổ chức thực hiện chỉ đạo chuyên môn của Hiệu trưởng về các hoạt động dạy học, giáo dục”,TB = 3,68. Như vậy Hiệu trưởng đã có sự thực hiện quản lý về các hoạt động dạy học, giáo dục: Thực hiện kế hoạch, chương trình giáo dục, chuẩn kiến thức kĩ năng, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá… qua các hoạt động cụ thể như bồi dưỡng giáo viên, học sinh, dự giờ, thăm lớp… Chúng ta có thể thấy sự phối hợp giữa tổ chuyên môn với các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường là nhịp nhàng và đồng bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ của nhà trường nói chung và thực hiện nhiệm vụ của từng bộ phận nói riêng. Qua sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ giữa tổ chuyên môn với các lực lượng giáo dục khác sẽ giúp cho hiệu trưởng đánh giá phân tích lại cán bộ giáo viên tổ chuyên môn một cách chính xác khách quan để từ đó bố trí, sắp xếp công việc, giao kế hoạch rõ ràng, hợp lí trong hoạt động chung của nhà trường, hỗ trợ các điều kiện để tổ chuyên môn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Ngược lại các tổ chuyên môn bằng các hình thức dự giờ, thăm lớp, sinh hoạt tổ chuyên môn dần hình thành mối quan hệ công việc tốt đẹp giữa các đồng nghiệp trên tinh thần trách nhiệm, thân ái, đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau vì nhiệm vụ chung. Các thành viên trong tổ chuyên môn cũng là giáo viên chủ nhiệm, do vậy từ mối quan hệ này sẽ giúp cho các thành viên trong tổ vừa trao đổi về chuyên môn, vừa trao đổi về việc học tập và quản lí học sinh. Những việc này đóng góp phần quan trọng tới kết quả học tập của học sinh và chất lượng giáo dục chung của nhà trường, giúp cho tổ chuyên môn hoàn thành nhiệm vụ được giao. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Tuy nhiên các nội dung “Chỉ đạo các tổ chuyên môn hỗ trợ hoạt động của Công đoàn, Đoàn Thanh niên”, “ Hiệu trưởng chỉ đạo sự phối hợp giữa các tổ chuyên môn trong giảng dạy, kiểm tra chéo chuyên môn, đánh giá chất lượng học tập của học sinh và hoạt động thống nhất theo các quy định ban hành”, “ Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra sự phối hợp hoạt động giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường”, có cùng chỉ số TB = 3,6; được đánh gia ở mức thấp so với trung bình chung. Trong Tổ chuyên môn có các thành viên là đảng viên sẽ góp phần truyền đạt chủ trương, nghị quyết của Chi bộ Đảng đến Tổ chuyên môn kịp thời, chính xác hơn. Các tổ viên là đảng viên sẽ gương mẫu, thúc đẩy các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ tốt hơn. Tăng cường công tác bồi dưỡng các đoàn viên ưu tú giới thiệu cho Đảng kết nạp, đây là lực lượng nòng cốt tạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác điều hành, quản lý, phổ biến các nghị quyết của Chi bộ. Tổ chuyên môn cũng hỗ trợ hoạt động của Công đoàn, Đoàn Thanh niên bằng cách truyền đạt các chủ trương của các đoàn thể này để phối hợp chặt chẽ và từ đó góp phần giáo dục toàn diện học sinh, thực hiện kế hoạch nhà trường và thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra vì Tổ chuyên môn không thể hoạt động độc lập mà có quan hệ chặt chẽ với các Tổ chuyên môn khác, với Ban Giám hiệu nhà trường, với Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Các mối quan hệ trên nếu được thực hiện tốt, chặt chẽ, đồng bộ thì chắc chắn hoạt động của Tổ chuyên môn sẽ đạt hiệu quả tốt hơn.
Như vậy việc xây dựng mối quan hệ giữa tổ chuyên môn với đoàn thể tổ chức trong nhà trường là việc làm quan trọng. Hình thành các mối quan hệ của tổ chuyên môn với các tổ chức nhà trường tốt đẹp thì hoạt động của tổ chuyên môn sẽ có hiệu quả hơn.
2.3.5. Thực trạng công tác kiểm tra hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương
Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn rất quan trọng. Qua kiểm tra người quản lý sẽ có cái nhìn toàn diện và định hướng nội dung sinh hoạt theo ý đồ của nhà trường, theo từng thời điểm nhất định để phát huy hết tác dụng của việc sinh hoạt tổ khối. Qua kiểm tra sẽ tránh được tình trạng sinh hoạt một cách chiếu lệ đồng thời sẽ giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc mà tự bản thân mỗi giáo viên không thể tự giải quyết được, từ đó giúp thống nhất chung cách giải quyết trong tổ khối. Để tìm hiểu điều này chúng tôi kháo sát và thu được kết quả như sau
- Nội dung kiểm tra
Bảng 2.11. Công tác kiểm tra hoạt động của TCM ở các trường THCS
- Về nội dung kiểm tra Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Qua khảo sát bảng trên ta thấy các trường thường xuyên kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn có hiệu quả cao về các nội dung như: “Các loại kế hoạch năm học, kế hoạch dạy học, thời khóa biểu, sổ biên bản sinh hoạt tổ và các loại hồ sơ sổ sách khác” (mức thường xuyên = 3,67, mức hiệu quả = 4,62), “Khả năng và nề nếp quản lý tổ CM” (mức thường xuyên = 3,65, mức hiệu quả = 4,6). Sở dĩ tập trung vào kiểm tra sinh hoạt tổ chuyên môn vì sinh hoạt tổ chuyên môn là một biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giảng dạy. Vì vậy việc tăng cường công tác kiểm tra hoạt động của tổ chuyên môn phải được chú trọng đặc biệt và phải được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc quản lý chuyên môn. Thông qua kiểm tra người quản lý sẽ có cái nhìn toàn diện và định hướng nội dung sinh hoạt theo ý đồ của nhà trường, theo từng thời điểm nhất định để phát huy hết tác dụng của việc sinh hoạt tổ khối. Qua kiểm tra sẽ tránh được tình trạng sinh hoạt một cách chiếu lệ đồng thời sẽ giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc mà tự bản thân mỗi giáo viên không thể tự giải quyết được, từ đó giúp thống nhất chung cách giải quyết trong tổ khối.
Tuy nhiên các nội dung sau được đánh giá còn thấp so với trung bình chung như: “Các chuyên đề đã triển khai thực hiện, các vấn đề liên quan của tổ” ( mức thường xuyên = 3,54, mức hiệu quả = 4,54), “Kiểm tra nội dung tự bồi dưỡng của giáo viên; Kết quả bồi dưỡng của giáo viên” (mức thường xuyên = 3,56, mức hiệu quả = 4,55). Các chuyên đề đã triển khai thực hiện, các vấn đề liên quan của tổ và việc kiểm tra nội dung tự bồi dưỡng của giáo viên và kết quả bồi dưỡng của giáo viên là rất quan trọng bởi vì mọi chỉ tiêu về chất lượng, kết quả đào tạo của nhà trường phụ thuộc vào người giáo viên có năng lực và chấp hành đúng chương trình giảng dạy hay không, tinh thần, thái độ, kỷ luật lao động như thế nào nên nhà trường nên đẩy mạnh kiểm tra nội dung này.
- Hình thức kiểm tra
- Về hình thức kiểm tra
Qua khảo sát bảng trên ta thấy các trường thường áp dụng hình thức kiểm tra “Kiểm tra tổ chuyên môn định kỳ” TB= 3,61 đứng hàng thứ nhất so với trung bình chung và kế đó là kiểm tra “ Kiểm tra toàn diện tổ chuyên môn kết hợp với kiểm tra toàn diện một số giáo viên thuộc tổ”, TB = 3,59, đứng hàng thứ hai so với trung bình chung. Trong hình thức kiểm tra trên thường được sử dụng “Xem xét kế hoạch bồi dưỡng của tổ của cá nhân; dự giờ thăm lớp và tham gia các buổi rút kinh nghiệm đánh giá tiết dạy”, “ Trao đổi với giáo viên chủ nhiệm các lớp trong tổ, với phụ huynh học sinh (nếu có) có TB cao nhất. Kiểm tra giờ lên lớp là công việc quan trọng, thường xuyên là trung tâm chú ý của người giáo viên và người cán bộ quản lý. Trong quá trình kiểm tra và phân tích giờ dạy người cán bộ quản lý không chỉ khám phá ra những thiếu sót, cung cấp cho giáo viên và học sinh những lời khuyên mà còn nghiên cứu và phát triển những kinh nghiệm sáng tạo của cá nhân, làm cho những kinh nghiệm ấy trở thành tài sản của tập thể. Tổ trưởng chuyên môn tổ chức kiểm tra việc học bộ môn do tổ phụ trách của học sinh 1 lần/tháng, ngoài những lần kiểm tra định kỳ theo kế hoạch của nhà trường, thì người tổ trưởng còn có trách nhiệm tổ chức, kiểm tra các nội dung khác như:
Kiểm tra sĩ số, nề nếp, giờ giấc, tác phong của học sinh, thường tập trung kiểm tra vào đầu buổi học. Qua việc kiểm tra như vậy đã có phần nào giúp cho người tổ trưởng chuyên môn có được cái nhìn tổng thể các mặt hoạt động dạy và học trong tổ.
Kiểm tra vở ghi bài của học sinh, người tổ trưởng nhìn thấy được việc giáo viên có dạy đủ, dạy đúng chương trình hay cắt xén trong quá trình giảng dạy và còn nắm được việc chấm chữa bài của giáo viên.
- Phương pháp kiểm tra
Qua kết quả kháo sát ở bảng trên cho thấy:
- Về phương pháp kiểm tra Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Phương pháp kiểm tra được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả tốt là: “Xem xét kế hoạch bồi dưỡng của tổ, của cá nhân; dự giờ thăm lớp và tham gia các buổi rút kinh nghiệm đánh giá tiết dạy” (mức thường xuyên = 3,58, mức hiệu quả = 4,59) và “ Nghiên cứu hồ sơ của tổ,hồ sơ của giáo viên,hồ sơ của lớp;xem xét tài liệu lưu trữ của tổ” (mức thường xuyên = 3,51, mức hiệu quả =4,51). Các phương pháp này được thực hiện thường xuyên đã giúp cho người quản lý nắm được tình hình dạy của giáo viên và tình hình học của học sinh, từ đó có biện pháp thích hợp trong hoạt động dạy và học của nhà trường.
Tuy nhiên biện pháp sau nhà trường sử dụng còn thấp so với trung bình chung là: “Trao đổi phỏng vấn tổ trưởng,tập thể hoặc cá nhân giáo viên” (mức thường xuyên = 3,44, mức hiệu quả = 4,45), “Trao đổi với giáo viên chủ nhiệm các lớp trong tổ,với phụ huynh học sinh (nếu có)” (mức thường xuyên = 3,44, mức hiệu quả = 4,55). Việc thực hiện kiểm tra chéo của giáo viên rất quan trọng bởi vì thông qua kiểm tra chéo giữa các tổ chuyên môn theo một nội dung kiểm tra thống nhất sẽ kiểm tra việc chấm điểm của giáo viên trong bài làm trong vở của học sinh; điểm các bài kiểm tra định kỳ; kiểm tra việc cho điểm, cộng điểm, đánh giá theo dõi kết quả học tập của học sinh, các chứng cứ, nhận xét, xếp loại học lực trong sổ điểm để qua kiểm tra các tổ chuyên môn sẽ đưa ra những biện pháp khắc phục hạn chế của giáo viên trong tổ, đồng thời hình thành một chuẩn đánh giá học sinh phù hợp và thống nhất giữa các giáo viên thuộc các tổ chuyên môn.
Tóm lại: Trong quá trình kiểm tra hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng phân công các lực lượng phối hợp thực hiện các nội dung kiểm tra nhằm thực hiện tốt việc kiểm tra một cách toàn diện, tránh ôm đồm thiếu hiệu quả. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ tổ trưởng trong công tác kiểm tra, tổ chức kiểm tra chuyên môn. Đồng thời tổ chức, hướng dẫn xây dựng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn thành lực lượng nòng cốt trong công tác kiểm tra. Lực lượng này rất quan trọng vì vừa là người thực hiện, vừa là người kiểm tra nên sẽ nắm vững các vấn đề cốt yếu cần thiết để công tác kiểm tra đạt hiệu quả. Kết quả các đợt kiểm tra chuyên môn định kỳ, đột xuất đối với giáo viên là những minh chứng cụ thể góp phần quan trọng để đánh giá giáo viên theo chuẩn, vì vậy khâu này cần được coi trọng. Việc quản lý, chỉ đạo kiên quyết; kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đề ra. Tuyên dương, động viên các giáo viên, các tổ khối thực hiện tốt kế hoạch; phê bình, nhắc nhở kịp thời những giáo viên, tổ khối thực hiện chưa tốt. Lấy chất lượng giáo dục và mức độ tiến bộ của học sinh là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả công tác của giáo viên.
2.3.6. Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, Tình Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Để tổ chuyên môn hoạt động được tốt cần có các điều kiện khác nhau. Để tìm hiểu điều này chúng tôi đã tìm hiểu và thu được kết quả sau:
Bảng 2.12. Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động TCM các trường THCS
- Qua bảng khảo sát 2.11 cho thấy:
Những điều kiện đã được đảm bảo thường xuyên và hiệu quả tốt là:
- Thống nhất các loại hồ sơ, sổ sách của tổ, của giáo viên” TB = 3,7.
- Tạo điều kiện cho tổ trưởng chuyên môn được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và quản lý” TB = 3,69.
- Trang bị các thiết bị trình chiếu và khuyến khích GV ứng dụng CNTT trong dạy học” TB = 3,67
- Quan tâm đến bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên” TB = 3,64
- Phân cấp quản lý rõ ràng đến các tổ trưởng chuyên môn” và “Trang bị đầy đủ các thiết bị, hóa chất cho phòng thí nghiệm,thực hành” có cùng chỉ số TB = 3,63
Các trường THCS đã rất quan tâm đến việc thống nhất các loại hồ sơ, sổ sách của tổ, của giáo viên và tạo điều kiện cho TTCM bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và quản lý , đây là điều rất cần thiết vì thông qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng TTCM nâng cao được năng lực quản lý, cũng vì quá trình đào tạo ở trong trường sư phạm dù hoàn hảo đến đâu cũng chỉ mới đem lại cho người giáo viên một cái vốn tối thiểu để dạy học và giáo dục. Trình độ tài năng sư phạm chỉ có thể đạt được khi tiến hành hoạt động sư phạm một cách tự giác, độc lập, khi thường xuyên rút kinh nghiệm về hoạt động sư phạm của bản thân và đồng nghiệp và khi không ngừng học hỏi.
Các trường cũng thực hiện việc phân cấp quản lý xuống các tổ trưởng chuyên môn một cách rõ ràng, qua quan sát nghiên cứu thấy hiệu trưởng các trường đã phân cấp quản lý cho tổ trưởng chuyên môn cụ thể như: TTCM chịu trách nhiệm về thiết kế phân phối chương trình các môn phụ trách, TTCM chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá giáo viên trong tổ… Việc phân cấp quản lý rõ ràng sẽ tránh được sự chồng chéo, không thống nhất trong chỉ đạo, điều hành công việc, qua đó người TTCM thấy mình có quyền nhiều hơn, do đó trách nhiệm phải nặng nề hơn và qua công tác thực tế sẽ giúp cho TTCM học hỏi thêm nhiều về kinh nghiệm trong quản lý, mặc khác sự phân cấp cũng tránh được sự ôm đồm trong công việc, tránh sa vào hành chính sự vụ của BGH, đặc biệt là hiệu trưởng.
Những điều kiện thực hiện còn thấp so với trung bình chung là:
- Trang bị các phòng bộ môn và tủ đựng hồ sơ từng tổ” TB = 3,51
- Giải quyết hợp lý các đề xuất,kiến nghị từ các tổ chuyên môn” TB = 3,58
- Xây dựng quy chế phối hợp giữa tổ chuyên môn với các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường” TB = 3,6.
Qua quan sát thực tế các trường khảo sát tôi thấy rằng những điều kiện nêu trên còn thấp và chưa tốt so với trung bình chung là chính xác, bởi lẽ quy chế phối hợp thì trường nào cũng có xây dựng, tuy nhiên quy chế đã xây dựng trước đó đã lâu, đến nay cần phải thay đổi cho phù hợp với thực tế lại chưa có thay đổi, do đó hầu như nó không còn là văn bản mang tính pháp lý cao để mọi người trong đơn vị thực hiện. Việc trang bị các phòng bộ môn và tủ đựng hồ sơ từng tổ cũng được đánh giá còn thấp và chưa tốt, bởi vì cũng qua quan sát và phỏng vấn cán bộ quản lý thì hiện tại chỉ có mấy trường xây dựng mới sau này mới có phòng bộ môn như trường THCS Thới Hòa,THCS Phú An, THCS Chánh Phú Hòa, THCS Hòa Lợi,THCS Mỹ Phước. Nhưng do số học sinh tăng thêm hàng năm quá đông không đủ phòng học,nên có số trường sử dụng phòng bộ môn làm lớp học như THCS Thới Hòa,THCS Phú An… Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Tuy nhiên hy vọng trong những năm học tới thì cơ sở vật chất của các trường đếu được xây dựng mới có đầy đủ các phòng bộ môn và tủ đựng hồ sơ cho từng tổ. Như vậy các điều kiện chưa được thường xuyên nêu trên phần lớn là do khách quan, tuy nhiên với cơ sở vật chất hiện có, các trường đã cố gắng hết mình nhằm tạo điều kiện tốt nhất phục vụ cho dạy và học.
2.4. Đánh giá chung quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, Tình Bình Dương
Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, tình Bình Dương, đã tiến hành khảo sát CBQL và giáo viên ở 8 trường, kết quả ở bảng sau:
2.4.1. Yếu tố thuận lợi
- Bảng 2.13. Nguyên nhân thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn
2.4.2. Yếu tố khó khăn
- Bảng 2.14.Nguyên nhân những khó khăn quản lý hoạt động tổ chuyên môn
Kết quả khảo sát bảng 2.12 cho thấy:
- Nguyên nhân của ưu điểm
Các yếu tố sau chính là nguyên nhân của ưu điểm tạo nên hiệu quả quản lý hoạt động tổ chuyên môn, đó là:
- Ban giám hiệu tạo điều kiện tốt để các tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả” TB = 3,31.
- Tổ trưởng chuyên môn có năng lực,nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao” TB = 3,3.
- Giáo viên có ý thức xây dựng tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả” TB = 3,27
- Đảm bảo sự thông tin 2 chiều giữa BGH và TTCM thường xuyên và hiệu quả” TB = 3,26
- Có kế hoạch hoạt động cụ thể theo từng giai đoạn trong năm học và thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra”
Như vậy mối quan hệ trong nhà trường giữa TCM với BGH rất tốt. Bởi vì tổ chuyên môn không thể hoạt động độc lập mà có quan hệ chặt chẽ với các tổ chuyên môn khác, với Ban Giám hiệu nhà trường, với Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Các mối quan hệ trên nếu được thực hiện tốt, chặt chẽ, đồng bộ thì chắc chắn hoạt động của tổ chuyên môn sẽ đạt hiệu quả tốt hơn. Hơn nữa để TCM hoạt động tốt thì nhà trường cũng tạo điều kiện về vật chất, quy chế… đó là điều kiện rất quan trọng để TCM hoạt động có hiệu quả hơn. Điều kiện đó có thể là:
Dân chủ hóa hoạt động của tổ, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào những công việc chung, tích cực đóng góp xây dựng tập thể vững mạnh. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Dư luận quần chúng: biết lắng nghe, phân tích dư luận quần chúng, giải quyết kịp thời mâu thuẫn, thắc mắc, tạo sự hòa hợp thống nhất, gắn bó các thành viên trong tổ. Người tổ trưởng chuyên môn còn phải làm công tác tư vấn cho các thành viên trong tổ, bên cạnh sự hỗ trợ của Phó Hiệu Trưởng chuyên môn.
Tổ trưởng và giáo viên trong tổ thực sự đoàn kết, đấu tranh phê bình và tự phê bình. Thực hiện vô tư, công bằng trong xử sự, tạo sự tin yêu của tập thể.
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của giáo viên, tình cảm của mọi thành viên. Chăm lo cho đồng nghiệp, phản ánh kịp thời đầy đủ tình hình đời sống giáo viên với tổ chức công đoàn.
- Nguyên nhân hạn chế:
Thông qua khảo sát chúng tôi thấy các yếu tố sau là nguyên nhân làm hạn chế hoạt động của tổ chuyên môn đó là:
- Công tác kiểm tra, đánh giá TCM các trường chưa đồng bộ thống nhất, thường xuyên” TB = 2,76.
- Sự phối hợp giữa TTCM với các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường chưa thống nhất và đồng bộ” TB = 2,76.
- Phẩm chất, năng lực quản lý của TCM chưa tốt” TB = 69.
- Nhận thức của CBQL, TTCM, GV chưa cao” TB = 2,69
- Việc quản lý hoạt động TCM chưa thật sự đổi mới” TB = 2,68. 2,66.
Việc quy hoạch, bổ nhiệm TT, TP còn mang nhiều cảm tính” TB = Tổ chuyên môn là đầu mối quản lý mà hiệu trưởng dựa vào đó để quản lý nhiều mặt, nhưng cơ bản nhất vẫn là hoạt động dạy học và hoạt động sư phạm của giáo viên. Người có trách nhiệm và quyền hạn cao nhất trong đơn vị tổ chuyên môn là người tổ trưởng chuyên môn. Để điều hành hoạt động của tổ chuyên môn có hiệu quả và quản lý tốt hoạt động chuyên môn của tổ thì yêu cầu người tổ trưởng phải là người trội nhất trong tổ về mặt tài, đức, có uy tín chuyên môn vững vàng. Tổ trưởng chuyên môn phải là người tổ chức, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các thành viên trong tổ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Do đó, người tổ trưởng chuyên môn phải là người biết tạo ra sự đoàn kết nhất trí trong tổ, có năng lực tập hợp quần chúng, khéo léo trong giao tiếp ứng xử. Muốn thực hiện được điều đó người tổ trưởng cần gương mẫu, công bằng, kiên trì, nghiêm khắc, trung thực và khéo léo trong ứng xử.
Tuy nhiên, một thực trạng trong hầu hết các nhà trường phổ thông cho thấy tâm lý của đại đa số giáo viên ngại khi được phân công làm tổ trưởng, một số đồng ý do nể nang hiệu trưởng nên làm để cho xong chuyện, do vậy họ không đầu tư nhiều cho công việc, thậm chí năng lực quản lý và điều hành của những người này rất hạn chế. Do vậy hiệu quả công việc không cao, chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn thấp, không thu hút được giáo viên không tạo ra được không khí thi đua giữa các giáo viên với nhau, dẫn đến kết quả dạy và học thiếu sự phát triển bền vững. Hơn nữa TTCM hầu như đào tạo về quản lý còn hạn chế chủ yếu TTCM được trên cơ sở cảm tính kinh nghiệm của mỗi người chưa có tiêu chí rõ ràng về TTCM.
Việc tự học, tự bồi dưỡng đối với người giáo viên là một yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Qua khảo sát tôi thấy rằng có nhiều giáo viên rất tích cực trong tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của bản thân, tuy nhiên người quản lý chưa chú trọng đến công tác này do đó sự tự học chỉ mang tính tự phát, chưa trở thành một phong trào sâu rộng để kích thích mọi người cùng tham gia để phát triển tập thể sư phạm có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu ngày càng mạnh mẽ của sự thay đổi và phát triển trong hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
Qua khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn và quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cũng như phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác này và quan sát thực tế, chúng tôi nhận thấy:
Hoạt động của các TCM trong các trường THCS thị xã Bến Cát các năm học qua có nhiều chuyển biến tích cực. TTCM các trường đã tác động bằng nhiều biện pháp thiết thực để có được các TTCM giỏi, các thành viên trong tổ chuyên môn tích cực hoạt động, có năng lực sư phạm để thực hiện tốt kế hoạch của nhà trường đề ra. Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của các hiệu trưởng đề ra là hợp tình hợp lý, được tập thể giáo viên đồng thuận, bước đầu có nhiều kết quả, giải quyết được nhiều vấn đề về chuyên môn, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Các tổ trưởng tổ chuyên môn có nhiều cố gắng trong việc điều hành hoạt động chung của TCM ở trạng thái ổn định, có kế hoạch triển khai nhiệm vụ chuyên môn đến các giáo viên; năng nổ nhiệt tình và có nhiều đóng góp cho giáo viên trên lĩnh vực chuyên môn để thực hiện tốt kế hoạch của nhà trường đề ra.
Tuy nhiên trong công tác quản lý TCM ở các trường THCS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũng còn nhiều mặt hạn chế như:
- Nhận thức của CBQL, TTCM, giáo viên chưa cao.
- Năng lực quản lý của tổ trưởng chuyên chưa tốt.
- Việc quy hoạch, bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó còn mang nhiều càm tính,
- Việc quản lý hoạt động TCM chưa thật sự đổi mới’
- Sự phối hợp giữa TTCM với các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường chưa thống nhất và đồng bộ.
- Công tác kiểm tra, đánh giá TCM các trường chưa đồng bộ thông nhất, thường xuyên.
Do đó hiệu quả hoạt động của các TCM ít nhiều chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong hoạt động giáo dục của nhà trường. Đây cũng chính là cơ sở thực tiễn để đề xuất các biện pháp. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

