Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng và triển vọng phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Tổng quan về Khánh Hòa 

2.1.1. Tổng quan về Khánh Hòa và du lịch Khánh Hòa

2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần lãnh thổ trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực bắc: 12052’15” vĩ độ Bắc. Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực nam: 11042′ 50” vĩ độ Bắc. Phía Tây giáp tỉnh Đăk Lắk, Lâm Đồng, điểm cực tây: 108040’33” kinh độ Đông. Phía Đông giáp Biển Đông, điểm cực đông: 109027’55” kinh độ Đông. Mũi Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh, cũng chính.

Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa. Bên trên phần đất liền và vùng lãnh hải là không phận của tỉnh Khánh Hòa.

Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa có ảnh hưởng lớn đến các yếu tố tự nhiên khác như: khí hậu, đất trồng, sinh vật. Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược về mặt quốc phòng vì tỉnh Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông ra Biển Đông.

Về Hình dạng – diện tích Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Tỉnh Khánh Hòa có hình dạng thon hai đầu và phình ra ở giữa, ba mặt là núi, phía Đông giáp biển. Nếu tính theo đường chim bay, chiều dài của tỉnh theo hướng Bắc Nam khoảng 160km, còn theo hướng Đông Tây, nơi rộng nhất khoảng 60km, nơi hẹp nhất từ 1 đến 2km ở phía Bắc, còn ở phía Nam từ 10 đến 15km.

2 (kể cả các đảo, quần đảo), đứng Diện tích của tỉnh Khánh Hòa là 5.197km vào loại trung bình so với cả nước. Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền. Bờ biển dài 385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô trong quần đảo Trường Sa.

Về địa hình

Khánh Hòa là một tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn, đa số diện tích là núi non, miền đồng bằng rất hẹp, chỉ khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh. Miền đồng bằng lại bị chia thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi ăn ra biển. Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dãy Trường Sơn, lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Hòn Giao (2.062m) thuộc địa phận huyện Khánh Vĩnh. Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang, Diên Khánh nằm ở hai bên sông Cái với diện tích khoảng 135 km²; đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100 km². Ngoài ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồng bằng Cam Ranh ở ven biển, cùng với lượng diện tích canh tác nhỏ ở vùng thung lũng của hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.

Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam. Đường bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng 385 km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, cùng khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ. Khánh Hòa có sáu đầm và vịnh lớn là: vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Hòn Khói, đầm Nha Phu, Đại Lãnh. Trong đó, nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16 km, chiều rộng 32 km, thông với biển thông qua eo biển rộng 1,6 km, có độ sâu từ 18 – 20m và thường được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á.

Về sông ngòi

Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày. Hầu hết các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía Đông. Dọc bờ biển, cứ khoảng 5 – 7 km có một cửa sông. Các con sông lớn ở Khánh Hòa phải kể đến: sông Cái Nha Trang, sông Dinh (hay còn gọi là sông Cái Ninh Hòa), sông Tô Hạp (huyện Khánh Sơn).

Về khí hậu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt. So với các tỉnh, thành phía Bắc từ đèo Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa hơn do mang tính chất của khí hậu đại dương. Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm. Những tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7°C.

Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.1.2. Lịch sử văn hóa xã hội

Nền văn hóa ở Khánh Hòa trải qua lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời và gắn với nhiều nền văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau trong quá trình hình thành và phát triển vùng đất Khánh Hòa.

Khánh Hòa không chỉ được biết đến là vùng đất thiên thời địa lợi nhân hòa mà còn là vùng đất với những con người giản dị, phóng khoáng song cũng thật nghĩa tình, thủy chung. Sách Đại Nam nhất thống chí, bộ quốc sử lớn ở nước ta thời Nguyễn còn ghi lại những nét đẹp về văn hóa của vùng đất và con người Khánh Hòa như sau: “Phong tục thuần hậu, tập quán quê mùa. Kẻ sĩ chất phác mà trầm tĩnh, nhân dân kiệm mà lành, quần áo dùng vải trắng, ít thích lòe loẹt. Dân ở ven biển làm nghề chài lưới, dân ở ven núi làm nghề cấy lúa, trồng dâu, chăn tằm dệt cửi… phần nhiều đơn giản không chuộng xa hoa. Các việc đám cưới đám ma hay giúp đỡ lẫn nhau”.

Do những đặc điểm về địa lý tự nhiên và nhân văn, Khánh Hòa hội tụ đầy đủ các yếu tố văn hóa núi rừng, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển – đảo dưới các dạng văn hóa vật thể (Tangible) và phi vật thể (Intangible) thật tiêu biểu và đặc sắc. Ở miền núi, được biết đến những bộ patau (đàn đá) Khánh Sơn nổi tiếng tìm được tại di chỉ Dốc Gạo, nơi được xác định là “công xưởng chế tác đàn đá thời tiền sử khổng lồ nhất ở Việt Nam”. Đây cũng là xứ sở của những Akhàt ter (thể loại kể chuyện bằng văn xuôi) và những Akhàtjucar (kể chuyện bằng lời hát) được gọi chung là những trường ca Raglai nổi tiếng.

Qua nhiều thế kỷ cộng cư và hòa cư, người Việt đã giao lưu, tiếp nhận và tiếp biến những tinh hoa văn hóa truyền thống của các dân tộc anh em để từ đó tạo nên một bản sắc văn hóa của chính mình, làm giàu thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Chính vì vậy, khi tìm hiểu về những đặc trưng văn hóa truyền thống ở Khánh Hòa hôm nay ta sẽ nhận thấy có sự ảnh hưởng và đan xen những sắc thái về văn hóa giữa người Việt với người Chăm, người Raglai và với cả người Hoa, mà trong đó văn hóa của người Việt là chủ thể. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Do điều kiện và môi trường sống, cùng với các hình thức kinh tế, ngành nghề truyền thống lâu đời chi phối nên người Việt ở đồng bằng Khánh Hòa có cả một nền văn hóa đình làng, trong tổng thể của truyền thống văn hóa làng xã Việt Nam. Hệ văn hóa đình làng, chùa chiền, miếu mạo… dưới sắc thái văn hóa truyền thống của những người nông dân cần cù, chăm chỉ được biểu hiện qua các lễ hội Am Chúa, lễ hội Tháp Bà, lễ hội cúng đình, cúng tổ nghề…, qua nhiều thế kỷ vẫn tồn tại và ngày càng được tôn vinh trong chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, những cư dân sống bằng nghề biển không chỉ bảo lưu và gìn giữ được những truyền thống văn hóa biển – đảo với các lễ hội cúng đình – lăng, tín ngưỡng thờ cúng cá voi (Ông) cùng những điệu hò Bá Trạo… được kết hợp một cách hài hòa trong tín ngưỡng thờ Pô Nagar – Thiên Yana mà còn có một nền văn hóa yến sào thật đặc sắc… Tất cả những yếu tố trên đã góp phần tạo cho Khánh Hòa có những đặc trưng văn hóa thật tiêu biểu và độc đáo.

Khánh Hòa còn là một trong những tỉnh có rất đông đồng bào dân tộc cùng sinh sống với 32 dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số, chiếm hơn 80% dân số Khánh Hòa. Dân tộc thiểu số lớn nhất là Raglai với 45.915 người sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Khánh Vĩnh và Khánh Sơn và một vài xã miền núi các huyện Diên Khánh, Cam Lâm và thành phố Cam Ranh trong các bản làng (palây).

Tại các khu vực giáp ranh với Lâm Đồng và Đăk Lăk có khoảng 4.778 người Cơho và 3.396 người Ê-đê sinh sống. Dân tộc Hoa có khoảng 3.034 người tập trung chủ yếu ở thành phố Nha Trang (khoảng 2.000 người), thị xã Ninh Hòa và các xã phía Đông huyện Diên Khánh. Một nhóm thiểu số chính khác là người Tày (1.704) và người Nùng (1.058) di cư từ các tỉnh phía Bắc vào trong cuộc di cư năm 1954 và trong các năm gần đây sinh sống chủ yếu ở huyện Khánh Vĩnh. Ngoài các nhóm chính trên còn có các nhóm dân tộc chiếm 1 thiểu số rất nhỏ trong dân số như Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ… Người Chăm là cư dân bản địa ở Khánh Hòa. Tuy nhiên do những điều kiện lịch sử, từ giữa thế kỷ XVII về sau này, người Chăm ở Khánh Hòa lần lượt di chuyển vào các tỉnh phía Nam. Vì vậy mà ngày nay, người Chăm ở Khánh Hòa chỉ còn khoảng 290 người.

Khánh Hòa là địa danh thu hút nhiều du khách với những khu di tích chiến khu, căn cứ cách mạng. Ngoài ra, tỉnh cũng đầu tư chú trọng đến văn nghệ và nghệ thuật để phục vụ người dân và thu hút du khách; các đội chiếu bóng phục vụ ở những nơi hẻo lánh, miền núi hiểm trở. Hệ thống thư viện, các câu lạc bộ cũng phát triển mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng

Khánh Hòa có 11 di tích văn hóa-lịch sử cấp quốc gia. Công tác bảo tồn, trùng tu bảo tàng và quản lý các khi di tích cũng được chú trọng, có nhiều đợt trưng bày quy mô lớn thu hút hàng chục ngàn du khách tham quan. Công tác sưu tầm, nghiên cứu giới thiệu văn hóa phi vật thể đã và đang tiếp tục được phát triển. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: sự nghiên cứu về chữ viết của người RaGlai, truyện cổ, trường ca và một số loại hình văn hóa dân gian có ảnh hưởng khác, bao gồm một số công trình được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đánh giá cao.

2.1.1.3. Văn hóa du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Khánh Hòa là một tỉnh ven biển miền Trung, với đường bờ biển dài 385km với 200 hòn đào lớn nhỏ ven bờ và 100 đảo, bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa. Với khí hậu ôn hòa, mát mẻ cùng với đường bờ biển dài, nước biển trong xanh làm cho cnh quan thiên nhiên hp dn. Khánh Hòa có vnh Nha Trang mt trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới với nhiều hòn đảo thiên nhiên đẹp, ngoài ra còn có khu bảo tồn biển lớn nhất thế giới tại Hòn Mun, Hòn Tằm với những rạng san hô và quần thể sinh vật biển nguyên sơ đã thu hút lượng lớn khách du lịch đến Khánh Hòa, mang lại nhiều trải nghiệm thú vị với nhiều loại hình du lịch đặc sắc, tạo dấu ấn cho du lch Khánh Hòa.

Ðiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hóa đã đem đến cho tỉnh Khánh Hòa một tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ. Nha Trang – Khánh Hòa hiện được xác định là một trong 10 trung tâm du lịch – dịch vụ lớn của cả nước. Tháng 52003, vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên chính thức của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới.

Ngành du lịch Khánh Hòa hiện nay đang rất phát triển với nhiều loại hình du lịch đặc sắc, hấp dẫn như du lịch nghỉ dưỡng; du lịch săn bắn; du lịch leo núi; lặn biển ngắm san hô đặc biệt là du lịch biến đảo. Tuy nhiên những năm trở lại đây, loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch homestay, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái đang là loại hình du lịch được ưa chuộng và phát triển mạnh tại Khánh Hòa. Đem lại nguồn lợi to lớn cho tình Khánh Hòa về kinh tế, văn hóa và xã hội.

Ngoài du lịch biển đảo, du lịch Khánh Hòa còn được biết đến với loại hình du lịch nghỉ dưỡng, khám phá với tài nguyên du lịch hoang sơ, nguyên thủy mộc mạc. Khánh Hòa là một tỉnh khá đặc biệt vừa có huyện đồng bằng, vừa có huyện miền núi, vừa có huyện đảo, vừa có lợi thế phát triển du lịch biển đảo, vừa có thể phát triển du lịch núi. Trong đó, huyện miền núi Khánh Vĩnh và Khánh Sơn được ví như Đà Lạt thứ hai với khí hậu mát mẻ, ôn hòa, dễ chịu cùng với đó là nét văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào dân tộc với nhiều nhạc cụ độc đáo như đàn Chapi, đàn đá, đàn Mã la…, những danh thắng tự nhiên độc đáo, hấp dẫn như thác YangBay, thác Tà Gụ… đã tạo nên cho vùng đất Khánh Sơn, Khánh Vĩnh nét đặc trưng chấm phá độc đáo. Khánh Hòa có khí hậu ôn hòa, mang tính chất của khí hậu đại dương cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên, đặc biệt là sự đa dạng sinh học rừng như rừng nguyên sinh, rừng lồ ô, rừng lá kim, dương xỉ, phong lan…với nhiều loài động thực vật quý hiếm như vọoc, gấu, khỉ…đã tạo nên sự độc đáo trong du lịch Khánh Hòa.

Khánh Hòa còn là nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị như đình, đền, chùa, tháp, miếu, thành còn tồn tại đến ngày hôm nay như Miếu thờ Trịnh Phong, Thành cổ Diên Khánh, Am Chúa, Văn miếu Diên Khánh, Tháp bà Ponagar, Nhà thờ Đá…, cùng với các di sản văn hóa phi vật thể mang đậm nét truyền thống địa phương như lễ hội Tháp Bà, lễ hội Am Chúa, lễ hội Cầu ngư đã mang lại cho du lịch Khánh Hòa nét độc đáo, thú vị. Cùng với các di sản văn hóa vật thể đó là những di sản văn hóa phi vật thể có bản sắc riêng trong dòng văn hóa dân tộc mà tiêu biểu là truyền thuyết về nữ thần Ponagar – Bà mẹ xứ sở, là lễ hội Tháp Bà, lễ hội Am Chúa, là điệu múa bóng dâng Bà. Nhờ điều kiện thiên nhiên ưu đãi (bờ biển dài, cát trắng, cảnh quan đẹp, khí hậu ôn hòa…), lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hóa. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Nhờ điều kiện thiên nhiên ưu đãi với bờ biển dài, cát trắng, cảnh quan đẹp, khí hậu ôn hòa; lưu giữ được nhiều di tích lịch sử văn hóa, nên Khánh Hòa đã thu hút được lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng. Chính vì vậy, Khánh Hòa được Tông cục Du lịch xác định là một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước.

Ngành du lịch đã giải quyết được vấn đề xóa đói giảm nghèo, giải quyết tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của người dân, đem lại sự phát triển, tăng trưởng về kinh tế cho địa phương và là ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh Khánh Hòa.

Theo thống kê của sở Du lịch Khánh Hòa, ước tính năm 2019 lượng khách du lịch đến Khánh Hòa đạt 7,2 triệu lượt khách lưu trú du lịch, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, khách quốc tế đạt 3,6 triệu lượt, tăng 28,4% so với cùng kỳ, khách nội địa ước đạt 235.991 lượt, tăng 10,24% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu của hoạt động du lịch ước đạt 27.000 tỷ đồng, tăng 24,2% so với năm 2018. Trong đó, doanh thu từ các cơ sở lưu trú đạt 2.318.442 triệu đồng; tổng doanh thu của các doanh nghiệp lữ hành ước đạt 352.600 triệu đồng, tăng 117,99% so với năm 2018. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 2.864.067 triệu đồng, tăng 121,17% so với năm 2018.

Tổng lượt khách tham quan du lịch ước đạt 1,6 triệu lượt, khách du lịch đến Khánh Hòa bằng tàu biển ước đạt 97.000 lượt, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường khách quốc tế tiếp tục tăng trưởng, khách du lịch đến từ Trung Quốc và Nga tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách quốc tế, chiếm 80% tổng lượng khách đến Khánh Hòa. Tính đến 27/11/2019, lượng khách du lịch quốc tế đến Khánh Hòa tăng trưởng mạnh, điển hình một số thị trường tiêu biểu, cụ thể: khách Trung Quốc đạt 2.495.297 lượt, tăng 137,94% so với cùng kỳ năm 2018; khách Nga đạt 377.561 lượt, tăng 103,48%; khách Hàn Quốc đạt 209.339 lượt, tăng 357,23% so với cùng kỳ; số lượng khách Malaysia đạt 43.262 lượt, tăng 105,13% so với cùng kỳ. Một số thị trường khách quốc tế khác như: Anh; Pháp; Mỹ; Canada; Đài Loan; Úc giảm nhẹ so với cùng kỳ từ 3-5%; các nước thuộc khu vực Đông Nam Á… có sự tăng trưởng, đạt từ 10% đến 12% so với cùng kỳ.

Theo báo cáo của Sở Du lịch Khánh Hòa, số lượng khách du lịch quốc tế đến Khánh Hòa tăng trưởng mạnh, các thị trường khách du lịch quốc tế đa dạng và phong phú. Số lượng khách du lịch châu Âu đạt trên 40 nghìn lượt khách, khách du lịch châu Á chiếm tỷ trọng cao nhất, trên 173 nghìn lượt

Bảng 2.1.1 Bảng thống kê quốc tịch Khách                             

Năm 2019, Khánh Hòa được chọn là nơi đăng cai tổ chức năm Du lịch quốc gia, nổi bật là Festival Biển với chủ đề “Nha Trang-Sắc màu của biển” với nhiều hoạt động du lịch phong phú, đa dạng đã thu hút rất đông khách du lịch trong và ngoài nước đến Khánh Hòa. Chính điều này đã tạo ra sức hút và hiệu ứng cho du lịch Khánh Hòa. Năm 2019, lượng khách du lịch đến Khánh Hòa tăng mạnh so với cùng kỳ, doanh thu du lịch tăng cao. Cụ thể Khánh Hòa đón 7,2 triệu lượt khách du lịch, tăng 12,6% so với cùng kỳ; trong đó khách du lịch quốc tế là 3,6 triệu lượt, tăng 27,5%. Doanh thu du lịch ước đạt 27.000 tỷ đồng. Một điều đáng lưu ý, dù tổng lượng khách tăng cao nhưng do lượng phòng lưu trú tăng nhanh nên hiệu quả khai thác khá thấp. Đến thời điểm này, toàn tỉnh có khoảng 750 cơ sở lưu trú với khoảng 43.000 phòng. Theo ước tính của Sở Du lịch, công suất phòng đạt hơn 50%, trong đó phòng từ 3-5 sao đạt 68%, phòng từ 1-2 sao đạt 35,82%.

2.1.1.4. Kết quả, doanh thu du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Khánh Hòa luôn là điểm du lịch hấp dẫn thu hút lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng. Đặc biệt hoạt động Festival Biển 2019 diễn ra vào trung tuần tháng 5 là điểm nhấn cho ngành du lịch Khánh Hòa, với chủ đề “Nha Trang-Sắc màu của Biển” và các hoạt động trong năm du lịch quốc gia đã thu hút khách du lịch đến với Khánh Hòa. Doanh thu du lịch toàn tỉnh trong năm đạt 27.000 tỷ đồng; tăng 19,45% so với cùng kỳ năm trước; khách du lịch năm 2019 đạt 7,2 triệu lượt khách tăng 12,6%, trong đó khách du lịch quốc tế đạt 3,6 triệu lượt khách tăng 27,5%; lượng khách tham quan đạt 34,19 triệu lượt khách (không tính khách tham quan bằng tàu biển), tăng 23,15% so với năm 2018.

Theo báo cáo của Sở Du lịch Khánh Hòa, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đạt trên 40 triệu đồng. Đây là dấu hiệu đánh giá sự phát triển của du lịch Khánh Hòa năm 2019.

Bảng 2.1.2 Báo cáo ước kết quả hoạt động du lịch tháng 12/2019

Là ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh với tỷ lệ tăng trưởng cao, du lịch Khánh Hòa đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cầu kinh tế theo đúng nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XVII (dịch vụ, du lịch – công nghiệp, xây dựng – nông nghip). Nhiu loi hình du lch, các sn phm du lch – dch v ngày cng đa dạng hóa, tiêu chuẩn chất lượng ngày càng được nâng cao, khả năng cạnh tranh tốt. Nhiều hạng mục công trình được đầu tư xây dựng, cải tạo và mở rộng; nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế được đầu tư xây dựng. Việc được chọn là nơi đăng cai năm Du lịch quốc gia, đặc biệt là Festival Biển 2019 với chủ đề “Nha Trang-Sắc màu của Biển” đã quảng bá được thương hiệu du lịch của tỉnh, thu hút đông đảo lượng khách du lịch đến tham quan và nghỉ dưỡng. Tạo cơ hội thu hút các nhà đầu tư đến với Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng; tạo sự phát triển đột phá về du lịch, góp phần phát triển kinh tế địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

Mặt khác, du lịch phát triển còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương, góp phần nâng cao đời sống xã hội; hoạt động du lịch phát triển tạo điều kiện cho người dân, lao động địa phương thuận tiện hơn trong việc tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống xã hội, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo. Du lịch phát triển góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương, doanh thu từ hoạt động du lịch đóng góp vào GDP của tỉnh hàng năm chiếm tỷ trọng khoảng 12%/ năm. Năm 2019, Khánh Hòa đã đón được 7,2 triệu lượt khách du lịch, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2018, doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 27.000 tỷ đồng.

Với tốc độ tăng trưởng của lượng khách du lịch như hiện nay, đặc biệt là sự tăng trưởng đột phá của khách du lịch quốc tế đến Khánh Hòa đã đưa ngành du lịch địa phương lên tầm cao mới. Du lịch thực sự đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, đem lại nguồn thu ngân sách và rất nhiều công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương, tạo được sự lan tỏa tích cực cho rất nhiều hoạt động kinh tế khác liên quan đến du lịch. Hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp, đường giao thông được sửa chữa tu bổ, xây dựng mới tạo thuận lợi cho việc phát triển du lịch. Tăng trưởng du lịch tăng về khối lượng, thu nhập của người dân dần được ốn định. Trình độ dân trí của người dân được nâng cao, đặc biệt là người lao động trong ngành du lịch và dịch vụ.

2.1.2. Tổng quan về khu vực huyện Khánh Vĩnh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

2.1.2.1. Điều kiện tự nhiên

Khánh Vĩnh là huyện miền núi và bán sơn địa nằm ở cực Tây tỉnh Khánh Hòa, ở tọa độ 12°16′13″B, 108°53′33″Đ, phía bắc giáp thị xã Ninh Hòa và tỉnh Đak Lak, phía tây là tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp huyện Khánh Sơn và tỉnh Ninh Thuận, phía đông giáp huyện Diên Khánh.

Hình 2.2 Bản đồ hành chính huyện Khánh Vĩnh

Dân cư huyện Khánh Vĩnh chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiếu số như Raglai, Ê đê, Cơ ho, Tày, Nùng, Mường… trong đó, người Raglai chiếm gần 50% dân số, người Kinh chiếm khoảng 27% dân số, người Cơ ho chiếm 14% còn lại là các dân tc khác.

Địa hình: Khánh Vĩnh có địa hình chủ yếu là đồi núi và phân thành 2 khu vực chính. Khu vực phía Đông, dọc theo lưu vực các phụ lưu của sông Cái chủ yếu là các đồi thấp, khu vực phía tây và phía Nam chủ yếu là các núi cao với nhiều đỉnh núi cao từ 1500 m đến trên 2000 m, trong đó có Đỉnh Hòn Giao (2062 m) là đỉnh núi cao nht tnh Khánh Hòa.

Hệ thống sông suối: Do nằm ở thượng nguồn của sông Cái Nha Trang, huyện Khánh Vĩnh có mật độ sông suối cao hơn so với các huyện khác trong tỉnh, Mật độ sông suối bình quân là 0,65 km/km². Hầu hết sông suối đều xuất phát từ các dãy núi cao phía Nam, Tây và Bc ri tp trung v sông Thác Nga và sông Chò chy v sông Cái Nha Trang. Vì vậy, dễ gây lũ và xói mòn, sạt lở vào mùa mưa và dễ hạn hán, thiếu nước vào mùa nắng.

Tài nguyên khoáng sản của Khánh Vĩnh chủ yếu gồm thiếc, cao lanh… và các loại gỗ quí hiếm. Khánh Vĩnh có 87.198,99 ha đất rừng. Độ che phủ thường xuyên chiếm 75% diện tích tự nhiên của huyện với tổng trữ lượng gỗ lên đến 10 triệu m3, trong đó khoảng 9 triệu m3 tập trung ở rừng rậm và rừng trung bình.

Do vị trí nằm phía tây tỉnh Khánh Hòa nên chịu ảnh hưởng gió Lào từ phía Tây thổi vào làm khí hậu khô hanh. Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm.

Những tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng.

2.1.2.2. Lịch sử văn hóa xã hội Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Khánh Vĩnh là một huyện miền núi của tỉnh Khánh Hòa, dân cư chủ yếu là dân tộc thiểu số, trong đó người Raglai chiếm 49% dân số toàn huyện; người Kinh chiếm 27,5% dân số; còn lại là dân tộc khác. Là nơi tập trung đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lớn nhất của toàn tỉnh Khánh Hòa, huyện Khánh Vĩnh có nền văn hóa đa dạng, phong phú với các loại hình văn hóa phi vật thể mang đậm nét đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số như lễ cưới, lễ bỏ mả, lễ mừng lúa mới, lễ tung còn, với các nhạc cụ truyền thống như Mã La, đinh chóp, đinh năm, chapivà những làn điệu dân ca Raglai, hát then dân tộc Tày đã tạo nên văn hóa đặc trưng của huyện Khánh Vĩnh.

Văn hóa tộc người Raglai

 Người Raglai có quan niệm sống mang nhiều yếu tố tâm linh, nhưng nhìn chung đều nêu cao ý thức duy trì đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục con người sống có đạo đức có trước có sau, có trên có dưới, biết quý trọng Nhân – Lễ – Nghĩa. Nét đặc trưng văn hóa của người Raglai không chỉ thể hiện qua quan niệm sống, cách sống mà còn thể hiện qua nhà ở, trang phục, ca nhạc dân gian, lễ hội văn hóa truyền thống

a/ Về nhà ở

Người Raglai ở nhà sàn – còn gọi nhà dài được kết cẩu rất vững chắc với các cột chính có đường kính hơn ba gang tay, cao hơn 4m. Riêng phần thềm – phần sàn từ sân đất lên hết cầu thang rộng hơn 3m chạy suốt hiên mặt trước nhà đủ để dàn mã la diễn tấu cùng các sinh hoạt khác khi gia đình có lễ hội hay phân xử các sự việc theo luật tục; thềm trước nhà là nơi nghỉ ngơi, ăn trầu, hút thuốc. Các khu nhà ở của người Raglai thường xây dựng bên sườn đồi về một bên của dòng suối và có tập quán xây dựng cách xa nhau. Quanh khu nhà luôn có hàng rào chắc chắn, có một hoặc hai cửa ra vào và luôn có máng nước bằng tre nứa dẫn từ suối về đảm bảo sinh hoạt hàng ngày của gia đình

b/ Về trang phục cổ truyền

Người nữ Raglai mặc cà chăn/ váy màu đen có từ 5 đến 10 đường hoa văn vòng quanh từ gấu váy lên gối, vòng hoa văn dưới cùng màu đỏ, các vòng trên màu trắng. Người Raglai có loại áo chui đầu, còn gọi là áo khoang (theo màu sắc), người Raglai còn có kiểu áo xẻ thân trước thành hai vạt, riêng áo nữ có gài nút bên dưới ngực. Chỉ có phụ nữ đã có gia đình mới mặc áo xẻ để tiện việc cho con bú, còn nữ giới độc thân phái mặc áo chui đầu cho kín đáo. Nam giới mặc áo khoang và khố, lưng buộc dây thắt lưng, cả nam và nữ đều có khăn quấn đầu. Ngoài trang phục hàng ngày còn có trang phục lễ hội, có trang phục cho từng tầng lớp trong xã hội

c/ Nhạc cụ dân gian Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Nhạc cụ dân gian của đồng bào Raglai rất phong phú và độc đáo, cổ nhất là đá kêu (đàn đá tiền sử), tiếp đến là cồng, chiêng. Người Raglai không dùng cồng mà dùng chiêng, họ gọi là Char và theo tiếng gọi của người Việt là Mã la. Trong các sinh hoạt văn hóa, người Raglai thường dùng bộ mã la 5 chiếc để diễn tấu độc lập hoặc đi kèm với các nhạc cụ khác. Năm mặt chiêng trong bộ mã la của người Raglai được lấy tên theo trật tự của một gia đình mẫu hệ và âm chủ của một dàn mã la là chiêng mẹ (tên gọi các mặt chiêng bao gồm: mẹ, cha, con gái lớn, con gái thứ, con gái út), cách gọi này rất phổ biến ở các bản Raglai ở hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa. Nếu như người Ê đê đánh chiêng trong tư thế ngồi thì người Raglai diễn tấu mã la trong tư thế vừa đi vừa nhún nhẩy, nên thường được gọi là múa Mã la. Đây cũng là nét đặc sắc trong nhạc cụ dân tộc của người Raglai ở Khánh Vĩnh.

Ngoài ra người Raglai còn có một loại nhạc cụ được xem là linh hồn của dân tộc, đó chính là cây đàn Chapi, là một loại nhạc cụ được làm từ tre già và khi đánh phát ra âm thanh trầm ấm. Tiếng đàn Cha pi thường được ngân lên sau những buổi lao động mệt nhọc trên nương rẫy; theo người dân vào núi rừng; giúp các đôi trai gái tìm hiểu nhau và ngân lên khi bóng chiều khuất sau núi. Bên cạnh đó, tiếng salahkhel cùng những điệu múa của trai làng được vang lên trong các mùa lễ hội hay sinh hoạt cộng đồng.

Tộc người Raglai ngoài nét đặc trưng về làn điệu dân ca, về nhạc cụ họ còn có hệ thống nghi lễ rất phong phú và đa dạng, nó phản ảnh môi trường sống, cảnh quan và cuộc sống tâm linh của họ. Các nghi lễ thường thấy như lễ hội cầu mưa, lễ bỏ mả, lễ ăn mừng lúa mới, lễ đền đáp cha mẹ. Tất cả đều tạo nên nét đặc trưng văn hóa của người Raglai.

d/ Các nghi lễ truyền thống

Lễ bỏ mả là một trong những lễ hội đặc trưng của đồng bào Raglai, theo quan niệm của người Raglai sau khi làm lễ bỏ mả xong là cắt đứt quan hệ giữa người sống và người chết, vì thế họ cũng không quay lại thăm mồ mả của người thân và cũng không làm bia đề tên như người Kinh. Theo quan niệm của người Raglai, có hai thế giới cùng tồn tại là thế giới của người sống và thế giới của người đã khuất (cõi vĩnh hằng). Trong nghi lễ cầu cúng của người Raglai, lễ bỏ mả là lễ quan trọng nhất, đánh dấu thới khắc người sống và người chết chia tay nhau vĩnh viễn để người chết được trở về cõi vĩnh hằng.

Ngoài lễ bỏ mả, người Raglai còn có lễ mừng lúa mới đặc sắc, là nét văn hóa đẹp trong đời sống văn hóa của người Raglai và cũng là dịp để con cháu trong gia đình, bà con lối xóm cùng chung vui, uống rượu cần, đánh mã la, cồng chiêng hát múa quanh đống lửa thâu đêm. Trong nghi lễ nông nghiệp của người Raglai lễ hội mừng lúa mới rất quan trọng, được xem là ngày Tết cổ truyền của đồng bào dân tộc và thường diễn ra vào tháng Mười một âm lịch đến giữa tháng Giêng âm lịch, đây cũng là thời điểm sau thu hoạch vụ mùa. Lễ ăn mừng lúa mới gồm hai phần gồm lễ lên rẫy và lễ ăn mừng lúa mới.

Lễ lên rẫy hay còn gọi là lễ cúng thần lúa, mời lúa mới về làng…, chọn rẫy tốt nhất làm lễ cúng thần Lúa, “xin rước thần Lúa về nhà”, lễ cúng này đơn giản với các lễ vật như trầu cau, cơm, rượu, trứng luộc. Sau khi cũng, mọi người cùng nhau tuốt lúa, làm sạch, cho vào gùi và rước thần Lúa về nhà. Phần thứ hai là lễ ăn mừng lúa mới được tổ chức linh đình, rộn ràng với nhiều món ăn truyền thống như món canh Bùi. Sau phần lễ, mọi người cùng nhau ăn mừng và chúc nhau những điều tốt đẹp nhất, mọi người cùng nhau đốt lửa trại và ăn mừng, nhày múa suốt đêm và cùng ngân nga những điệu hát truyền thống A lâu, Ma Diêng với tiếng cồng chiêng ngân vang khắp núi rừng. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Ngoài ra người Raglai cũng có một nghi lễ không kém phần đậc sắc khác, đó là lễ đền đáp cha mẹ để tưởng nhớ đến công lao sinh thành, nuôi nấng, chăm sóc và dạy dỗ của cha mẹ. Lễ được tổ chức khi cha mẹ đã già yếu, gồm các lễ vật như heo, gà, rượu, trầu, thuốc, đặc biệt phải có dĩa lòng với đấy đủ món. Sau khi người con thưa với cha mẹ và dân làng biết mình làm lễ đền đáp cha mẹ, hai mẹ con cùng vái nhang, mời ông bà tổ tiên về dự và chứng kiến tấm lòng của con cái dành cho cha mẹ, cầu mong cha mẹ mạnh khỏe, sống lâu.

Sau khi người con mời cha mẹ chén rượu đầy, người con bưng dĩa thịt lòng đút từng miếng cho cha mẹ. Nếu cha mẹ ăn hết dĩa thịt lòng thì đó là niềm hạnh phúc lớn của người con và gia đình, nếu chỉ ăn được vài miếng thì đó là niềm vui sướng. Hết phần nghi lễ, hai mẹ con mời dân làng cùng hưởng lễ. Mọi người cùng nhau múa những điệu múa truyền thống với tiếng nhạc Mã lai đầy âm sắc.

e/ Tôn giáo, tín ngưỡng

Người Raglai theo tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh”, họ lấy tên đá, núi, cây rừng, con vật làm họ cho mình và xem đó như vị thần hộ mạng. Người Raglai quan niệm rằng “Giàng” là vị thần tối cao nhất và cũng có thể mang lại cho con người may mắn hoặc mang tai họa đến cho con người. Vì vậy, họ thường thờ cúng “Giàng” để không bị trừng phạt và cầu cho mùa màng bội thu, ngoài ra họ còn thờ thần rừng, thần núi, thần cây, thần lúa. Người Raglai quan niệm người chết nhưng linh hồn vẫn “sống” ở thế giới bên kia, nên quanh mộ thường được trồng mía, chuối, khoai môn và chia cho người chết bằng ché, muôi, gáo vỡ. Trên mộ dựng nhà mồ nhô lên những cột, trên các cột ấy khắc hình chiếc thuyền, chim dang cánh, bông lan, khi có điều kiện họ cúng lần cuối và bỏ mả hẳn

Văn hóa tộc người T’Rin

Tộc người T’Rin là dân tộc thiểu số lớn thứ hai ở Khánh Vĩnh sau tộc người Raglai. Tộc người T’Rin có khoảng hơn 5000 người và có nét đặc trưng, bề dày về văn hóa không kém gì tộc người Raglai.

a/ Về trang phục truyền thống

Dân tộc T’Rin là một nhánh của dân tộc Cơ ho, còn được gọi là Cơ Ho String (Lâm Đồng). Trang phục truyền thống của họ thường rất đặc sắc, đàn ông mặc khố bằng vải bản rộng dài khoảng 1,5 đến 2m, có hoa văn theo dải dọc. Phụ nữ mặc váy bằng vải rộng quấn quanh người rồi giắt cạp, váy nền đen có điểm hoa văn trắng, nếu trời lạnh họ khoác thêm chăn ra ngoài. Phụ nữ dùng vòng cổ, vòng tay, khuyên, bông tai làm đồ trang sức.

Tuy nhiên hiện nay, trang phục truyền thống của người T’Rin dần thay đổi, từ khi di cư tới lưu trú tới sinh sống tại huyện Khánh Vĩnh, người T’Rin đã không còn mặc trang phục đặc trưng của dân tộc mà thay vào đó là trang phục váy, áo và khăn quấn đầu của người Raglai và bị ảnh hưởng trang phục của người Kinh.

b/ Về tôn giáo, tín ngưỡng Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Người T’Rin tin rằng mọi mặt của đời sống đều do các thế lực siêu nhiên quyết định. Các thế lực siêu nhiên trong quan điểm của người T’Rin có tính chất đa thần: vị thần tối cao là Ndu, thần Mặt Trời, Mặt Trăng, thần Núi, thần Sông, thần Rừng. Họ thường cúng tế trong những dịp quan trọng (hiếu hỷ, ốm đau bệnh tật, các giai đoạn của mùa vụ), trong các dịp lễ, tùy thuộc vào mức độ quan trọng lễ vật có thể bao gồm gà, trâu, dê, heo để tế sống cùng rượu. Bàn thờ được đặt ở một góc trang trọng trong nhà.

c/ Lễ hội truyền thống

Nghi lễ hỏi vợ là một nghi lễ truyền thống của đồng bào dân tộc T’Rin ở huyện Khánh Vĩnh. Nghi lễ hỏi vợ và lễ cưới truyền thống của người T’Rin là một nghi lễ mang đậm nét văn hóa truyền thống của người đồng bào T’Rin.

Theo phong tục của người T’Rin ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa bước vào tuổi cập kê, các chàng trai bắt đầu đi đốn củi để hỏi vợ. Người xưa đặt ra tập tục này trước tiên để xem cái sức, cái chí của chàng trai sắp làm chồng con gái mình.

Chặt củi mất nhiều sức lực, cực khổ, mất nhiều thời gian. Người không chặt đủ số củi theo thời gian, số lượng thử thách chứng tỏ anh ta không quyết tâm đến với con mình, hoặc anh ta không đủ sức khỏe, tính nhẫn nại. Người già quan niệm thanh niên mà như vậy thì không đủ mạnh mẽ để chăm lo, bảo vệ cho gia đình. Theo tập tục, sau khi chàng trai đốn đủ số củi để làm lễ vật và được gia đình cô gái đồng ý, gia đình nhà trai phải sang nhà gái làm lễ dạm hỏi với các lễ vật cần thiết gồm: chiếc vòng đồng, những sợi dây cơm (chuỗi hạt nhiều màu sắc), chiếc khăn lau mặt mới… Có gia đình tùy theo yêu cầu của họ nhà gái còn bổ sung thêm ché rượu cần, chiếc nhẫn vàng hay con heo 3 gang tay (chiều dài heo bằng 3 gang tay)

Phần quan trọng nhất trong lễ dạm ngõ chính là việc đôi trai gái trao những chiếc vòng đồng đính ước mà hai nhà đã chuẩn bị. Những chiếc vòng đồng này được hai người mai mối của hai bên gia đình bê trong lễ dạm hỏi. Lúc này, chàng trai mở tráp được quấn bằng vải đỏ để lấy chiếc vòng đồng đeo vào tay cô gái. Cô gái cũng làm điều tương tự với chàng trai. Sau đó, đôi trẻ quỳ xuống dâng rượu lên hai người mai mối như một sự trả ơn.

Sau lễ dạm hỏi một thời gian, nhà gái phải sang nhà trai đáp lễ và bàn ngày lành tháng tốt tổ chức lễ cưới. Nhà giàu hay nghèo thì khi tổ chức lễ cưới cũng phải có rượu cần, mổ heo dài ít nhất 3 gang tay để khao đãi người thân và bà con dân làng cùng chung vui. Bắt đầu lễ cưới, cha của chú rể cầm bát thịt heo ngon nhất gắp một miếng đút cho cha cô dâu và ngược lại. Sau đó, mẹ của chú rể và cô dâu cũng thực hiện nghi lễ đút thịt. Tiếp đến là chú rể và cô dâu đút thịt cho nhau trong thế mặt đối mặt.

Cuối cùng là nghi lễ cô dâu tay bưng chén thịt, tay gắp miếng thịt ngon nhất đút cho cha chồng. Sau đó, cha chồng thực hiện động tác trả lễ tương tự. Đến đây thì mọi người cùng nhau dự tiệc ăn uống no say và chúc mừng đôi trẻ sống hạnh phúc trong tiếng mã la vui nhộn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Ngày nay, mặc dù ít nhiều chịu ảnh hưởng của lối sống hiện đại nhưng đồng bào T’Rin vẫn luôn giữ được nét đẹp văn hóa truyền thống đặc trưng của dân tộc mình. Họ đã biết loại bỏ những thủ tục rườm rà, thay vào đó là những yếu tố tích cực phù hợp với xu thế hiện nay và chắt lọc giữ gìn những tinh hoa văn hóa truyền thng.

Văn hóa tộc người Ê đê

Tộc người Ê đê là dân tộc thiểu số đông thứ 3 tại Khánh Vĩnh sau Raglai và T’Rin, đồng bào Ê đê có khoảng hơn 1000 người. Cùng với tộc người Raglai và T’Rin, tộc người Ê đê với truyền thống văn hóa của dân tộc đã góp phần mang lại nét đặc trưng văn hóa cho huyện Khánh Vĩnh. Các tộc người ở Khánh Vĩnh khác nhau về văn hóa dân tộc nhưng cùng chung sống hòa thuận, đoàn kết với ước vọng cùng nhau đoàn kết xây dựng huyện Khánh Vĩnh vươn lên xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi các tập tục lạc hậu và hướng tới cuộc sống văn minh, ấm no, hạnh phúc. Cũng giống người Raglai và T’Rin, người Ê đê cũng có những nét đặc trưng về văn hóa.

a/ Về nhà ở

Nhà người Ê đê thuộc loại hình nhà sàn dài. Nhà Ê đê có những đặc trưng riêng không giống nhà người chăm và các cư dân khác ở Tây Nguyên. Nhà dài của gia đình lớn mẫu hệ. Bộ khung kết cấu đơn giản. Cái được coi là đặt trưng của nhà Ê Ðê là: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt. Ðặc biệt là ở hai phần. Nửa đằng cửa chính gọi là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (tới 20cm), chiếng ché… nửa còn lại gọi là Ôk là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là “trên” chia thành nhiều gian nhỏ.

Phần về bên phải là hàng lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp…Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách, muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá gi thì sân khách càng rng, càng khang trang.

b/ Về trang phục truyền thống

Trang phục cổ truyền là màu chàm, có điểm những hoa văn sặc sỡ. Phụ nữ mặc áo, quấn váy. Đàn ông đóng khố, mặc áo. Đồng bào ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng, hạt cườm. Hiên nay, trang phục của đồng bào Ê đê vẫn được giữ gìn ở một số gia đình, tuy nhiên, trang phục truyền thống chỉ được mặc khi có lễ hội của dân tộc hoặc được mặc khi tham gia biểu diễn nghệ thuật.

Trang phục nam: khố và áo, áo có 2 loại:

Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu cho người Ê Đê qua trang phục nam, có tay áo dài, thân áo cũng dài trùm mông, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng. Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục hình chữ nhật tạo vẻ đẹp, khỏe, lực lưỡng. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Loại áo dài quá gối: Đây là loại áo dài quá gối, có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông Khố: Khố có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Áo thường ngày ít có hoa văn, bên cạnh các loại áo trên còn có loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay. Áo có giá trị nhất là loại áo Ktêh của những người quyền quý có dải hoa văn “đại bàng dang cánh”, ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau lưng có đính hạt cườm. Nam giới cũng mang hoa tai và vòng cổ.

Trang phục nữ giới Ê đê: áo và váy

Áo: Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Trên nền áo màu chàm thẫm các bộ phận được trang trí là: cổ áo lan sang hai bên bả vai xuống giữa cánh tay, cửa tay áo, gấu áo. Đó là các đường viền kết hợp với các dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng. Cái khác của trang phục áo nữ Ê Đê khác Raglai về phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân áo. Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm).

Váy: Đi cùng với áo của phụ nữ Ê đê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí các sọc nằm ngang ở mép trên, mép dưới và giữa thân bằng chỉ các màu tương tự như áo. Đồ án trang trí tập trung hơn ở mép trên và dưới thân váy. Có thể đây cũng là phong cách hơi khác với váy của dân tộc Gia Rai. Váy có nhiều loại phân biệt ở các dải hoa văn gia công nhiều hay ít. Váy loại tốt là m’iêng đếch, rồi đến m’iêng Drai, m’iêng piơk. Loại bình thường mặc đi làm rẫy là bong. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín.

c/ Về tôn giáo, tín ngưỡng

Trong đời sống tâm linh, như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Ê đê coi Giàng (Trời) là đấng thần linh tối cao và từ xa xưa người Ê đê coi các sự vật, hiện tượng thiên nhiên có vị thần riêng như: thần mưa, thần núi, thần sông, thần rừng…và theo quan niệm của đồng bào, mỗi vật từ cỏ cây đến ngôi nhà, những chiếc cồng, chiêng…đều có hồn ở bên trong. Hiện nay, dân tộc Ê đê ở Khánh Vĩnh đa phần theo Đạo Thiên chúa;

Người Ê Đê coi số 7 là con số linh thiêng, và con số tận trong hàng đơn vị tiếng Ê-Đê cùng sau con số 7 đều là những số ghép. Người Ê-đê theo Tin Lành thờ phượng đúng vào ngày Thứ Bảy mà họ gọi là “Hrue Sabbath”: Ngày Nghỉ ngơi – Trùng vào ngày Chủ nhật trong Công Lịch. Những ngày này đa số tín đồ thường kiêng không làm việc nương rẫy hay lao động chân tay khác. Đạo Tin Lành truyền thống của người Ê-đê hòa trộn nhiều tín ngưỡng bản địa có trước với nhiều quy tắc kiêng kỵ khá nghiêm ngặt: Cấm hôn  nhân  ngoại giáo, không ăn thịt động vật chết hay thú vật cắn, không ăn thực phẩm liên quan cúng tế ngoại giáo, cấm thờ ảnh, tượng; không ăn huyết động vật và những thức ăn chế biến từ huyết động vật, cấm dùng đồ uống có men như rượu, bia và thuốc lá, đưa tang ma vào lúc 9 giờ buổi sáng theo quan niệm phải mặt trời (ánh bình minh) chiếu xuống huyệt góc 60 độ về hướng Tây. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

d/ Lễ hội truyền thống

Một trong những phong tục tập quán lâu đời nhất của đồng bào dân tộc Êđê đó là lễ cúng bến nước. Lễ cúng bến nước của đồng bào dân tộc Ê đê là một lễ hội truyền thống mang màu sắc tâm linh. Ý nghĩa của lễ cúng bến nước là lời cầu mong của dân làng gửi đến thần nước, mong thần nước luôn ban sức khỏe cho dân làng, luôn để nguồn nước được chảy sạch chảy trong, cầu mong cho các cá nhân trong cộng đồng người Ê đê luôn yêu thương đùm bọc nhau như người một nhà. Lễ cúng bến nước của người Ê đê được tổ chức hằng năm (vào cuối tháng chạp) để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đây cũng là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang nhiều ý nghĩa tích cực trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Ê đê.

Có thể thấy, nét đặc trưng văn hóa của huyện Khánh Vĩnh chính là nét đặc trưng văn hóa của người Raglai, tộc người chiếm đa số trong thành phần dân cư của huyện Khánh Vĩnh.

Chính những nét đặc trưng về văn hóa của các dân tộc đã tạo nên sự độc đáo, đa dạng và phong phú trong tài nguyên du lịch nhân văn của huyện Khánh Vĩnh. Là yếu tố giúp Khánh Vĩnh khai thác đưa vào phát triển hoạt động du lịch.

2.2. Thực trạng kinh tế – xã hội ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

Khánh Vĩnh là một trong hai huyện miền núi của tỉnh Khánh Hòa. Cũng là một trong hai huyện nghèo nhất của tỉnh với khá đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trong những năm gần đây huyện miền núi Khánh Vĩnh đã có nhiều đổi thay, chất lượng đời sống của người dân dần được cải thiện và nâng cao, nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu đã được chuyển dần sang nền kinh tế dịch vụ – du lịch. Tình hình kinh tế xã hội ở huyện Khánh Vĩnh đã có sự thay đổi nhanh chóng và đạt được hiệu quả cao. Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở huyện Khánh Vĩnh theo hướng giảm nghèo đa chiều.

Khánh Vĩnh là một huyện miền núi với diện tích tự nhiên là 1165 km2, trong đó rừng và đất rừng chiếm hơn ¾ diện tích, dân cư chủ yếu là đồng bào các dân tộc Raglai, Ê đê, T’Rin, kinh tế chủ yếu tập trung vào nông – lâm nghiệp. Từ năm 2017 đến nay kinh tế Khánh Vĩnh có sự chuyển hướng và phát triển khởi sắc. Tổng sản lượng lương thực năm 2019 đạt 5.165 tấn, bằng 94,4% so với kế hoạch đề ra và bằng 97,4% so với năm 2018. Cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển dịch từ sản xuất cây trồng truyền thống có giá trị kinh tế thấp sang cây trồng có giá trị kinh tế cao và từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung về trồng trọt, chăn nuôi; ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất… Một số loại cây ăn quả đã được đưa vào trồng thực nghiệm, bước đầu đã phát huy hiệu quả, điển hình như cây bưởi da xanh, cây sầu riêng, cây xoài, cây mít. Bên cạnh đó, trong những năm qua, được sự đầu tư của Nhà nước, cộng với các nguồn vốn khác, huyện đã chú trọng đầu tư nhiều công trình, hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp như hệ thống kênh mương nội đồng; hệ thống giao thông nông thôn… góp phần đáp ứng nhu cầu nước tưới cho vùng sản xuất lúa, vùng trồng cây công nghiệp, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng và tạo thuận lợi trong khâu thu hoạch, vận chuyển tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân.

Song song với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, khu vực nông thôn cũng được huyện quan tâm đầu tư, phát triển nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và thay đổi tập quán sản xuất, canh tác cho cư dân nông thôn. Hiện nay, hệ thống cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm đã được xây dựng cơ bản hoàn chỉnh, kiên cố, đáp ứng điều kiện đi lại, học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục – thể thao của người dân trong huyện. Cùng với chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, các cuộc vận động, các phong trào thi đua được đẩy mạnh gắn với xây dựng gia đình văn hóa, thôn, xã văn hóa… đã thay đổi từng bước diện mạo nông dân, nông thôn ở Khánh Vĩnh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Đến nay, 100% số xã được phủ sóng truyền thanh – truyền hình, có trạm y tế và hệ thống trường học từ mẫu giáo đến tiểu học, 99% số hộ dân ở nông thôn được sử dụng điện, gần 90% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh; số hộ có phương tiện và các thiết bị hiện đại phục vụ sinh hoạt ngày càng nhiều. Số hộ giàu ở nông thôn tăng lên, số hộ nghèo giảm, cụ thể: Năm 2008 toàn huyện 2.538 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 37,7%, đến năm 2015 có 452 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ năm 5,1% và đến năm 2017 theo tiêu chí xác định chuẩn nghèo đa chiều, tỷ lệ hộ nghèo ở huyện Khánh Vĩnh tăng lên khá cao, chiếm tỷ lệ 52,1%. Đến cuối năm 2019 số hộ nghèo trên địa bàn huyện là 3.194 hộ, giảm 1.007 hộ so với đầu năm, giảm 11,1% và vượt 21,3% so với kế hoạch được giao. Tổng thu ngân sách đạt 108,1 triệu đồng, thu ngoài quốc doanh đạt 65 tỷ đồng. Huyện cũng tranh thủ các nguồn đầu tư của Trung ương, của tỉnh để từng bước hoàn thành việc xóa nhà tranh tre, nhà tạm cho hộ nông dân nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã còn khó khăn. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng cho lao động nông thôn, huyện cũng chú trọng đến công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Năm 2008, số lao động nông thôn được đào tạo nghề là 2.018 người, chiếm tỷ lệ 12,2% so với lao động đang tham gia hoạt động kinh tế; đến năm 2017, số lao động nông thôn được đào tạo nghề là 5.296 người, chiếm tỉ lệ 28,5% so với tổng số lao động đang tham gia hoạt động kinh tế, tăng 3.278 người so với năm 2008. Đặc biệt, lần đầu tiên, huyện Khánh Vĩnh đã xuất khẩu được lao động sang làm việc tại thị trường Ả rập Xê út.

Nhiều hộ gia đình nông dân ở Khánh Vĩnh đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ cây Bưởi da xanh. Mặt khác, để ngành nông nghiệp phát triển nhanh và bền vững, huyện Khánh Vĩnh đã quan tâm chỉ đạo xây dựng các mô hình hợp tác, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, số lượng, đầu ra và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp. Đến nay, toàn huyện có 13 Tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp, 01 Hợp tác xã nông nghiệp và hiện nay đang xúc tiến thành lập thêm 02 Hợp tác xã nông nghiệp khác. Huyện cũng kêu gọi các công ty trong và ngoài tỉnh đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, hiện nay đã có một số công ty quan tâm và đầu tư trên địa bàn huyện như Công ty TNHH Nhật Minh, Công ty TNHH Nông nghiệp thương mại bền vững Diệp Châu, Công ty Cổ phần thủy sản Thông Thuận, Công ty Dược liệu Liên Sơn, Công ty cá Tầm Đà Lạt…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình triển khai Nghị quyết tam nông trên địa bàn huyện còn một số khó khăn, hạn chế như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm, quy mô còn nhỏ lẻ. Kinh tế một số xã vẫn mang nặng tính thuần nông; ngành nghề nông thôn, dịch vụ nông nghiệp phát triển còn chậm; kinh tế trang trại tuy có phát triển nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao, chưa thật sự là những nhân tố thúc đẩy nông nghiệp và phát triển nông thôn. Mặt khác, đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị trường nên giá nông sản thường bấp bênh, không ổn định, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định cây trồng, vật nuôi chủ lực trong từng giai đoạn, đến đời sống người nông dân, nhịp độ sản xuất và các đơn vị sản xuất kinh doanh gắn với nông nghiệp trên địa bàn huyện; một bộ phận người dân còn có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nhà nước nên chưa tích cực trong việc phát huy nội lực để thoát nghèo

2.3. Thực trạng và triển vọng phát triển du lịch ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

2.3.1. Thực trạng phát triển du lịch ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

Huyện Khánh Vĩnh có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú và đa dạng, đó là sự đa dạng của các di tích lịch sử cùng bề dày truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số địa phương với các phong tục truyền thống, những làn điệu dân ca, điệu múa, các lễ hội truyền thống của đồng bào; cùng với điều kiện thời tiết ôn hòa, lý tưởng…. tất cả đã làm nên sự đa dạng, phong phú và mang đến những cảm giác mới lạ cho khách du lịch khi đến Khánh Vĩnh. Bên cạnh tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch, hoạt động du lịch ở huyện Khánh Vĩnh còn tồn tại một số vấn đề cần khắc phục và giải quyết. Thực trạng phát triển du lịch hiện nay ở Khánh Vĩnh chưa được khai thác hiệu quả. Đặc biệt hoạt động du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái gắn với liền với du lịch cộng đồng vẫn chưa được chú trọng phát triển, chưa được đầu tư và khai thác đúng mức. Chưa khai thác triệt để và hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch thiên nhiên cho phát triển du lịch. Việc khai thác tài nguyên du lịch vẫn chưa phù hợp và chưa tương xứng với tài nguyên du lịch của địa phương.

Các điểm du lịch tại huyện Khánh Vĩnh mới chỉ tập trung khai thác tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn theo góc độ của du lịch sinh thái và lồng ghép vào đó các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, chứ chưa thật sự phát triển hoạt động du lịch cộng đồng. Cũng có điểm du lịch do người dân địa phương xây dựng nhưng cũng chủ yếu là du lịch sinh thái chứ chưa phải là du lịch cộng đồng, như điểm du lịch suối Lách – Yang Ly, huyện Khánh Vĩnh là một ví dụ. Đây là điểm du lịch do Mà Giá, một già làng dân tộc Raglai đầu tư xây dựng, theo hình thức tự phát, manh mún, nhỏ lẻ với loại hình du lịch sinh thái, chứ chưa được đầu tư phát triển theo hình thức du lịch cộng đồng, nên tiềm năng phát triển du lịch của Khánh Vĩnh vẫn chưa được khai thác hiệu quả;

Các hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh chưa chú trọng phát triển, các hoạt động du lịch chỉ là tự phát chưa được chính quyền địa phương quan tâm và có định hướng phát triển đúng đắn.

Điều kiện đi lại đến các điểm du lịch còn khó khăn, cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư, hệ thống đường giao thông chưa được nâng cấp, gây khó khăn cho việc tham quan, nghỉ dưỡng của khách du lịch. Hệ thống lưu trú, nhà nghỉ cho khách du lịch chưa được xây dựng theo quy hoạch, hoạt động khai thác du lịch mới chỉ dừng lại ở việc tham quan, vui chơi, giải trí, các hoạt động team buding…. diễn ra trong ngày, chưa khai thác phát triển hệ thống nhà nghỉ để khách du lịch có thể hòa vào cuộc sống của đồng bào. Có thể nói du lịch Khánh Vĩnh có nhiều lợi thế để phát triển du lịch cộng đồng, nhưng tiềm năng thế mạnh đó vẫn chưa được khai thác hiệu quả và triệt để. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát 150 khách du lịch và 50 nhân viên làm trong lĩnh vực du lịch tại các điểm du lịch ở huyện Khánh Vĩnh, đồng thời tác giả cũng tiến hành phỏng vấn người dân địa phương tham gia vào hoạt động du lịch để lấy ý kiến đóng góp, làm căn cứ cho đề tài. Qua quá trình thu thp và x lý kết qu kho sát khách du lch và nhân viên du lịch và người dân địa phương, có thể đánh giá như sau. Đa số những người được khảo sát và phỏng vấn đánh giá phát triển du lịch cộng đồng rất cần thiết đối với huyện Khánh Vĩnh.

Biểu đồ 2.3.1.1 Biểu đồ về sự cần thiết phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh

Thực trạng phát triển du lịch hiện nay ở Khánh Vĩnh chưa được khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn cho phát triển du lịch, đặc biệt là hoạt động du lịch cộng đồng. Việc khai thác các tài nguyên du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển du lịch của huyện, chưa khai thác triệt để các nguồn tài nguyên để phát triển du lịch, hoạt động phát triển du lịch chưa gắn với quy hoạch, thiếu định hướng lâu dài, chưa được chính quyền chú trọng đầu tư khai thác.

Hiện tại trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh cũng có các điểm du lịch đã và đang được khai thác, đưa vào hoạt động như: Khu du lịch Yang Bay, khu An Tim (xã Khánh Phú); khu suối khoáng nóng Nhân Tâm (xã Khánh Hiệp); khu du lịch Mà Giá (xã Giang Ly). Tuy nhiên trong 4 điểm du lịch này, chỉ có điểm du lịch Yang Bay được Tổng công ty du lịch Khánh Việt đầu tư khá quy mô, nên thu hút được một lượng lớn khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng; đồng thời giải quyết được nhiều lao động cho địa phương. Phần lớn nhân viên làm việc tại khu du lịch Yang Bay là đồng bào dân tộc của huyện, một số ít là người Kinh sinh sống tại huyện Khánh Vĩnh. Mặc dù được đầu tư khá quy mô nhưng hoạt động du lịch tại Yang bay chủ yếu là du lịch sinh thái kết hợp với biểu diễn nhạc cụ dân tộc, giao lưu văn hóa với khách du lịch. Các điểm du lịch còn lại đều do tư nhân tự đầu tư nên còn rất hoang sơ. Hầu hết các điểm du lịch chỉ mới tận dụng được lợi thế về thiên nhiên như: suối nước, vườn đồi, mỏ nước khoáng nóng để khai thác du lịch; còn các yếu tố như cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, hệ thống cơ sở lưu trú, tuyến du lịch đều chưa được đầu tư. Điển hình như khu du lịch An Tim, do ông Huỳnh Thanh Tâm phụ trách, rộng 10ha nhưng cũng chỉ tận dụng vườn cây, ao cá và dựng thêm chòi nghỉ, nhà hàng để thu hút khách. Tuy nhiên lượng khách đến đây rất ít, chủ yếu phục vụ nhu cầu dã ngoại của giáo viên và học sinh vào những dịp cuối tuần.

Điểm du lịch khác là suối Lách –Yang Ly do Mà Giá, một già làng người Raglai đầu tư khai thác. Điểm du lịch tận dụng dòng chảy của suối nước, dựng thêm chòi để khách thuê nghỉ ngơi, vui chơi vào những dịp cuối tuần, ngày lễ. Các chòi nghỉ được dựng đơn sơ bằng tre, nứa, chưa được đầu tư bài bản, được phục vụ ăn tại chòi khi khách có yêu cầu.

Từ thực trạng khai thác du lịch có thể nhận định, các điểm du lịch trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh chủ yếu là những điểm du lịch nhỏ lẻ, mang tính tự phát, thiếu sự đầu tư nên chưa đáp ứng được điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng. Do vậy, phát triển du lịch cộng đồng thật sự rất cần thiết đối với huyện Khánh Vĩnh.

Đa số khách du lịch và nhân viên du lịch được hỏi đều nhận định, ấn tượng đối với họ khi đi du lịch tại Khánh Vĩnh chính là hoạt động biểu diễn văn nghệ, nhạc cụ của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương. Chính hoạt động của cộng đồng là yếu tố thu hút khách đến du lịch tại Khánh Vĩnh. Hoạt động văn hóa nghệ thuật của người dân địa phương thu hút được số lượng lớn khách du lịch muốn khám phá và trải nghiệm văn hóa địa phương.

Biểu đồ 2.3.1.2 Ấn tượng cuả khách du lịch khi đi du lịch ở Khánh Vĩnh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.  

Ngoài những ấn tượng để lại từ hoạt động văn hóa văn nghệ của người dân địa phương, hoạt động khám phá văn hóa truyền thống và thưởng ngoạn thiên nhiên cũng là lý do thu hút khách du lịch đến Khánh Vĩnh.

Theo số liệu khảo sát có thể nhận xét, đa số khách du lịch thích thú với hoạt động văn hóa nghệ thuật do người dân thực hiện, chính những nét đặc sắc trong văn hóa của các tộc người tại huyện Khánh Vĩnh đã tạo nên sự hấp dẫn khách du lịch. Có 60% số khách được hỏi ấn tượng với hoạt động văn hóa nghệ thuật của địa phương; 10% số khách được hỏi ấn tượng về món ăn của huyện Khánh Vĩnh, 15% khách du lịch ấn tượng với phong cảnh ở nơi đây, vì sự hoang sơ của tài nguyên du lịch thiên nhiên chưa được khai thác để phát triển du lịch; 15% khách du lịch ấn tượng với người dân bởi sự hiền hòa, mến khách của người dân địa phương, của đồng bảo dân tộc sinh sống tại huyện Khánh Vĩnh.

Biểu đồ 2.3.1.3 Nhận xét về các hoạt động du lịch được tổ chức tại Khánh Vĩnh

Bên cạnh đó, hoạt động du lịch tại huyện Khánh Vĩnh mang đậm nét văn hóa truyền thống của địa phương được tái hiện qua các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang đến cho khách du lịch những trải nghiệm thú vị.

Theo nhận xét của khách du lịch thì những hoạt động văn hóa nghệ thuật được tổ chức tại các điểm du lịch trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh không chỉ để lại ấn tượng tốt cho khách du lịch mà còn mang đậm giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Những điệu múa, những làn điệu dân ca, những lễ hội truyền thống được tái hiện rõ qua những hoạt động du lịch được tổ chức. Khi đi du lịch tại Khánh Vĩnh, du khách được hòa mình được sống trong những lễ hội truyền thống, những bài ca, điệu khèn và những bản nhạc nổi tiếng của quốc tế qua tài năng của những nghệ nhân, của đồng bào dân tộc tại địa phương bằng chính những nhạc cụ truyền thống của người đồng bào dân tộc như đàn Mã La, đàn đá, đàn Chapi…. Có thể nói, hoạt động du lịch được tổ chức tại Khánh Vĩnh không chỉ mang đậm nét truyền thống của địa phương mà còn kết hợp hiệu quả giữa kinh tế với giao lưu văn hóa, giúp quốc gia trên thế giới hiểu thêm về văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và tnh Khánh Hòa nói riêng.

Bên cạnh hoạt động khai thác và phát triển du lịch, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế cũng phần nào ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương. Do đó, vấn đề xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và phát triển kỹ năng giao tiếp cho cộng đồng, là hai vấn đề lớn mà huyện Khánh Vĩnh quan tâm và chú trọng. Vì phần lớn dân số của huyện Khánh Vĩnh là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí hạn chế, kinh tế chủ yếu chỉ tập trung vào nương rẫy nên đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Việc phát triển du lịch đặc biệt là du lịch cộng đồng giúp người dân cải thiện cuộc sống, nâng cao thu nhập. Nhiều người đồng bào tham gia trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các điểm du lịch, tham gia trực tiếp tại các khu du lịch đang góp phần giúp họ có thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống. Mặt khác, du lịch cộng đồng còn giúp kết nối các dân tộc thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa giữa các dân tộc thiểu số giúp các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Dựa trên số liệu khảo sát đối tượng nhân viên du lịch và khách du lịch, những lợi ích của du lịch cộng đồng mang lại cho huyện Khánh Vĩnh chủ yếu là xóa đói giảm nghèo, kết nối dân tộc thông qua giao lưu văn hóa và giải quyết việc làm. Đây là những nhận xét dựa trên quan điểm của khách du lịch và nhân viên du lịch, những quan điểm này được đánh giá dựa trên ý kiến chủ quan của đối tượng khảo sát. Thực tế, du lịch cộng đồng mang lại cho huyện Khánh Vĩnh rất nhiều lợi ích khác.

Theo số liệu thống kê của huyện Khánh Vĩnh, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của địa phương chiếm 55,6% so với dân số của huyện, số lượng lao động đã qua đào tạo nghề tăng cao, đặc biệt những ngành nghề phi nông nghiệp.

Công tác giảm nghèo được huyện quan tâm, chú trọng. Trong năm 2019, tỉ lệ hộ nghèo toàn huyện chỉ còn 1007 hộ. Trong đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện Khánh Vĩnh, đã xác định du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp sạch, tham quan vườn cây ăn trái là những sản phẩm du lịch chủ yếu của huyện đến năm 2030.

Cơ cấu lao động trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh

Bảng 2.3.1.1 Cơ cấu lực lượng lao động trên điạ bàn huyện Khánh Vĩnh

Với lực lượng lao động lớn chiếm hơn 50% cơ cấu lao động của toàn huyện, Khánh Vĩnh có nguồn lao động dồi dào đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho các hoạt động phát triển của địa phương. Tuy nhiên, thành phần lao động của huyện chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn hạn chế, công việc chủ yếu là nương rẫy nên thu nhập hạn chế.

Trong năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh chú trọng đến việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực tại huyện Khánh Vĩnh. Phần lớn người lao động là người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế nên chưa nhận thức được việc học nghề là điều kiện cần thiết để tìm kiếm việc làm, cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống xã hội mà chỉ muốn làm những công việc phổ thông, đơn giản có thu nhập ngay.

Theo số liệu báo cáo kết quả thực hiện phát triển nguồn nhân lực năm 2019 của huyện Khánh Vĩnh, số lượng lao động được qua đào tạo nghề là 1.271 người, trong đó đào tạo thường xuyên là 914 người, đào tạo trung cấp trở lên 357 người, số lao động được học nghề là đồng bào dân tộc thiếu số chiếm 80%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Năm 2019, chất lượng nguồn nhân lực của huyện Khánh Vĩnh đã được nâng cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt chỉ tiêu đề ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện. Với lực lượng lao động được đào tạo nghề đặc biệt là ngành nghề phi nông nghiệp đã cung cấp cho địa phương lượng lao động lớn cho ngành du lịch. Việc đào tạo ngành nghề cho lao động nông thôn giúp người dân địa phương nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc phát triển hoạt động du lịch của địa phương.

Theo kết quả triển khai đào tạo nguồn nhân lực địa phương, số lượng người lao động được đào tạo chiếm tỷ lệ như sau:

Bảng 2.3.1.2 Kết quả triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực huyện Khánh Vĩnh năm 2019

Dân cư Khánh Vĩnh phân bố rải rác, thưa thớt chủ yếu là các dân tộc thiểu số, trình độ dân trí nhận thức của đồng bào còn hạn chế nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững tại huyện.

Nhận thức được vấn đề còn hạn chế của địa phương, huyện Khánh Vĩnh đã chú trọng huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và cải thiện cơ cấu kinh tế của từng ngành. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển dân trí và nguồn nhân lực tại chỗ, nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc thiểu số; gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề dân tộc và tôn giáo; giảm nhanh và bền vững hộ nghèo, bảo đảm công bằng xã hội; bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Phát triển kinh tế – xã hội huyện Khánh Vĩnh phải gắn với việc phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển xã hội theo hướng bền vững, đảm bảo các nhu cầu về dân sinh, nâng cao đời sống của người dân, giảm nghèo bền vững. Đây chính là những lợi ích mà du lịch cộng đồng mang lại cho huyện Khánh Vĩnh.

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn để phát triển du lịch cộng đồng. Huyện Khánh Vĩnh cũng gặp phải một số khó khăn nhất định ảnh hưởng đến hoạt động du lịch như về hệ thống đường giao thông, cơ sở hạ tầng để phát triển du lịch. Cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch chưa được đầu tư và phát triển, hệ thống đường giao thông chưa được nâng cấp, gây khó khăn cho việc đi lại, tham quan, nghỉ dưỡng của khách du lịch. Hệ thống lưu trú, nhà nghỉ cho khách du lịch chưa được đầu tư xây dựng, hoạt động khai thác du lịch mới chỉ dừng lại ở việc tham quan, vui chơi, giải trí, các hoạt động team buding…. diễn ra trong ngày, chưa khai thác phát triển hệ thống nhà nghỉ để khách du lịch có thể hòa vào cuộc sống của đồng bào vào buổi tối.

Hoạt động biểu diễn văn hóa nghệ thuật của người dân địa phương chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, chưa có sự đổi mới trong hoạt động khai thác. Chương trình biểu diễn nghệ thuật chỉ mới dừng lại ở biểu diễn nhạc cụ dân tộc như

Mã la, đàn chapi, đàn đá…, chưa tái hiện nhiều lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc. Những giá trị truyền thống của địa phương được tái hiện qua âm nhạc, thể hiện thông qua những điệu múa của người Raglai. Tuy nhiên, hoạt động biểu diễn nghệ thuật chưa có tính đổi mới, nên chưa thật sự hấp dẫn khách du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Hoạt động du lịch cộng đồng tại huyện Khánh Vĩnh chưa thực sự phát triển và khai thác một cách hiệu quả, hoạt động du lịch chủ yếu của địa phương là du lịch sinh thái kết hợp với hoạt động biểu diễn văn hóa văn nghệ truyền thống của địa phương. Ngay cả khu du lịch nổi tiếng Yang Bay cũng mới chỉ dừng lại ở việc tham quan, vui chơi, giải trí chứ chưa phát triển về hoạt động lưu trú do chưa đủ điều kiện để xây dựng hệ thống nhà nghỉ, khách sạn.

Hoạt động du lịch của địa phương mới chỉ dừng lại ở hoạt động tham quan, giải trí mà chưa thực sự gắn liền với việc khai thác và phát triển hoạt động lưu trú, nghỉ dưỡng. Hoạt động du lịch của người dân mới chỉ dừng lại ở hoạt động tư phát nhỏ lẻ mà chưa có được sự đầu tư hợp lý từ các nhà đầu tư, từ chính quyền địa phương. Hoạt động du lịch cộng đồng ở huyện Khánh Vĩnh không mang lại những hiệu quả nhất định do một số nguyên nhân sau

Biểu đồ 2.3.1.5 Nguyên nhân hoạt động du lịch cộng đồng ở huyện Khánh Vĩnh không hiệu quả

Nguyên nhân thứ nhất do hoạt động du lịch cộng đồng phát triển chưa đúng hướng, chưa thực sự phát triển du lịch cộng đồng đúng nghĩa. Người dân địa phương cũng tham gia vào hoạt động du lịch nhưng không trực tiếp đứng ra quản lý và tổ chức các hoạt động du lịch tại địa phương. Những hoạt động du lịch tại đây chủ yếu do các công ty du lịch tổ chức thực hiện, điều hành, quản lý. Lợi ích thu được từ hoạt động du lịch phục vụ lại cho công ty du lịch.

Nguyên nhân thứ hai hoạt động du lịch cộng đồng không phát huy được vai trò của cộng đồng địa phương. Huyện Khánh Vĩnh cũng có những điểm du lịch do người dân tự thành lập nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở hoạt động khai thác và phát triển du lịch sinh thái, tham quan, nghỉ dưỡng chứ chưa thực sự phát triển du lịch cộng đồng.

Nguyên nhân thứ ba chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và cộng đồng địa phương. Theo đề án phát triển kinh tế của huyện, chính quyền địa phương đã xác định được những tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của huyện Khánh Vĩnh, đặc biệt là du lịch cộng đồng. Những điểm du lịch do người dân địa phương tự đầu tư xây dựng như điểm du lịch Yang ly-Mà Giá, An Tim được hình thành tự phát, manh mún, nhỏ lẻ chưa được chính quyền địa phương hỗ trợ, đầu tư xây dựng. Hệ thống đường giao thông đến những điểm du lịch này chưa được nâng cấp, việc đi lại của khách du lịch gặp rất nhiều khó khăn, chưa có chính sách quy hoạch, đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương; công tác quản lý còn yếu kém cũng như hoạt động của các đối tác kinh doanh chưa thực sự hiệu quả phần nào đã làm ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch cộng đồng của địa phương.

Thiết nghĩ, để hoạt động du lịch cộng đồng ở huyện Khánh Vĩnh phát triển cần thực hiện trong khoảng thời gian dài, cần sự nỗ lực của các cấp ngành và địa phương trong việc định hướng và phát triển du lịch đúng đắn để hoạt động du lịch thực hiện đúng lợi ích mà nó mang lại cho địa phương.

Để đánh giá đầy đủ về thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Khánh Vĩnh, tác giả tiến hành nghiên cứu và phân tích SWOT đối với hoạt động du lịch cộng đồng tại huyện. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Bảng 2.3.1.3 Bảng phân tích SWOT hoạt động du lịch cộng đồng tại huyện Khánh Vĩnh

2.3.2. Mối quan hệ giữa du lịch cộng đồng miền núi Khánh Vĩnh với khu vực đồng bằng Khánh Hòa và khu vực Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam

Khánh Vĩnh được ưu đãi cho nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp và kỳ thú, các giá trị văn hóa địa phương hấp dẫn, lại nằm giữa hai thành phố du lịch Nha Trang và Đà Lạt. Cùng với hệ sinh thái rừng đa dạng, có nhiều loại động, thực vật phong phú, Khánh Vĩnh là địa điểm lý tưởng để xây dựng những khu Du lịch sinh thái núi rừng. Với đặc điểm là huyện có khá đông đồng bào dân tộc sinh sống, Khánh Vĩnh có điều kiện để xây dựng những khu Du lịch cộng đồng và kết hợp với Du lịch sinh thái. Hiện tại, trên địa bàn huyện cũng đã có một vài điểm du lịch, khu du lịch được đầu tư xây dựng, chủ yếu là khu du lịch sinh thái núi rừng. Đó là Công viên Yang Bay – Ho Cho (xã Khánh Phú), Đồi thông (thị trấn Khánh Vĩnh), suối khoáng nóng Khánh Thành (xã Khánh Thành), thác Ziông (xã Khánh Trung), sui khoáng nóng Khánh Hip (xã Khánh Hiệp), suối Mấu, Đá Dài (xã Khánh Thượng), thác Yang Ly, khu du lịch Giang Ly (xã Giang Ly). Bên cạnh đó, huyện Khánh Vĩnh còn có điều kiện khí hậu ôn hòa, không có các hiện tượng thời tiết tiêu cực như sương muối, gió nóng. Đặc biệt, tại những nơi có độ cao từ 1.000m, còn có sương mù đây là điểm đặc biệt về thiên nhiên của huyện Khánh Vĩnh so với các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

Huyện Khánh Vĩnh còn có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, đó là sự đa dạng của các di tích lịch sử, cùng bề dày văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số địa phương với các điệu dân ca, điệu múa, các lễ hội, nghề thủ công như: đan gùi, làm nỏ, dệt vải… Ngoài ra, Khánh Vĩnh còn có một lợi thế khác về vị trí địa lý thuận lợi, là điểm nối giữa hai thành phố du lịch nổi tiếng Nha Trang và Đà Lạt với tuyến đường Khánh Lê – Lâm Đồng tuyệt đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch của hai địa phương, hai thành phố du lịch nổi tiếng, rút ngắn khoảng cách từ Nha Trang- Đà Lạt và ngược lại. Khách du lịch có thể đi xe máy từ Nha Trang –Đà Lạt và ngược lại một cách dễ dàng và thuận tiện. Là điểm trung gian nối giữa Nha Trang và Đà Lạt nên huyện Khánh Vĩnh có điều kiện để phát triển kinh tế, người dân sinh sống khu vực đường Khánh Lê –Lâm Đồng có điều kiện để phát triển kinh tế, việc đi lại, buôn bán hàng hóa cũng dễ dàng và thuận tiện hơn. Từ khi cung đường Khánh Lê- Lâm Đồng được xây dựng không chỉ thuận tiện cho việc di chuyển từ Nha Trang – Đà Lạt và còn rút ngắn khoảng cách và thời gian di chuyển từ Nha Trang –Khánh Vĩnh, nếu như trước đây di chuyển từ Nha Trang-Khánh Vĩnh mất gần 3 giờ đồng hồ và Nha Trang-Đà Lạt mất 1 ngày thì giờ đây di chuyển từ Nha Trang – Khánh Vĩnh chỉ mất hơn 1 giờ đồng hồ di chuyển bằng ô tô và thời gian di chuyển từ Nha Trang- Đà Lạt chỉ còn 4 giờ đồng hồ. Đặc biệt tuyến đường Khánh Lê- Lâm Đồng là cầu nối và Khánh Vĩnh sẽ là nơi hội tụ các chuyến tham quan du lịch từ Thành phố Đà Lạt đến vùng đồng bằng Khánh Hòa và ngược lại.

Ngoài ra, Khánh Vĩnh cũng là điểm trung gian giữa Nha Trang – Đắk Lắk nếu đi theo Tỉnh lộ 8. Là cầu nối giữa tỉnh Khánh Hòa với khu vực miền núi Tây Nguyên, giúp cho việc di chuyển, đi lại giữa khu vực miền núi Tây Nguyên và thành phố Nha Trang được thuận tiện, tạo điều kiện để phát triển du lịch, giao thương buôn bán hàng hóa giữa hai tính Khánh Hòa và Đắk Lắk được mở rộng. Đồng thời đây cũng là cơ hội để giới thiệu và giao lưu văn hóa giữa đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại Đắk Lắk và cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống tại huyện Khánh Vĩnh nói riêng và cư dân tỉnh Khánh Hòa nói chung được xích lại gần nhau hơn. Đối với các tuyến du lịch nội tỉnh: Nha Trang – Diên Khánh – Khánh Vĩnh theo đường 23/10 nối liền đoạn đường Khánh Lê- Lâm Đồng; Vạn Ninh – Ninh Hòa – Khánh Vĩnh theo tuyến quốc lộ 1A  rất phù hợp cho những chuyến du lịch “đổi gió” của khách du lịch địa phương vào mỗi dịp cuối tuần và nghỉ lễ để tìm về với thiên nhiên hoang sơ của núi rừng và hòa mình vào tiếng cồng chiêng, điệu múa, tiếng đàn của người đồng bào dân tộc thiểu số, giúp cho việc đi lại giữa các huyện trong địa bàn tỉnh được thuận lợi và dễ dàng. Khoảng cách giữa khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa và khu vực đồng bằng được thu hẹp, người dân đi lại được dễ dàng, xây dựng được nhiều tour du lịch mới, độc đáo thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, mua sắm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Khánh Vĩnh còn là cầu nối giữa khu vực Trung Bộ với nét văn hóa của đồng bào dân tộc tại địa phương với đồng bào dân tộc đang sinh sống ở địa phương khác. Điển hình như phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Ê đê ở Khánh Vĩnh gần giống với phong tục của đồng bào Ê đê ở khu vực Tây Nguyên, và khu vực Bình Định tuy nhà dài của người Ê đê ở Khánh Vĩnh có nét đặc trưng riêng khác với nhà của người Chăm hay các cư dân khác ở Tây Nguyên. Đây là điểm khác biệt thu hút khách du lịch tìm hiểu và khám phá văn hóa các dân tộc.

Có thể nói Du lịch cộng đồng ở khu vực miền núi Khánh Hòa có mối quan hệ mật thiết với khu vực đồng bằng Khánh Hòa, nó làm phong phú thêm các chương trình tour du lịch, tạo ra những điểm mới trong tour du lịch, đồng thời giúp phát triển, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Tìm hiểu về văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số còn là điểm thu hút khách du lịch đến tham quan, khám phá nét mới lạ, đặc trưng về văn hóa đặc biệt là khách du lịch quốc tế.

Du lịch cộng đồng tại miền núi Khánh Hòa không chỉ mang lại lợi ích cho khu vực đồng bằng Khánh Hòa mà còn là cầu nối với khu vực Tây Nguyên và Trung bộ do những nét văn hóa tương đồng và khác biệt trong văn hóa của một tộc người cùng sinh sống tại nhiều địa phương khác nhau. Chính những nét khác biệt này đã làm giàu thêm nét văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực miền núi Khánh Hòa, Tây Nguyên và khu vực Trung Bộ, giúp cho các tộc người xích lại gần nhau hơn và là cơ hội giao lưu văn hóa truyền thống, thể hiện sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, và các khu vực trong cả nước.

2.3.3. Triển vọng phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

Qua quá trình khảo sát thực địa hoạt động du lịch tại huyện Khánh Vĩnh, người dân địa phương và qua số liệu khảo sát thực tế khách du lịch có thể đi đến những nhận định như sau. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Huyện Khánh Vĩnh là huyện miền núi, có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng; có nền văn hóa đậm chất truyền thống dân tộc của địa phương và là nơi có đông đồng bảo dân tộc thiểu số sinh sống nhất tại tỉnh Khánh Hòa. Với các điều kiện như vậy, huyện Khánh Vĩnh có triển vọng rất lớn để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng. Hiện nay cũng đã có một vài điểm du lịch phát triển theo hình thức du lịch cộng đồng, tuy nhiên mới chỉ là tự phát và rải rác khắp xã trong huyện như Giang Ly, Khánh Phú, Khánh Thượng nhưng chưa có quy hoạch cụ thể thành từng khu vực, từng vùng du lịch, chưa được chú trọng đầu tư phát triển với quy mô rộng. Với những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, Khánh Vĩnh có lợi thế để phát triển du lịch, có đầy đủ điều kiện để có thể phát triển các loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng.

Huyện Khánh Vĩnh hiện nay đang có sự chuyển mình rất lớn về điều kiện kinh tế, đời sống nhân dân cũng nâng cao. Tại một số xã của huyện Khánh Vĩnh, hệ thống điện, đường, trường, trạm đã được nâng cấp và sửa chữa để phục vụ cho nhu cầu của người dân địa phương, một số xã của huyện Khánh Vĩnh đã xây dựng thành công nông thôn mới theo đề án phát triển của chính phủ. Người dân địa phương, đặc biệt là con em dân tộc đồng bào thiểu số đã được đào tạo nghề nông thôn, đào tạo về nghề du lịch tại những trường nghề của địa phương và tỉnh đã mang lại nguồn nhân lực mới, dồi dào có trình độ cao phục vụ cho hoạt động phát triển du lịch của địa phương trong thời gian sắp tới.

Bên cạnh đó, người dân địa phương cũng đã biết cách khai thác tài nguyên du lịch của huyện để phát triển du lịch. Ngoài những khu, điểm du lịch đã hình thành và phát triển trước đó như Yang Bay, Yang Ly thì hiện nay huyện Khánh Vĩnh cũng đã có thêm những địa chỉ du lịch mới do người dân địa phương thiết kế và tạo dựng nên như điểm du lịch Suối Mấu- Thác Bầu, Suối Đá Trãi, Suối Lách, Chiến khu Hòn Dữ cũng là những điểm du lịch mới thu hút rất đông khách du lịch đến tham quan, khám phá và nghỉ dưỡng gắn liền với khám phá văn hóa đặc sắc của địa phương.

Có thể nói với đặc điểm thiên nhiên và văn hóa, huyện Khánh Vĩnh có đủ điều kiện và triển vọng để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, có đủ tiềm năng để phát triển trong tương lai không xa.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

Khánh Hòa còn được thiên nhiên ban tặng cho một sản vật quý hiếm của núi rừng đó chính là trầm hương, tập trung chủ yếu tại hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, đặc biệt là huyện miền núi Khánh Vĩnh. Đây là huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Raglai, Ê đê, Cơ ho, Tày, T’Rin…. Mỗi tộc người có một nền văn hóa khác nhau nhưng cùng sinh sống đoàn kết và cùng nhau xây dựng Khánh Vĩnh phát triển ngày càng vững mạnh về kinh tế -xã hội, đặc biệt là phát trin du lch.

Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mới, phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Khánh Vĩnh. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn mang đậm truyền thống văn hóa của đồng bào các dân tộc, huyện Khánh Vĩnh có đủ điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng. Chỉ có phát triển du lịch mới tạo được đột phá để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo để phát triển huyện Khánh Vĩnh trong tương lai.

Thông qua hoạt động du lịch, các dân tộc thiểu số được xích lại gần nhau hơn, tạo ra sự kết nối đoàn kết giữa các dân tộc, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Đồng thời, phát triển du lịch cộng đồng còn giúp huyện Khánh Vĩnh giải quyết được vấn đề lao động, an sinh giáo dục, giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực với đủ năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội.

Có thể nói, tiềm năng du lịch cộng đồng ở miền núi Khánh Vĩnh chưa được đầu tư, khai thác đúng mức. Do vậy, trong thời gian đến, huyện Khánh Vĩnh nên xem xét thực hiện chính sách đầu tư để khai thác, phát huy tiềm năng sẵn có này giúp miền núi có thêm điều kiện để xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh tốc độ kiến thiết xây dựng, rút ngắn khoảng cách chênh lệch với đồng bằng.

Du lịch cộng đồng ở huyện Khánh Vĩnh có đủ điều kiện để phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện trong tương lai, theo đề án phát triển kinh tế- xã hội huyện Khánh Vĩnh đến năm 2025 tầm nhìn 2030. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Khánh Vĩnh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *