Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Kết quả khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế – xã hội và giáo dục huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
2.1.1. Khái quát về đều kiện kinh tế – xã hội của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Huyện Đăk Glong được thành lập theo Nghị định số 82/2011/NĐ-CP, ngày 27/6/2011 của Chính phủ, có tổng diện tích tự nhiên là 144.875,46 ha; Huyện Đắk Glong là một huyện nghèo của tỉnh Đắk Nông, toàn huyện có 7/7 đơn vị hành chính cấp xã là xã đặc biệt khó khăn với 61 thôn, bon (trong đó có 30 bon đông đồng bào dân tộc thiểu số). Tổng dân số khi thành lập là 20.504 người và đến hết năm 2026 là 73.851 người; gồm 07 đơn vị hành chính cấp xã; toàn huyện có 30 dân tộc anh em sinh sống, dân tộc thiểu số chiếm 55,77%, trong đó dân tộc H’Mông chiếm đa số [57].
Về vị trí địa lý Huyện Đăk Glong: Nằm về phía Đông Nam của tỉnh Đăk Nông, cách thành phố Gia Nghĩa 30km theo hướng quốc lộ 28. Phía Đông giáp huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng; Phía Đông Bắc giáp với huyện Lắk thuộc tỉnh Đắk Lắk; phía Đông Nam giáp huyện Lâm Hà; phía Nam giáp huyện Di Linh và Bảo Lâm (Lâm Đồng); phía Tây Nam giáp huyện Đắk R’lấp và Thị xã Gia Nghĩa; phía Tây giáp huyện Đăk Song và phía Bắc giáp huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông. Phía Đông Bắc giáp với huyện Lắk thuộc tỉnh Đắk Lắk [57];
Về điều kiên kinh tế xã hội: Đăk Glong là huyện có diện tích tự nhiên rộng, tài nguyên rừng phong phú và đa dạng, trữ lượng khoáng sản dồi dào, đặc biệt là quặn Bô-xít, Có nhiều sông suối, ao hồ, thuận lợi cho việc xây dựng thủy điện và phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của huyện còn cao, theo kết quả rà soát hộ nghèo năm 2025 thì tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 40,9%, trong đó hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 79,3%; tỷ lệ hộ cận nghèo là 9,68%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2026 đạt 30 triệu đồng/người/năm. Địa hình chia cắt mạnh bởi đồi núi và sông, suối; tạo độ dốc cao, giao thông đi lại khó khăn; đất đai khô cằn, chủ yếu là loại đất Bô-xít và đất Feralit nâu đỏ, do vậy đã hạn chế đến diện tích đất sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của người dân. Hệ thống giao thông của huyện còn khó khăn, có gần 300km đường bộ, chủ yếu là đường đất và đường cấp phối. Huyện có hai tuyến giao thông quan trọng chạy qua địa bàn huyện là Quốc lộ 28 với độ dài 38,5 km và Tỉnh lộ 4 với độ dài chạy qua huyện 60,6km, đã được láng nhựa. Trên địa bàn huyện có 02 nhà máy thủy điện Đồng Nai 3 với công suất 180MW và thủy điện Đồng Nai 4, công suất 340MW đã hòa vào mạng lưới điện quốc gia. Huyện có Khu Bảo tồn Thiên thiên Tà Đùng rộng trên 22.100ha, có đỉnh Tà Đùng cao gần 2.000m, là núi cao đứng vị trí thứ ba của Tây Nguyên và trên 40 ốc đảo trong lòng hồ rộng trên 5000ha mặt nước. Đây là nơi có sự đa dạng sinh học với nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Bên trong khu rừng là dòng suối Đắk N’teng chảy qua tạo thành hai ngọn thác Ngầm – thác Gấu hấp dẫn và kỳ vĩ [57]. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
Về văn hóa: Các buôn làng đồng bào dân tộc ít người với những nét sinh hoạt văn hóa truyền thống độc đáo như lễ hội cồng chiêng, uống rượu cần, lễ hội đâm trâu, những bản sử thi truyền đời của đồng bào dân tộc M’Nông, Lễ hội Lồng Tồng, Lễ hội Ng’lắp Bon… là những tiềm năng cho phát triển du lịch văn hóa, nhân văn.
2.1.2. Khái quát về giáo dục trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
UBND huyện có tổng số 34 đơn vị trường học công lập trực thuộc. Bao gồm 13 trường Mẫu giáo, 11 trường tiểu học và 10 trường Trung học cơ sở. Trong đó có 03 đơn vị trường trường tiểu học và trung học cơ sở. Tổng biên chế sự nghiệp giáo dục và đào tạo là 973 biên chế [58] [59].
- Bảng 2.1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu cơ bản 5 năm
Từ bảng số liệu cho thấy số lượng học sinh trên địa bàn huyện ngàng càng gia tăng, trung bình tăng khoảng trên 400 học sinh trong 5 năm qua, qua đó kéo theo số lớp tăng, đòi hỏi phải tăng số lượng giáo viên và cơ sở vật chất. Số lượng học sinh bỏ học ngày càng giảm [58].
2.2. Tổ chức và phương pháp khảo sát thực tiễn Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
Giới thiệu về phương pháp nghiên cứu thực trạng thực hiện qua hình thức thu thập thông tin từ các nguồn báo cáo của các cơ quan, đơn vị có liên quan và sử dụng các mẫu phiếu hỏi để thu thập dữ liệu
2.2.1. Mục đích khảo sát
Đánh giá thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông là cơ sở thực tiễn kết hợp chặt chẽ với định hướng lý luận đã trình bày ở chương 1 để đề xuất các biện pháp phù hợp cần thiết và khả thi phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực hiện khảo sát các yếu tố có liên quan mật thiết đến phát triển đội ngũ GV Trung học cơ sở;
- Thực trạng công tác tuyển dụng giáo viên Trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Thực trạng công tác bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Thực trạng công tác đào tạo lại, bồi dưỡng cho đội ngũ GV của Phòng GD&ĐT và các đơn vị có liên quan huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Thực trạng công tác đánh giá đội ngũ GV Trung học cơ sở của phòng GD ĐT và các đơn vị có liên quan huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
2.2.3. Đối tượng, địa bàn khảo sát Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
Đề tài tiến hành khảo sát 25 Cán bộ quản lý tại Phòng GD&ĐT huyện Đắk Glong, các Phòng, ban liên quan như Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế hoạch – Tài chính, Phòng Thanh tra… và 10 hiệu trưởng, 16 hiệu phó, 20 tổ trưởng các tổ chuyên môn tại 10 trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện. Tổng số phiếu phát ra là 71 phiếu, thu về 71 phiếu.
Khải sát tại 10 trường: TH&THCS Đắk Plao; Trung học cơ sở Đắk Nang; Trung học cơ sở Hoàng Văn Thụ; Trung học cơ sở Chu Văn An; Trung học cơ sở Phan Chu Trinh; TH&THCS Trần Quốc Toản; Trung học cơ sở Nguyễn Du; TH&THCS Võ Thị Sáu; PTDTBT- Trung học cơ sở Đắk R’Măng; Trung học cơ sở Quảng Hòa.
2.2.4. Phương pháp khảo sát và cách tính điểm
Sử dụng các mẫu thống kê đã được các đơn vị trường Trung học cơ sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo gửi về UBND huyện Đắk Glong, Sở Giáo dục và Đào tạo để thống kê đội ngũ giáo viên theo các tiêu chí đã xác định: số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn, giới tính, lứa tuổi, đánh giá chuẩn giáo viên, thâm niên công tác, …
- Thang điểm:
Để đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ GV các trường Trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ GV các trường Trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, chúng tôi sử dụng thang đánh giá 4 mức độ:
- Tốt-4 điểm; Khá-3 điểm; Trung bình-2 điểm; Yếu-1 điểm;
- Rất ảnh hưởng-4 điểm; Ảnh hưởng-3 điểm; Ít ảnh hưởng-2 điểm; Không ảnh hưởng-1 điểm;
Cách tính điểm trung bình:
Trong đó: f là số người đánh giá tại các mức điểm tương ứng (f1 là số người đánh giá tiêu chí tại mức điểm 4-Tốt/ Rất ảnh hưởng). N là tổng số người được khảo sát.
2.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
2.3.1. Thực trạng số lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở của huyện Đắk Glong
- Thực trạng số lượng trường, lớp, học sinh năm học 2026- 2027
Qua bảng tổng hợp số lượng trường, lớp học sinh bậc trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong năm học 2026 – 2027 (Phụ lục 3) cho thấy mạng lưới các đơn vị trường Trung học cơ sở được phấn bố rộng khắp tại các đơn vị hành chính cấp xã, ít nhất mỗi đơn vị hành chính cấp xã có 01 trường Trung học cơ sở (03 xã có 02 trường Trung học cơ sở). Tuy nhiên do địa hình đồi núi chia cắt, mật độ sinh sống của người dân tại các xã không đồng đều dẫn đến học sinh tại các đơn vị trường học trên địa bàn huyện có sự chênh lệch rõ rệt. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến công tác bố trí GV, Cán bộ quản lý [58] [59].
- Số lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên trung học cơ sở theo môn học của huyện Đắk Glong trong năm học 2026 – 2027, cụ thể:
Theo Phụ lục 4 thực trạng đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở của huyện Đắk Glong về mặt số lượng và cơ cấu theo bộ môn cho thấy số lượng giáo viên phân bổ chưa đồng đều giữa các đơn vị trường học. Tình trạng thiếu giáo viên, thừa/thiếu giáo viên cục bộ vẫn diễn ra tại các đơn vị trường học, nguyên nhân chính là số lượng học sinh giữa các đơn vị có sự chênh lệch rất lớn. Đối với các đơn vị ít học sinh thì công tác bố trí đủ giáo viên bộ môn để giảng dạy là không thể vì vượt quá định mức quy định, mặt khác một số giáo viên thực hiện công tác giảng dạy chưa đảm bảo số giờ dạy theo quy định.
- Trình độ đào tạo chuyên môn của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở của huyện Đắk Glong, cụ thể:
- Bảng 2.2. Trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
Trình độ đào tạo chuyên môn của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở của huyện Đắk Glong qua bảng thống kê cho thấy trình độ đào tạo chuyên môn của giáo viên cơ bản đáp ứng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, 57 giáo viên trình độ chuyên môn cao đẳng đang theo học các lớp đại học. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
- Thâm niên công tác và độ tuổi của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở của huyện Đắk Glong, cụ thể:
Thâm niên công tác và độ tuổi của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong trong độ tuổi trẻ, chủ yếu dưới 45 tuổi, điều này là điểm mạnh trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng chương trình phổ thông mới (Phụ lục 5)
- Năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, cụ thể:
- Bảng 2.3. Năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên
Năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong trong bảng cho thấy đa số giáo viên đạt mức hoàn thành xuất sắc nhiêm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ theo quy định. Đây là điểm mạnh của giáo viên trong quá trình công tác cũng như phấn đấu đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề ghiệp đáp ứng chương trình phổ thông mới.
2.3.2. Thực trạng giáo viên các nhà trường đối chiếu với các quy định về nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý nhà nước
Quy định về số lượng giáo viên tại các đơn vị trường học tại Thông tư số 16/2023/TT-BGDĐT ngày 12/7/2023 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Căn cứ vào Phụ lục 6,7 và Công văn số 39/NGCBQLGD-CSNGCB ngày 08/01/2024 của Bộ Giáo dục và đào tạo về việc tính toán nhu cầu đào tạo giáo viên từ năm 2024-2028 theo chương trình giáo dục phổ thông mới [58] [59].
Hiện nay, trên địa bàn huyện Đắc Glong vấn đề thiếu giáo viên vẫn còn diễn ra, mặc dù vấn đề này đã được đề cập nhiều năm nay. Bước vào năm học 2026 – 2027, trước thực trạng thiếu giáo viên, nhiều trường trên địa bàn huyện Đắk Glong đã phân công dạy kê, dạy gác để vừa đảm bảo qui định, vừa đáp ứng yêu cầu giảng dạy. Riêng đối với các khối lớp áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới được ưu tiên mọi mặt, tạo thuận lợi tối đa hoàn thành mục tiêu chương trình. Trong 5 năm học gần đây, bậc TH&THCS bố trí giáo viên dạy kê, dạy gác để đảm bảo chương trình, đặc biệt là các môn Tin học, Ngoại ngữ, Giáo dục công dân… Thiếu giáo viên buộc ngành giáo dục xây dựng phương án sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ giáo viên các cơ sở giáo dục trực thuộc.
2.4. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
2.4.1. Thực hiện khảo sát các vấn đề chung có liên quan đến phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục. Trong mọi thời kỳ, việc phát triển đội ngũ giáo viên luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
- Bảng 2.4. Kết quả khảo sát các vấn đề chung có liên quan đến kết quả thực hiện phát triển đội ngũ giáo viên tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát các vấn đề chung có liên quan đến kết quả thực hiện phát triển đội ngũ của phòng GD&ĐT huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho thấy đa số các tiêu chí được đánh giá ở mức khá với số điểm đánh giá trung bình từ các Cán bộ quản lý từ 2,97 đến 3,35/4 điểm.
Nội dung “Thường xuyên thực hiện chỉ đạo các trường Trung học cơ sở trực thuộc xây dựng báo cáo công tác nhân sự của nhà trường về các mặt như số lượng, cơ cấu GV giữa các bộ môn” được đánh giá cao nhất với 39,44% người được hỏi đánh giá tốt, 56,34% đánh giá khá và 4,23% đánh giá trung bình, không có người đánh giá nội dung này thực hiện ở mức độ yếu. Ngược lại, nội dung “Thường xuyên thực hiện chỉ đạo các trường Trung học cơ sở trực thuộc khảo sát và báo cáo về các mong muốn của đội ngũ GV, Cán bộ quản lý và nhân viên về đối với việc thực hiện đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao năng lực giảng dạy, giáo dục, quản lý… đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục” được đánh giá thấp nhất với 36,62% đánh giá tốt, 30,99% đánh giá khác và 25,35% đánh giá trung bình, đặc biệt có 7,04% đánh giá ở mức yếu.
Các nội dung khác được đánh giá ở mức độ khoảng 3/4 điểm, trong đó nội dung “Thường xuyên thực hiện thống kê, tính toán tỷ lệ giáo viên Trung học cơ sở đến tuổi nghỉ hưu, chuyển việc, bỏ việc… khỏi các trường Trung học cơ sở thuộc quyền quản lý của phòng GD” được đánh giá ở mức 3,27/4 điểm; tiếp đến là “Thực hiện khảo sát, thống kê số lượng học sinh cuối cấp tiểu học làm cơ sở cho việc dự báo số lượng GV cần thiết cho các nhà trường” với 3,24/4 điểm. Đề tài thực hiện phỏng vấn ông
N.V.T (phụ trách giáo dục Trung học cơ sở tại Phòng GD&ĐT huyện Đắk Glong) cho biết: Nhìn chung, các nhà giáo có tinh thần trách nhiệm cao, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Giáo viên đã có những năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Đội ngũ giáo viên đã nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp “trồng người”, thể hiện tâm huyết với nghề nghiệp, tận tụy với công việc trên tinh thần “Tất cả vì học sinh thân yêu”.
2.4.2 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ tuyển dụng giáo viên trung học cơ sở của phòng giáo dục huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
- Bảng 2.5. Thực trạng khảo sát thực hiện nhiệm vụ tuyển dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát thực hiện nhiệm vụ tuyển dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho thấy đa số các tiêu chí đều được đánh giá ở mức khá với ĐTB từ 2,76 đến 3,52/4 điểm. Sở dĩ có sự chênh lệch về điểm đánh giá như vậy là do các tiêu chí liên quan đến quy định, văn bản quản lý được đánh giá cao hơn, trong khi các tiêu chí liên quan đến tổ chức thực hiện thường chưa được đánh giá cao.
Nội dung “Tổ chức thi tuyển (xét tuyển) theo đúng các quy định chung của cơ quan quản lý nhà nước và quy định cụ thể của chính quyền địa phương” được đánh giá cao nhất với 54,93% đánh giá ở mức tốt, 42,25% đánh giá ở mức khá, 2,82% đánh giá mức trung bình và không có Cán bộ quản lý nào đánh giá ở mức yếu (ĐTB = 3,52/4 điểm). Ngược lại, tiêu chí “Xác định nhu cầu tuyển dụng giáo viên cho các trường Trung học cơ sở trong địa bàn quản lý” được Cán bộ quản lý đánh giá là thấp nhất với 16,90% đánh giá tốt, 46,48% đánh giá ở mức khá, 32,39% đánh giá trung bình và có 4,23% đánh giá yếu (ĐTB = 2,76/4 điểm).
Các tiêu chí khác được đánh giá có sự biến động như: tiêu chí “Tổ chức tiếp nhận hồ sơ đăng ký tuyển dụng theo đúng các quy định hiện hành của cơ quan quản lý nhà nước” và “Kết hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện sàng lọc xác định người trúng tuyển” được đánh giá tương đối tốt với ĐTB lần lượt là 3,45/4 và 3,34/4 điểm. Trong khi đó, các tiêu chí “Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở của huyện dựa trên kế hoạch phát triển nguồn nhân lực giáo dục của tỉnh Đắc Nông” và “Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở của huyện dựa trên khảo sát thực trạng cụ thể của các nhà trường Trung học cơ sở trực thuộc” còn chưa hiệu quả khi ĐTB đánh giá cho các tiêu chí này lần lượt là 2,82/4 điểm và 2,85/4 điểm. Đề tài phỏng vấn thầy N.T.V (Hiệu trưởng), cho biết: Ngoài những biến động về quy mô trường lớp, công tác dự báo của huyện Đắk Glong chưa sát với thực tiễn thì nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ hiện nay chủ yếu bắt nguồn từ những hạn chế trong công tác tuyển dụng khi kế hoạch tuyển dụng, khảo sát nhu cầu và xác định rõ cơ cấu môn học còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
2.4.3. Thực trạng thực hiện nhiệm vụ bố trí, sử dụng giáo viên trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Công tác bố trí sử dụng Đội ngũ giáo viên có ý nghĩa hết sức quan trọng, đối với bất kỳ một nhà trường nào. Việc bố trí và sử dụng Đội ngũ giáo viên một cách hợp lý, đúng người, đúng việc, đúng chuyên môn, đúng năng lực không những phát huy hết năng lực sở trường của họ mà còn làm cho môi trường làm việc thoải mái, vui vẻ, giúp họ an tâm hơn trong công tác, nhiệt tình hơn trong công việc.
- Bảng 2.6. Kết quả khảo sát thực hiện nhiệm vụ bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát về thực hiện nhiệm vụ bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho thấy: đa số các tiêu chí đều được đánh giá ở mức khá với ĐTB từ 2,65 đến 3,36/4 điểm.
Nội dung “Bố trí sử dụng GV đúng trình độ chuyên môn được đào tạo và đúng số lượng yêu cầu cho các cơ sở giáo dục” được đánh giá cao nhất với 47,89% đánh giá tốt, 42,25% đánh giá khá, 8,45% đánh giá trung bình và có 1,41% đánh giá yếu. Ngược lại tiêu chí “Đảm bảo bố trí GV đúng thời điểm mà các cơ sở giáo dục yêu cầu” được đánh giá thấp nhất với 11,27% đánh giá tốt, 46,48% đánh giá khác, 38,03% đánh giá trung bình và có đến 4,16% đánh giá yếu.
Qua điều tra tìm hiểu cho thấy hiệu trưởng nhà trường căn cứ vào đội ngũ của từng năm đã phân công đúng bộ môn, đúng chuyên ngành, chú ý phân những giáo viên vững về chuyên môn dạy các lớp đầu cấp và dạy lớp 9, phân công giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc làm công tác chủ nhiệm. sự phân công công tác đã đảm bảo hợp lý về số lượng tiết dạy; bố trí đội ngũ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn hợp lý; quản lý tốt việc thực hiện nề nếp, kỉ cương, kỷ luật lao động, nề nếp dạy học, giáo dục và thực hiện các nhiệm vụ khác. Việc bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó và phân công công tác của các trường đã có nhiều tiến bộ và đổi mới. Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn đều là những người có chuyên môn vững vàng, có uy tín trong đồng nghiệp và học sinh, giáo viên dạy giỏi vừa được bố trí dạy các lớp chất lượng cao vừa các lớp đại trà. Đây cũng là biện pháp để rèn luyện cho đội ngũ giáo viên thành công trong giảng dạy thuộc nhiều tình huống, hoàn cảnh và nhiều đối tượng học sinh khác nhau, sự phân công, sắp xếp hợp lý như trên đã mang lại những hiệu quả thiết thực.
Bên cạnh đó, hiệu trưởng đã mạnh dạn bố trí, sử dụng những giáo viên trẻ có năng lực, có ý thức phấn đấu vươn lên, có tinh thần trách nhiệm với công việc đảm bảo vào những vị trí quan trọng như: Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn, chủ nhiệm lớp, dạy các lớp cuối cấp. Tuy nhiên, thực tế do tình trạng thiếu giáo viên, đặc biệt là các giáo viên bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội nên trường đã vận dụng khá nhiều biện pháp khác nhau như phân công chéo, sử dụng giáo viên tăng cường… và tất nhiên điều đó ảnh hưởng đến tính ổn định, tính kế hoạch và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường.
2.4.4. Thực trạng thực hiện nhiệm vụ đào tạo lại, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
Quan điểm của Đảng và nhà nước là học tập suốt đời, hình thức học tập phi chính quy luôn được quan tâm và có giá trị cao trong thời đại ngày nay khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển. Từ đó cho thầy công tác đào tạo, bồi dưỡng Đội ngũ giáo viên trong những năm gần đây đã được chú trọng. Hàng năm nhà trường đều khuyến khích giáo viên tham gai các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, năng lực sư phạm cho Đội ngũ giáo viên. Nhà trường đã động viên và tạo mọi điều kiện cho đội ngũ giáo viên tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng, thực hiện đầy đủ chính sách đối với họ.
- Bảng 2.7. Kết quả khảo sát về thực hiện nhiệm vụ đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát về thực hiện nhiệm vụ đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho thấy, nội dung này được đánh giá ở mức khoảng giữa trung bình khá với số điểm đánh giá trung bình biến động từ 2,72 đến 3,31/4 điểm.
Nội dung “Thực hiện xác định nhu cầu đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục hàng năm” được đánh giá cao nhất với điểm trung bình là 3,31/4 điểm, trong đó có 45,07% đánh giá tốt, 42,25% đánh giá khác, 11,27% đánh giá trung bình và có 1,41% đánh giá yếu, tiếp đến là tiêu chí “Thực hiện khảo sát mức độ hài lòng của GV Trung học cơ sở với nội dung của khóa bồi dưỡng” với ĐTB đánh giá là 3,24/4 điểm với 45,07% đánh giá tốt, 36,62% đánh giá khá… Ngược lại, các tiêu chí như “Xử lý các thông tin từ việc khảo sát để điều chỉnh nhiệm vụ ĐT, bồi dưỡng cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển giáo dục”, “Xử lý các thông tin từ việc khảo sát để điều chỉnh nhiệm vụ ĐT, bồi dưỡng cho phù hợp hơn với yêu cầu của đội ngũ giáo viên”… chưa được đánh giá cao với ĐTB đánh giá từ Cán bộ quản lý lần lượt là 2,72/4 điểm và 2,77/4 điểm.
Xác định được việc tự học, tự bồi dưỡng là suốt đời đối với mỗi người nhất là đối với giáo viên lại càng có ý nghĩa. Việc bồi dưỡng năng lực cho giáo viên được nhà trường chú ý thực hiện nhưng phần lớn các nhà trường chỉ tập trung vào bồi dưỡng năng lực giáo dục qua các môn học, giáo dục qua các hoạt động giáo dục, đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh. Còn năng lực xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục hay giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng chưa được tổ chức bồi dưỡng liên tục cho giáo viên hoặc chưa được chú trọng tổ chức thực hiện. Các giáo viên nhiều năm không tham gia công tác chủ nhiệm lớp hoặc công tác đoàn đội thường bị mai một về năng lực này. Họ khá lúng túng khi phải thực hiện các nhiệm vụ xây dựng kế hoạch giáo dục hoặc thực hiện các hoạt động giáo dục trong cộng đồng. Việc bồi dưỡng năng lực tự học được nhà trường quan tâm thực hiện, tập trung vào kỹ năng xây dựng kế hoạch dạy học, tìm hiểu kiến thức môn học, vận dụng chuẩn kiến thức kĩ năng trong dạy học, đồi mới PPDH, sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh, đặc biệt là trình độ ứng dụng công nghệ thông tin. Nhìn chung, công tác bồi dưỡng Đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên cũng như đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên Trung học cơ sở theo Thông tư liên tịch số 22/2021/TTLT-BGDĐT-BNV đã được nhà trường triển khai nhưng chưa đồng bộ, chưa toàn diện. Nếu các nội dung bồi dưỡng được tiến hành một cách khoa học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng Đội ngũ giáo viên, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển Đội ngũ giáo viên các nhà trường. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
2.4.5 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ đánh giá đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Bảng 2.8. Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện nhiệm vụ đánh giá giáo viên Trung học cơ sở tại huyện huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện nhiệm vụ đánh giá giáo viên Trung học cơ sở tại huyện huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho thấy hầu hết Cán bộ quản lý đều đánh giá các tiêu chí, nội dung ở mức khá với ĐTB từ 2,94 đến 3,33/4 điểm thể hiện không có sự chênh lệch nhiều.
Nội dung “Chỉ đạo các nhà trường thực hiện đánh giá giáo viên theo quy định hiện hành” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,33/4 điểm, trong đó có 47,89% đánh giá tốt, 40,85% đánh giá khá, 8,45% đánh giá trung bình và 2,82% đánh giá yếu. Tiếp đến là tiêu chí “Cập nhật, lưu trữ hồ sơ kết quả đánh gia đội ngũ GV và cán bộ quản lý GD phục vụ công tác quản lý” với ĐTB = 3,32/4 điểm. Ngược lại, các tiêu chí “Chỉ đạo các trường thực hiện khảo sát năng lực dạy học và giáo dục đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục” và “Thu nhận các báo cáo về đánh giá giáo viên từ các nhà trường và thực hiện cập nhật các báo cáo phục vụ công tác quản lý” chưa được đánh giá cao với ĐTB lần lượt là 2,94/4 điểm và 3,06/4 điểm.
Hiện nay, trên địa bàn huyện Đắk Glong, thực hiện theo quy định hiện hành các Hiệu trưởng thực hiện đánh giá giáo viên vào cuối học kỳ và mỗi năm học theo các bước sau:
- Giáo viên viết bản tự nhận xét, kiểm điểm việc thực hiện các nhiệm vụ được giao từ đầu năm học như: Phẩm chất chính trị, hiệu quả công việc được giao, tư cách lối sống, khả năng phát triển về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý và hoạt động xã hội của mỗi cá nhân.
- Tập thể góp ý kiến và xếp loại (giáo viên góp ý kiến và xếp loại ở tổ chuyên môn cũng như bình bầu danh hiệu thi đua theo tiêu chuẩn quy định về số lượng, danh hiệu: Lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, cấp tỉnh, bằng khen, giấy khen…) Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
- Sau khi có kết quả xếp loại, danh hiệu thi đua từ tổ chuyên môn đối với từng cá nhân, hội đồng thi đua khen thưởng của nhà trường đánh giá xếp loại và công khai kết quả xếp loại và bình xét thi đua của giáo viên trước phiên họp của hội đồng nhà trường và báo cáo cơ quan quản lý cấp trên bằng văn bản.
- Giáo viên có quyền bảo lưu ý kiến của mình nếu không nhất trí với đánh giá hội đồng thi đua nhà trường.
Bên cạnh đó, đánh giá giáo viên dựa vào giáo viên dạy giỏi ở các cấp: Cấp trường, cấp huyện… việc đánh giá công nhận danh hiệu giáo viên giỏi thường được tiến hành qua các hội thi giáo viên giỏi từ cấp trường đến cấp tỉnh.
Như vậy, có thể thấy rằng việc giáo viên tự đánh giá và đánh giá giáo viên của nhà trường Trung học cơ sở huyện Đắk Glong đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong việc kích thích tinh thần làm việc của giáo viên cũng như giúp họ sớm nhận ra những tồn tại thiếu sót trong quá trình việc thực hiện nhiệm vụ được giao, từ đó thúc đẩy họ học tập để tự hoàn thiện mình tốt hơn. Nhưng có thể nhận thấy công tác kiểm tra, đánh giá vẫn còn mang tính phong trào, mang màu sắc văn bản nhiều, việc hậu kiểm tra đánh giá chưa làm tích cực.
2.4.6. Thực trạng khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Yếu tố khách quan
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho thấy, đa số các yếu tố khách quan được đề xuất đều ảnh hưởng hoặc rất ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Trong đó, yếu tố “Các quy định về quản lý nguồn nhân lực cho GD của cơ quan quản lý cấp trên còn nhiều bất cập” là yếu tố khách quan ảnh hưởng nhất với ĐTB = 3,51/4 điểm, tiếp đến là “Môi trường sư phạm, điều kiện làm việc của các cơ sở giáo dục còn hạn chế” với 3,48/4 điểm. Ngược lại, yếu tố “Điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương còn khó khăn” và “Vị thế của nghề GV còn thấp so với các ngành nghề khác” là hai yếu tố có sự ảnh hưởng thấp hơn với ĐTB = 3,30 và 3,32/4 điểm.
- Yếu tố chủ quan
Bảng 2.10. Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
Cũng giống các yếu tố khách quan, sự ảnh hưởng của yếu tố chủ quan có sự ảnh hương mạnh hơn đến triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông với ĐTB từ 3,42 đến 3,67/4 điểm. Trong đó, yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở là “Trình độ, năng lực của đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập” với ĐTB = 3,67/4 điểm, tiếp đến là yếu tố “Kế hoạch tuyển dụng GV của địa phương được chưa hợp lý” với ĐTB = 3,36/4 điểm. Hai yếu tố “Chế độ hỗ trợ lương, thưởng, cho đội ngũ giáo viên còn chưa hợp lý” và “Sử dụng đội ngũ giáo viên chưa có hiệu quả” được đánh giá có sự ảnh hưởng thấp hơn với 3,42/4 điểm.
Có thể nói, các yếu tố ảnh hưởng được đề xuất đều có sự ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố sẽ giúp xác định được các nguyên nhân, môi trường phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
2.5. Đánh giá chung về đội ngũ và phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
2.5.1. Những kết quả đạt được
ĐNGV phần lớn trẻ nhiệt tình và trách nhiệm cao trong công tác, có phẩm chất đạo đức tốt, gắn bó với nghề, có ý thức tự học vươn lên, vượt khó nhạy bén với cái mới, đoàn kết chia sẻ với đông nghiệp.
Chất lượng đội ngũ từng bước được cải thiện, công tác sắp xếp bố trí đội ngũ được quan tâm, những giáo viên có năng lực quản lý đều được đề bạt và cơ cấu vào vị trí lãnh đạo, quản lý nhà trường. Những giáo viên có năng lực chuyên môn tốt được phân công dạy các lớp chất lượng cao, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém, Ôn thi vào trung học phổ thông, làm công tác chủ nhiệm. Đây cũng là biện pháp kích thích sự sáng tạo của mỗi giáo viên và rèn luyện họ trong nhiều tình huống khác nhau để họ bộc lộ những năng lực tiềm ẩn của bản thân, giúp họ vươn lên hoàn thiện mình.
Công tác tuyển dụng giáo viên của nhà trường mặc dù được tự chủ hoàn toàn nhưng cũng đã đóng vai trò nhất định trong việc bổ nhiệm vào ngạch viên chức tại địa phương giáo viên được bố trí sau khi hết thời gian thử việc phải có nhận xét của nhà trường về phẩm chất đạo đức chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng được yêu cầu công tác và đề nghị UBND huyện phòng giáo dục và đào tạo quyết định bổ nhiệm ngạch chính thức.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cũng được các nhà trường chú trọng, các chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhìn chung được đảm bảo tạo động lực cho giáo viên làm việc với tinh thần trách nhiệm cao yêu nghề mến trẻ.
Việc xây dựng môi trường sư phạm thân thiện và môi trường pháp lí được chú trọng, Đội ngũ giáo viên có điều kiện để phát triển trí tuệ, tài năng và sức sáng tạo một cách công bằng đảm bảo thấu tình đạt lí, tạo được sự đoàn kết và đồng thuận cao trong hội đồng sư phạm nhà trường.
2.5.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
- Hạn chế
Chất lượng và hiệu quả giáo dục của Đắk Glong còn thấp so với mặt bằng chung; tỉ lệ học sinh khá giỏi thấp; tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao, công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, Đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu, còn hạn chế về năng lực quản lý, điều hành. Chất lượng giáo dục nhìn chung chưa đồng đều và bền vững đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay.
Cơ cấu Đội ngũ giáo viên còn nhiều vấn đề đáng quan tâm, số lượng trên chuẩn còn rất thấp, sự mất cân đối về tỉ lệ giữa các bộ môn, giáo viên còn thiếu so với qui định, đội giáo viên hầu hết là trẻ, ít giáo viên nòng cốt. Chất lượng Đội ngũ giáo viên còn nhiều hạn chế, một số giáo viên đào tạo tại chức năng lực chuyên môn còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy vẫn phải bố trí lên lớp, chưa có cách giải quyết. Đội ngũ giáo viên chưa cố gắng cao trong việc tự bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực để theo kịp sự phát triển của xã hội hiện nay.
Việc phân công, sử dụng giáo viên của lãnh đạo nhà trường còn mang tính chủ quan, mệnh lệnh, đôi lúc áp đặt hoặc còn mang nặng cảm tính của lãnh đạo nhà trường, chưa thực sự đảm bảo tính dân chủ, đôi khi còn không căn cứ vào năng lực chuyên môn và hiệu quả công tác. Điều này làm cho một bộ phận giáo viên bị động trong việc lên kế hoạch giữa công việc nhà trường và công việc cá nhân, làm cho giáo viên tâm trạng gò ép khi nhận nhiệm vụ, ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả công việc của Đội ngũ giáo viên.
Nhu cầu được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức để nâng cao trình độ của Đội ngũ giáo viên và khả năng đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng chưa cao nên hạn chế việc nâng cao chất lượng đội ngũ.
Việc đánh giá, xếp loại đội ngũ còn nhiều bất cập, việc nghiên cứu đánh giá về tình hình đội ngũ để xây dựng chiến lược phát triển hoặc để có những quyết sách chưa được quan tâm đúng mức. Chế độ tiền lương được cải thiện đáng kể, song sự biến động về thị trường, giá cả theo chiều hướng ngày càng tăng làm cho đời sống của giáo viên ngày càng gặp nhiều khó khăn, thu nhập chưa đảm bảo cho giáo viên ổn định đời sống, để họ toàn tâm toàn ý với nghề. Việc khai thác năng lực tiềm tàng của đội ngũ giáo viên còn hạn chế do việc sắp xếp, bố trí đội ngũ, chế độ đãi ngộ nhiều khi chưa hợp lí.
Công tác xây dựng môi trường sư phạm và môi trường pháp lí cho đội ngũ giáo viên phát triển chưa được tốt; việc bố trí sử dụng đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập, việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại, nhiều khi còn mang tính hình thức, nể nang chưa phản ánh đúng thực chất năng lực và sự cống hiến của giáo viên.
- Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
Ngành GD&ĐT huyện Đắk Glong trong đó có giáo dục Trung học cơ sở luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND huyện; sự phối kết hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể trong huyện, sự cộng tác của đội ngũ Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn ngành giáo dục. Đội ngũ Cán bộ quản lý giáo dục nhiệt tình, có năng lực. Đội ngũ giáo viên ham học hỏi đạt tới trình độ chuẩn và trên chuẩn. Được sự quan tâm của toàn xã hội, nhân dân huyện Đắk
Khó khăn trong phát triển giáo dục Trung học cơ sở huyện Đắk Glong có nguyên nhân chính đó là đời sống vật chất của nhân dân trong huyện còn chưa cao, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, việc đầu tư kinh phí từ nguồn ngân sách của địa phương cho ngành giáo dục rất hạn hẹp. Đội ngũ giáo viên không đồng bộ về cơ cấu bộ môn, một bộ phận tiếp cận với công nghệ thông tin còn chậm, đổi mới phương pháp dạy học còn hạn chế. Một bộ phận không nhỏ cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của con em.
Còn có một số giáo viên năng lực chuyên môn yếu, chưa có ý thức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao còn hạn chế, luôn trông chờ ỷ lại vào tập thể, họ coi vào được biên chế là được “bảo hiểm trọn đời”. Một số giáo viên có năng lực chuyên môn nhưng nhiều khi chưa nhiệt tình và sang tạo trong công việc, không có chí tiến thủ và không muốn đóng góp, sống an phận thủ thường hay sống theo hướng “Mũ ni che tai”
Với những thuận lợi và khó khăn, cùng nguyên nhân nói trên đặt ra cho các trường Trung học cơ sở huyện Đắk Glong nhiều thách thức nhưng cũng không ít cơ hội. Để phát triển Đội ngũ giáo viên được tốt cần có những giải pháp phù hợp để phát huy những ưu điểm và khắc phục một cách hiệu quả những hạn chế yếu kém nói trên.
Tiểu kết chương 2
Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đang được đẩy mạnh, việc đặt ra những yêu cầu mới về vai trò của Đội ngũ giáo viên ngày càng trở lên cấp thiết, đặc biệt khi Việt Nam đang thực hiện triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành năm 2024. Qua nghiên cứu lý luận và thự hiện khảo sát thực tiễn về công tác phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắc Nông chúng tôi nhận thấy một số vấn đề như sau: (1) Đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở hiện có của huyện cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của ngành và từng bước góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương; (2) Qua đánh giá và phân tích thực trạng đội ngũ GV Trung học cơ sở theo từng đơn vị trường học có thể nhận thấy bên cạnh những ưu điểm nổi bật như đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề, trình độ được đào tạo của đội ngũ cơ bản đã đạt chuẩn,…thì vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập về cơ cấu, độ tuổi, và năng lực chuyên môn của đội ngũ vẫn cần được quan tâm, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của đổi mới giáo dục; (3) Về mặt cơ chế chính sách cho việc phát triển đội ngũ GV Trung học cơ sở hiện vẫn còn một số vướng mắc, chưa thực sự phân cấp quản lý đến các cơ sở giáo dục; (4) Công tác tuyển chọn phân công, sử dụng chế độ bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ Giáo viên, Công tác kiểm tra đánh giá thi đua khen thưởng mặc dù đã được tổ chức, thực hiện thường xuyên nhưng ở một số công đoạn còn chưa thật hợp lý, cần điều chỉnh lại để có thể đạt hiệu quả cao hơn; (5) Công tác phát triển đội ngũ ở tầm chiến lược còn cưa thực sự được các nhà trường trú trọng; (6) Việc xây dựng môi trường làm việc nói chung, văn hóa nhà trường nói riêng trong các cơ sở giáo dục tuy đã được quan tâm nhưng vẫn chưa thực sự tạo ra được động lực cho sự phát triển nguồn nhân lực giáo dục của đại phương. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

